Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÔ VĂN TUẤN
XÂY DỰNG TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TỪ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÔ VĂN TUẤN
XÂY DỰNG TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TỪ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành Kinh tế tài chính, ngân hàng
Mã số: 62 31 12 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS., TS NGUYỄN THỊ NHUNG
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
*******
Tôi tên: Ngô Văn Tuấn
Sinh ngày: 20 tháng 5 năm 1968 tại: Sài Gòn
Quê quán: Long An
Hiện công tác tại: Ngân hàng TMCP Phát Triển Mê Kông chi nhánh TP
Hồ Chí Minh, 707-709 Cách Mạng Tháng Tám, phường 6, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh
Là nghiên cứu sinh khóa XIII của trường Đại học Ngân hàng thành phố
Hồ Chí Minh
Mã số: 010113080008
Cam đoan đề tài: “Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ ngân
hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh”
Chuyên ngành: kinh tế tài chính, ngân hàng – Mã số: 62.31.12.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS Nguyễn Thị Nhung
Luận án được thực hiện tại trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu
có tính độc lập và chưa được công bố toàn bộ nội dung bất kỳ ở đâu; Các số liệu, các nguồn trích dẫn được chú thích rỏ ràng nguồn gốc, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP HCM, ngày 12 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Ngô Văn Tuấn
Trang 41 ABBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
2 AGRIBANK : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn VN
3 ATM : Máy rút tiền tự động
4 BIDV : Ngân hàng Đầu tư Việt Nam
5 EURO : Đồng tiền chung Châu Âu
6 GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
7 HABUBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Nhà Hà Nội
8 HĐQT : Hội đồng quản trị
9 HSBC : Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải
10 IFC : Quỹ tiền tệ Quốc tế
11 KTNB : Kiểm toán nội bộ
12 MRML : Mở rộng mạng lưới
13 NHLD : Ngân hàng liên doanh
14 NHNN : Ngân hàng Nhà nước
15 NHNNg : Ngân hàng nước ngoài
16 NHTM : Ngân hàng thương mại
17 NHTM CP : Ngân hàng thương mại cổ phần
18 NHTM NN : Ngân hàng thương mại nhà nước
Trang 5Bảng 1.1: Các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới năm 2011 ……… 5 Bảng 1.2: Quy mô tập đoàn TC-NH trong 100 tập đoàn lớn nhất thế giới
năm 2011 ……… 30 Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu của hệ thống các TCTD tại Việt Nam đến 2011 61 Bảng 2.2: Độ sâu tài chính giai đoạn 2005 -2011 ……… 63 Bảng 2.3: Số lượng công ty trực thuộc NHTM CP đến năm 2011 ……… 75 Bảng 2.4: Dữ liệu thị trường chứng khoán Việt Nam 2005 – 2011 …… 87 Bảng 2.5: Tình hình nhân sự một số NHTM CP trên địa bàn đến năm 2011 93 Bảng 2.6: Vốn điều lệ của các NHTM CP tại TP HCM từ 2008 – 2010… 94 Bảng 2.7: Thống kê mức vốn điều lệ NHTM CP ở TP HCM đến năm 2011 95 Bảng 2.8: So sánh Ngân hàng Việt Nam với các nước trong khu vực …… 96 Bảng 2.9: Thống kế số lượng sản phẩm dịch vụ chủ yếu của các NHTM CP 99 Bảng 2.10: Hệ thống phần mềm các NHTM Việt Nam áp dụng 101 Bảng 2.11: Tăng trưởng vốn và lợi nhuận một số NHTM CP tại TP HCM 110 Bảng 3.1: So sánh số lượng ngân hàng giữa các nước ……… 175
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số lượng điểm giao dịch các NHTM CP ……… 102 Biểu đồ 2.2: Thị phần trái phiếu Việt Nam hiện nay ……… 106
Đồ thị 2.1: Tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng 2005 – 2011 ……… 113
Trang 7Hình 1.1: Mô hình theo cấu trúc Ngân hàng đa năng ……… 32
Hình 1.2: Mô hình theo cấu trúc sở hữu tài chính ……… 33
Hình 1.3: Mô hình công ty mẹ - con ……… 34
Hình 1.4: Khái quát mô hình hoạt động của HSBC Holding ……… 48
Hình 1.5: Mô hình tổ chức hoạt động của OCBC ……… 51
Hình 1.6: Khái quát mô hình hoạt động của OCBC group ……… 53
Hình 2.1: Một số mốc quan trọng trong lịch sử phát triển Ngân hàng VN 60
Hình 2.2: Bán chéo sản phẩm ngân hàng với Bảo hiểm ……… 78
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức cơ bản của NHTM CP ……… 92
Hình 3.1: Mô hình tập đoàn TC-NH tại TP HCM ……… 129
Hình 3.2: Tổng quát cơ cấu tổ chức NHTM CP ……… 139
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH
NGÂN HÀNG ……… …… 1
1.1 Tập đoàn kinh tế ……… ……… 1
1.1.1 Các quan điểm về TĐKT ……… ………
1.1.2 Một số đặc trưng của TĐKT ………….……… 4
1.1.3 Các hình thức liên kết và mô hình tổ chức của TĐKT ……… 7
1.2 Tập đoàn tài chính - ngân hàng ………… ……… 20
1.2.1 Các quan điểm về tập đoàn TC-NH…… ……… 20
1.2.2 Một số đặc điểm cơ bản của tập đoàn TC-NH ……… …… 26
1.2.3 Một số mô hình tổ chức của tập đoàn TC-NH ……… 31
1.2.4 Nhận định về vai trò của tập đoàn TC-NH ……… …… 35
1.3 Các điều kiện cơ bản thúc đẩy hình thành tập đoàn TC-NH ……… 39
1.3.1 Điều kiện “cần” để hình thành và phát triển tập đoàn TC-NH ……… 39
1.3.2 Điều kiện “đủ” để hình thành và phát triển tập đoàn TC-NH ……… …… 41
1.4 Kinh nghiệm đối với Việt Nam từ một số tập đoàn TC-NH trên thế giới….… 46 1.4.1 Hongkong and Shanghai Banking Corporation Holdings (HSBC)……… 46
1.4.2 Oversea-chinese Banking Corporation (OCBC) ……… 49
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho việc phát triển tập đoàn TC-NH ở Việt Nam … 53
Kết luận chương 1 ……… 56
Trang 9PHỐ HỒ CHÍ MINH ……….……… 58
2.1 Sự cần thiết hình thành tập đoàn TC-NH tại TP HCM ……… 58
2.1.1 Khái quát quá trình phát triển hệ thống NHTM Việt Nam ……… 58
2.1.2 Tình hình phát triển của một số NHTM CP tiêu biểu tại TP HCM……… 65
2.1.3 Sự cần thiết hình thành tập đoàn TC-NH tại TP HCM ……… 70
2.2 Thực trạng các điều kiện cơ bản hình thành tập đoàn TC-NH tại TP HCM… 80 2.2.1 Các điều kiện “cần” để hình thành tập đoàn TC-NH tại TP HCM ……… 80
2.2.2 Các điều kiện “đủ” để hình thành tập đoàn TC-NH tại TP HCM 88
2.3 Một số hạn chế và nguyên nhân hạn chế ảnh hưởng đến việc hình thành tập đoàn TC-NH ……… 104
2.3.1 Hạn chế từ yếu tố pháp lý ……… 104
2.3.2 Hạn chế về thị trường tài chính tiền tệ ……… 105
2.3.3 Hạn chế về cơ cấu tổ chức, nhân sự ……… 107
2.3.4 Hạn chế về năng lực tài chính của các NHTM CP ……… 108
2.3.5 Hạn chế về sản phẩm dịch vụ ngân hàng ……… 111
2.3.6 Hạn chế về chất lượng tài sản ……… 112
2.3.7 Hạn chế về ứng dụng công nghệ thông tin ……… 114
2.3.8 Hạn chế về hệ thống mạng lưới và hợp tác quốc tế ……… 115
2.3.9 Nguyên nhân hạn chế ……… 116
Kết luận chương 2 ……… 119
Trang 10NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TẠI TP HỒ CHÍ MINH ……… 121
3.1 Chiến lược phát triển KT-XH và Ngân hàng Việt Nam đến năm 2020……… 121
3.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2020 ………… 121
3.1.2 Chiến lược phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2020 ………… 123
3.2 Đề xuất mô hình tập đoàn TC-NH từ NHTM CP tại TP HCM ……… 125
3.2.1 Đề xuất mô hình tập đoàn TC-NH ……… 125
3.2.2 Cấu trúc bộ máy quản lý tập đoàn TC-NH ……… 129
3.2.3 Năng lực hoạt động của NHTM CP trong mô hình tập đoàn TC-NH……… 137
3.3 Giải pháp xây dựng tập đoàn TC-NH từ NHTM CP tại TP HCM ……… 156
3.3.1 Sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại giữa các NHTM CP trên địa bàn để từng bước hình thành tập đoàn TC-NH ……… 156
3.3.2 Sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại giữa NHTM CP trên địa bàn với các định chế tài chính, các tổ chức trong và ngoài nước ……… 159
3.3.3 Phát triển từ một NHTM CP có đủ khả năng và điều kiện hình thành … 160
3.4 Một số đề xuất nhằm thúc đẩy việc hình thành tập đoàn TC-NH ……… 162
3.4.1 Đề xuất với Chính phủ ……… 162
3.4.2 Đề xuất với Ủy Ban Nhân Dân TP HCM 170
3.4.3 Một số đề xuất với NHNN Việt Nam ……… 172
Kết luận chương 3 ……… 180
KẾT LUẬN ……… 182
Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan của tác giả đã công bố … …… 186
Danh mục tài liệu tham khảo ……… 187
Phụ lục ………
Trang 111 Lý do chọn đề tài
Ngân hàng là một trong những định chế tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế Để thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống xã hội, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế thì việc xây dựng một hệ thống ngân hàng vững mạnh, hiệu quả luôn luôn là điều cần thiết
Sau gia nhập WTO và gần đây Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh trong khu vực Tuy nhiên đánh giá riêng về hệ thống tài chính ngân hàng thì nhiều ý kiến cho rằng chưa tương xứng, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và chưa hội nhập vào hệ thống tài chính quốc tế cũng như khu vực
Vì vậy để đáp ứng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM, góp phần phát triển
ổn định, bền vững và hội nhập với hệ thống tài chính thế giới các NHTM VN nói chung, NHTM CP tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cần có những thay đổi triệt để trên tất cả các mặt hoạt động, từ sản phẩm dịch vụ đến tổ chức quản lý,
từ cấu trúc sở hữu đến quan hệ hợp tác trong và ngoài nước Nhất là xác định xu hướng phát triển tiếp theo là vấn đề quan trọng đối với các NHTM CP, đảm bảo vừa phù hợp quy luật vận động phát triển tất yếu khách quan, vừa phù hợp năng lực nội tại của chính bản thân ngân hàng Từ trước đến nay đã có một số nghiên cứu về xu hướng phát triển của NHTM sau gia nhập WTO hoặc dài hạn đến năm
2020 nhưng rất ít nghiên cứu quan tâm đến mô hình tập đoàn tài chính ngân
hàng Do đó luận án đã chọn đề tài “Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ
ngân hàng thương mại cổ phần tại thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu là
xuất phát từ yêu cầu thực tiễn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Theo tìm hiểu của tác giả thì từ trước đến nay chưa có nghiên cứu hoàn
Trang 12Riêng về hoạt động NHTM CP thì đa số nghiên cứu một số lĩnh vực nhất định về nghiệp vụ mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách bao quát toàn bộ hoạt động NHTM CP, nhất là các NHTM CP trên địa bàn TP HCM từ khi thành lập đến nay cũng như xu hướng phát triển sắp tới
3 Mục đích nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hóa góp phần làm rõ những lý luận cơ bản về tập đoàn mà trong đó chủ yếu tập trung vào tập đoàn TC-NH, phân tích hoạt động một số tập đoàn TC-NH lớn trên thế giới để đưa ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình tập đoàn TC-NH từ các NHTM CP tại TP HCM
- Phân tích rõ thực trạng hoạt động của các NHTM CP ở TP HCM Xác
định những mặt đạt được hay hạn chế để trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thích hợp cho xu hướng phát triển thành tập đoàn TC-NH của NHTM CP
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu hoạt động ngân hàng theo mô hình tập đoàn như HSBC, OCBC và các NHTM CP có trụ sở chính tại thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nghiên cứu hoạt động chung của các NHTM CP tại TP HCM, dựa trên các nội dung: cơ cấu tổ chức, nhân sự, năng lực tài chính, sản phẩm dịch vụ, công nghệ thông tin, tính pháp lý và các yếu tố khác thúc đẩy NHTM CP phát triển theo xu hướng hình thành tập đoàn TC-NH trên địa bàn
+ Thực trạng nghiên cứu được tập trung giai đoạn 2000 – 2011
5 Phương pháp nghiên cứu và thu thập phân tích dữ liệu
5.1 Tổng quan phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Là công trình nghiên cứu khoa học nên trong quá trình thực hiện đề tài,
Trang 13thực tế hoạt động của ngành ngân hàng, tham khảo các lý thuyết tài chính tiền tệ, ngân hàng Trong quá trình nghiên cứu có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn đồng thời tham khảo các tài liệu, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu, cũng như sử dụng các số liệu tham khảo từ các cơ quan hữu quan và các số liệu từ tài liệu nước ngoài
5.2 Thu thập và phân tích dữ liệu
5.2.1 Thu thập dữ liệu: nghiên cứu tập trung vào hoạt động của NHTM
theo mô hình tập đoàn TC-NH nên dữ liệu lựa chọn được xác định trên các cơ sở sau:
+ Việt Nam chưa có quy định pháp lý cho việc hình thành tập đoàn
TC-NH nên tham khảo tư liệu và thực tiễn hoạt động của một vài tập đoàn tài chính lớn trên thế giới như HSBC Holding, OCBC Group để làm cơ sở lý luận
+ Các NHTM CP tại TP HCM là một trong những NHTM CP có quy mô, tốc độ tăng trưởng nhanh trong hệ thống ngân hàng Việt Nam nhưng vẫn còn nhiều bất cập, cần có định hướng phát triển thích hợp hơn để vừa ổn định, vừa tăng khả năng hội nhập vào hệ thống tài chính quốc tế
+ Dữ liệu thu thập chủ yếu dựa trên các nguồn như báo cáo hoạt động kinh doanh của NHNN, NHTM CP tại TP HCM, từ các cơ quan thống kê, các tài liệu nước ngoài…và là các dữ liệu có thực, dễ kiểm tra
+ Bên cạnh đó luận án của tham khảo các nguồn tư liệu từ nghị định của chính phủ, các văn bản hướng dẫn của NHNN, các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành, các tài liệu của các nhà khoa học, các ý kiến của đồng nghiệp và những nhà quản lý ngân hàng
5.2.2 Phân tích dữ liệu
Dữ liệu thu thập sẽ thống kê, phân tích, tổng hợp, hiệu chỉnh và đánh giá
Trang 145.3 Vấn đề đặt ra là những câu hỏi, giả thuyết và những lập luận cơ bản về ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
5.3.1 Vấn đề đặt ra là những câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu sau
- Phương pháp nào sẽ được sử dụng trong nghiên cứu? (Mở đầu)
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào đâu? (Mở đầu)
- Khái niệm TĐKT, tập đoàn TC-NH ở các nước và Việt Nam?(Chương1)
- Các mô hình tập đoàn và các điều kiện thúc đẩy sự ra đời? (chương 1)
- Thực trạng hoạt động và xu hướng phát triển của NHTM CP trên địa bàn, những thành tựu, hạn chế, và nguyên nhân hạn chế? (Chương 2)
- Những giải pháp thúc đẩy sự phát triển NHTM CP theo xu hướng hình thành tập đoàn TC-NH được cho là cần thiết? (Chương 3)
- Những giải pháp bổ trợ có nội dung mang tính khuyến nghị cho các nhà quản lý từ Chính phủ, NHNN và Ủy ban nhân dân TP HCM? (Chương 3)
5.3.2 Những lập luận cơ bản về ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Về mặt lý luận, luận án làm rõ những vấn đề về hoạt động của một số tập đoàn TC-NH lớn trên thế giới, qua đó chỉ ra các cơ sở và điều kiện kinh tế xã hội thúc đẩy sự hình thành các tập đoàn này, cơ cấu tổ chức, cơ chế giám sát và các quan hệ ràng buộc, các hình thức hay mô hình của tập đoàn TC-NH ở một số quốc gia khác nhau
Luận án chỉ ra những điểm mới và phân tích, chứng minh thông qua các
dữ liệu thống kê và lý luận thực tế để chỉ ra rằng xu hướng phát triển theo mô hình tập đoàn như một xu hướng khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế
Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra trong hệ thống tài chính ngân hàng mà còn diễn
ra giữa các định chế tài chính với phi tài chính ngân hàng Vì vậy sự liên kết tạo
Trang 15Luận án phân tích tình hình hoạt động của các NHTM VN hiện nay mà chủ yếu tập trung vào các NHTM CP tại TP HCM Riêng phần kiến nghị tác giả đưa ra các đề xuất và giải pháp khả thi để xây dựng mô hình tập đoàn TC-NH từ NHTM CP tại TP HCM, đặc biệt tập trung củng cố lại hoạt động NHTM CP trên địa bàn đang bất ổn bởi thường xuyên vi phạm chính sách tiền tệ, dẫn đến
nợ xấu ngày một tăng cao, nguy cơ khủng hoảng hệ thống và ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế xã hội Đồng thời cũng đề xuất các giải pháp về tăng cường công tác giám sát, quản lý của nhà nước để ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu hữu ích cho các NHTM
CP trong việc hoạch định, tổ chức quản lý và kinh doanh
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng, biểu đồ, hình và phụ lục… nội dung chính gồm 181 trang được trình bày
trong 3 chương, cụ thể
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính ngân hàng Chương 2: Sự cần thiết hình thành tập đoàn tài chính ngân hàng từ
NHTM CP tại TP HCM Chương 3: Xây dựng tập đoàn tài chính ngân hàng từ NHTMCP tại
TP HCM
Trang 16CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TĐKT nhưng chưa có một định nghĩa nào được xem là chuẩn nhất, bởi sự nhìn nhận ở các nước là hoàn toàn khác nhau Tại các nước khác nhau TĐKT được gắn với những tên gọi khác nhau Nhiều nước gọi TĐKT là “Group” hay “Business Group” Ấn Độ gọi là
“Business houses” Nhật Bản trước chiến tranh thế giới thứ hai gọi TĐKT là
“Zaibatsu”, sau chiến tranh thế giới thứ hai gọi là “Keiretsu” Hàn Quốc gọi là
“Chaebol” Trung Quốc gọi là tập đoàn Doanh nghiệp (Jituan Gongsi) hay chính xác hơn của thuật ngữ gọi là Tổng công ty
Nhật Bản, Keiretsu là một nhóm doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý
Trang 17nhưng nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập được mối quan hệ gắn bó, đan xen trên nhiều lĩnh vực: vốn, nhân lực, công nghệ, nguyên vật liêu, tiêu thụ sản phẩm…hay đó còn là các công ty có sự liên kết không chặt chẽ được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên [15]
Tại Malaysia và Thái Lan, TĐKT được xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tư, liên doanh, liên kết và hợp đồng Nòng cốt của các tập đoàn là cơ cấu công ty mẹ - con tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động Các thành viên trong tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập và thường hoạt động trên cùng một pháp lý, đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên với nhau là công ty mẹ Trong đó các doanh nghiệp thành viên tham gia tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập Bản thân tập đoàn không có tư cách pháp nhân
Tại các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, khi nói đến TĐKT người ta thường sử dụng các từ: Consortium, Conglomerate, Cartel, Trust, Alliance, Syndicate hay Group Dựa vào ngôn ngữ từng nước, người ta có thể dùng nhiều từ khác nhau
để khái niệm về TĐKT, tuy nhiên việc sử dụng từ ngữ nói về tập đoàn phần lớn phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ và tính chất đặc trưng của từng loại TĐKT Nếu TĐKT tồn tại như là một thực thể có tư cách pháp nhân thì được gọi là Conglomerate hoặc Holding company
Trong tiếng Anh, conglomerate thường được định nghĩa là một công ty lớn, có sở hữu cổ phần ở nhiều công ty khác hoạt động trong các ngành nghề gần như không liên hệ gì với nhau Holding company (công ty mẹ) cũng rất thông dụng trên thế giới Holding company là công ty sở hữu toàn diện, đa số, hay một phần cổ phiếu của một hay nhiều công ty con khác Thường được gọi là công ty
mẹ (parent company) vì công ty này luôn nắm số lượng cố phiếu đủ để quyết định đối với công ty con (subsidiary) như quyết định người lãnh đạo và mục tiêu phát triển [16] Hiện có một số định nghĩa khác nhau về TĐKT:
- TĐKT là một tập hợp các công ty hoạt động kinh doanh trên các thị
Trang 18trường khác nhau nhưng có sự kiểm soát về tài chính hoặc quản trị chung, trong đó các thành viên của chúng ràng buộc với nhau bằng các mối quan hệ tin cậy trên cơ sở sắc tộc hoặc điều kiện thương mại
- TĐKT là một hệ thống công ty hợp tác thường xuyên với nhau trong một thời gian dài và cung ứng các sản phẩm dịch vụ cho nhau
- TĐKT dựa trên hoạt động cung ứng sản phẩm dịch vụ thông qua mối ràng buộc trung gian, một mặt ngăn ngừa sự liên minh ngắn hạn ràng buộc đơn thuần giữa các công ty, mặt khác ngăn ngừa một nhóm công
ty sát nhập với nhau thành một tổ chức duy nhất
Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của TĐKT, tính đến nay khái niệm về TĐKT vẫn còn nhiều điểm chưa được thống nhất về nội hàm nên vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về TĐKT:
- Thứ nhất: TĐKT là pháp nhân kinh tế do nhà nước thành lập gồm nhiều doanh nghiệp thành viên có quan hệ với nhau về sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tài chính TĐKT ra đời trên cơ sở liên kết nhiều doanh nghiệp, những doanh nghiệp này trở thành thành viên của tập đoàn, hoạt động vì mục tiêu chung của tập đoàn và phát triển theo chiến lược của tập đoàn Theo quan điểm này, TĐKT là loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn
- Thứ hai: theo một số nhà nghiên cứu thì TĐKT là một tổ hợp các công
ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành một tập đoàn gồm một công
ty mẹ và một hay nhiều công ty con, góp vốn cổ phần, chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm 1/2 vốn cổ phần
- Thứ ba: một số nhà nghiên cứu cho rằng tập đoàn các doanh nghiệp, thường gọi là TĐKT, là một loại hình tổ chức kinh tế chỉ hình thành và tồn tại trong nền kinh tế thị trường Đó là một loại hình tổ chức kinh tế được hình thành trong quá trình tự liên kết của nhiều công ty, xí nghiệp
Trang 19của nhiều chủ sở hữu khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập trung tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu, nhanh chóng đổi mới công nghệ, nhằm đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền
Theo điều 149, Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005 thì TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn Chính phủ quy định, hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý
và hoạt động của TĐKT
Theo điều 146 của Luật Doanh nghiệp thì: “Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác”
Mặc dù còn có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng theo tác giả, TĐKT có
thể được hiểu:“là tổ hợp hay nhóm các doanh nghiệp hoạt động trong một hay
nhiều lĩnh vực khác nhau, ở phạm vi một hay nhiều nước; trong đó có một doanh nghiệp (hay công ty mẹ) nắm quyền lãnh đạo, kiểm soát, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp (hay công ty con) thông qua cơ chế giám sát thích hợp TĐKT
là cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có chức năng liên kết kinh
tế nhằm tăng cường, tập trung năng lực hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận doanh nghiệp”
1.1.2 Một số đặc trƣng của TĐKT
1.1.2.1 Các TĐKT có quy mô lớn và hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Điểm nổi bật của các TĐKT là quy mô lớn so các doanh nghiệp thông thường do sáp nhập, mua lại hoặc hợp nhất từ nhiều doanh nghiệp khác nhau Quy mô lớn thể hiện nổi bật ở các khía cạnh như tổng tài sản, vốn hóa thị trường, lợi nhuận, lao động (xem bảng 1.1)
Trang 20Bảng 1.1: Các tập đoàn kinh tế lớn nhất thế giới năm 2011
6 China national petrleum Trung Quốc 399 14
(Nguồn: tổng hợp và tính toán từ www.forbes.com) [51]
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực là xu hướng có tính chất chung cùng với sự phát triển của các TĐKT Ví dụ, Mitsubishi ban đầu hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng đến nay đã mở rộng sang: khai khoáng, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất, ngân hàng, bảo hiểm, ngoại thương, vận tải Tập đoàn Petronas (Malaysia) trước hoạt động chủ yếu trong ngành dầu khí nhưng hiện nay đã hoạt động trong các lĩnh vực: thăm dò, khai thác dầu khí, lọc dầu, hóa dầu, kinh doanh thương mại các sản phẩm dầu khí, hàng hải, kinh doanh bất động sản, siêu thị và giải trí Mặc dù hoạt động đa ngành song các TĐKT trên thế giới thường tập trung đầu tư vào một số hoặc một nhóm sản phẩm, dịch vụ hoặc ngành hàng, ngành nghề chủ yếu nào đó nên thường chiếm phần lớn thị phần với những mặt hàng chủ đạo của tập đoàn đó và vì vậy, có doanh thu rất cao so thị phần trong phạm vi quốc gia, kể cả quốc tế [10]
Trang 21Về lao động, các TĐKT mà nhất là tập đoàn đa quốc gia thường thu hút một số lượng rất lớn lao động ở chính quốc và ở các quốc gia khác Ví dụ, tập đoàn Danone (Pháp) chuyên sản xuất sữa tươi, bánh bích quy, thực phẩm, nước khoáng, bia… có 81.000 nhân viên Tập đoàn Fiat (Italia) có 242.300 nhân viên Tập đoàn Air France (Pháp) bao gồm 16 công ty con với 45.000 lao động [3,12]
1.1.2.2 Các TĐKT trên thế giới đa số là tập đoàn đa quốc gia
Hầu hết các TĐKT trên thế giới hiện nay hoạt động trên phạm vi toàn cầu,
đa quốc gia nhằm để tận dụng các nguồn tài nguyên giá rẻ, tận dụng các chính sách ưu đãi để mở rộng thị trường Các tập đoàn luôn luôn tìm cách hướng đến những thị trường mới vì ở đó dễ mang lại lợi nhuận cao nhưng cạnh tranh ít [7]
Qua khảo sát cho thấy Tập đoàn HENKEL (Đức) có 330 chi nhánh, công
ty con ở nước ngoài Tương tự, số chi nhánh, công ty con ở nước ngoài của tập đoàn Simens (Đức) là 300, tập đoàn Roche (Thụy Sĩ) là 140, tập đoàn Tractebel (Bỉ) là 100 và tập đoàn Unilever (Anh) có mặt tại hơn 170 quốc gia khác nhau
Sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học - sản xuất mục đích nhằm tạo một vòng khép kín các quan hệ kinh tế để giảm chi phí
và tăng tính cạnh tranh Hiện nay không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà ở các lĩnh vực khác như công ty tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và các viện nghiên cứu ứng dụng về khoa học, công nghệ thông tin…cũng tham gia vào các TĐKT ngày càng nhiều
1.1.2.3 Các TĐKT có sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu
Về cơ cấu tổ chức, cho đến nay vẫn chưa có hệ thống văn bản pháp lý hoàn chỉnh quy định cơ cấu tổ chức thống nhất cho TĐKT Vì vậy trên giác độ pháp lý hiện nay hầu hết các TĐKT chưa phải là một doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân độc lập, chỉ có các thành viên của tập đoàn có tư cách pháp nhân
Trang 22độc lập Thông thường theo thỏa thuận chung, đại diện HĐQT các công ty trong tập đoàn tập hợp lại thành Hội đồng chủ tịch tập đoàn
Hội đồng chủ tịch bầu ra Chủ tịch tập đoàn Hội đồng chủ tịch không thực hiện chức năng điều hành cụ thể đối với quá trình sản xuất, kinh doanh hay tổ chức của các công ty thành viên
Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức phần nào đó xuất phát từ tính đa dạng về sở hữu vốn trong các TĐKT [3] Trước hết, vốn trong tập đoàn là do các công ty thành viên làm chủ sở hữu, bao gồm cả vốn tư nhân và cũng có thể có cả vốn nhà nước Quyền sở hữu vốn trong tập đoàn cũng tùy thuộc vào mức độ phụ thuộc của các công ty thành viên vào công ty mẹ và thông thường ở hai cấp độ:
- Cấp độ thấp hay còn gọi là liên kết mềm: có vốn của công ty mẹ, công
ty con hay thấp hơn là của riêng từng công ty
- Cấp độ cao hay còn gọi là liên kết cứng: vốn của công ty mẹ tham gia đầu tư vào các công ty con, công ty mẹ làm chủ sở hữu hoặc công ty
mẹ chiếm trên 50% vốn điều lệ (công ty TNHH), hoặc giữ cổ phần chi phối với công ty "con","cháu" (công ty cổ phần)
Trên thực tế, không một TĐKT nào chỉ có quan hệ vốn theo một cấp độ
mà đan xen cả hai cấp độ tùy theo từng trường hợp cụ thể
1.1.3 Các hình thức liên kết và mô hình tổ chức của TĐKT
1.1.3.1- Các hình thức liên kết của TĐKT
TĐKT có sự liên kết bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp thành viên Đây là đặc trưng cơ bản, là tiền đề cần thiết để hình thành TĐKT thể hiện xu thế tất yếu trong việc nâng cao trình độ xã hội hóa và phát triển của lực lượng sản xuất [61]
- Về phạm vi liên kết, có những kiểu liên kết sau:
+ Liên kết dọc: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một dây chuyền
công nghệ Hình thức này hiện vẫn còn phổ biến vì hoạt động có hiệu quả cao và
Trang 23có thể mở rộng hoạt động kinh doanh sang nhiều quốc gia khác nhau Tuy nhiên
để phát triển theo hình thức này cần phải có một công ty có tiềm lực về tài chính,
có uy tín để quản lý, kiểm soát, đảm bảo tín dụng và thị trường cho cả tập đoàn Không những thế, công ty đó cần có mối quan hệ tốt với cơ quan quản lý nhà nước, có hệ thống thông tin toàn cầu đủ khả năng xử lý và tổng hợp những thông tin về thị trường
+ Liên kết ngang: là liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành
nghề kinh doanh Hình thức này hiện ít phổ biến do các doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và biến đổi nhanh chóng Nếu áp dụng hình thức này thì khó đem lại hiệu quả cao do khả năng xoay chuyển chậm Các chính phủ thường hạn chế hình thức này vì nó dễ tạo ra
xu hướng độc quyền, đi ngược nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường
+ Liên kết hỗn hợp: là liên kết các doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh kể cả những ngành, lĩnh vực không có liên quan đến nhau Hình thức này đang ngày được ưa chuộng trên thế giới và trở thành xu hướng phát triển các tập đoàn hiện nay Cơ cấu tập đoàn bao gồm một ngân hàng hoặc một công ty tài chính lớn và nhiều doanh nghiệp sản xuất, thương mại, trong đó hoạt động tài chính ngân hàng xuyên suốt, bao trùm mọi hoạt động kinh doanh của tập đoàn
- Về trình độ liên kết, có các kiểu sau:
+ Liên kết cứng: theo liên kết này, các doanh nghiệp thành viên kết hợp
trong tổ chức thống nhất và mất tính độc lập về tài chính, sản xuất và thương mại Tập đoàn được cấu tạo dưới hình thức đa sở hữu theo kiểu công ty cổ phần với sự góp vốn của nhiều chủ sở hữu khác nhau Các doanh nghiệp thành viên hoạt động trong cùng một ngành nghề hoặc có liên quan với nhau về chu kỳ công nghệ sản xuất, bổ sung cho nhau trong quá trình sản xuất, kinh doanh liên tục, thống nhất theo chiến lược chung của tập đoàn Trong đó, công ty mẹ có lợi
Trang 24thế nắm giữ cổ phần chi phối các công ty để giữ quyền lãnh đạo, ra quyết định cho các doanh nghiệp khác
+ Liên kết mềm: đây là hình thức tập đoàn của các doanh nghiệp độc lập,
cùng sản xuất, kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó Để hạn chế cạnh tranh họ hợp tác sản xuất kinh doanh với nhau thông qua một thỏa hiệp chung bằng cách thống nhất về giá cả, dịch vụ, sản phẩm, nguyên liệu cung ứng Mục đích của việc liên minh liên kết là để đối phó những thay đổi của nền kinh
tế trong và ngoài nước, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, các hoạt động kinh doanh không ngừng mở rộng, đòi hỏi quy mô vốn lớn và trình độ công nghệ cao hơn Vì vậy, các doanh nghiệp liên kết lại để lợi dụng được ưu thế của quy
mô tập đoàn
+ Liên kết hỗn hợp: là sự liên kết của cả hai loại liên kết trên và là hình
thức phát triển cao nhất của TĐKT TĐKT được hình thành trên cơ sở thống nhất về tài chính Các thành viên chịu sự chi phối về tài chính của một công ty gọi là công ty mẹ (Holding Company) thông qua quyền sở hữu cổ phiếu Hoạt động của cả tập đoàn và các công ty con được mở rộng nhiều lĩnh vực khác nhau
từ tài chính đến hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và giữa các công ty con trong tập đoàn không nhất thiết phải có mối liên hệ về sản phẩm, công nghệ hay
kỹ thuật Hình thức liên kết này đang trở nên phổ biến
- Về hình thức biểu hiện, có các kiểu sau [61]
+ Cartel: là một nhóm các nhà sản xuất độc lập về sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm nhưng thỏa thuận thống nhất về giá cả, phân chia thị trường tiêu thụ, nguyên liệu để tăng lợi nhuận và hạn chế cạnh tranh Đây là hình thức liên kết ngang Cartel thường có mặt tại những thị trường bị chi phối mạnh bởi một số loại hàng hoá nhất định, nơi có ít người bán và thường đòi hỏi những sản phẩm
có tính đồng nhất cao Tuy nhiên kiểu liên kết này có nhược điểm là dễ bị đổ vỡ
do sản xuất và tiêu thụ vẫn tiến hành độc lập nên một số thành viên có thể phá bỏ hợp đồng
Trang 25+ Syndicate: là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản độc lập về pháp lý
nhưng không độc lập về thương mại, có một ban quản trị chung quản lý việc tiêu thụ sản phẩm Đây là loại liên minh độc quyền cao và ổn định hơn so với Cartel
+ Trust: có quy mô lớn hơn Cartel và Syndicate Các thành viên tham gia
hoàn toàn mất tính độc lập, họ chỉ là những công ty cổ phần
+ Consortium: là liên minh giữa các nhà kinh doanh độc quyền đa ngành
Các thành viên tham gia có mối liên hệ với nhau về mặt kinh tế, kỹ thuật Consortium quy định rõ quyền và nghĩa vụ của từng công ty thành viên tham gia Vai trò kiểm soát của Consortium chủ yếu giới hạn trong các hoạt động chung của tập đoàn, nhất là trong việc phân phối lợi nhuận
+ Conglomerate: là tập đoàn kinh doanh đa ngành, các công ty thành
viên có hoặc không có mối quan hệ về công nghệ nhưng có quan hệ chặt chẽ về tài chính Tập đoàn này thực chất là một tổ chức tài chính đầu tư vào các công ty kinh doanh nhằm tạo ra một tổ hợp doanh nghiệp tài chính - công nghiệp để hỗ trợ vốn đầu tư cho các công ty thành viên hoạt động có hiệu quả
+ Concern: là một dạng TĐKT tồn tại dưới hình thức công ty mẹ đầu tư
vào các công ty con và điều hành hoạt động của tập đoàn Mục tiêu hình thành tập đoàn là để tăng cường năng lực tài chính để phát triển kinh doanh, hạn chế rủi ro, hỗ trợ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới, áp dụng phương pháp quản lý hiện đại Các công ty con hoạt động trong nhiều lĩnh vực như sản xuất, thương mại, ngoại thương, dịch vụ có liên quan; chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi hoạt động nhằm thực hiện lợi ích chung của tập đoàn thông qua các hợp đồng kinh tế, các khoản vay tín dụng hoặc đầu tư Mô hình này được áp dụng phổ biến hiện nay do nó có nhiều tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển và liên kết giữa các thành viên
+ Tập đoàn đa quốc gia (Multinational corporations - MNC): là sự
liên kết giữa các doanh nghiệp khác nhau trên quy mô quốc tế, theo chiều dọc
Trang 26hay theo chiều ngang, dưới hình thức trực tiếp trong sản xuất hay gián tiếp qua lưu thông Phạm vi hoạt động không bó buộc trong một lãnh thổ Về hình thức,
có một công ty mẹ đặt trụ sở ở một quốc gia phát triển và thường mang quốc tịch của nước đó và có nhiều công ty chi nhánh phụ thuộc vào công ty mẹ ở nước ngoài
+ Tập đoàn xuyên quốc gia (Transnational corporations - TNC): là
việc các doanh nghiệp đã vượt ra khỏi biên giới một quốc gia để liên kết hình thành tập đoàn xuyên quốc gia Cơ cấu tổ chức của tập đoàn này gồm có công ty
mẹ thuộc sở hữu của các doanh nghiệp nước chủ nhà và hệ thống các công ty con ở nước ngoài Các quan hệ phụ thuộc lẫn nhau chủ yếu về tài chính, công nghệ, kỹ thuật Các công ty con ở nước ngoài có thể mang hình thức công ty 100% vốn nước ngoài, cũng có thể mang hình thức công ty hỗn hợp, liên doanh với hình thức công ty cổ phần Tuy nhiên, dù dưới hình thức nào thì các công ty con đó thực chất cũng là những bộ phận của một tổ hợp, quyền kiểm soát chủ yếu về đầu tư, sản xuất kinh doanh vẫn thuộc về những nhà tư bản nước mẹ
- Về kiểu liên kết và tổ chức: tổ chức liên kết trong hầu hết các TĐKT
đều thông qua mối liên kết chính yếu là liên kết công ty mẹ - công ty con Công
ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn chi phối vào các công ty con Công ty con có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập với công ty mẹ Mối liên kết được duy trì hoặc chấm dứt qua việc công ty mẹ tiếp tục duy trì hay rút vốn đầu tư vào công ty con Hầu hết các công ty mẹ thường nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển
1.1.3.2 Một số mô hình tổ chức của TĐKT
- Mô hình Keiretsu của Nhật Bản
Trước chiến tranh Thế giới thứ II, nền công nghiệp Nhật Bản bị kiểm soát bởi các tập đoàn lớn gọi là zaibatsu Đến những năm giữa thế kỷ XX, các liên minh đã phá bỏ các zaibatsu, nhưng các công ty được thành lập đã phá bỏ các
Trang 27zaibatsu lại liên kết với nhau thông qua việc mua cổ phần để hình thành nên các liên minh liên kết theo chiều ngang giữa nhiều ngành nghề khác nhau Từ đây keiretsu ra đời Do sở hữu cổ phần lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của một ngân hàng và một công ty thương mại chung, nên các doanh nghiệp trong keiretsu thường có kế hoạch kinh doanh giống nhau, có khả năng hợp tác và tương trợ hữu hiệu, đặc biệt là khi gặp khó khăn về vốn Bên cạnh đó, các công ty thành viên còn chia sẻ với nhau những kinh nghiệm về kinh doanh, quản lý và cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường
Mỗi keiretsu lớn thường lấy một ngân hàng làm trung tâm Ngân hàng này cấp tín dụng cho các công ty thành viên của keiretsu và nắm giữ vị thế về vốn trong các công ty Mỗi một ngân hàng trung tâm có vai trò kiểm soát và ảnh hưởng rất lớn đối với các công ty thành viên trong keiretsu, hành động với tư cách là một đơn vị giám sát và hỗ trợ tài chính trong các trường hợp khẩn cấp
Trên thực tế có hai loại keiretsu: keiretsu liên kết dọc và keiretsu liên kết ngang Keiretsu liên kết dọc là điển hình của tổ chức và mối quan hệ như trong một công ty (từ khâu sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu đến tiêu thụ sản phẩm trong một ngành nghề nhất định)
Trong khi đó, keiretsu liên kết ngang thể hiện mối quan hệ giữa thành viên thường xoay quanh một ngân hàng và một công ty thương mại (gồm nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề khác nhau) Sau chiến tranh thế I dgiới thứ II, Nhật Bản có 6 keiretsu liên kết ngang khổng lồ trong ngành công nghiệp gồm: Mitsubishi, Mitsu, Sumitomo, Dai–Ichi Kangyo, Fuyo và Sanwa
Tuy nhiên thời kỳ suy thoái của Nhật Bản vào những năm 1990 đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động các keiretsu Nhiều ngân hàng lớn đã chịu sự tác động bởi các khoản nợ xấu và buộc phải sáp nhập hoặc đi đến phá sản Sumitomo Mitsui Banking Corporation vào năm 2001 là sự kết hợp của Ngân hàng Sumitomo và Ngân hàng Mitsui Trong khi đó, Ngân hàng Sanwa (Ngân
Trang 28hàng thuộc Hankyu – Toho Group) trở thành một phần của Ngân hàng Tokyo – Mitsubishi UFJ
Các keiretsu ở Nhật Bản rất chú ý đến việc lựa chọn đội ngũ các nhà quản trị Các TĐKT thường quan tâm đào tạo và bổ nhiệm các nhà quản trị địa phương bởi họ thông hiểu những điều kiện hoạt động và môi trường kinh doanh
ở địa phương đó Với cách thức này, các tập đoàn Nhật Bản chỉ cần điều động một số ít chuyên gia ra nước ngoài để truyền đạt những kỹ năng chuyên môn cần thiết và cách thức tiến hành các hoạt động kinh doanh chủ yếu, đồng thời kiểm soát các hoạt động ở nước ngoài và phát triển năng lực cho nhà quản trị [32]
- Mô hình Cheabol ở Hàn Quốc
Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc đã có bước phát triển mạnh mẽ vượt bậc và một trong những nhân tố làm nên những kỳ tích về kinh tế của Hàn Quốc chính là các doanh nghiệp lớn hay còn gọi là cheabol Các cheabol bắt đầu phát triển mạnh từ những năm 1950 - 1960 theo mô hình công ty
mẹ là công ty sở hữu thương hiệu (brand name) và thực hiện chức năng đầu tư tài chính Các công ty con có mối quan hệ liên kết về tài chính, chiến lược kinh doanh và sự điều phối chung trong hoạt động với công ty mẹ, ví dụ như Huyndai, Samsung, Daewoo
Đặc trưng của cheabol là toàn bộ các công ty thành viên thường do một hoặc một số ít gia đình sáng lập và nắm giữ cổ phần chi phối Vì vậy việc quản
lý điều hành trong các cheabol mang đậm màu sắc gia tộc Đó cũng là sự khác biệt cơ bản của tập đoàn Hàn Quốc với các nước công nghiệp phát triển khác Chủ tịch HĐQT là người có quyền lãnh đạo tối cao và thường là cổ đông lớn nhất của tập đoàn Mỗi tập đoàn đều có câu lạc bộ chủ tịch (Presidents Club) bao gồm các chủ tịch là đại diện công ty mà chủ tịch đó nắm vốn
Điểm khác biệt của cheabol là nguồn gốc sự ra đời, các cheabol chủ yếu là
Trang 29những tập đoàn tư nhân hùng mạnh trước khi có sự hỗ trợ qua hệ thống ngân hàng và được hưởng những cơ chế độc quyền nhờ vào các mối quan hệ thân hữu với chính phủ Sự ra đời của các cheabol là từ quá trình tích tụ tư bản chứ không
từ những quyết định hành chính của chính phủ Tuy nhiên do bành trướng quá nhiều lĩnh vực, thiếu minh bạch thông tin và thiếu giám sát từ chính phủ mà các cheabol sụp đổ, buộc chính phủ phải cải cách triệt để đối với các chaebol như để phá sản các chaebol yếu kém, xác định tỷ lệ vay nợ trên vốn sở hữu, cấm sở hữu công ty tài chính phi ngân hàng, minh bạch hóa quản lý và thông tin, ưu tiên tập trung vào ngành nghề chính, quy trách nhiệm cá nhân cho các lãnh đạo chaebol trong việc lãnh đạo tập đoàn, hạn chế cheabol đầu tư vào công ty thành viên Vì vậy mà ngày nay hàng chục chaebol vẫn còn tồn tại nhưng ngày càng bị kiểm soát bởi nhiều quy định và thuế phí để buộc họ có trách nhiệm hơn, đồng thời tăng cường tính minh bạch trong hoạt động [37,58]
Nhìn chung các tập đoàn ở Hàn Quốc và Nhật Bản đều xuất phát điểm từ lĩnh vực sản xuất công nghiệp và mở rộng dần ra các lĩnh vực khác Từ sản xuất điện tử, ôtô đến các sản phẩm công nghiệp nặng như khai thác mỏ, tàu biển, hoạt động thương mại, dịch vụ, các sản phẩm tiêu dùng và cuối cùng là lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm
- Mô hình Jituan Gongsi ở Trung Quốc
Trung Quốc đã chuẩn bị thành lập TĐKT từ những năm 80 của thế kỷ XX với hai đợt thí điểm thành lập 120 tập đoàn doanh nghiệp vào các năm 1991 và
1997 Quá trình này bắt đầu bằng việc sáp nhập các doanh nghiệp nhà nước thành những tổng công ty lớn cho đến khi đạt đến một quy mô nhất định nào đó, tổng công ty sẽ phân quyền kinh doanh cho các doanh nghiệp thành viên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành Sau đó là giai đoạn đa dạng hóa sở hữu và hình thức nắm giữ cổ phần đan xuyên nhau giữa các doanh nghiệp thành viên thông qua việc cổ phần hoá và giảm dần tỷ lệ cổ phần sở hữu của nhà nước Cuối
Trang 30cùng là thực hiện các biện pháp thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ các đối tác nước ngoài nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
Các TĐKT của Trung Quốc tồn tại chủ yếu dưới các hình thức sau:
+ Hình thức thứ nhất là TĐKT tổng hợp nhiều cấp Đây là loại tập đoàn doanh nghiệp nắm trong tay nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, thương mại, tài chính, dịch vụ và lấy vốn làm mối liên kết chủ yếu Hình thành bằng cách thôn tính, sáp nhập, xóa bỏ tư cách pháp nhân của các doanh nghiệp cũ lập
ra tập đoàn doanh nghiệp, trong đó công ty có tư cách pháp nhân làm nòng cốt (công ty mẹ) nắm giữ cổ phần khống chế hay thuê các doanh nghiệp có liên quan Doanh nghiệp nòng cốt sẽ nắm quyền lãnh đạo trong việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, nguyên vật liệu sản xuất, cung ứng, tiêu thụ…biến chúng thành những doanh nghiệp cấp dưới trực tiếp (tức là công ty con) của tập đoàn Các doanh nghiệp cấp dưới vẫn giữ tư cách pháp nhân của chúng, tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách độc lập tương đối
+ Hình thức thứ hai là tập đoàn theo mô hình liên kết dây chuyền Loại này chủ yếu là tổ chức liên hiệp lỏng lẻo, lấy sản xuất làm liên kết chính Chúng thường lấy một doanh nghiệp lớn làm nòng cốt cho tập đoàn, lấy sản phẩm, dịch
vụ chủ yếu của tập đoàn này làm đặc trưng, áp dụng hình thức chuyên môn hoá, hợp tác sản xuất, kinh doanh với các thành viên
+ Hình thức thứ ba là tập đoàn phối hợp đồng bộ Loại tập đoàn này lấy hợp đồng nhận thầu công trình làm sự liên kết chính Hình thành chủ yếu dựa vào một số doanh nghiệp công nghiệp lớn, lấy việc liên doanh nhận thầu đồng bộ hạng mục công trình lớn làm trọng tâm Dưới sự lãnh đạo của hội đồng, doanh nghiệp chủ chốt tổ chức thành công ty liên doanh thống nhất để lập ra các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân nhằm đạt được mục tiêu và lợi ích chung
+ Hình thức thứ tư là tập đoàn hòa nhập nghiên cứu khoa học với sản xuất
Trang 31kinh doanh, lấy liên kết phát triển kỹ thuật làm liên kết Loại tập đoàn này lấy những đơn vị nghiên cứu khoa học trong cùng ngành hoặc công ty công nghiệp lớn làm chủ đạo, hoạt động bổ sung cho nhau về khoa học - kỹ thuật và vốn nhằm phát triển sản phẩm kỹ thuật cao, từ đó cho ra đời các sản phẩm có giá trị cao để nâng cao năng lực cạnh tranh với các tập đoàn khác
+ Hình thức thứ năm là tập đoàn liên kết mạng lưới cùng ngành Đây là hình thức biến tướng của những liên hiệp xí nghiệp lớn có cùng ngành nghề
+ Hình thức thứ sáu là tập đoàn theo mô hình cổ phần, loại tập đoàn này lấy công ty của nhà nước có thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm doanh nghiệp nòng cốt Toàn bộ tập đoàn lấy tài sản dưới hình thức cổ phần làm mối liên kết, hình thành thể liên hợp các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức cổ phần [15,61]
Chiến lược hoạt động của các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc là đa dạng hóa sản xuất kinh doanh theo chiều sâu và tiến tới quốc tế hóa Thực hiện nhiều chức năng sản xuất, thương mại, nghiên cứu khoa học, vận tải, tài chính, dịch vụ Những năm gần đây, với ảnh hưởng mạnh mẽ của xu hướng mở cửa, các tập đoàn doanh nghiệp Trung Quốc nhanh chóng phát triển ra thị trường thế giới Ví dụ: công ty đầu tư tín dụng quốc tế của Trung Quốc hợp tác với ba công
ty của Nhật Bản lập ra Công ty thương mại tại Tokyo; Ngân hàng Trung Quốc bắt tay với NHNNg lập ra doanh nghiệp tài chính ở Hồng Kông
- Mô hình Konzern ở Đức
Cùng với Bồ Đào Nha và Brazil, Đức là một trong ba quốc gia có những quy định điều chỉnh hoạt động TĐKT Đức không có luật, nghị định riêng về TĐKT nhưng Konzern là đối tượng điều chỉnh của một số quy định trong pháp luật về tổ chức doanh nghiệp Có hai mô hình chủ đạo:
+ Gleichordnungkonzernen: TĐKT đồng cấp hoặc TĐKT không phụ thuộc Vị thế bình đẳng giữa các doanh nghiệp thành viên, không có doanh
Trang 32nghiệp chi phối Các doanh nghiệp tự ký kết hợp đồng để hình thành sự chỉ đạo thống nhất (cho phù hợp với khái niệm TĐKT của luật)
Họ cùng nhau hình thành một cơ quan lãnh đạo tập đoàn dưới hình thức một hội đồng tham vấn hoặc tương tự Tuy nhiên, hiện mô hình này không phổ biến và ít được pháp luật điều chỉnh
+ Unterordnungskonzern: TĐKT phụ thuộc hoặc TĐKT theo thứ bậc, hiện diễn ra phổ biến ở Đức
Theo đó các doanh nghiệp bị chi phối hoạt động dưới sự lãnh đạo của doanh nghiệp chi phối Có ba dạng liên kết: liên kết hợp đồng, liên kết theo tình huống và liên kết thâu tóm
+ Liên kết hợp đồng: HĐQT của công ty chi phối đưa ra các quyết định chỉ đạo hoặc định hướng doanh nghiệp bị chi phối
+ Liên kết theo tình huống: doanh nghiệp chi phối gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp bị chi phối (công ty đối vốn như CTCP, TNHH, hợp danh ) trên nền tảng của việc tham gia vốn đa số hoặc đa số phiếu biểu quyết
+ Liên kết thâu tóm: gồm công ty thâu tóm vẫn là pháp nhân độc lập nhưng thực tế như một bộ phận kinh doanh của công ty nắm quyền chi phối Quan hệ này rất gần với quan hệ hợp nhất và sáp nhập
Cấu trúc tập đoàn ở Đức có ba dạng chủ yếu: cấu trúc dọc, cấu trúc ngang
và cấu trúc hỗn hợp
+ Cấu trúc dọc: doanh nghiệp thành viên tập đoàn hoạt động trong các khâu của một quá trình sản xuất tạo giá trị hay cung ứng dịch vụ khép kín, ít phụ thuộc vào bên ngoài trong quá trình tạo giá trị Cấu trúc này đã lỗi thời nhưng vẫn còn trong một số lĩnh vực đặc thù Ví dụ tập đoàn văn hoá phẩm Mustermann bao gồm hệ thống doanh nghiệp xuất bản, in và bán hàng
+ Cấu trúc ngang: đã xuất hiện từ lâu và vẫn tương đối phổ biến ở Đức, bao gồm các doanh nghiệp thành viên trong cùng một lĩnh vực và cùng cấp độ
Trang 33sản xuất, thương mại Ví dụ như: VoklWagen gồm các doanh nghiệp thành viên chuyên sản xuất đa dạng từ xe giá rẻ cho tới các dòng xe cao cấp, xa xỉ Mục tiêu
là thống lĩnh thị trường bằng cách thâu tóm hoặc chèn ép các đối thủ khác
+ Cấu trúc hỗn hợp: doanh nghiệp thành viên tập đoàn hoạt động trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực và địa bàn khác nhau Một thành viên có thể không hoặc ít quan hệ kinh doanh với thành viên khác
Thực tế của Đức cho thấy tập đoàn là một nhóm doanh nghiệp liên kết, cơ bản vẫn là công ty mẹ - công ty con Các tập đoàn được hình thành khá đa dạng
về hình thức cũng như phương thức tổ chức, không cứng nhắc áp dụng một mô hình duy nhất Nền tảng của việc hình thành tập đoàn chủ yếu dựa trên sự tự do hình thành hợp đồng được pháp luật thừa nhận Liên kết bằng hợp đồng kinh tế
Trong TĐKT, công ty mẹ có vị trí đặc biệt quan trọng đó là có khả năng định hướng và chi phối được hoạt động của các công ty con Công ty mẹ chỉ thực sự là đầu mối khi nó có thế mạnh vượt trội so các công ty khác trong tập đoàn về một số lĩnh vực quan trọng liên quan hoạt động kinh doanh như: vốn, công nghệ, thị trường, thương hiệu
Trang 34Việc chi phối của công ty mẹ đối với các công ty dựa trên một thể chế được thiết lập nhằm thống nhất các quy tắc hành xử chung trong tập đoàn, nhằm đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho tất cả các thành viên Công ty mẹ có thể kiểm soát công ty con theo một tỷ lệ vốn góp, hoặc theo sở hữu công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu Mục đích cao nhất là đem lại lợi ích tối đa cho các thành viên tập đoàn [19]
Theo tính chất và phạm vi hoạt động trong mô hình công ty mẹ - con, công ty mẹ được chia làm hai loại:
+ Công ty mẹ nắm vốn thuần túy (pure holding company - PHC): hoạt động kinh doanh chính là đầu tư vốn vào các công ty khác Trách nhiệm chủ yếu của công ty mẹ nắm vốn thuần túy là ra quyết định chiến lược phát triển tổng thể của cả tập đoàn
+ Công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh (Operating Holding Company - OHC): bên cạnh việc đầu tư vốn vào các công ty con, công ty mẹ còn tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty mẹ không chỉ tập trung điều hành kinh doanh của công ty mình, mà còn ra quyết định mang tính chiến lược của tập đoàn Đây là mô hình phổ biến ở nhiều quốc gia
Công ty con là các doanh nghiệp độc lập có tư cách pháp nhân, có quyền
tự chủ kinh doanh theo luật định, tự nguyện chịu sự chi phối và kiểm soát của một công ty mẹ theo những nguyên tắc và phương thức nhất định Mỗi công ty con cũng có đầy đủ các quyền khác như được phép thành lập các công ty khác, tham gia góp vốn của mình vào công ty khác sau khi được phép của công ty mẹ
Tùy theo mức độ chi phối của công ty mẹ mà công ty con có thể phân thành nhiều loại:
+ Công ty con phụ thuộc toàn phần: công ty mẹ sở hữu 100% vốn của công ty con Công ty con này được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên do công ty mẹ làm chủ sở hữu, có tư cách pháp nhân độc lập
Trang 35+ Công ty con phụ thuộc từng phần: công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối, hoặc không đầu tư vốn mà chỉ chi phối, kiểm soát công ty con qua các quan hệ hợp tác khác như: công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu Hình thức pháp lý của công ty con phụ thuộc từng phần khá đa dạng: công ty cổ phần do công ty
mẹ nắm cổ phần chi phối, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty liên doanh do công ty mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối, công ty liên kết
Do công ty mẹ và các công ty con là những pháp nhân độc lập nên mối quan hệ giữa chúng thường là quan hệ thị trường theo luật định
Ở Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 2005 xếp mô hình công ty mẹ - công ty con vào nhóm công ty, là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác Trong đó công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theo quy định tương ứng của pháp luật có liên quan Riêng các tổng công ty nhà nước khi
chuyển đổi theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì xác định “là hình thức liên
kết và chi phối lẫn nhau bằng đầu tư, góp vốn, bí quyết công nghệ, thị trường hoặc thương hiệu giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó có một công ty Nhà nước giữ quyền chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (gọi tắt
là công ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công ty mẹ chi phối (gọi tắt là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không chi phối của công ty mẹ (gọi tắt là công ty liên kết)” [19]
1.2 TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1.2.1 Các quan điểm về tập đoàn TC-NH
Tập đoàn TC-NH không phải là mô hình ngân hàng mới vì ở các quốc gia phát triển đã có từ nhiều chục năm về trước, hiện vẫn đang phát triển mạnh mẽ với quy mô cũng như có tầm ảnh hưởng lớn trên toàn cầu Tuy nhiên đến nay trên thế giới cũng chưa có một khái niệm hay định nghĩa chuẩn về tập đoàn TC-
Trang 36NH Ở mỗi quốc gia khác nhau, quan điểm về tập đoàn TC-NH cũng có những cách nhìn nhận không giống nhau Sự khác nhau đó bắt đầu từ những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội khác nhau và sức phát triển của mỗi quốc gia
Ở các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU), tập đoàn TC-NH được gọi là
“financial conglomerate” (conglomérat financier) Theo chỉ thị 2002/87/EC thì
để được gọi với cái tên đó phải thoả mãn ba điều kiện: [40,42]
- Có ít nhất một công ty thực hiện các hoạt động về ngân hàng hoặc chứng khoán và ít nhất một công ty triển khai hoạt động về bảo hiểm
- Công ty thực hiện các hoạt động ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm là hạt nhân của tập đoàn, cụ thể là tỷ lệ tổng tài sản thuộc lĩnh vực tài chính trong bảng cân đối của tập đoàn phải lớn hơn 40%
- Trong mỗi lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm), tỷ
lệ trung bình về tài sản của nó so với tổng tài sản trong tập đoàn phải lớn hơn 10%, hoặc tổng tài sản của công ty nhỏ nhất kinh doanh trong lĩnh vực tài chính phải lớn hơn 6 tỷ euro
Ở Mỹ, tập đoàn TC-NH được gọi là công ty sở hữu tài chính (financial holding company), đơn thuần là một tổ chức mà ở đó cho phép công ty được nắm giữ những công ty khác và cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính ngân hàng Theo quy định của Đạo luật Gramm-Leach-Bliley (GLB Act) được thông qua năm 1999, ngân hàng nắm vốn (ngân hàng mẹ) được phép cung cấp các dịch
vụ đa dạng như một tập đoàn tài chính cần hội đủ điều kiện về vốn Tất cả các công ty con phải được quản lý tốt và thoả mãn điều kiện:
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 10%
- Tỷ lệ vốn cấp 1 tối thiểu 6%
- Đòn cân nợ ít nhất 5% (vốn cấp 1/ tổng tài sản)
Công ty nắm giữ vốn này hay công ty mẹ trong tập đoàn TC-NH không nhất thiết phải cung cấp các dịch vụ tài chính mà chức năng chính của nó là ra
Trang 37các hoạch định chiến lược, quản trị và điều hành mọi hoạt động chung của các công ty con theo hoạch định chiến lược đề ra
Như vậy Holding company hay Parent company trong lĩnh vực ngân hàng dùng để chỉ ngân hàng mẹ có trên 50% cổ phần trong một công ty thành viên (subsidiary company) hoặc có quyền kiểm soát và quyết định hội đồng quản trị công ty này Cả Holding company và các Subsidiary companies gộp lại thành Group of companies, Citigroup là một ví dụ
Ngoài ra sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 các ngân hàng chuyển hướng sang tăng cường bán lẻ, tiêu dùng, tìm cách sáp nhập với nhau để tận dụng thị trường sẳn có nhằm mở rộng thị phần, tăng doanh thu Giai đoạn này được xem như giai đoạn toàn cầu hóa siêu ngân hàng (Megabank) Điển hình lớn nhất là thương vụ Chase mua lại ngân hàng đầu tư Robert Fleming Holdings của Anh trị giá 7.7 tỷ USD vào tháng 4/2000, hoặc mua lại J.P Morgan, ngân hàng thương mại lớn thứ năm ở Mỹ, với giá trị 36 tỷ USD Hay việc xâm nhập thị trường Mỹ của các siêu ngân hàng nước ngoài như Deutsche Bank của Đức, tháng 2/1999, đã thâu tóm Baners Trust Tháng 7/2000, UBS của Thụy Sỹ đã mua lại công ty môi giới PaineWebber trị giá 12 tỷ USD
Năm 1999, Quốc hội Mỹ bãi bỏ đạo luật Glass-Steagall Act ban hành năm
1933, cho phép các ngân hàng, ngân hàng đầu tư, công ty chứng khoán và công
ty bảo hiểm hoạt động độc lập, thay vào đó cho phép hoạt động hợp nhất một cách công khai Giai đoạn này mở ra hoạt động sáp nhập mới của các Megabank vào những thị trường phi ngân hàng, giữa những công ty tài chính nhắm vào thị trường ngân hàng và giữa những công ty cho thuê tài chính với nhau Sự mở rộng này đã đánh dấu một giai đoạn mới hình thành các tập đoàn tài chính được gọi là “quá lớn không thể sụp đổ” (too big to fail), hay còn có tên gọi khác là
SIFIs (Systemically Important Financial Institutions)
Theo Hội đồng Bình ổn Tài chính (Financial Stability Board – FSB), có khoảng 8 SIFIs ở Mỹ gồm Bank of America, Goldman Sachs, JPMorgan Chase,
Trang 38Citigroup, Morgan Stanley, Bank of New York Mellon Corporation, Wells Fargo, State Street Đây là những tập đoàn có tầm ảnh hưởng lớn và đóng góp nhiều vào tăng trưởng kinh tế Mỹ Mặc dù sau đó các tập đoàn này gặp nhiều khó khăn phải cần trợ giúp của chính phủ nhưng khủng hoảng chủ yếu do sự phát triển quá nóng của thị trường tài chính với các sản phẩm tài chính cải tiến đầy rủi ro bao gồm nghĩa vụ nợ thế chấp, hoán đổi rủi ro tín dụng, quỹ đầu tư ETF đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính 2007 – 2008 trong khi hệ thống giám sát và cảnh báo không kịp thời, thiếu hiệu quả [49]
Ở Nhật, Luật tài chính của Nhật thì không sử dụng thuật ngữ “Finacial Holding company” như Mỹ nhưng những quy định về Luật tài chính của Nhật khá giống với những quy định về tập đoàn của Mỹ
Tại diễn đàn hợp tác kinh tế năm 2001, các nhà kinh tế đến từ nhiều quốc
gia đã đưa ra khái niệm chung như sau: “tập đoàn TC-NH là bất kỳ một tổ hợp
các công ty được quản lý chung, mà hoạt động kinh doanh được ưu tiên là cung cấp dịch vụ tài chính hay ưu tiên thuộc ít nhất hai lĩnh vực trong ba lĩnh vực tài chính (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm), hoặc là một liên kết mà cốt lõi kinh doanh trong đó là tài chính ngân hàng, chứng khoán và/ hoặc bảo hiểm”
Bên cạnh đó, việc xem xét những quan niệm về tập đoàn còn có thể nghiên cứu ở nhiều giác độ khác nhau
- Xét về nguồn gốc hình thành
Một cách tổng quát, các chủ thể trong tập đoàn TC-NH cũng là các chủ thể trong nền kinh tế như các chủ thể thuộc các TĐKT, khác nhau chủ yếu ở lĩnh vực hoạt động Như vậy cũng có thể xem tập đoàn TC-NH như là một TĐKT và xem xét các quan hệ tổng thể, đặc trưng của TĐKT để nhận định về tập đoàn TC-NH Tức là tập đoàn TC-NH cũng có những cấu trúc, tổ chức, quan hệ và đặc trưng mang tính chung của TĐKT nhưng cũng có những đặc trưng riêng của hoạt động tài chính ngân hàng Nếu TĐKT là một chỉnh thể của một tập hợp các đơn vị thành viên có những
Trang 39quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế, tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin và được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định, được kiểm soát điều hành bằng bộ máy quản lý thống nhất thì tập đoàn TC-NH cũng có những vấn đề tương tự
Như vậy ngoài những đặc điểm cơ bản chung của một TĐKT thì tập đoàn TC-NH có những nét riêng cơ bản sau:
+ Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, có tính nhạy cảm cao và mức độ rủi ro cao, đòi hỏi quy mô vốn lớn, phạm vi hoạt động rộng và trình độ quản lý cao
+ Các sản phẩm chủ yếu của các tập đoàn TC-NH thuộc loại dịch vụ tài chính, ngân hàng, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm
Như vậy, xét về nguồn gốc, có thể hiểu tập đoàn TC-NH là một chỉnh thể tập hợp các đơn vị thành viên hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; có các quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế, tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu; được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định
và được kiểm soát điều hành bằng một bộ máy quản lý thống nhất
- Xét về nguyên tắc hoạt động
Tập đoàn TC-NH được xem là một tổ chức gồm hai hay nhiều định chế tài chính và các định chế phi tài chính được liên kết lại với nhau Giống như TĐKT, các thành viên thuộc tập đoàn TC-NH cũng lấy các lợi ích cơ bản làm kim chỉ nam cho các quan hệ nội bộ, đó là cùng góp vốn để tăng năng lực tài chính và tăng cạnh tranh chung, giảm thời gian tiếp cận và khai thác thị trường của nhau, nâng cao giá trị thương hiệu, giảm chi phí và tăng lợi ích
Để làm được điều đó và để đảm bảo tập đoàn TC-NH hoạt động ổn định, tránh xung đột lợi ích thì tập đoàn TC-NH tồn tại dựa trên nguyên tắc thống nhất, như TĐKT, đó là các nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi
- Xét về phạm vi hoạt động
Ở tập đoàn TC-NH, nghiệp vụ ngân hàng đóng vai trò quan trọng nhất và
Trang 40ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của tập đoàn Có thể hiểu tập đoàn TC-NH
là một tập đoàn kinh doanh đa năng trên nhiều lĩnh vực mà tập trung vào hoạt động tài chính ngân hàng tuy nhiên vẫn không mất đi các vai trò cơ bản của một NHTM như vai trò tập trung vốn cho nền kinh tế, vai trò trung gian tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức năng trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán cũng như chức năng tạo tiền ngân hàng Bên cạnh đó tập đoàn TC-NH còn phát triển thêm các sản phẩm phái sinh để đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ mà không phải các định chế tài chính nào cũng có thể thực hiện
Chẳng hạn một công ty bảo hiểm có thể tham gia các hoạt động của một NHTM, nhưng hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng rất thấp mặc dù phần lớn nguồn vốn huy động từ khách hàng được gửi lại vào các NHTM, trong khi hoạt động cho vay là hoạt động chính của NHTM
Như vật xét về phạm vi hoạt động thì tập đoàn TC-NH được hiểu là: + Tập đoàn kinh doanh tổng hợp bao gồm các dịch vụ ngân hàng - tài chính và sản xuất kinh doanh như tập đoàn Normura ở Nhật Bản, nổi tiếng kinh doanh chứng khoán, sản xuất, đầu tư khu công nghiệp và hạ tầng khu công nghiệp; tập đoàn Sumitomo nổi tiếng về ngân hàng và kinh doanh thương mại Đài Loan có tập đoàn Chinfon vừa có hoạt động ngân hàng, bảo hiểm lại vừa nổi tiếng trong lĩnh vực sản xuất xi-măng Tại Singapore có tập đoàn Keppel Bank kinh doanh lĩnh vực ngân hàng, thương mại, dịch vụ,…
+ Tập đoàn tài chính chuyên về ngân hàng, chứng khoán, các dịch vụ tài chính như tập đoàn CitiGroup (Mỹ), tập đoàn HongKong and Shanghai Banking Corporation (Anh)
Từ những quan điểm trên và qua nghiên cứu, theo tác giả tập đoàn TC-NH
có thể định nghĩa như sau:
Tập đoàn TC-NH trước hết là một TĐKT bao gồm hai hay nhiều định chế tài chính khác nhau hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, được liên kết