LỜI CẢM ƠN Sau thời gian 4 tuần kiến tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành báo cáo kiến tập của mình với đề tài “Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập[.]
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian 4 tuần kiến tập, nghiên cứu, tôi đã hoàn thành báo cáo
kiến tập của mình với đề tài: “Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)”.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới chú Phan Mạnh Hà - Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện uỷ; chú Nguyễn Anh Tuấn - Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện uỷ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình Tôi cũng chân thành cảm ơn các anh, các chị trong Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, đặc biệt là chị Nguyễn Thị Thu Hằng - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình kiến tập tại Ban Tuyên giáo Huyện uỷ Bình Xuyên
Tôi cũng xin cảm ơn các bác, các cô chú và anh (chị) trong Huyện ủy -UBND huyện Bình Xuyên, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi tìm kiếm, thu thập tài liệu nghiên cứu trong suốt thời gian kiến tập
Tuy nhiên, do thời gian kiến tập có hạn và khả năng bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài báo cáo kiến tập của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót Vì vậy, tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc
để tôi có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình nghiên cứu các đề tài khoa học sau này và giúp tôi có được những kỹ năng khi bước vào thực tế công việc chuyên môn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 2M C L C Ụ Ụ
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Bố cục của đề tài 6
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN BÌNH XUYÊN6 CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN BÌNH XUYÊN TỪ KHI TÁI LẬP HUYỆN ĐẾN NAY (1998-2020) 8
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH XUYÊN TỪ NAY ĐẾN NĂM 2025 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cách đây 22 năm, (ngày 01/09/1998), huyện Bình Xuyên được tái lập
và đi vào hoạt động Huyện có 3 vùng sinh thái là đồng bằng, trung du và miền núi nên Bình Xuyên có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, nhất là tiềm năng về đất đai và lực lượng lao động dồi dào, thuận lợi cho phát triển công nghiệp, dịch vụ; nhân dân Bình Xuyên cần cù, sáng tạo, đoàn kết xây dựng quê hương Đó là những tiền đề quan trọng để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong huyện thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh
tế - xã hội Bên cạnh những thuận lợi, Bình Xuyên cũng gặp không ít khó khăn, đó là kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế - xã hội, đô thị còn yếu và chưa đồng bộ; các nguồn lực đầu tư cho phát triển còn hạn hẹp Song được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự giúp đỡ của các
sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh Vĩnh Phúc Đặc biệt là sự đoàn kết, quyết tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện và nhân dân các dân tộc trong huyện đã phát huy truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, cần cù, sáng tạo và vận dụng linh hoạt chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn, xây dựng Bình Xuyên ngày càng phát triển toàn diện, nhất là lĩnh vực của đời sống kinh tế -văn hóa - xã hội
Sau 22 năm kể từ ngày tái lập đến nay, Bình Xuyên luôn nỗ lực phấn đấu trong quá trình phát triển Năm 1998, khi mới tái lập, kinh tế của huyện kém phát triển, thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn chỉ đạt 225,4 tỷ đồng Đến năm 2000, giá trị sản xuất trên địa bàn đạt 275
tỷ đồng, cơ cấu kinh tế: Tỷ trọng nông nghiệp chiếm 65%, công nghiệp chiếm 18%, dịch vụ chiếm 17%; tổng thu ngân sách 24,8 tỷ đồng; cơ sở hạ tầng còn yếu kém Đến năm 2012 tổng giá trị sản xuất theo giá thực tế đạt 14.765,5 tỷ đồng, (tăng gấp 53,6 lần năm 2000), tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 25,1%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng Ngành công nghiệp
- xây dựng, giảm dần tỷ trọng Ngành nông - lâm - thủy sản, cụ thể: Công
Trang 4nghiệp - xây dựng chiếm 88,05%, nông - lâm - thủy sản chiếm 5,34%, dịch vụ
- thương mại chiếm 6,61% Các lĩnh vực văn hóa - xã hội phát triển, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể vững mạnh, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, nâng cao
Những thành quả trên tiếp tục là động lực để Đảng bộ, nhân dân huyện Bình Xuyên phát huy truyền thống tự lực, tự cường, năng động sáng tạo trong từng giai đoạn cách mạng, sẵn sàng khắc phục khó khăn để vươn lên xây dựng Bình Xuyên ngày càng giàu đẹp Ghi nhận những thành tích đã đạt được của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện nhà, năm 2003 Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, tặng thưởng Huân chương Lao động hạng
Ba (năm 2002), Huân chương Lao động hạng Nhì (năm 2008), Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 2013); được Chính phủ tặng Cờ thi đua năm 2002
và năm 2008 Đây là niềm vinh dự và tự hào của toàn Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân các dân tộc huyện Bình Xuyên
Hiện nay, Bình Xuyên đang phấn đấu trở thành huyện công nghiệp của tỉnh Vinh dự, tự hào về sự phát triển nhanh chóng của quê hương Bình Xuyên, nơi mà tôi đã được sinh ra, lớn lên và học tập nên kỳ kiến tập chuyên môn là cơ hội thuận lợi để tôi có điều kiện được nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn
về quá trình phát triển công nghiệp ở huyện Bình Xuyên với tên đề tài là
“Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020) Hy vọng đề tài sẽ nhận được
sự quan tâm của quý thầy cô cùng đông đảo bạn đọc mỗi khi nghiên cứu về
“đất và người Bình Xuyên”
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu
+ Đề tài nghiên cứu “Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)”
Trang 5+ Làm rõ những thành tựu phát triển trong lĩnh vực Công nghiệp -TTCN mà huyện Bình Xuyên đạt được từ sau tái lập huyện đến nay Trọng tâm của đề tài là đi sâu nghiên cứu quá trình phát triển Công nghiệp - TTCN của huyện Bình Xuyên, từ đó đưa ra những quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển Công nghiệp - TTCN của huyện trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích, đề tài từng bước giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất: Nêu được thực trạng huyện Bình Xuyên, kể từ sau khi
huyện Bình Xuyên tái lập
- Thứ hai: Chủ trương chỉ đạo của Đảng bộ huyện Bình Xuyên về vấn
đề phát triển Công nghiệp - TTCN
-Thứ ba: Đánh giá những kết quả mà Bình Xuyên đạt được trong quá
trình phát triển Công nghiệp - TTCN
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Đề tài giúp khái quát tiến trình phát triển Công nghiệp - TTCN ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập đến nay Làm nổi bật vai trò của một vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa ở của tỉnh, đồng thời, khẳng định vị trí, vai trò của một huyện công nghiệp trong quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề tài còn là nguồn tư liệu tham khảo trong công tác, nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn lịch sử địa phương, cũng như trong việc giảng dạy bộn môn này; là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu về văn hóa – con người – xã hội huyện Bình Xuyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 6- Về thời gian: Từ khi tái lập huyện cho đến nay (1998 – 2020).
- Về không gian: Xung quanh quá trình xây dựng và phát triển Công
ngiệp – TTCN ở Đảng bộ huyện Bình Xuyên
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm báo cáo thực tập chuyên ngành, tôi đã sử dụng rất nhiều phương pháp khác nhau như: Thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, chọn lọc, đánh giá … nhưng quan trọng nhất là phương pháp: Lịch sử và phương pháp logic, đứng trên quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử biện chứng kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, để hoàn thành đề tài
6 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, giới thiệu tổng quan về huyện Bình Xuyên
Chương 2: Tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020)
Chương 3: Quan điểm, nhiệm vụ và định hướng phát triển Công nghiệp
- TTCN huyện Bình Xuyên cho đến năm 2025
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN TỚI VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HUYỆN BÌNH XUYÊN 1.1 Những vấn đề lý luận
1.1.1 Khái niệm công nghiệp
Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được
“chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo cho cuộc sống con người
1.1.2 Khái niệm tiểu thủ công nghiệp
Ngành tiểu thủ công nghiệp là ngành nghề sản xuất phi tập trung quy mô nhỏ, thường hoạt động trong một khu vực nhỏ tại gia, hơn là một cơ sở xây dựng có mục đích
1.2 Giới thiệu tổng quan về huyện Bình Xuyên
Từ thời dựng nước, Bình Xuyên đã thuộc bộ Văn Lang của nước Văn Lang Trải qua hàng ngàn năm biến động lịch sử vùng này đã thay đổi nhiều tên gọi Dưới thời nhà Trần Bình Xuyên vốn có tên là Bình Nguyên, sau đến đời Lê Hồng Đức (1469) vì kiêng tên húy của Lê Thái Tông (1433 - 1442) mới đổi thành huyện Bình Tuyền, thuộc phủ Phú Bình, thuộc Ninh Sóc thừa tuyên Đời Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) vì kiêng tên húy của vua Thiệu trị là Nguyễn Phúc Tuyền, huyện Bình Tuyền được đổi thành huyện Bình Xuyên thuộc tỉnh Thái Nguyên
Khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị ở nước ta, năm 1890 chúng phân chia lại địa giới hành chính một số tỉnh ở Bắc kỳ, lập thêm đạo Vĩnh Yên, đặt lỵ sở tại Hương Canh, nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại giải thể, song vẫn để một viên quan đại diện ở Hương Canh trông coi công việc thay quyền Tổng đốc Sơn Tây
Ngày 29-12-1899, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Poll Doumer)
ra nghị định thành lập tỉnh Vĩnh Yên, gồm 1 phủ Vĩnh Tường và 4 huyện Yên Lạc, Tam Dương, Lập Thạch (thuộc đất Sơn Tây) và huyện Bình Xuyên từ Thái Nguyên sang, đặt tỉnh lỵ ở làng Tích Sơn [1;10]
Trang 8Tháng 2-1950, thực hiện Nghị quyết số 03/TTg của Thủ tướng Chính phủ hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phúc, Bình Xuyên thuộc về Vĩnh Phúc Đầu năm 1968, Vĩnh Phúc sáp nhập với Phú Thọ thành tỉnh Vĩnh Phú, huyện Bình Xuyên lại thuộc tỉnh Vĩnh Phú Đến tháng 7 năm 1977 huyện Bình Xuyên hợp nhất với huyện Yên Lãng và thị trấn Phúc Yên (huyện Kim Anh) thành huyên Mê Linh, địa danh huyện Bình Xuyên có
từ 1841 đến đây tạm thời gián đoạn Đầu năm 1979, theo quyết định của nhà nước và Thủ tướng Chính phủ, phần địa giới hành chính thuộc Bình Xuyên (cũ) lại tách ra khỏi huyện Mê Linh để cùng huyện Tam Dương (cũ) hợp nhất thành huyện Tam Đảo vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Phú
Ngày 1-1-1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tách ra thành hai tỉnh cũ: Vĩnh Phúc, Phú Thọ, nhưng phải đến ngày 9/6/1998 Chính phủ ra Nghị định số 36/1998/NĐ-CP với nội dung theo Điều 1 là: Chia huyện Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc thành huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên Huyện chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/09/1998, với 14 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn là: Đạo Đức, Phú Xuân, Thanh Lãng, Tân Phong, Sơn Lôi, Quất Lưu, Tam Hợp, Hương Sơn, Gia Khánh, Thiện Kế, Minh Quang, Trung Mỹ và thị trấn Hương Canh [5; 947] Năm 1978 xã Minh Quang được sát nhập vào huyện Tam Đảo, Bình Xuyên còn lại 13 đơn vị hành chính xã, thị trấn với 3 thị trấn (Hương Canh; Gia Khánh; Thanh Lãng) cho đến ngày nay Hiện nay, Đảng bộ có 66 chi, đảng bộ trực thuộc (gồm 13 đảng bộ xã, thị trấn, 04 đảng
bộ doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và trường học); 49 chi bộ cơ quan, doanh nghiệp, hành chính sự nghiệp Chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở có 273, trong
đó có: 236 chi bộ trực thuộc 13 đảng bộ xã, thị trấn và 37 chi bộ trực thuộc 4 đảng bộ doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và trường học, với hơn 4.800 đảng viên
Trang 9CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP- TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN BÌNH XUYÊN TỪ KHI TÁI LẬP HUYỆN
ĐẾN NAY (1998-2020) 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tác động tới tình hình phát triển Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp ở huyện Bình Xuyên từ khi tái lập huyện đến nay (1998-2020).
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Bình Xuyên là một huyện có cả ba địa hình là: Đồng bằng, trung du và miền núi, có vị trí nằm gần trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố Vĩnh Yên 7 km dọc theo quốc lộ 2, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 50km theo hướng Tây – Tây Bắc Hiện nay, Bình Xuyên có diện tích tự nhiên là 14.847,31ha; phía Bắc giáp huyện Tam Đảo và tỉnh Thái Nguyên; phía Đông giáp thị xã Phúc Yên và huyện Mê Linh (thuộc Thủ đô Hà Nội); phía Nam giáp huyện Yên Lạc; phía Tây giáp huyện Tam Dương, Yên Lạc và TP Vĩnh Yên
Vị trí địa lý có nhiều thuận tiện cho sự giao lưu hàng hóa và phát triển dịch vụ, nằm cách không xa các khu công nghiệp tập trung như: Bắc Thăng Long - Nội Bài; khu công nghiệp Sài Đồng, cảng hàng không Nội Bài (Hà Nội); nằm giữa hai trung tâm kinh tế – chính trị lớn của tỉnh là Vĩnh Yên và Phúc Yên; có đường sắt Hà Nội – Lào Cai, Quốc lộ 2 và đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai chạy qua là những điều kiện rất thuận lợi để huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng (công nghiệp – dịch vụ và nông lâm nghiệp) và hình thành các khu công nghiệp, các trung tâm dịch vụ; đồng thời có cơ hội tiếp cận nhanh những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa của huyện
Trên địa bàn huyện có hệ thống sông Cà Lồ: Chia thành 3 nhánh: nhánh nối với sông Phan, từ hồ Thanh Lanh, sông Cánh; nhánh nối liền với Cầu Bòn tiêu thoát nước trực tiếp nước mưa từ dãy núi Tam Đảo và thị xã Phúc Yên nhánh nối với sông Phan tiêu thoát nước vùng trũng của hai huyện Yên Lạc và Bình Xuyên Sông Cà Lồ là sông tiêu tự nhiên duy nhất trên địa
Trang 10bàn huyện, mực nước cao nhất 9,14m, lưu lượng lớn nhất 268m3/s Vào mùa mưa lũ tập trung, nước sông Cầu dâng cao không tiêu kịp gây úng lụt cục bộ tại khu vực trũng trong huyện
Do điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên trên địa bàn huyện đã hình thành vùng có tiềm năng du lịch và nghỉ dưỡng là quần thế du lịch tâm linh sinh thái thuộc khu vực Thanh Lanh, Mỏ Quạ của xã Trung Mỹ
2.1.2 Điều kiện kinh tế- cơ sở hạ tầng
Bình Xuyên có hệ thống giao thông khá hoàn chỉnh, hệ thống giao thông đối ngoại gồm Quốc lộ 2, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai, đường sắt
do Trung ương quản lý, hệ thống đường tỉnh lộ kết hợp với tuyến đường huyện, đường sắt Đây là thuận lợi lớn, vì nhờ hệ thống giao thông này kinh tế Bình Xuyên có thể giao thương với các địa bàn trong cả nước và chịu tác động lan toả từ các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Hệ thống giao thông còn tạo ra nhiều lợi thế để hình thành khu công nghiệp tập trung như Quất Lưu, Hương Canh, Sơn Lôi, Đạo Đức, Bá Thiện tạo thành một trục phát triển các khu công nghiệp dọc theo Quốc lộ 2 từ Đạo Đức đến Hương Canh; hình thành các đô thị phục vụ dân cư đến lao động tại các khu công nghiệp dọc theo tỉnh
lộ 302B, tỉnh lộ 302A
2.1.3 Điều kiện xã hội
Bình Xuyên là huyện có tỷ lệ dân số đông, nguồn lao động trẻ dồi dào với truyền thống cần cù, chịu khó Dân số trong độ tuổi lao động năm 2010 là 59,437 nghìn người, chiếm 53,42% dân số toàn huyện Hiện tại, số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân là khoảng 56,87 nghìn người, chiếm 95,86% lao động trong độ tuổi, trong đó khu vực nông - lâm nghiệp chỉ chiếm khoảng 5,5% tổng lao động trong độ tuổi, khu vực phi nông nghiệp chiếm khoảng 90% Lao động dư thừa, nhàn rỗi, thiếu việc làm chiếm tỷ lệ nhỏ ở khu vực nông thôn và đô thị Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt ở mức cao so với toàn tỉnh, năm 2010 toàn huyện có 27,03 nghìn lao động đã qua đào tạo, chiếm tỷ lệ 45,48% tổng lao động trong độ tuổi Đến năm 2014, dân số trong độ tuổi lao động là 77.346 nghìn người, lực lượng lao