PHÂN TÍCH KHỔ 2 BÀI THƠ TRÀNG GIANG Phân tích khổ 2 trong bài thơ Tràng Giang mẫu 1 Không tha thiết, nồng nàn như Xuân Dệu, cũng chẳng điên cuồng lãng mạn như Hàn Mặc Tử, thơ của Huy Cận là một nỗi bu[.]
Trang 1PHÂN TÍCH KHỔ 2 BÀI THƠ TRÀNG GIANG
Phân tích khổ 2 trong bài thơ Tràng Giang - mẫu 1
Không tha thiết, nồng nàn như Xuân Dệu, cũng chẳng điên cuồng lãng mạn như Hàn Mặc Tử, thơ của Huy Cận là một nỗi buồn mênh mông vô tận, buồn từ tâm hồn đến cảnh vật Đọc thơ ông, ta thấy pha tạp chút hiện đại của văn học Pháp, nhưng nhiều nhất vẫn là nét cổ điển đậm đà của thơ Đường, thế nên ta thường thấy trong thơ ông có nỗi buồn rất lạ, rất vô định Nhưng suy cho cùng, nỗi buồn thơ ông cũng chỉ xuất phát từ nỗi buồn thế sự, nỗi hoài niệm những điều xưa cũ, những phong cảnh huy hoàng nay đã hết, chỉ còn lại một cuộc đời rối ren Một trong số những bài thơ tiêu biểu nhất của Huy Cận phải nhắc đến Tràng giang
Chàng thi sĩ mới 21 tuổi đời, đứng ở nam bến Chèm sông Hồng mà suy tư
về cuộc đời mình, cuộc đời người, rồi trước cái không gian rộng lớn, trời rộng -sông dài đã tức cảnh sinh tình đem đến một thi phẩm tuyệt vời, khiến độc giả phải đắm chìm vào trong cả nỗi buồn của chàng thi sĩ Chỉ lấy nội dung khổ thơ thứ 2 của Tràng giang cũng đủ để ta chiêm nghiệm về nỗi sầu nhân thế ấy
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."
Ngắm mãi cảnh sông nước dập dềnh, Huy Cận hướng tầm mắt buồn của mình về phía những cồn nhỏ "lơ thơ", từ láy ấy gợi cho độc giả một cảm giác ít ỏi, nhẹ tênh, lơ lửng Dường như mấy cái cồn cát nho nhỏ bên bến sông ấy đang phe phẩy, phiêu lãng cùng với cơn gió "đìu hiu", buồn bã biết mấy Cả cồn cả gió đều gợi nên một nỗi buồn khôn tả, ấy là cảm giác chơi vơi, lạc lõng của người thi sĩ cô đơn trước cảnh sông nước, buồn bã trước thời cuộc Rồi Huy Cận bỗng nghe "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều", đó là một câu hỏi ngỏ, nhà thơ tự hỏi chính bản thân mình hay hỏi trời đất như thế Huy Cận hỏi gì? Hỏi tiếng làng xa vãn chợ ở đâu hay hỏi dường như đâu đây có tiếng vãn chợ chiều văng vẳng vọng về cũng đều
Trang 2có ý nghĩa cả Nghệ thuật lấy động tả tĩnh thật đặc sắc và khéo léo, "làng xa" như thế nhưng Huy Cận vẫn có thể nghe thấy tiếng người râm ran buổi chợ chiều thì chứng tỏ bến Chèm này phải thật hoang vắng tĩnh lặng đến nhường nào chứ? Thoang thoảng trong khổ thơ thứ hai này đã có sự sống xuất hiện, nhưng nó cứ thấp thoáng và mỏng manh, thế nên Huy Cận lại càng trở nên cô đơn hơn
Một hình ảnh khác lại càng nhấn mạnh được cái tính thi vị đầy sáng tạo trong nỗi buồn thơ Huy Cận, "nắng xuống, trời lên" kết hợp với cụm tính từ "sâu chót vót", dễ khiến người ta liên tưởng đến một khung cảnh sâu rộng vô ngần, trời
và đất vốn đã xa nhau nay lại càng sâu, càng xa hơn nữa Chỉ một câu thơ đơn giản vậy thôi nhưng Huy Cận đã đem vào đó cái không gian rộng lớn, bao la và riêng mình thi sĩ cô độc trong cái khoảng không ấy Quả thực lời nhận định Huy Cận là nhà thơ có nỗi ám ảnh với không gian sâu sắc là không sai chút nào, bởi nếu không có cái cảm xúc sâu sắc như vậy thì làm sao lại có những vần thơ tuyệt diệu về không gian như vậy
Kết lại đoạn thơ, là câu thơ dường như là nhận định của tác giả "Sông dài, trời rộng, bến cô liêu" Đúng vậy trời càng rộng sông càng dài thì bến ở một chỗ lại càng nhỏ bé, càng cô độc như bóng người thi sĩ ngẩn ngơ ở bến Chèm Huy Cận buồn gì mà nhiều đến thế, làm sao cái nỗi buồn ấy có thể lan rộng khắp không gian, từ sông, tới trời, tới bến, tới gió, tới cồn cát cũng buồn thiu theo nỗi sầu man mác mang tên Huy Cận Đúng như lời Nguyễn Du trong Kiều: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?", đó là nỗi buồn thế sự, buồn cho thân phận nổi trôi vô định giữ thời buổi rối ren Tây ta lẫn lộn, là nỗi buồn chung cho cả một xã hội Việt Nam thời bấy giờ
Như vậy chỉ là một đoạn thơ ngắn 4 câu vẻn vẹn, nhưng ta đã thấy được cái nỗi sầu của Huy Cận, đồng thời qua đó ta cũng thấy được cái tài hoa của một nhà thơ mang nỗi ám ảnh không gian sâu sắc Thơ Huy Cận vừa cổ điển vừa hiện đại, thật nhiều ý vị và sâu sắc biết mấy, đọc riết rồi ta như chìm vào thơ ông để buồn theo cái buồn của ông
Trang 3Sơ đồ tư duy
Dàn ý chi tiết
I Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm:
- Dẫn dắt vào vấn đề: Khổ hai bài thơ đã tái hiện lên một khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều, tô đậm thêm nỗi cô đơn của con người
II Thân bài
* Khái quát chung
- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác vào một buổi chiều thu vào năm
1939, Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm bên sông Hồng ngắm cảnh không gian mênh mang và nghĩ về kiếp người nhỏ bé, trôi nổi, vô định
- Giá trị nội dung: Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nước bao la trong một buổi chiều đầy tâm sự
Trang 4- Ý nghĩa nhan đề:
+ “Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn.
+ Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm Tác giả còn sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm "ang"
đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát
- Câu thơ đề từ: “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giả xuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi Đó còn là không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp
* Phân tích khổ 2 bài thơ Tràng giang
Luận điểm 1: Khung cảnh cồn bến hoang vắng trong nắng chiều
- Nỗi lòng nhà thơ được gợi mở nhiều hơn qua hình ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
+ Góc nhìn của nhân vật trữ tình lúc này bao quát hơn, rộng hơn khi từ cảnh sông Hồng chuyển sang không gian bao la của trời đất, bến bờ Đó là một không gian vắng lặng, yên tĩnh: có cảnh vật (cồn, gió, làng, chợ…) nhưng cảnh vật lại
quá ít ỏi, nhỏ nhoi (nhỏ, xa, vãn )
+ Từ láy “lơ thơ” diễn tả sự thưa thớt, rời rạc của những cồn đất nhỏ nhoi mọc lên giữa dòng tràng giang Trên những cồn đất nhỏ đó, mọc lên những cây lau, sậy, khi gió thổi qua thì âm thanh phát ra nghe man mác, nghe “đìu hiu” não ruột + Có âm thanh nhưng âm thanh ấy lại phát ra từ ngôi “chợ chiều” đã “vãn” mà làng lại xa nên không đủ sức làm cho cảnh vật sinh động, có hồn
Trang 5+ Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái gợi lên âm thanh xa xôi, không rõ
rệt: "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều"
- “Đâu tiếng làng xa” có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người
- Cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, vì chung quanh đây chẳng
hề có chút gì sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên Tất cả vẫn chỉ là
sự im lặng bao trùm lên dòng chảy tràng giang
Luận điểm 2: Tâm trạng của thi nhân.
- Hai câu thơ tiếp theo, không gian được mở ra bát ngát:
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”
+ Huy Cận đã vẽ nên một khung cảnh không gian ba chiều rộng lớn: có chiều cao (nắng xuống, trời lên), có chiều rộng (trời rộng) và cả chiều dài (sông dài), thậm chí là có cả độ “sâu”
-> Vũ trụ thì bao la, vô tận, còn con người thì quá nhỏ bé, cô độc lẻ loi
+ Nhà thơ nhìn lên bầu trời và thấy bầu trời “sâu chót vót”:
• Cách dùng từ thật độc đáo vì nhà thơ không dùng từ “cao” mà dùng từ
“sâu”
• “Cao” chỉ độ cao vật lý của bầu trời, còn “sâu” không chỉ diễn tả được độ cao vật lí mà còn diễn tả được sự rợn ngợp trước không gian ấy
-> Đó chính là sự rợn ngợp trong tâm hồn của thi nhân trước cái vô cùng của vũ trụ
=> Cách sử dụng từ hết sức mới lạ bởi tác giả đã lồng chiều cao vào chiều sâu; ông đang ngắm cảnh bầu trời cao “chót vót” dưới mặt nước “sâu” thăm thẳm Không gian càng rộng, hình ảnh con người lại càng nhỏ bé, cô độc, lẻ loi đến tội nghiệp
Trang 6+ Hình ảnh “bến cô liêu” với âm hưởng man mác của hai chữ “cô liêu” ấy, một lần nữa lại gợi ra một nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn về sự sống quá nhỏ nhoi, rất hữu hạn trong thiên nhiên, mà vũ trụ thì cứ mở ra mãi đến vô tận, vô cùng
=> Không gian càng vắng lặng rộng lớn bao la thì hình ảnh con người càng cô đơn đến tột cùng Nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, bao trùm lên cảnh vật
=> Khổ thơ thứ 2 cho ta thấy được tâm trạng buồn bã, băn khoăn, ngơ ngác trước
những ngã rẽ của cuộc đời Thi nhân cảm nhận rõ sự nhỏ bé, lẻ loi, cô độc của một kiếp người giữa dòng đời rộng lớn Đây không phải là nỗi buồn của cá nhân ông mà là cảm xúc chung của cả một thế hệ, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ đầu thế kỉ XX
* Đặc sắc nghệ thuật
- Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp cổ điển và hiện đại:
+ Cổ điển ở thể thơ, cách đặt nhan đề, bút pháp “tả cảnh ngụ tình”
+ Còn hiện đại trong việc xây dựng thi liệu, đặc biệt là cách dùng từ mới lạ
“sâu chót vót”
- Sử dụng từ ngữ chọn lọc đắt giá, giàu giá trị gợi hình biểu cảm
- Ngắt nhịp thơ hiệu quả
III Kết bài
- Khái quát giá trị nội dung khổ thơ thứ 2 bài Vội vàng
- Nêu cảm nhận của em
Các bài mẫu khác:
Phân tích khổ 2 trong bài thơ Tràng Giang - mẫu 2
Nếu cả bài thơ tràng giang là một bức tranh sông nước rợn ngợp những nỗi buồn, nỗi sầu thương thì khổ thứ 2 trong bài đã gợi lên một khung cảnh hoang vắng đến xác xơ, tiều tụy
Trang 7"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."
Cảm nhận chung về những dòng thơ này là một khung cảnh hoang vắng Làng xóm ven sông vắng lặng, cảnh sông nước thật mênh mang trong một không gian nhiều chiều Câu thơ đã gợi ra cảnh tượng: một vài cồn cát chạy nổi giữa dòng sông với sự đơn độc, lẻ loi Trên những cồn cát đó chỉ thấy lơ thơ vài cây mọc hoang Đây là dòng sông mùa nước, nước sông cứ dềnh mãi lên Cảnh tượng thực này lại mang rất nhiều tính biểu tượng trong nó Nếu trước đó ta thấy con thuyền bị vây bủa bởi những lớp sóng như những nỗi buồn điệp điệp thì ở đây ta lại gặp con người như những cồn cát nhỏ bé, chơi vơi đang bị dòng lũ cuộc đời nhấn chìm dần.Hình tượng thơ đó còn gợi lên cảm giác suy ngẫm về những cuộc đời trong xã hội cũ
Tất cả đều được sắp đặt, an bài, đều bị phủ lấp Hình ảnh những cồn cát lơ thơ giữa dòng nước gợi một cái gì thật buồn bã trước sự trùm phủ Nó chẳng khác nào cành củi khô, nhỏ bé lập lờ giữa dòng nước mênh manh Trong khung cảnh
đó, thoáng những cơn gió đìu hiu.Cái cảm giác đìu hiu như lan tỏa; khung cảnh câu thơ như gợi ra sự quạnh quẽ, hoang tàn Đây là sự kế thừa và sáng tạo bút pháp của Chinh phụ ngâm Chính Huy Cận đã cho biết:ông viết dòng thơ này với
sự ảnh hưởng từ thơ Chinh phụ ngâm:
"Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
Câu thơ” Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có nhiều cách hiểu khác nhau Đâu đó, đâu đây hình như đang vẳng lại những tiếng lao xao của cảnh chợ chiều Những tiếng chợ chiều vẳng lại trong gió đã gợi được cái tĩnh lặng của khung cảnh.Phải yên tĩnh lắm mới có thể nghe được những âm thanh đó.Nhưng những tiếng lao xao của cảnh chợ chiều lại chỉ gợi ra những gì là tàn tạ, thê lương Bởi còn gì buồn hơn cảnh chợ chiều, chợ tàn
Trang 8Cảnh ở đây vắng lặng đến tuyệt đối Cảnh không những không có sự hoạt động của con người mà ngay đến âm thanh của hoạt động đó cũng không có Dẫu sao thì cảnh ở đây vẫn thiếu một cái gì đó có thể lôi cuốn, vỗ về con người Dù là
có hay không có những âm thanh của tiếng chợ chiều, ta vẫn không thấy được bất
kì mối liên hệ nào giữa những cồn cát lơ thơ và tiếng chợ chiều Thế nhưng tất cả vẫn gắn với nhau trong một biểu hiện chung, gợi lên những cảm giác cô đơn,buồn
bã và hiu hắt
Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu.
Đến hai câu thơ này, ta lại thấy gợi lên một nỗi buồn mênh mang khắp sông dài trời rộng Tạo vật ở đây có nhiều nét độc đáo Độc đáo trước hết ở chỗ tạo dựng không gian: những chữ “xuống, lên, dài, rộng, sâu” đã gợi được một không gian nhiều chiều, có cài gì thăm thẳm hun hút, lại có cái dài rộng, mênh mang.Chút nắng chiều sót lại, rơi xuống tạo cảm giác bầu trời như cao thêm lên Những tia nắng của ngày tàn đó đang rơi vào thăm thẳm để đẩy bầu trời lên cao chót vót, xa vời Nhưng cái nhìn của Huy Cận hướng về bầu trời lại thấy cảm giác sâu chót vót như ông bị hút vào cái thăm thẳm của bầu trời trong một cảm giác rợn ngợp không cùng
Hai câu thơ này còn tạo nên sự đối nghĩa rất đặc sắc Nếu câu thứ 3 gợi cảm nhận về bầu trời cao thì câu thứ 4 lại gợi về hình ảnh dòng sông dài, rộng mênh mang Câu “nắng xuống trời lên sâu chót vót” gợi sự hắt hiu còn câu ” sông dài trời rộng bến cô liêu” lại gợi một nỗi sầu dằng dặc Mặt khác hai dòng thơ này còn tạo sự kết hợp mang cảm giác vũ trụ- cảm giác thường thấy ở thơ Huy Cận Giữa hai dòng thơ ta còn thấy một sự đăng đối:” sâu chót vót- bến cô liêu” Sự đăng đối này tạo ra quan hệ ý nghĩa: mối sầu chất ngất bắt đầu từ cái thăm thẳm của bến cô liêu Huy Cận đã dùng cái thực tế để biểu hiện cái hư ảo khó thấy và lại dùng cái
hư ảo để lột tả tinh thần của cái thực tế đến tàn nhẫn
Cũng với những dòng thơ này ta còn thấy nỗi buồn của Huy Cận đã vượt khỏi lòng mình để nhuộm sầu cả vũ trụ Nhân vật trữ tình trong Tràng giang có nỗi buồn mênh mang, trải khắp và thấm đượm cả một không gian bát ngát, bao la Sông dài, trời rộng, vũ trụ mênh mang và nỗi buồn của con người cũng là vô tận
Trang 9Phân tích khổ thơ thứ hai bài Tràng giang thấy rõ rằng: Nếu trước đó ta thấy sự tương phản giữa cành củi và dòng sông thì ở đây ta lại gặp sự đối lập giữa bến cô liêu và sông dài trời rộng Đây vẫn la cái nhìn tương quan trong cảm giác về con người giữa vũ trụ vô cùng
Khổ thơ thứ hai khép lại trong cái cô liêu chơi vơi của cả lòng người và tạo vật Huy Cận thực tài tình khi đã dựng tả cả một bức tranh trời nước mênh mang
mà đầy tâm tư sâu lắng
Phân tích khổ 2 trong bài thơ Tràng Giang - mẫu 3
"Tràng giang" là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ "Lửa thiêng" (1940) Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" Tác giả đã có lần nói: "Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn" "Tràng giang" tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thía một nỗi buồn nhân thế "sầu trăm ngả"
Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu Đây là khổ thơ thứ hai của
"Tràng giang":
"Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."
Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng ở khổ một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô "lơ thơ" như nối tiếp dài ra Gió chiều nhè nhẹ thổi "đìu hiu" gợi buồn khôn xiết kể Hai chữ "đìu hiu" gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
"Non Kì quạnh quẽ trăng treo
Trang 10Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
(Chinh phụ ngâm) Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng Một chút
âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảnh khắc chợ tan vãn chợ ở đâu đây, ở từ một làng xa vẳng đến Lấy động để tả tĩnh, câu thơ "Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều"
đã làm nổi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng
vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang Các nhà thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hoà thanh rất thần tình, tạo nên những vần thơ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích Hai câu thơ đầu đoạn có điệp âm "lơ thơ" và "đìu hiu", có vần lưng: "nhỏ- gió", có vần chân: "hiu- chiều" Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
"Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang nắng trở chiều"
(Thơ duyên) Những vần thơ "tươi nhạc tươi vần" ấy đã trở thành câu thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học
Trở lại đoạn thơ trong bài "Tràng giang" của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la Trời đã về chiều Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời Vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương đã trở thành vẻ đẹp của thi ca dân tộc: "Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao" (Thu vịnh); "Trời cao xanh ngắt- Ô kìa " (Tiếng sáo Thiên Thai); "Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng" (Xuân Diệu) Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, "sâu chót vót":
"Nắng xuống/ trời lên sâu chót vót"
Bầu trời và lòng sông "sóng gợn" là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông Người ta thường nói "cao chót vót" và "sâu thăm thẳm", nhưng Huy Cận lại cảm nhận là
"sâu chót vót" vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: "nắng xuống" song song với
"trời lên", mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi