TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Hồ Chí Minh “Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hi sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập tru[.]
Trang 1TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
“Bản Tuyên ngôn Độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đã đổ, bao nhiêu tính mệnh đã
hi sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường Bản Tuyên ngôn Độc lập
là kết quả của bao nhiêu hi vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam”
(Trần Dân Tiên)
I THÔNG TIN TÁC GIẢ
Hồ Chí Minh
Từ khóa ● Nhà lãnh tụ tài ba
● Anh hùng giải phóng dân tộc
● Phong cách sáng tác đa dạng
● Nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của dân tộc
● Đanh thép, mạnh mẽ, hùng hồn
Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (1890 – 1969) sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo yêu nước ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Người là nhà lãnh tụ tài
ba, anh hùng giải phóng dân tộc, đồng thời cũng là nhà thơ, nhà văn, nhà văn hoá lớn của dân tộc Việt Nam Tuy không hề có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương (Ngâm thơ ta vốn không ham) nhưng Người đã nhận ra rằng văn chương là một loại vũ khí sắc bén đầy lợi hại để đấu tranh cách mạng và cũng là phương tiện rất hiệu nghiệm để động viên chiến sĩ, đồng bào: Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy; Nay ở trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong Chính vì vậy, tất cả sáng tác văn học của Bác đều trở thành một bộ phận trong sự nghiệp đấu tranh cho từng giai đoạn cách mạng ở nước ta Do đó, phong cách sáng tác của Người rất đa dạng và sự nghiệp văn học của Người cũng rất lớn lao về tầm vóc
Câu chuyện thú vị về Hồ Chí Minh:
Trang 2
II THÔNG TIN TÁC PHẨM
1 Hoàn cảnh sáng tác
Những giờ phút hạnh phúc nhất trong đời Hồ Chủ tịch
Trong cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Võ Nguyên Giáp (NXB Quân Đội Nhân Dân) cũng kể câu chuyện, hồi ức về sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập
“Anh chị chủ nhà ở phố Hàng Ngang đã dành cho chúng tôi tầng gác hai Bác được mời lên tầng ba làm việc cho tĩnh Nhưng Bác không thích ở một mình, cùng ở với chúng tôi”
Tầng gác này vốn là phòng ăn và buồng tiếp khách nên không có bàn viết Bác ngồi viết ở bàn ăn rộng thênh thang Chiếc máy chữ của Bác đặt trên cái bàn vuông nhỏ, mặt bọc nỉ xanh
kê ở góc buồng Hết giờ làm việc, mỗi người kiếm một chỗ nghỉ luôn tại đó
Ngày 28 (28/8/1945), danh sách Chính phủ lâm thời được công bố trên các báo chí Hà Nội Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hòa
Ngoài đường lối, chính sách của Chính phủ, phải chuẩn bị cả những lời thề để đưa ra trước nhân dân Bác và Thường vụ trao đổi về một việc hệ trọng cần bắt tay vào làm ngay: thảo bản Tuyên ngôn Độc lập
Trong căn buồng nhỏ của ngôi nhà nằm giữa một trong 36 phố phường cổ kính, Bác ngồi làm việc, khi thì viết, khi thì đánh máy
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, những người giúp việc trong gia đình không biết ông cụ
có cặp mắt sáng, chiếc áo nâu bạc thường để hở khuy ngực, hay hút thuốc lá, ngồi cặm cụi ở
đó làm gì Mỗi lần họ tới hỏi cụ có cần gì, cụ quay lại mỉm cười, chuyện trò đôi câu Lần nào
cụ cũng nói không có gì cần phải giúp đỡ
Trong sách Những năm tháng không thể nào quên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Một buổi sáng, Bác và anh Nhân gọi anh em chúng tôi tới
Bản Tuyên ngôn lịch sử đã thảo xong, Bác mang đọc để thông qua tập thể Như lời Bác nói lại sau này, đó là những giờ phút sảng khoái nhất của Người Hai mươi sáu năm trước, Bác
đã tới Hội nghị hòa bình Versailles, nêu lên những yêu cầu cấp thiết về dân sinh, dân chủ cho những người dân thuộc địa Cả những yêu cầu tối thiểu đó cũng không được bọn đế quốc mảy may chấp nhận
Người đã thấy rõ sự thật là không thể trông chờ ở lòng bác ái của các nhà tư bản Người biết chỉ còn trông cậy vào cuộc đấu tranh, vào lực lượng của bản thân dân tộc mình
Giờ phút này, Người đang thay mặt cho cả dân tộc hái quả của 80 năm đấu tranh Bữa đó, chúng tôi thấy rõ niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt còn võ vàng của Người”
Thu Hiền
Trang 3- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Phát xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta lúc bấy giờ,
đã đầu hàng Đồng minh Trên toàn quốc, nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền Ngày 19 –
8 – 1945, chính quyền ở Hà Nội đã về tay nhân dân Ngày 26 – 8 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập
– Ngày 2 – 9 – 1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới
– Tuyên ngôn Độc lập ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách: nền độc lập vừa mới giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốc thực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta Tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốc dân Đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp Lúc này thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất “bảo hộ” của Pháp bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đông Dương đương nhiên phải trở lại với người Pháp
2 Đối tượng và mục đích hướng đến của bản Tuyên ngôn
– Bản Tuyên ngôn ra đời trước hết là hướng đến đồng bào cả nước; tiếp sau là các nước trên thế giới; bọn đế quốc, thực dân đang lăm le xâm lược nước ta đặc biệt là Anh, Pháp, Mĩ – Bản Tuyên ngôn chính thức tuyên bố trước quốc dân, trước thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam; ngăn chặn âm mưu chuẩn bị chiếm lại nước ta của bọn đế quốc, thực dân
3 Nguồn cảm hứng
Khi viết Tuyên ngôn Độc lập, Bác viết dưới hai nguồn cảm hứng chính do là cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân văn Cảm hứng yêu nước là tiếng nói của một nhà ái quốc vĩ đại
đã hi sinh cả cuộc đời mình để đi tìm hình hài của Tổ quốc Cảm hứng ấy như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt ba phần của bản tuyên ngôn
4 Giá trị của bản Tuyên ngôn
● Giá trị lịch sử
– Là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: là lời tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến
– Đúc kết nguyện vọng sâu sắc của dân tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần 100 năm của dân tộc ta để có thể có được quyền thiêng liêng và chính đáng ấy
Trang 4– Là sự khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của Việt Nam với thế giới
– Tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân phong kiến ở Việt Nam, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng cho dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; là mốc son lịch sử chói lọi mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta: kỉ nguyên độc lập, tự do, kỉ nguyên nhân dân làm chủ đất nước
● Giá trị nghệ thuật
– Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chương yêu nước lớn của thời đại cách mạng Tác phẩm đã khẳng định mạnh mẽ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với quyền sống của con người, nêu cao truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo của người Việt Nam, đó cũng là những cảm hứng bao trùm trong lịch sử văn học Việt Nam
– Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực Dung lượng tác phẩm ngắn gọn hàm súc; kết cấu tác phẩm chặt chẽ, mạch lạc; lập luận đanh thép giàu sức thuyết phục; chứng cứ
cụ thể xác thực; ngôn ngữ chính xác gợi cảm, tác động mạnh mẽ vào cả nhận thức và tình cảm của người đọc, người nghe
Cách ghi nhớ về hoàn cảnh sáng tác chi tiết của bài như sau:
19/8/1945 Hà Nội - 26/8/1945 Việt Bắc - 2/9/1945 Tuyên ngôn Độc lập
Trang 5
Để hiểu rõ hơn về tác giả Hồ Chí Minh và bản Tuyên ngôn Độc lập, các em có thể tham khảo bài viết dưới đây:
Diễn biến ngày 2 tháng 9
Theo tường thuật của nhà báo Hồng Hà, báo Cứu quốc của Việt Minh, ông Nguyễn Hữu Đang đọc chương trình buổi lễ và giới thiệu Chính phủ lâm thời, chủ tịch Chính phủ đọc Tuyên ngôn độc lập, các thành viên Chính phủ tuyên thệ, ông Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Bộ Nội vụ giãi bày tình hình trong nước và nhiệm vụ của Chính phủ, ông Trần Huy Liệu tường trình vào Huế nhận sự thoái vị của vua Bảo Đại, ông Nguyễn Lương Bằng đại biểu của Tổng bộ Việt Minh thuật qua lại cuộc tranh đấu của Việt Minh để mưu giải phóng cho dân tộc
Sân khấu được làm vội vã từ gỗ và được trang hoàng bằng lớp vải trang trí trắng và đỏ, do đó cho phép hầu hết khán thính giả có thể thấy được những vị lãnh đạo mới của mình, dù chỉ như những chấm li ti Hồ Chí Minh và các đồng sự của mình đã cố gắng truyền trực tiếp bản Tuyên ngôn độc lập đến mọi miền Tổ quốc nhưng các vấn đề kỹ thuật lúc đó đã không cho phép điều này diễn ra Mặc dù đã ở nước ngoài trong suốt hơn 30 năm nhưng phong cách nói tiếng Việt của Hồ Chí Minh vẫn đầy tự tin và mạnh mẽ Bản Tuyên ngôn độc lập có độ dài vừa đủ do những người Việt tham gia buổi lễ hôm đó phần lớn còn chưa tiếp xúc với hoạt động mít-tinh kiểu châu Âu như thế này bao giờ Ngày mùng 2 tháng 9 năm đó, nhiều gia đình đã dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị đốt pháo để ăn mừng buổi lễ
Từ Phủ Toàn quyền, Jean Sainteny, viên chức cao cấp của nước Pháp Tự do (Free French)– nước Pháp sau khi được giải phóng khỏi Phát-xít Đức đã có mặt ở Hà Nội, đã quan sát hàng chục ngàn người Việt Nam đi thành từng hàng băng qua đại lộ Brière-de-l’Isle để tiến vào quảng trường Jean Sainteny ngạc nhiên trước sự tham gia công khai của giới Công giáo và sửng sốt trước sự trật tự của đám đông, không có bất kì hành vi gây rối nào Không ai có cử chỉ thù địch đối với Jean Sainteny hay đối với tòa nhà phủ Toàn quyền
Vấn đề an ninh cũng được suy xét đáng kể, với đội quân danh dự của Quân Giải phóng đảm bảo không ai trong số khán thính giả có thể tới gần khán đài trong phạm vi 20 mét, những công nhân và sinh viên có vũ trang cũng được xếp đặt tại mọi góc của mấy khu vườn, và một đơn vị
tự vệ cảnh giác trước bất kì sự quấy rối nào từ hướng Thành Hà Nội nơi quân Pháp vẫn còn bị Nhật giam giữ Trước cuộc mít-tinh, lính Nhật ở khu đất thuộc Phủ Toàn quyền đã thiết lập mấy khẩu súng máy chĩa về quảng trường, làm những nhà tổ chức phải dựng lên một bức màn người gồm những dân quân tự vệ với chỉ thị thà chết còn hơn rút lui
Mặc dù chương trình được mong đợi bắt đầu vào đúng 2 giờ chiều, nhưng xe hơi chở các thành viên trong nội các Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đến trễ hai mươi lăm phút khi phải đi xuyên qua các đám đông Hồ Chí Minh dẫn đầu những người còn lại bước nhanh lên khán đài, điều làm ngạc nhiên nhiều người đứng xem vì họ mong chờ những người cầm quyền sẽ di chuyển với phong thái từ tốn và trang nghiêm Trong khi hầu hết các đồng sự của ông trên khán đài đều mặc đồ vest Tây và thắt caravat, nhưng Hồ Chí Minh cố ý chọn mặc bộ đồ kaki phai màu với cổ cao và mang đôi dép cao su trắng
Sau lễ chào cờ và hát quốc ca, Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, bước tới micrô giới thiệu
Hồ Chí Minh, người được chào mừng bằng những tiếng hô vang dội được sắp xếp trước, “Độc lập! Độc lập!” Hồ Chí Minh vẫy tay trước khán thính giả trong vài phút, đoạn nâng hai bàn tay lên để kêu mọi người im lặng Bằng giọng Nghệ Tĩnh đặc trưng, Hồ Chí Minh bắt đầu đọc Tuyên ngôn Độc lập Đọc đến giữa chừng, Hồ Chí Minh hỏi: "Tôi nói, Đồng bào có nghe rõ không?” và đám đông đồng thanh hô vang “Rõ!”
Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được thông qua Cách mạng tháng Tám Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước
Trang 6Nhận xét về tác giả và tác phẩm
1 “Là người đã viết Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925, Hồ Chí Minh cảm thấy “sảng khoái nhất” khi cầm bút viết những lời kết thúc cho chế độ thực dân Pháp và khai sinh ra chế
độ Dân chủ Cộng hòa tại Việt Nam” (Trần Đình Sử)
2 Một chính khách danh tiếng của châu Á đã phát biểu: “Người là ánh sáng hi vọng trong thế
kỉ bạo tàn, ánh sáng hi vọng đó phải chăng là tư tưởng không gì quý hơn độc lập tự do của Người”
3 Bác có nói: ”Tôi tuy viết nhiều nhưng chưa lần nào tạo được bài viết hữu ích như lần này”
4 Đồng chí Trường Chinh nhận xét: ”Về văn phong, cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch
có những nét rất độc đáo: Nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: Hình thức sinh động, giản dị, giàu tính dân tộc
và tính nhân dân.”
5 “Bác Hồ là cây đại thụ Việt Nam mà rễ ăn sâu xuống lòng đất đời đời xanh tươi Bóng mát
che rợp cả đất nước ba phần tư thế kỷ XX” (Đoàn Minh Tuấn)
Trong buổi lễ này, thông qua bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh cũng đã kêu gọi các nước Đồng minh ủng hộ nền độc lập chân chính do nhân dân Việt Nam vừa tự tay giành được
thông qua Cách mạng tháng Tám Ông tuyên bố rằng Chính phủ lâm thời đã huỷ bỏ hết mọi hiệp ước do Pháp kí trong quan hệ với Việt Nam và bãi bỏ hết mọi đặc quyền của người Pháp,
và cảnh báo rằng người Việt “kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp” Kết thúc bài phát biểu của mình, Hồ Chí Minh giới thiệu từng bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời với quần chúng nhân dân và tất cả đều làm lễ tuyên thệ nhậm chức
Võ Nguyên Giáp khi đó bước tới và đọc một diễn văn dài đầy vẻ nghiêm trang để tô điểm thêm cho bản Tuyên ngôn Sau đó, Trần Huy Liệu, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền, báo cáo trước khán thính giả về buổi lễ thoái vị của Bảo Đại ở Huế ba ngày trước đó, và rồi trao thanh kiếm hoàng gia và ấn cho Hồ Chí Minh Là một người có khả năng ăn nói thiên bẩm, Trần Huy Liệu dường như đã làm cho đám đông cười ồ lên và vỗ tay khi mô tả sự cáo chung của chế độ quân chủ Hòa vào bối cảnh đó, Hồ Chí Minh tuyên bố rằng thanh kiếm, trước đây được dùng để đàn áp dân chúng, giờ đây sẽ được dùng để “chặt đầu kẻ phản bội” Đại diện cho Tổng bộ Việt Minh là Nguyễn Lương Bằng sau đó nói ngắn gọn về nhu cầu cần thống nhất và đấu tranh, phát biểu thẳng thừng rằng đánh Pháp là chuyện cần thiết Vào một thời điểm nào đó giữa buổi lễ lúc chiều, hai chiếc máy bay Tia chớp P-38 của Mỹ sà xuống thấp ngay trên đám đông, một sự kiện được tuyên bố ngay tức thì và ai cũng tin là đại diện cho lời chào mừng của Mỹ dành cho chính quyền non trẻ của Việt Nam Cuối cùng, trước khi kết thúc buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Chúng ta sẽ phải trải qua nhiều khốn khó
và đau khổ hơn nhiều Đồng bào phải ủng hộ chính quyền, để sau này có thêm nhiều buổi ăn mừng và thắng lợi!" Buổi lễ kết thúc bằng việc đoàn người có tổ chức ở quảng trường sau đó diễu hành ra phố, giải tán ở hồ Hoàn Kiếm, và gia nhập vào bầu không khí vui chung cho đến giờ giới nghiêm
Trang 76 “Tài nghệ ở đây là dàn dựng được một lập luận chặt chẽ, đưa ra được những luận điểm, những bằng chứng không ai chối cãi được và đằng sau những lí lẽ ấy là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn, đã tổng kết được trong một văn bản ngắn gọn, trong sáng, khúc triết kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền của dân tộc và của nhân loại.”
(Nguyễn Đăng Mạnh)
III NỘI DUNG TÁC PHẨM
1 Nguyên lý chung (cơ sở pháp lý và chính nghĩa) của bản tuyên ngôn
2 Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn
3 Lời tuyên bố với thế giới
Kiến thức khái quát:
Nội dung 1: Nguyên lý chung (cơ sở pháp lý và chính nghĩa) của bản tuyên ngôn
Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của con người Đó là những quyền không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi
- Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mỹ và Pháp:
Trang 8+ trước hết là để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại
+ sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới -> đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân loại và tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh đề tiếp theo
- ý nghĩa của việc trích dẫn:
+ Có tính chiến thuật sắc bén, khéo léo, khóa miệng đối phương
+ Khẳng định tư thế đầy tự hào của dân tộc (đặt 3 cuộc Cách mạng, 3 nền độc lập, 3 bản Tuyên Ngôn ngang hàng nhau) cách vận dụng khéo léo và đầy sáng tạo
- Cách mở bài rất đặc sắc: từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi đến khẳng định Độc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc
Câu văn “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ
-> đây là đóng góp riêng của tác giả và của dân tộc ta vào một trong những trào lưu tưởng cao đẹp vừa mang tầm vóc quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo cao cả
- Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm Người không chỉ nói với nhân dân Việt Nam ta, mà còn tuyên bố với thế giới Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2 vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa của
Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng
* Tóm lại: Với lời lẽ sắc bén, đanh thép, Người đã xác lập cơ sở pháp lý của bản Tuyên Ngôn, nêu cao chính nghĩa của ta Đặt ra vấn đề cốt yếu là độc lập
dân tộc
Phân tích chi tiết:
Trước hết, Hồ Chủ tịch khẳng định nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập bằng chính lời lẽ của tổ tiên người Mỹ, người Pháp đã ghi lại trong hai bản Tuyên ngôn từng làm vẻ vang cho truyền thống tư tưởng và văn hóa của dân tộc ấy Bác dẫn lời trong tuyên ngôn
của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ
Trang 9những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Người còn dẫn bản Tuyên ngôn nhân quyền và
dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 Ở đó có đoạn: “Người ta sinh ra tự do và bình
đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.” Đó là những lẽ
phải, những chân lí mà thế giới đã thừa nhận Chính từ hai chân lý đó, Người đã chỉ ra được
một chân lí thứ ba, buộc mọi người phải thừa nhận: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.” Hồ Chí Minh đã mượn hai bản tuyên ngôn của hai nước lớn mạnh
nhất trên thế giới lúc bấy giờ, và hai bản tuyên ngôn này cũng được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới công nhận để làm cơ sở pháp lí cho bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam thì không có lí nào mà nhân dân thế giới không công nhận bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước ta
Viết bản tuyên ngôn, Bác đã sử dụng một ngôn ngữ lập luận vừa khôn khéo lại vừa kiên
quyết Nói là khôn khéo bởi Người đã lấy lời lẽ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của Pháp để so sánh với việc làm đồi bại của chúng ở Việt Nam ngót một thế kỷ qua,
để phanh phui bộ mặt thật của bọn thực dân, xé toang chiêu bài của chúng trên trường quốc
tế Trong tranh luận không gì thú vị bằng việc lấy lời lẽ của đối phương để “khóa miệng” của
đối phương Đó chính là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” trong tranh luận Những kẻ
chuyên mang quân đi xâm lược nhưng ngoài miệng luôn nói về quyền tự do, bác ái ấy đã bị Người sử dụng chính cây gậy độc lập dân tộc đập lại vào lưng
Ngoài ra, những lí lẽ Người sử dụng còn thể hiện một sự kiên quyết Thông qua phần một của bản tuyên ngôn, người đã ngầm cảnh cáo nước Pháp rằng nếu chúng thực sự đem quân đi xâm lược nước ta thì lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ đã giương cao từ thế kỉ trước sẽ bị vấy bẩn, sẽ chà đạp lên truyền thống tốt đẹp mà cha ông họ đã dày công vun
đắp Hơn thế nữa, qua việc trích dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, Bác đã
đặt ngang hàng bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam với bản tuyên ngôn của nước Pháp Vẫn biết rằng tuyên ngôn là hệ quả tất yếu của Cách mạng, vậy nên ta có thể thấy Người đã đặt Cách mạng tháng Tám của ta ngang hàng với cuộc cách mạng tư sản Pháp trong khi Pháp đang tìm cách phủ nhận thành quả Cách mạng tháng Tám của ta Như vậy giờ đây, nếu Pháp phủ nhận thành quả cách mạng của ta thì nghĩa là chúng cũng sẽ phủ nhận thành quả cách mạng của chính mình, đi ngược lại bánh xe của lịch sử và sa vào chủ nghĩa xét lại mà cả thế giới đang lên án Và với ý nghĩa đó, dân tộc Việt Nam cũng đã sánh ngang với hai cường quốc Pháp và Mỹ, chứ không còn là một quốc gia nhược tiểu trên bản đồ thế giới với cái tên: Thuộc địa thuộc Pháp nữa
Ở đây nếu để ý, người yêu văn sẽ dễ dàng nhận thấy nếu trong cả hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ đều có đề cập đến quyền con người thì Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh lại nói về quyền dân tộc Đây cũng là một dụng ý nghệ thuật của Hồ Chí Minh bởi lẽ
Trang 10đối với một dân tộc thuộc địa như ở Việt Nam, khi quyền dân tộc chưa có được thì quyền con người ngàn năm không bao giờ có Nhân dân Việt Nam đấu tranh để bảo vệ quyền dân tộc là
họ đang đấu tranh để bảo vệ quyền con người Vì vậy, Tuyên Ngôn Độc Lập của Hồ Chí Minh là bản tuyên ngôn nhân quyền mang sắc thái quốc tế
Lúc đó, bọn thực dân Pháp đang đe dọa nền độc lập của dân tộc, bản tuyên ngôn là một lời cảnh bảo cho Pháp và những nước đang nhăm nhe xâm lược nước ta Đẩy lùi nguy cơ ấy phải là cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài của toàn dân Nhưng cuộc chiến đấu ấy rất cần đến sự đồng tình và ủng hộ nhân loại tiến bộ Muốn vậy phải xác lập cơ sở pháp lí của cuộc kháng chiến, phải nêu cao chính nghĩa của ta và đập tan luận điểm xảo trá của bọn thực dân muốn
“hợp pháp hóa” cuộc xâm lược của chúng ta trước dư luận quốc tế Bản Tuyên ngôn đã giải
quyết được yêu cầu ấy bằng một hệ thống lập luận hết sức chặt chẽ và đanh thép
Như vậy, ngay từ mươi dòng đầu, bằng cách lập luận vô cùng chặt chẽ, lập luận sắc sảo, đanh thép, Hồ Chí Minh xứng đáng là nhà văn của nhân loại như lời nhận định của Muydenstande
Qua phần mở đầu Tuyên Ngôn Độc Lập, ta còn thấy văn phong đặc sắc của Hồ Chí
Minh: ngắn gọn, súc tích, thấm thía, rung động lòng người Tuyên Ngôn Độc Lập là "lời Non
Nước" cao cả và thiêng liêng
Nội dung 2: Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn
* Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp
- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”
- Năm tội ác về chính trị: tước đoạt tự do dân chủ, luật pháp dã man, chia
để trị, chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện
- Năm tội ác lớn về kinh tế: bóc lột tước đoạt, độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945
=> sử dụng phương pháp liệt kê; câu văn ngắn dài, động từ mạnh, điệp từ, điệp cú pháp, ngôn ngữ sắc sảo; hình ảnh gợi cảm, giọng văn hùng hồn
- Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã
“bán nước ta 2 lần cho Nhật”
- Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn