Quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng thương mại cổ phẩn việt nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
BÙI DIỆU ANH
QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH
BÙI DIỆU ANH
QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 3Tác giả luận án có lời cam đoan danh dự về công trình khoa học này của mình, cụ thể:
Tôi tên là: Bùi Diệu Anh
Sinh ngày 17 tháng 03 năm 1962 – Tại: Hà Nội
Quê quán: Hà Nội
Hiện công tác tại: Khoa Tín dụng Trường Đại học Ngân hảng TP HCM – 36 Tôn Thất Đạm – Quận 1 – TP HCM
Là Nghiên cứu sinh khóa 10 của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Mã số học viên: 010110050001
Cam đoan đề tài:
QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
- Hướng dẫn 1: TS Hồ Diệu
- Hướng dẫn 2: TS Lê Thị Hiệp Thương
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu (hoặc đã công bố phải nói rõ ràng các thông tin của tài liệu đã công bố); các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP.HCM, ngày 31/12/2010
Tác giả Bùi Diệu Anh
Trang 4DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
CSH: Chủ sở hữu
DONG A BANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
EXIMBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu
GTVT: Giao thông vận tải
HĐQT: Hội đồng quản trị
HSBC: Ngân hàng Hồng kong- Thượng Hải
MB: Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
OCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông
SACOMBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn Thương Tín SCB: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
SOUTHERNBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
SHB: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn – Hà nội SHNN: Sở hữu Nhà nước
SAIGONBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công thương TECHCOMBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TMCP: Thương mại cổ phần
TMNN: Thương mại Nhà nước
TCTC: Tổ chức tài chính
Trang 5VND: Việt Nam đồng
XHTD: Xếp hạng tín dụng
XHTN: Xếp hạng tín nhiệm
TIẾNG NƯỚC NGOÀI
ATTF: Agence de Transfert de Technologie Financière
ALCO: Asset Liability
BIS: Bank for International Settlements
CDS: Credit Default Swaps
CDOs: Collateralized Debt Obligations
CLOs: Collateralized Loan Obligations
CLOs: Collateralized Loan Obligations
CMOs: Collateralized Mortgage Obligations
CIC: Credit Information Center
EAD: Exposure at Deafault
GDP: Gross Domestic Product
IMF: International Monetary Fund
LGD: Loss given at Deafaut
PD: Possibility of Deafault
ROA: Return on Assets
ROE: Return on Equity
SPV: The Special Purpose Vehicle
USD: United State Dollar
UL: Unexpected Loss
Trang 6VaR: Value at Risk
WTO: World Trade Organization
Trang 7
DANH MỤC BẢNG BIỂU & PHỤ LỤC
BẢNG BIỂU
BẢNG 1.1: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY CỦA NHTM 4
BẢNG 1.2: CÁC PHƯƠNG ÁN PHÂN BỐ LỢI NHUẬN VÀ TỔN THẤT 22
BẢNG 2.1: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG NGÀNH NGÂN HÀNG…… 61
BẢNG 2.2: TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN QUY MÔ TÀI SẢN, VỐN……… 70
BẢNG 2.3: CÁC CHỈ SỐ PHẢN ÁNH NĂNG LỰC TÀI CHÍNH 72
BẢNG 2.4: THỊ PHẦN HOẠT ĐỘNG CỦA NHTMCP ….75
BẢNG 2.5: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ 78
BẢNG 2.6: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ 81
BẢNG 2.7: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO LĨNH VỰC ĐẦU TƯ 85
BẢNG 2.8: MỘT SỐ CHỈ TIÊU GIỚI HẠN TRÊN DANH MỤC CHO VAY 93
BẢNG 2.9: XẾP HẠNG KHÁCH HÀNG 100
BẢNG 2.10: XẾP HẠNG TÀI SẢN BẢO ĐẢM 100
BẢNG 2.11: TỔNG HỢP KẾT QUẢ XẾP HẠNG RỦI RO 101
BẢNG 3.1: TÍNH TOÁN TỔN THẤT KỲ VỌNG CHO KHOẢN VAY 146
BẢNG 3.2: XÁC XUẤT CHUYỂN HẠNG CỦA KHOẢN VAY……… 150
BẢNG 3.3: SUẤT CHIẾT KHẤU VÀ PHÍ RỦI RO……… 155
BẢNG 3.4: GIÁ TRỊ THỊ TRƯỜNG CỦA TỪNG KHOẢN VAY 155
BẢNG 3.5: TÍNH GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH KỲ VỌNG………153
BẢNG 3.6: MA TRẬN TRẠNG THÁI TÍN DỤNG CHUNG………155
BẢNG 3.7: MA TRẬN KẾT HỢP XÁC XUẤT CHUYỂN HẠNG 160
Trang 8PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 01: CÁC LOẠI VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
PHỤ LỤC 02: CÁCH TÍNH LỢI NHUẬN VÀ TỔN THẤT DANH MỤC
PHỤ LỤC 03: PHÂN NHÓM NGÂN HÀNG TMCP CUỐI NĂM 2010
PHỤ LỤC 04: TỶ TRỌNG THU LÃI TÍN DỤNG TRÊN TỔNG THU NHẬP PHỤ LỤC 05: TỶ TRỌNG DƯ NỢ SO VỚI TỔNG TÀI SẢN
PHỤ LỤC 06: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG TỪ 2006-2010 (nhóm 7 ngân hàng TMCP quy mô lớn)
PHỤ LỤC 07: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG TỪ 2006-2010 (nhóm 5 ngân hàng TMCP quy mô trung bình)
PHỤ LỤC 08: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG TỪ 2006-2010 (nhóm 6 ngân hàng TMCP quy mô nhỏ)
PHỤ LỤC 09: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG TỪ 2006-2010 (nhóm 7 ngân hàng TMCP quy mô cực nhỏ)
PHỤ LỤC 10: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ PHỤ LỤC 11: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO THỜI HẠN
PHỤ LỤC 12: CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY THEO ĐỐI TƯỢNG KHÁCH HÀNG
PHỤ LỤC 13: CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH CHẤT LƯỢNG NỢ
PHỤ LỤC14: TÍNH GÍA TRỊ TRUNG BÌNH CHO DANH MỤC CHO VAY
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ & ĐỒ THỊ
HÌNH VẼ
HÌNH 1.1: CƠ CẤU CÁC LOẠI RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NHTM……… 10
HÌNH 1.2: CÁC LOẠI TỔN THẤT TRÊN DANH MỤC CHO VAY 20
HÌNH 1.3: SƠ ĐỒ HOÁN ĐỔI RỦI RO TÍN DỤNG………33
HÌNH 1.4: SƠ ĐỒ MỘT CLO CẤU TRÚC TRUYỀN THỐNG 37
HÌNH 2.1: SƠ ĐỒ TỔ CHỨC THỨC HIỆN VÀ GIÁM SÁT DANH MỤC 97
HÌNH 3.1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG RỦI RO………158
ĐỒ THỊ ĐỒ THỊ 2.1: TĂNG TRƯỞNG GDP, TỐC ĐỘ LẠM PHÁT VÀ TĂNG TD 62
ĐỒ THỊ 2.2: TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN QUY MÔ HỆ THỐNG NHTMCP……….71
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……… i
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT………ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU & PHỤ LỤC……… iv
DANH MỤC HÌNH VẼ & ĐỒ THỊ……… vi
MỤC LỤC vii
MỞ ĐẦU……….xiv
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI……… 1
1.1 Danh mục cho vay tại các Ngân hàng thương mại……….1
1.1.1 Hoạt động cho vay và danh mục cho vay của Ngân hàng 1
1.1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại……… 1
1.1.1.2 Danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Rủi ro danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại……… 8
1.1.2.1 Cơ cấu rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng thương mại……….8
1.1.2.2 Hậu quả của rủi ro danh mục cho vay……….11
1.2 Quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng thương mại……… 12
1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa quản trị danh mục cho vay đối với NHTM 12
1.2.1.1 Khái niệm quản trị danh mục cho vay tại NHTM………12
1.2.1.2 Ý nghĩa của quản trị danh mục cho vay………12
1.2.2 Các phương pháp quản trị danh mục cho vay……… 14
Trang 111.2.2.1 Phương pháp quản trị danh mục thụ động 13
1.2.2.2 Phương pháp quản trị danh mục chủ động……… 17
1.2.3 Nội dung quản trị danh mục cho vay theo phương pháp chủ động 18
1.2.3.1 Hoạch định……… 18
1.2.3.2 Tổ chức thực hiện và giám sát danh mục cho vay……… 26
1.2.3.3 Điều chỉnh danh mục cho vay……… 29
1.2.4 Các công cụ hiện đại điều chỉnh cơ cấu danh mục cho vay……… 31
1.2.4.1 Hoán đổi rủi ro tín dụng……… 31
1.2.4.2 Chứng khoán hóa khoản nợ……… 35
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị danh mục cho vay……39
1.2.5.1 Các nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng thương mại……….39
1.2.5.2 Các nhân tố thuộc về môi trường………42
1.3 Quản trị danh mục cho vay trong nền kinh tế hiện đại 46
1.3.1 Kinh nghiệm quản trị danh mục cho vay trong nền kinh tế hiện đại 46
1.3.1.1 Xu hướng quản trị danh mục cho vay trước những năm 90 45
1.3.1.2 Xu hướng quản trị danh mục cho vay sau những năm 90…………47
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam……… 53
Kết luận chương 1………59
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM………61
2.1 Tổng quan về tình hình hoạt động của ngành ngân hàng……….61
Trang 122.1.1 Một số nét nổi bật trong hoạt động của ngành ngân hàng……… 61
2.1.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ trên phương diện gia tăng số lượng………… 59
2.1.1.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng, huy động vốn……….60
2.1.1.3 Phát triển mạnh các dịch vụ ngân hàng sử dụng công nghệ 63
2.1.1.4 Hiệu quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng……… 64
2.1.1.5 Quy mô vốn của các NHTM 66
2.1.2 Tổng quan về hoạt động của hệ thống ngân hàng TMCP………69
2.1.2.1 Về tăng trưởng quy mô tài sản, vốn điều lệ và lợi nhuận 68
2.1.2.2 Về năng lực tài chính 71
2.1.2.3 Về tăng trưởng thị phần hoạt động 73
2.2 Thực trạng danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP……… 77
2.2.1 Cơ cấu danh mục cho vay theo ngành kinh tế……….77
2.2.2 Cơ cấu danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư……… 85
2.2.3 Cơ cấu danh mục cho vay theo thời hạn……… 87
2.2.4 Cơ cấu danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng………89
2.2.5 Cơ cấu danh mục cho vay theo các tiêu thức khác……… 90
2.3 Thực trạng quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP……….91
2.3.1 Những kết quả đạt được……… 91
2.3.1.1 Hàng năm, một số ngân hàng TMCP đã dự kiến các chỉ tiêu…… 89
2.3.1.2 Phần lớn các ngân hàng TMCP đã tổ chức bộ máy……….93
2.3.1.3 Một số ít các ngân hàng TMCP đã vận hành hệ thống xếp hạng… 95
2.3.1.4 Hầu hết các ngân hàng đã sử dụng biện pháp nội bảng………… 99
2.3.2 Những hạn chế……… 103
Trang 132.3.2.1 Hầu hết các ngân hàng TMCP chưa thực hiện quản trị danh mục.101
2.3.2.2 Các ngân hàng chưa xây dựng được mô hình đo lường rủi ro… 113
2.3.2.3 Việc điều chỉnh danh mục cho vay ít được chú ý……… 108
2.3.2.4 Cơ cấu tổ chức ở các ngân hàng TMCP chưa thực sự phù hợp….112 2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong quản trị danh mục cho vay…… 116
2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan của ngân hàng thương mại……… 116
2.3.3.2 Các nguyên nhân khách quan……….121
Kết luận chương 2……… 126
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM……….128
3.1 Định hướng hoàn thiện quản trị danh mục cho vay………128
3.1.1 Định hướng hoạt động ngành ngân hàng đến năm 2020……… 128
3.1.2 Định hướng hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay 126
3.1.2.1 Mục tiêu hoàn thiện………126
3.1.2.2 Định hướng hoàn thiện………127
3.2 Các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay………133
3.2.1 Giải pháp có tính chiến lược……… 133
3.2.1.1 Nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải thay đổi……….130
3.2.1.2 Những nội dung có tính định hướng chiến lược………131
3.2.2 Nhóm giải pháp về tổ chức hoạt động quản trị danh mục………135
3.2.2.1 Thành lập ủy ban chiến lược và ủy ban quản lý rủi ro………… 135
Trang 143.2.2.2 Đảm bảo tính độc lập và tập trung của bộ phận quản lý rủi ro… 136
3.2.2.3 Xây dựng hệ thống thông tin quản trị hoạt động hiệu quả……….138
3.2.3 Nhóm giải pháp xây dựng và ứng dụng các kỹ thuật quản trị danh mục hiện đại……….140
3.2.3.1 Tiếp tục hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ………….140
3.2.3.2 Xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay………….162
3.2.3.3 Nghiên cứu sử dụng các công cụ điều chỉnh danh mục 158
3.2.4 Các biện pháp hỗ trợ khác……….164
3.2.4.1 Hoàn thiện hoạt động kiểm soát và kiểm toán nội bộ………165
3.2.4.2 Các ngân hàng TMCP nhỏ cần sát nhập hợp nhất……….166
3.2.4.3 Đào tạo đội ngũ nhân sự có chuyên môn về quản trị……….167
3.3 Các khuyến nghị đối với ngân hàng Nhà nước……… 168
3.3.1 Xây dựng hành lang pháp lý……… 168
3.3.2 Tiếp tục nghiên cứu và ban hành các văn bản……… 171
3.3.3 Hoàn thiện các quy định về giám sát theo chuẩn mực quốc tế……… 172
3.3.4 Xây dựng các quy định pháp lý và hình thành thị trường……… 168
3.3.5 Củng cố hoạt động của trung tâm CIC 171
3.4 Các kiến nghị khác……… 171
3.4.1 Kiến nghị với Chính phủ………171
3.4.2 Kiến nghị với doanh nghiệp 173
Kết luận chương 3……… 178
KẾT LUẬN………180
Trang 15DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ PHỤ LỤC
Trang 16
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn, khoa học của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, sự cạnh tranh trên thị trường tài chính tiền tệ trở nên khốc liệt hơn bao giờ hết Với nỗ lực giữ vững thị phần, ổn định và tăng trưởng lợi nhuận, các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đã từng bước đưa ra nhiều sản phẩm dịch vụ mới, nhằm đa dạng hóa các họat động sinh lời của mình Tuy nhiên, với một danh mục sử dụng vốn trong đó hơn phân nửa là cho vay có thể thấy rằng với hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay, cho vay vẫn đang là họat động sử dụng vốn có tầm quan trọng bậc nhất Với thực trạng đó, quản trị danh mục cho vay được xem là biện pháp quan trọng nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng thương mại
Trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, hệ thống ngân hàng cổ phần Việt Nam nói riêng đã có một số thành công trong việc vận dụng các kỹ thuật quản trị vào hoạt động cho vay, tuy nhiên chủ yếu vẫn là quản trị trong từng giao dịch cho vay riêng biệt Vì nhiều lý do khác nhau quản trị danh mục cho vay chưa được quan tâm đúng mức Danh mục cho vay của nhiều ngân hàng thiếu sự đa dạng hóa, tập trung rủi ro cao Hiện tượng dồn vốn cho vay một khách hàng vượt giới hạn an toàn cho phép của luật vẫn xảy ra, dư nợ cho vay một
số ngành nhạy cảm như kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản chiếm
tỷ trọng khá cao trong tổng dư nợ cho vay của một ngân hàng … Những rủi ro tiềm
ẩn này đã trở thành tổn thất nguy hiểm khi nền kinh tế biến động, khách hàng thua
lỗ phá sản, thị trường chứng khoán sụt giảm cùng với sự đóng băng của thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2008 Tình trạng đó là hậu quả của một quá trình thiếu/ ít quan tâm đến quản trị danh mục cho vay, chỉ chú ý đến quản trị từng giao dịch Thiết nghĩ, nếu vận dụng các phương pháp, kỹ thuật quản trị danh mục cho
Trang 17vay theo xu hướng hiện đại các ngân hàng sẽ giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận trong hoạt động cho vay, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Với mong muốn hiểu rõ về thực trạng quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay theo xu hướng của nền kinh tế hiện đại, tác giả chọn chủ đề
“QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM” làm đề tài nghiên cứu của luận án
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan bổ sung
Quản trị danh mục nói chung trong đó có quản trị danh mục cho vay là đề tài
đã được một số tác giả, nhà nghiên cứu các nước đề cập Cụ thể:
Sách “Credit Portfolio Management” của tác giả Charles W Smithson do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002 Đây là cuốn sách
đề cập khá đầy đủ các vấn đề liên quan đến quản trị danh mục tài sản của ngân hàng Nội dung cuốn sách bao gồm tiến trình quản trị danh mục, các
mô hình đo lường và quản trị danh mục, các công cụ kỹ thuật sử dụng trong điều chỉnh danh mục Do được viết trong bối cảnh chủ yếu là hệ thống tài chính Mỹ, nên phạm vi bàn luận của cuốn sách gần như không/ít liên quan đến hệ thống tài chính của các nước ngoài Mỹ Mặt khác, cuốn sách chủ yếu tập trung cho danh mục đầu tư chứng khoán, liên quan đến danh mục cho vay chỉ có một phần rất nhỏ
Sách “Credit Risk Measurement” của tác giả Anthony Saunders & Linda Allen do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002 Đây là cuốn sách đề cập chủ yếu về đo lường rủi ro danh mục, một nội dung nằm trong quản trị danh mục tài sản của ngân hàng thương mại Đặc biệt cuốn sách này tập trung vào phương pháp đo lường rủi ro thông qua các mô hình
Trang 18sử dụng thống kê toán Hạn chế của cuốn sách là không bàn luận đến toàn bộ các nội dung thuộc quản trị danh mục/ quản trị danh mục cho vay, mà chỉ tập trung cho rủi ro và đo lường rủi ro, một nội dung trong toàn bộ các vấn
đề về quản trị danh mục
Bài báo khoa học “Do banks diversify loan portfolios? A tentative answer based on individual bank loan portfolios” do nhóm Andreas Kamp (University of Munster), Andreas Pfingsten (Unversity of Munster), Danek Prath (Deutsche Bundesbank) thực hiện năm 2005 Bài báo tập trung nghiên cứu về mức độ đa dạng hóa danh mục các khoản vay tại các ngân hàng của Đức và ảnh hưởng của nó đến danh mục cho vay của ngân hàng
Bài báo khoa học “How loan portfolio diversification affects risk, efficiency and capitalization: A managerial behavior model for Austrian banks” của Stefania P.S Rossi, Markus S Schwaiger và Gerhard Winkler thực hiện năm 2009 Bài báo nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của việc đa dạng hóa danh mục cho vay đến rủi ro, tính hiệu quả và khả năng vốn hóa của các ngân hàng Úc
Nội dung hai bài nghiên cứu trên đề cập đến đa dạng hóa danh mục cho vay, xem xét nó dưới góc độ là một cách thức/ phương tiện để giảm thiểu rủi ro trên danh mục cho vay của ngân hàng thương mại Mặc dù nội dung gần với quản trị danh mục cho vay hơn là hai cuốn sách đã đề cập trên đây, tuy nhiên trong khuôn khổ một bài báo nên cả hai ấn phẩm này không nghiên cứu toàn diện về quản trị danh mục cho vay, mà chỉ là một nội dung trong đó
Một điểm nổi bật dễ nhận thấy trong các tài liệu nói trên là các nghiên cứu
đó đều xuất phát từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Úc và Đức) nên không gắn với thực tiễn Việt Nam Từ trước đến nay, tại Việt Nam có một số công trình nghiên cứu như:
Trang 19 Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Lê Thị Huyền Diệu “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” bảo vệ tại Học viện Ngân hàng, tháng 9 năm 2010; Nội dung đề tài này chủ yếu xem xét rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng dưới góc độ rủi ro
giao dịch, chưa đề cập đến rủi ro danh mục
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đào Thị Chinh “Quản trị tài sản có tại ngân hàng Công thương VN” bảo vệ tại Học Viện Ngân hàng năm 2009 Nội dung của đề tài đề cập đến quản trị trong hoạt động ngân hàng nhưng là quản trị chung về tài sản có Tín dụng với góc độ là một trong các loại tài sản có được luận án đề cập ở mức độ nhất định, hầu như không liên quan
đến danh mục cho vay của ngân hàng
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành do tiến sĩ Phạm Huy Hùng chủ nhiệm
“Phương pháp quản trị rủi ro thị trường tại các NHTM Việt Nam”, bảo vệ ngày 10/11/2009 tại Hội đồng khoa học và công nghệ ngân hàng Nội dung
đề tài có đề cập rủi ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại, nhưng
không luận bàn đến danh mục và rủi ro danh mục
Tất cả các đề tài nghiên cứu mà tác giả tìm hiểu trong điều kiện Việt Nam, đều chưa thấy đề cập tới danh mục cho vay của ngân hàng thương mại Theo đánh
giá của tác giả, bản thân khái niệm danh mục cho vay trong hoạt động tín dụng
của ngân hàng thương mại cũng là một thuật ngữ khá mới mẻ tại Việt Nam tính đến thời điểm năm 2005 (là thời điểm đề tài được chọn) kể cả trong thực tiễn và trong lý thuyết nghiên cứu, giảng dạy Vì vậy, có thể khẳng định rằng đề tài của luận án nghiên cứu về danh mục cho vay không có sự trùng lắp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào đã xuất hiện tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ
năm 2005 cho đến thời điểm này
3 Mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 20Mục đích nghiên cứu của luận án là đưa ra các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP Việt Nam Căn cứ vào mục đích đã xác định, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án bao gồm những nội dung chính sau đây:
Thứ nhất: Tập hợp những lý luận căn bản nhất về quản trị danh mục cho vay theo
xu hướng hiện đại đang áp dụng tại ngân hàng thương mại các nước trên thế giới
Thứ hai: Phân tích thực trạng danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt
Nam trong khoảng thời gian từ 2006 - 2010, từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế trong hoạt động quản trị danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam
Thứ ba: Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị danh
mục cho vay theo xu hướng hiện đại trong điều kiện của các ngân hàng TMCP Việt Nam
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu tổng quát trên đây, mục tiêu của luận án được thể hiện thông qua việc giải quyết các câu hỏi sau đây:
Thứ nhất: Về mặt lý luận làm rõ các khái niệm danh mục cho vay, quản trị danh
mục cho vay, các phương pháp quản trị danh mục cho vay Nội dung của phương pháp quản trị danh mục cho vay chủ động gồm những vấn đề gì? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản trị danh mục cho vay tại ngân hàng thương mại?
Thứ hai: Về mặt thực tiễn danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam
trong giai đoạn 2006 - 2010 có những biểu hiện như thế nào? Ưu điểm cũng như nhược điểm? Những biểu hiện đó có phải xuất phát từ hạn chế của công tác quản trị danh mục cho vay hay không? Những nguyên nhân chủ quan/ khách quan nào gây
Trang 21ra những hạn chế trong hoạt động quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng TMCP Việt Nam?
Thứ ba: Về mặt giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay theo xu
hướng hiện đại Khi xây dựng lộ trình cho việc thực thi giải pháp, cần phải làm rõ định hướng hoàn thiện bao gồm mục tiêu, nội dung các giải pháp là gì? Bên cạnh các giải pháp đề xuất đối với ngân hàng TMCP, có các kiến nghị nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP, nội dung, cơ sở của các kiến nghị?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu:
Thứ nhất: Luận án tập trung vào danh mục cho vay, một bộ phận chiếm tỷ trọng
lớn trong danh mục tài sản của ngân hàng Trên bảng cân đối kế toán của các ngân hàng thương mại hiện nay, khoản mục Lending – Cho vay bao gồm tất cả các loại hình cấp tín dụng như cho vay ứng trước, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán Luận án giới hạn đối tượng nghiên cứu trong danh mục các loại hình cấp tín dụng nêu trên, không đề cập đến danh mục đầu tư chứng khoán hoặc là danh mục các loại tài sản khác của ngân hàng
Thứ hai: Luận án đặt chú trọng vào hoạt động quản trị danh mục cho vay Đây là
một trong các phương thức quản trị hoạt động cho vay của ngân hàng Vì là một phương thức quản trị hoạt động, nên quản trị danh mục cho vay có các bước thực hiện về cơ bản giống như quản trị kinh doanh ngân hàng, không tránh khỏi những trùng lắp, tương tự như trong hoạt động quản trị kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên luận án tập trung, nhấn mạnh vào những nội dung mang tính đặc thù của hoạt động quản trị danh mục cho vay
Về phạm vi nghiên cứu
Trang 22Thứ nhất: Luận án chỉ tập trung vào loại hình ngân hàng TMCP thuộc sở hữu
ngoài Nhà nước, không đề cập đến loại hình ngân hàng thương mại SHNN (dưới hình thức công ty TNHH một thành viên sở hữu Nhà nước); các ngân hàng liên doanh/ nước ngoài cũng như không đề cập đến hai ngân hàng thương mại SHNN
đã được cổ phần hóa là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương Mặc
dù không có những khác biệt lớn trong quản trị danh mục cho vay của ngân hàng TMCP với các loại hình ngân hàng thương mại khác Nhưng do những hạn chế trong việc thu thập, khảo sát số liệu nên đối tượng khảo sát chính của luận án là các ngân hàng TMCP sở hữu ngoài nhà nước (gồm 37 ngân hàng tính đến cuối năm 2010) Sở dĩ hai ngân hàng TMCP thuộc SHNN là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương không thuộc đối tượng khảo sát là vì thực chất cả hai ngân hàng này vẫn do nhà nước nắm quyền chi phối điều hành, nên về tính chất sở hữu khác với 37 ngân hàng TMCP còn lại Mặt khác trong tất cả các văn bản, số liệu báo cáo của ngân hàng Nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng tính đến nay (cụ thể trên trang Web http://www.sbv.gov.vn, giới thiệu hệ thống các tổ chức tín dụng, công bố danh sách các ngân hàng thương mại Nhà nước vào ngày 15/06/2012) vẫn xếp hai ngân hàng này vào nhóm các ngân hàng thương mại Nhà nước
Do đó để thuận tiện cho việc phân tích và đánh giá từ các số liệu thu thập (nhất là trong so sánh giữa các nhóm ngân hàng) luận án tách hai ngân hàng Công thương và Ngoại thương ra khỏi nhóm các ngân hàng TMCP nghiên cứu trong luận
án, đưa vào trong nhóm ngân hàng TMNN khi khảo sát chung
Thứ hai: Để phục vụ cho nội dung nghiên cứu, số liệu khảo sát trong luận án được
thu thập trong khoảng thời gian từ 2006 – 2010, định hướng nghiên cứu đến năm
2020 (phù hợp với mốc thời gian quy định trong “Đề án phát triển ngành ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”, do Ngân hàng Nhà nước công bố năm 2006) Giai đoạn 2006 - 2010 là khoảng thời gian không dài,
Trang 23nhưng bao gồm cả thời kỳ phát triển mạnh mẽ (trong các năm 2006-2007) và thời
kỳ giảm sút (từ năm 2008 cho đến 2010) của nền kinh tế Việt Nam Đây cũng là khoảng thời gian hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, ngân hàng TMCP nói riêng có những bước thăng trầm trong hoạt động Vì vậy, tác giả cho rằng nhìn nhận hoạt động quản trị danh mục cho vay của ngân hàng trong bối cảnh như vậy sẽ có những đánh giá khách quan và đầy đủ hơn
5 Phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:
Phương pháp tổng hợp sử dụng nhằm kế thừa lý luận về quản trị danh mục cho
vay đang được áp dụng tại các nước phát triển, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho
đề tài luận án
Phương pháp thống kê sử dụng để thu thập số liệu về (i) tổng quan tình hình hoạt
động của hệ thống ngân hàng TMCP (ii) thực trạng danh mục cho vay tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trong phần tổng quan, luận án chia 37 ngân hàng TMCP thành 4 nhóm theo quy mô vốn chủ sở hữu (tính đến cuối năm 2010) để thuận lợi cho việc đánh giá
Cụ thể như sau:
Nhóm ngân hàng quy mô lớn: gồm 7 ngân hàng TMCP đứng đầu về quy
mô vốn điều lệ (tối thiểu trên 5,000 tỷ đồng)
Nhóm ngân hàng có quy mô trung bình: gồm 5 ngân hàng có mức vốn dao động từ 4,000 tỷ đến dưới 5,000 tỷ đồng Sở dĩ các ngân hàng này tác giả không ghép chung nhóm với các ngân hàng quy mô lớn, vì về tài sản, kết quả kinh doanh và các yếu tố nội lực … thấp hơn so với các ngân hàng lớn;
Nhóm ngân hàng quy mô nhỏ gồm 15 ngân hàng TMCP có mức vốn điều
lệ tối thiểu đạt mức quy định là 3,000 tỷ đồng đến dưới 4,000 tỷ đồng
Trang 24 Nhóm ngân hàng có quy mô cực nhỏ gồm 10 ngân hàng TMCP có mức vốn thấp hơn quy định (< 3000 tỷ đồng)
Trong phần đánh giá tổng quan, luận án thu thập số liệu của 25/37 ngân hàng TMCP (chiếm tỷ lệ 68% tổng số ngân hàng TMCP)
Riêng đối với phần thực trạng danh mục cho vay, luận án sử dụng phương pháp thống kê chọn mẫu Do số liệu công bố chính thức trên Website của các ngân hàng không đầy đủ, không liên tục, nhất là các ngân hàng TMCP quy mô nhỏ và cực nhỏ (có khoảng trên 50% các ngân hàng trong nhóm này mới chuyển lên từ ngân hàng cổ phần nông thôn), không công bố công khai số liệu về danh mục, vì vậy luận án chỉ chọn khoảng 10 ngân hàng TMCP để tìm hiểu về danh mục cho vay Trong đó chủ yếu tập trung thu thập và phân tích số liệu của 5 ngân hàng TMCP lớn Năm ngân hàng này có thể xem như đại diện tiêu biểu cho các ngân hàng TMCP với tài sản, vốn điều lệ và dư nợ chiếm tỷ trọng lần lượt là 81.4%, 81.3% và 86.2% trong tổng tài sản, vốn điều lệ và dư nợ của nhóm 7 ngân hàng TMCP quy mô lớn, tính đến cuối năm 2010 Hai ngân hàng TMCP quy mô lớn còn lại là TMCP Đông Nam Á và TMCP Hàng hải số liệu về danh mục không được công bố đầy đủ và liên tục trong thời gian 2006 - 2010, vì vậy luận án không thu thập được số liệu của hai ngân hàng này Ngoài ra số liệu về danh mục của 5 ngân hàng khác trong nhóm quy mô trung bình, nhỏ và cực nhỏ cũng bổ sung cho phần phân tích đánh giá thực trạng trong luận án
Phương pháp diễn dịch và quy nạp: được sử dụng chủ yếu trong chương 2 của
luận án Cụ thể, luận án sử dụng phương pháp diễn dịch để đặt ra giả thuyết nghiên cứu về thực trạng hoạt động quản trị danh mục cho vay tại ngân hàng TMCP, sau
đó thu thập và phân tích các số liệu liên quan để kiểm định lại giả thuyết đã nêu, đưa ra những kết luận về hoạt động quản trị danh mục cho vay của ngân hàng TMCP Việt Nam
Bên cạnh phương pháp diễn dịch, từ quan sát thực trạng danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP (dựa trên số liệu của các ngân hàng được chọn làm mẫu
Trang 25quan sát), luận án đã sử dụng phương pháp quy nạp để tổng quát hóa thành những điểm chung nhất, đặc trưng nhất trong hoạt động quản trị danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010
Các phương pháp toán học được sử dụng trong đề xuất ở chương 3 Trong
chương này, tác giả đề xuất áp dụng 2 mô hình phân phối tổn thất của danh mục cho vay, cụ thể phân phối nhị thức (Binomial Distribution) và phân phối không chuẩn (đối xứng lệch - Skewed Distribution)
Về nguồn thu thập số liệu trình bày trong luận án, tác giả thực hiện như sau:
Đối với các số liệu trình bày trong chương 1 cơ sở lý luận, tác giả sử dụng nguồn số liệu thu thập được trong các sách, tài liệu của nước ngoài (đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo) Trong số này có các số liệu
sơ cấp, nhưng cũng có số liệu là thứ cấp Điều này được tác giả chú thích cụ thể khi trích dẫn
Đối với các số liệu phản ánh tình hình chung của ngành ngân hàng và của hệ thống ngân hàng TMCP trong chương 2, tác giả lấy trên báo cáo của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đăng trên trang Web http://www.sbv.gov.vn; số liệu báo cáo hàng năm của Tổng cục thống kê trên trang Web http://www.gso.gov.vn; báo cáo của ngân hàng Nhà nước chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh (từ tìm hiểu của cá nhân tác giả, thông qua phòng kế hoạch tổng hợp của ngân hàng Nhà nước, chi nhánh thành phố HCM); Riêng đối với các số liệu phân tích chi tiết về danh mục cho vay, tác giả tự tổng hợp từ báo cáo thường niên của các ngân hàng TMCP công bố trên Website của từng ngân hàng được chọn lấy số liệu Ngoài ra cũng có một ít số liệu, tác giả thu thập trong kế hoạch, báo cáo nội bộ của ngân hàng Techcombank, ngân hàng SCB hoặc trong sổ tay tín dụng của ngân hàng ACB Tất cả các số liệu nói trên đều là nguồn số liệu sơ cấp
Bên cạnh nguồn thông tin sơ cấp được thu thập trực tiếp, tác giả cũng sử dụng thêm các số liệu từ nguồn thứ cấp như trong báo cáo của CIC, trong
Trang 26các bài phỏng vấn các quan chức cấp cao, nhà quản trị ngân hàng Việt Nam, trong các bài viết của các nhà nghiên cứu đã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng như trong tạp chí, kỷ yếu hội thảo, trên các diễn đàn hội nghị … Tất cả các nguồn này đều được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo của luận án
6 Cơ sở lý luận và giả thuyết nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án dựa trên nền tảng lý thuyết về quản trị danh mục
và quản trị danh mục cho vay tại các nước phát triển là Mỹ và Anh quốc, ngoài ra còn có Đức và Úc, trong giai đoạn từ những năm 90 của thế kỷ 20 cho đến nay Những lý thuyết này chủ yếu thể hiện trong hai cuốn sách Credit Portfolio Management của tác giả Charles W Smithson (2002) và cuốn Credit Risk Measurement của tác giả Anthony Saunders & Linda Allen (2002), được phát triển,
mở rộng dựa trên Lý thuyết quản trị danh mục hiện đại của nhà kinh tế học Harry Markowitz Ngoài ra, khi đề xuất các giải pháp, tác giả tuân thủ theo những quy định trong Hiệp ước Basel 1 và 2 và Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) ban hành vào tháng 9/2000, xem đó như là khung pháp lý cho các đề xuất của luận án
Về giả thuyết nghiên cứu, để tìm hiểu thực trạng quản trị danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam, trên cơ sở đó có các giải pháp thích hợp, luận
án dựa trên giả thuyết tổng quát: hầu hết các ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay chưa thực sự quan tâm đến quản trị danh mục cho vay, chưa áp dụng cách thức và nội dung quản trị danh mục cho vay phù hợp với xu hướng của nền kinh tế hiện đại Các giả thuyết cụ thể :
Chưa chủ động xây dựng danh mục cho vay với cơ cấu các loại vay dự kiến hàng năm Tại một số ít các ngân hàng TMCP lớn mới chỉ đưa ra định hướng cho hoạt động cho vay, vì vậy trong quá trình cho vay, cơ cấu danh mục thường bị thả nổi, có xu hướng chạy theo thị trường, bị dẫn dắt bởi thị
Trang 27trường Tình trạng này đã dẫn đến những hậu quả xấu, ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng trong dài hạn
Trong tổ chức thực hiện danh mục các ngân hàng chưa xây dựng được bộ máy cũng như quy trình thích hợp, hiệu quả
Chưa có một cách tính đúng/chính xác tổn thất danh mục cho vay phù hợp thông lệ quốc tế và gắn với thực tế rủi ro thực tế tại mỗi ngân hàng
Chưa có những biện pháp/ cách thức điều chỉnh danh mục cho vay mang tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thay đổi của thị trường, tuân thủ quy định của luật pháp và đảm bảo đạt mục tiêu kinh doanh của ngân hàng
Xuất phát từ các giả thuyết nghiên cứu như trên, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp để kiểm chứng giả thuyết đã nêu ra, trên cơ sở đó đề xuất các nhóm giải pháp phù hợp, đảm bảo các mục tiêu nghiên cứu
7 Những đóng góp mới của luận án
Nội dung của luận án có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất: Trên cơ sở tập hợp lý luận nền tảng về phương pháp quản trị danh mục
chủ động trong nền kinh tế hiện đại, sau khi so sánh với thực trạng quản trị danh mục cho vay tại Việt Nam, luận án đề xuất áp dụng phương pháp quản trị danh mục chủ động tại các ngân hàng TMCP Việt Nam nhằm hạn chế những tác động xấu của phương pháp quản trị thụ động đang được áp dụng tại một số ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay Phương pháp quản trị chủ động không có nghĩa là quản trị một cách chủ quan, duy ý chí, thoát ly khỏi thị trường, mà đề cao tính chủ động
do kết hợp các yếu tố dự báo kinh tế, thị trường…bên ngoài với nội lực của ngân hàng Tính chủ động thể hiện ngay từ khâu thiết lập danh mục, cho đến khi giám sát và điều chỉnh danh mục nhằm đạt mục tiêu đã hoạch định Phương pháp quản trị danh mục cho vay chủ động có nhiều điểm khác biệt với phương pháp hiện tại
Trang 28của các ngân hàng Việt Nam: nặng về thụ động và chủ yếu xem xét trên khía cạnh định tính Có thể nói quản trị chủ động là xu thế khách quan trong hoạt động ngân hàng, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế mạnh mẽ và môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt Chính vì vậy, cần một sự thay đổi căn bản từ phía các ngân hàng TMCP, không thể duy trì mãi phương pháp quản trị thụ động như hiện tại được
Thứ hai: Luận án đề xuất xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục cho vay tại
các ngân hàng TMCP Hiện tại chưa có bất kỳ một ngân hàng TMCP nào tại Việt
Nam xây dựng hoàn chỉnh mô hình này (được biết vào thời điểm cuối năm 2010, ngân hàng Công thương Việt Nam/Vietinbank đang xúc tiến xây dựng mô hình đo lường /quản trị rủi ro mà các nước đang áp dụng) Mô hình đo lường rủi ro mà luận
án đề xuất sẽ giúp các ngân hàng TMCP định lượng chính xác mức độ rủi ro trên danh mục cho vay của ngân hàng mình, trên cơ sở đó tính toán tổn thất để trích lập
dự phòng rủi ro, cũng như duy trì vốn tự có sát đúng với mức độ rủi ro riêng biệt của từng ngân hàng Cách tính toán của các mô hình đề xuất khác biệt với cách tính theo quy định hiện tại của ngân hàng Nhà nước (chỉ là phương pháp tính áp dụng chung cho tất cả các ngân hàng thương mại và chưa đề cập đến rủi ro của toàn danh mục) Cho đến nay kiến thức lý luận về xây dựng mô hình đo lường rủi ro danh mục chưa được đề cập trong các tài liệu giảng dạy chính thống tại các trường đại học về tài chính ngân hàng ở Việt Nam Vì vậy đề xuất này của luận án trước hết nhằm hệ thống hóa về mặt lý luận, sau đó từng bước đưa vào vận dụng phù hợp điều kiện thực tế của Việt Nam trong giai đoạn tới Mô hình đo lường rủi ro danh mục mà luận án đề xuất gồm có hai dạng, có thể áp dụng cho các ngân hàng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện và năng lực quản trị của mỗi ngân hàng Đây là 2 trong số nhiều mô hình đã từng áp dụng tại ngân hàng các nước phát triển Sở dĩ luận án lựa chọn và đề xuất các mô hình này là vì chúng có những điểm tương thích với điều kiện hoạt động của các ngân hàng TMCP Việt Nam
Trang 29Thứ ba: Luận án đề xuất áp dụng chứng khoán hóa và công cụ phái sinh tín dụng
với ý nghĩa hai công cụ này được sử dụng để điều chỉnh ngoại bảng đối với danh mục cho vay của ngân hàng Thông qua việc sử dụng các công cụ này, rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng sẽ được giảm thiểu Hiện nay khi cần điều chỉnh danh mục cho vay, chủ yếu các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và ngân hàng TMCP nói riêng sử dụng phương pháp điều chỉnh nội bảng (còn gọi là phương pháp truyền thống) Đặc điểm của phương pháp này là có độ trễ về thời gian phát huy hiệu quả, mặt khác nó làm thay đổi cấu trúc danh mục, ảnh hưởng đến mối quan hệ khách hàng, nhiều khi ngoài mong muốn của ngân hàng Vì vậy,
đề xuất áp dụng phương pháp ngoại bảng nhằm làm đa dạng hoá các biện pháp điều chỉnh danh mục cho vay của các ngân hàng TMCP Việt Nam, phù hợp với các tình huống diễn biến khác nhau trong quản trị Tính đến thời điểm năm 2010, đây
là đề xuất mới, vì chứng khoán hoá và công cụ phái sinh tín dụng chưa được áp dụng trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam (các ngân hàng mới chỉ áp dụng phái sinh vàng và phái sinh tiền tệ trong kinh doanh ngoại hối) Mặc dù lý luận về chứng khoán hoá và phái sinh tín dụng có được nhắc đến trong tài liệu giảng dạy hoặc trong các bài báo, công trình nghiên cứu tại Việt Nam, nhưng vận dụng chúng dưới góc độ là công cụ quản trị danh mục cho vay thì chưa được chú trọng đến Do
đó, đề xuất này nhằm làm sáng tỏ về lý luận, sau đó từng bước ứng dụng vào thực tiễn tại Việt Nam trong thời gian tới
8 Nội dung của luận án được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về quản trị danh mục cho vay tại ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng quản trị danh mục cho vay tại các ngân hàng
thương mại cổ phần Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị danh mục cho vay tại
các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam
Trang 30CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ DANH MỤC CHO VAY TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 DANH MỤC CHO VAY TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Hoạt động cho vay và danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Theo cách hiểu chung nhất thì cho vay là hành vi cho người khác sử dụng một khoản tiền nhất định, trong một thời hạn xác định với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi khi đáo hạn Hoạt động cho vay được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội, như Chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, cá nhân … Trong đó ngân hàng thương mại được biết như là một tổ chức chuyên thực hiện cho vay với lực lượng khách hàng đông đảo nhất
Hoạt động cho vay của ngân hàng được hình thành từ rất sớm Chỉ một thời gian ngắn sau khi các hoạt động thu nhận tiền gửi đầu tiên hình thành, các ngân hàng sơ khai đã ý thức được việc sử dụng những khoản tiền gửi của khách hàng để cho những người thiếu tiền mượn lại, từ đó mà hình thành nên hoạt động cho vay của ngân hàng
Trong giai đoạn từ thế kỷ thứ V cho đến thế kỷ XVII, giai đoạn phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại, do nhu cầu vốn trong xã hội đòi hỏi, hành vi cho vay của các ngân hàng càng ngày càng có điều kiện phát triển và trở thành một hoạt động chủ yếu của hệ thống các ngân hàng trung gian trong suốt hơn 4 thế kỷ qua (từ thế kỷ thứ 17 cho đến đầu thế kỷ 20) Ở đây cũng cần lưu ý rằng theo thời gian và sự phát triển lớn mạnh của hệ thống ngân hàng, bản thân hoạt động cho vay cũng trở nên hết sức đa dạng, thông qua nhiều hình thức/ phương thức phong phú về hình thái giá trị, về thời hạn, về lãi suất, về cách
Trang 31thức thực hiện Từ hình thức cho vay truyền thống dưới hình thái tiền tệ với cách thức chuyển giao trực tiếp cho khách hàng (loans), đã xuất hiện những hình thức cho vay khác như cho vay gián tiếp (chiết khấu - Discount) cho vay dưới hình thức cho thuê đặc biệt (thuê tài chính - Financial Lease)
Một cách khái quát, hoạt động cho vay của ngân hàng có thể hiểu là hoạt động kinh doanh thông qua sự chuyển giao có thời hạn một lượng giá trị từ phía ngân hàng cho người đi vay, với sự cam kết hoàn trả cả gốc và lãi từ phía người đi vay khi đáo hạn
Trên bảng cân đối tài chính của ngân hàng thương mại, khoản mục cho vay (lending) được tồn tại song song cùng với các khoản mục sử dụng vốn khác của ngân hàng như: khoản mục tiền/ ngân quỹ; khoản mục đầu tư chứng khoán; khoản mục bất động sản Trong đó, toàn bộ các khoản tiền ngân hàng cung ứng cho các chủ thể trong nền kinh tế, trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau đều bao hàm trong khoản mục cho vay Đối với nhiều ngân hàng thương mại, khoản mục cho vay có thể chiếm trên 1/2 giá trị tài sản và tạo ra trên 2/3 tổng số thu nhập của ngân hàng [6]
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xu hướng hoạt động của các ngân hàng có những thay đổi rất đáng kể: từ những ngân hàng với chức năng đơn giản “đi vay để cho vay lại”, vào cuối thập niên 90 của thế kỷ 20, các ngân hàng từng bước chuyển sang mô hình hoạt động kinh doanh tổng hợp, hình thành các tập đoàn tài chính đa năng thay thế cho mô hình ngân hàng truyền thống Ngân hàng thương mại hiện đại được xem như một siêu thị /tập đoàn tài chính, với sản phẩm là các dịch vụ đa dạng liên quan đến tiền tệ Ngoài việc thu nhận tiền gửi và cho vay, các ngân hàng còn thực hiện kinh doanh ngoại hối, tư vấn tài chính, đầu tư chứng khoán, cho thuê két sắt, bảo quản vật có giá, kinh doanh vàng, thanh toán trong nước và quốc tế, mua bán nợ, cung ứng các dịch vụ phái sinh …Lợi nhuận của ngân hàng vì thế gia tăng nhanh chóng, vị trí của các
Trang 32ngân hàng trở nên quan trọng thiết yếu trong nền kinh tế và trong xã hội Hoạt động cho vay của các ngân hàng cũng ngày càng mở rộng và phong phú hơn
1.1.1.2 Danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
Theo từ điển kinh tế Anh Việt thì danh mục - portfolio là tập hợp các loại chứng khoán, tài sản do một cá nhân hoặc một tổ chức tài chính sở hữu bao gồm các loại cổ phiếu, chứng khoán, chứng chỉ ký thác, hàng hóa, tiền mặt và bất động sản để hạn chế rủi ro trong đầu tư [5] Như vậy, trong lĩnh vực tài chính, bản thân thuật ngữ danh mục đã thể hiện trong đó sự đa dạng các loại tài sản dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro của sự tập trung Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh, cung ứng nhiều dạng sản phẩm tài chính tiền tệ, vì vậy danh mục tài sản của các ngân hàng rất phong phú, nhưng với đặc thù trung gian tín dụng, các khoản cho vay của ngân hàng vẫn luôn chiếm một tỷ trọng lớn trên danh mục tài sản của họ So với lợi nhuận thu được từ những hoạt động dịch
vụ, hoạt động đầu tư, thì lợi nhuận do khoản mục cho vay mang lại vẫn đang chiếm một tỷ lệ rất đáng kể Chính vì lẽ đó, danh mục cho vay có một vị trí cực kỳ quan trọng trong danh mục tài sản của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào Có thể hiểu về danh mục cho vay của ngân hàng thương mại thông qua khái niệm sau:
Danh mục cho vay của ngân hàng là một tập hợp các loại cho vay thuộc sở hữu của ngân hàng, được sắp xếp theo các tiêu thức khác nhau, được cơ cấu theo một tỷ lệ nhất định, phục vụ cho các mục đích quản trị của ngân hàng
Danh mục cho vay là công cụ để nhà quản trị định hướng cho hoạt động cấp tín dụng, nhằm đảm bảo tính lành mạnh, mức độ chuyên môn hóa, tính đa dạng của tài sản cho vay, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro ở mức độ tối đa và đạt được lợi nhuận như mong muốn Với ý nghĩa đó, danh mục cho vay tồn tại dưới dạng
kế hoạch (định hướng thực hiện) và được quản lý thực hiện trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng Thông qua thiết kế danh mục cho vay kế hoạch, các nhà
Trang 33quản trị đưa ra con số dự kiến tỷ trọng dư nợ của từng ngành kinh tế/ khu vực địa
lý chiếm trong tổng thể danh mục Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho vay của ngân hàng Một danh mục cho vay kế hoạch thể hiện sự
đa dạng phù hợp với thực lực, tiềm năng, tuân thủ quy định của luật pháp và định hướng phát triển của ngân hàng là tiền đề quan trọng để ngân hàng có thể đạt mục tiêu, khẳng định vị thế của mình trên thị trường kinh doanh tiền tệ Báo cáo thực hiện danh mục cho vay là công cụ để nhà quản trị nhìn nhận, phân tích các khoản cho vay đã thực hiện dưới các góc nhìn khác nhau, tạo điều kiện để đánh giá tổng thể chất lượng của toàn danh mục, từ đó mà có các biện pháp điều chỉnh hợp lý theo diễn biến thị trường nhằm đạt mục tiêu đã hoạch định của ngân hàng
Dưới đây là một số tiêu thức các ngân hàng có thể sử dụng khi xây dựng/ thiết kế danh mục cho vay phục vụ cho công tác quản trị nội bộ
BẢNG 1.1
CƠ CẤU DANH MỤC CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tỷ trọng
2.4 Cho vay ngành giao thông vận tải
Trang 343.1 Khu vực miền Bắc
4.3 Công ty 100% vốn nước ngoài
4.4 Công ty liên doanh
4.5 Hợp tác xã
4.6 Cá nhân
Trong đó - Cho vay nông nghiệp
- Cho vay công nghiệp
- Cho vay thương mại
- Cho vay giao thông vận tải
Trong đó - Cho vay kinh doanh chứng khoán
- Cho vay kinh doanh địa ốc
- Cho vay tiêu dùng
7 DANH MỤC CHO VAY THEO TÍNH CHẤT ĐẢM
BẢO
7.1 Cho vay có đảm bảo
Trong đó - Cho vay có thế chấp tài sản
- Cho vay có cầm cố tài sản
- Cho vay có bảo lãnh
- …
Trang 357.2 Cho vay không có đảm bảo
8 DANH MỤC CHO VAY THEO HÌNH THỨC/
PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN
8.1 Cho vay ứng trước
8.2 Chiết khấu giấy tờ có giá
8.3 Cho thuê tài chính
8.4 …
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Danh mục cho vay theo thời hạn:
Danh mục cho vay của ngân hàng có thể được xây dựng theo tiêu chí thời hạn, trong đó tỷ trọng các loại cho vay ngắn hạn; trung hạn và dài hạn được thiết
kế hợp lý, thể hiện mối quan hệ giữa cơ cấu thời hạn của sử dụng vốn và cơ cấu thời hạn của nguồn vốn, nhằm hạn chế các loại rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, đảm bảo tuân thủ quy định của luật pháp
Danh mục cho vay theo ngành kinh tế:
Danh mục cho vay theo tiêu thức này có ý nghĩa rất lớn đối với các ngân hàng thương mại, kể cả trong khâu hoạch định kế hoạch cũng như trong tổ chức thực hiện Danh mục cho vay theo ngành kinh tế hình thành một định hướng cần thiết cho quá trình đầu tư tín dụng của ngân hàng Những ngành nào cần tập trung,
mở rộng, những ngành nào cần tiết giảm sẽ được thể hiện thông qua tỷ trọng xác định của từng ngành trong tổng thể dư nợ của danh mục Danh mục cho vay theo ngành kinh tế bộc lộ rõ quan điểm của ngân hàng: tập trung vào các lĩnh vực
ưu tiên chuyên môn hóa hay là đa dạng hóa cho vay Đứng trên quan điểm hạn chế rủi ro thì danh mục cho vay theo ngành càng đa dạng càng tốt Tuy nhiên điều này đôi khi đi ngược lại chủ trương chuyên môn hóa để chiếm lĩnh thị trường của một số ngân hàng
Trang 36 Danh mục cho vay theo khu vực địa lý
Việc xây dựng tỷ trọng khoản mục cho vay theo khu vực địa lý thể hiện quan điểm của ngân hàng trong việc hình thành thị trường mục tiêu, phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, mạng lưới hoạt động cũng như năng lực kiểm soát của đội ngũ nhân viên cho vay Trong quá trình giám sát danh mục cho vay theo khu vực địa lý, ngân hàng sẽ đánh giá hiệu quả đầu tư của từng khu vực trong tương quan
so sánh với các khu vực khác, từ đó sẽ đưa ra những điều chỉnh thích hợp, đảm bảo mục tiêu đã hoạch định
Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng:
Mỗi một đối tượng khách hàng sẽ có những đặc điểm khác nhau (về cơ cấu
tổ chức, về năng lực chịu trách nhiệm trước pháp luật .) vì vậy để định hướng cho việc đầu tư an toàn và hiệu quả, các ngân hàng luôn có sự phân chia hợp lý tỷ trọng các khoản mục cho vay theo đối tượng khách hàng, đảm bảo sự an toàn cần thiết ở góc độ toàn danh mục
Danh mục cho vay theo loại tiền tệ:
Cũng giống như danh mục cho vay theo ngành kinh tế, danh mục cho vay theo loại tiền tệ không những thể hiện quan điểm, định hướng của ngân hàng trong việc tìm kiếm thị trường mục tiêu trong / ngoài nước, mà còn giúp ngân hàng đánh
giá mức độ rủi ro tiềm ẩn khi có sự biến động của đồng ngoại tệ so với nội tệ
Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư:
Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư thường được phân chia thành hai lĩnh
vực lớn là lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất Trong đó mỗi lĩnh vực lại chia nhỏ thành nhiều loại Chẳng hạn như trong sản xuất thì có ngành nông nghiệp, công nghiệp, thương mại trong phi sản xuất thì có cho vay kinh doanh chứng khoán,
Trang 37kinh doanh địa ốc, cho vay tiêu dùng Đây là cách thiết kế danh mục nhằm định hướng đầu tư cho vay theo những lĩnh vực lớn, phù hợp sự phát triển trong các giai đoạn khác nhau của nền kinh tế, đảm bảo tuân thủ quy định của luật pháp
Ngoài các tiêu chí nêu trên, ngân hàng còn sử dụng một số tiêu chí khác trong xây dựng / thiết kế danh mục cho vay, chẳng hạn như: danh mục cho vay xây dựng theo tính chất đảm bảo của khoản nợ (bao gồm cho vay có bảo đảm bằng cầm cố, thế chấp, bảo lãnh ; cho vay không có bảo đảm), danh mục cho vay xây dựng theo tính chất sở hữu (chẳng hạn cho vay doanh nghiệp SHNN; công ty cổ phần; doanh nghiệp liên doanh; tư nhân cá thể )
1.1.2 Rủi ro danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Cơ cấu rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ - một lĩnh vực đa dạng và có độ nhạy cảm cao, nên rủi ro trong kinh doanh ngân hàng rất đa dạng Rủi ro có thể phát sinh từ bất kỳ giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh nào có chứa đựng yếu tố không chắc chắn Trong khi mọi giao dịch / hoạt động của ngân hàng đều tiềm ẩn một mức độ nhất định của yếu tố không chắc chắn Do vậy, tất cả các giao dịch/ hoạt động mà ngân hàng thực hiện đều góp phần hình thành nên rủi ro tổng thể của ngân hàng
Trong các loại rủi ro của kinh doanh ngân hàng, rủi ro của hoạt động cho vay được xem là loại rủi ro chính yếu, xuất phát từ vị trí quan trọng của cho vay trong tổng tài sản cũng như trong nguồn lợi nhuận thu được của ngân hàng
Về cấu trúc thành phần, rủi ro của hoạt động cho vay có thể được chia thành hai loại căn bản: rủi ro giao dịch cho vay và rủi ro danh mục cho vay (hình 1.1, trang 9) Rủi ro giao dịch liên quan đến sự hoàn trả của từng giao dịch cho vay cá biệt, còn rủi ro danh mục là rủi ro gắn liền với một danh mục cho vay đang hiện hữu của ngân hàng thương mại Rủi ro danh mục bao gồm hai thành phần là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung như phân tích dưới đây:
Trang 38 Rủi ro nội tại
Xuất phát từ những đặc điểm riêng biệt của mỗi chủ thể vay vốn, mỗi ngành
kinh tế, mỗi hình thức, phương thức cấp tín dụng Chẳng hạn cho vay ngành nông
nghiệp có thể gặp phải rủi ro xuất phát từ thiên tai bất khả kháng, cho vay ngành
công nghiệp có thể gặp phải tình trạng sản xuất thừa, thị trường tiêu thụ bị thu
hẹp, hàng hóa bán không được Có thể nói rủi ro nội tại rất đa dạng phong phú
và có tính tất yếu, không thể triệt tiêu vì nó thuộc về bản tính vốn có của đối tượng
mà ngân hàng đầu tư Các biện pháp của ngân hàng chỉ có thể giúp kiểm soát từ
đó hạn chế nó mà thôi Việc thẩm định kỹ lưỡng, quyết định cho vay chính xác,
tránh cho vay đối với những chủ thể /ngành/ hình thức cho vay có độ rủi ro nội tại
cao, quan tâm cho vay nhiều hơn với những đối tượng có độ rủi ro nội tại thấp, có
thể giúp ngân hàng tăng mức độ an toàn cho danh mục cho vay của mình
RỦI RO NGHIỆP VỤ
RỦI RO NỘI TẠI
RỦI RO TẬP TRUNG
Trang 39Nguồn: Tham khảo từ sách Quản trị ngân hàng [2]
Rủi ro tập trung
Đây là loại rủi ro xuất phát từ sự thiếu đa dạng trong danh mục cho vay của ngân hàng, đi ngược lại nguyên tắc phân tán rủi ro trong kinh doanh tiền tệ Đánh giá về tầm quan trọng của rủi ro tập trung, ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision) nhận định “Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản của hầu hết các ngân hàng nên rủi ro tập trung trên danh mục cho vay cũng là loại rủi ro cơ bản nhất trong phạm vi một ngân hàng”
Theo định nghĩa của Ủy ban Basel “rủi ro tập trung là bất kỳ rủi ro đơn lẻ hoặc nhóm rủi ro nào có khả năng tạo ra tổn thất đủ lớn liên quan đến mức vốn của ngân hàng, tài sản có của ngân hàng hoặc tổng tổn thất của ngân hàng”[3] Chính vì quan niệm này, nên khi định hướng xây dựng danh mục cho vay, ngoài việc thiết kế tỷ trọng hợp lý của các khoản vay đảm bảo tính đa dạng, ngân hàng còn đưa ra các giới hạn an toàn so với mức vốn tự có, so với tổng dư nợ hoặc so với giá trị tổn thất của toàn danh mục, sao cho thiệt hại tài chính nếu xảy ra vẫn nằm trong khả năng chịu đựng của từng ngân hàng
Trong lý thuyết về danh mục hiện đại, sự đa dạng hóa được xem là chìa khóa quan trọng để giảm thiểu rủi ro tập trung Đa dạng hóa phải thỏa mãn hai điều kiện cơ bản:
Thứ nhất danh mục bao gồm một số lượng lớn những khoản vay có giá trị tương
đối nhỏ, sao cho biến cố rủi ro nếu xảy ra thì tổn thất mà một khoản vay mang lại không tác động quá lớn đến giá trị danh mục
Thứ hai những khoản vay trên danh mục phải có tính độc lập, ít phụ thuộc với
nhau, tức là khả năng vỡ nợ của một khoản vay trên danh mục không ảnh hưởng tới khả năng vỡ nợ của các khoản vay còn lại
Trang 40Có thể thấy rằng, hạn chế rủi ro giao dịch là công việc bắt buộc của tất cả các ngân hàng trong quá trình cho vay, nhằm giảm thiểu hiện tượng không thu hồi được gốc và lãi của từng khoản cho vay Tuy nhiên đứng ở góc độ toàn danh mục cho vay, rủi ro danh mục không chỉ phụ thuộc vào rủi ro cá biệt của từng khoản vay với tư cách tồn tại độc lập mà còn phụ thuộc vào sự tương quan giữa các khoản cho vay trên danh mục Độ tương quan giữa các khoản vay trên danh mục càng cao, thì mức độ rủi ro của sự tập trung càng lớn, khả năng tổn thất xảy ra có thể đem lại hậu quả hết sức nặng nề cho ngân hàng Do vậy trong hoạt động cho vay, bên cạnh rủi ro giao dịch các ngân hàng thương mại đồng thời phải quan tâm đến rủi ro danh mục cho vay
1.1.2.2 Hậu quả của rủi ro danh mục cho vay
Như phần trên đã đề cập, rủi ro danh mục cho vay có thể biểu hiện trong mức
độ tập trung cho vay vào các ngành/ lĩnh vực có độ rủi ro nội tại cao, hoặc là sự thiếu đa dạng hóa trên danh mục, mức độ phân tán thấp Hậu quả của rủi ro danh mục cho vay không chỉ ảnh hưởng xấu tới hiệu quả kinh doanh mà còn quyết định
sự tồn tại của một ngân hàng
Lịch sử thế giới từng chứng kiến sự thất bại của nhiều ngân hàng cùng với ngành dầu mỏ vào thập niên 80 Những ngân hàng này trước đó đã tập trung rất lớn những khoản cho vay trong ngành dầu mỏ nên hậu quả tổn thất không thể tránh khỏi khi dầu xuống giá Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong năm 2008 cũng cho thấy khá nhiều ngân hàng trên thế giới (phải kể đến đầu tiên là các ngân hàng nước Mỹ ) trước đó đã đầu tư quá nhiều vào thị trường bất động sản ở thời điểm thị trường này đang “nóng”, giá trị cho vay dựa trên giá “ảo”, đến khi thị trường này nguội lạnh, đóng băng, giá sụt giảm thì hậu quả là những khoản cho vay trong lĩnh vực này đã trở thành những khoản nợ khó đòi khổng lồ, thậm chí không thể đòi được Tại Việt Nam vào cuối những năm 90, việc ngân hàng Công thương cho vay đối với nhóm công ty Minh Phụng với tổng dư nợ và bảo lãnh lớn