Năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại việt nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ HẰNG NGA
NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã ngành: 62 34 02 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS Lý Hoàng Ánh
TP.HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: Phan Thị Hằng Nga
Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1977
Quê quán: Nam Tân, Huyện Nam Đàn, Tỉnh Nghệ An
Hiện công tác tại: Giảng viên Trường Cao Đảng Tài chính-Hải quan Địa chỉ:
Số 778 Nguyễn Kiệm, Quận Phú nhuận, TP HCM
Là nghiên cứu sinh khóa: 16 của Trường Đại Học Ngân Hàng Tp Hồ Chí Minh
Mã số học viên: 010116110008
Cam đoan luận án: “NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM”
Người hướng dẫn khoa học: PGS.,TS Lý Hoàng Ánh
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Tp.Hồ Chí Minh
Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan danh dự của tôi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 12 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
PHAN THỊ HẰNG NGA
Trang 4ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Điểm mới trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn Camel kết quả đã đánh giá được năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2003-2012, cũng từ kết quả đánh giá đó tác giả đã đưa ra được mô hình về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam bị chi phối bởi 13 yếu tố gồm: Quy mô vốn vốn chủ sở hữu; Đòn bẩy tài chính; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; Dư nợ/tổng tài sản có; Nợ xấu/ Tổng dư nợ (noxau_duno); ROA; ROE; NIM; Chỉ số chi phí hoạt động; Tỷ lệ thanh khoản tài sản;
Hệ số đảm bảo tiền gửi; Hệ số thanh khoản ngắn hạn; Dư nợ cho vay/ Tiền gửi, tất cả các nhân tố trên đều có sự tác động nhất định đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam Dựa trên tình hình nghiên cứu đã đề cập, luận án đã có những đóng góp sau:
1.1 Về phương diện học thuật
(1) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về năng lực tài chính, các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính trên thế giới
và tại Việt Nam Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết về năng lực tài chính của các NHTM
(2) Nghiên cứa đã tiến hành đã đo lường và đánh giá được năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2003-2012 mà ở Việt Nam rất ít tác giả nghiên cứu
về nó Qua đó kết quả đánh giá đã cho thấy một bức tranh khá toàn diện về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam là chưa đảm bảo so với khung an toàn Camel
(3) Nghiên cứu là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm lặp lại và nghiên cứu ứng dụng, qua đó kiểm định mô hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của hệ thống NHTM Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh độ tin cậy cũng như bổ sung và phát triển về mặt phương pháp luận trong đánh giá năng lực tài chính và đề xuất các giải pháp khả thi
1.2 Về phương diện thực nghiệm
(1) Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong ngành Ngân hàng tại Việt Nam có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một phương pháp tiếp cận trong đo lường và đánh giá năng lực tài chính Đồng thời nhận diện các yếu tố cơ bản và vai trò tác động của chúng đến năng lực tài chính của các NHTM Việt
Trang 5Nam Đây là điều kiện để triển khai các nghiên cứu ứng dụng hoặc có những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực tài chính cho hệ thống NHTM Việt Nam Qua đó giúp Chính phủ, NHNN thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu các NHTM giai đoạn 2011-
2015
(2) Nghiên cứu này là một thể nghiệm vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp định tính như: thống kê mô tả, chuyên gia, suy diễn, sử dụng kỹ thuật định tính… cùng với phương pháp định lượng như kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định giả thuyết, hồi quy bằng mô hình Probit Mỗi phương pháp được vận dụng phù hợp theo từng nội dung nghiên cứu trong luận án Công trình nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến năng lực tài chính của các NHTM về phương pháp luận, về đánh giá đo lường, về kiểm định cũng như kết quả của nghiên cứu
Trang 6DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng nước
ngoài
Nghĩa Tiếng Việt
WB World Bank Ngân hàng thế giới WTO World Trade
Organization
Tổ chức thương mại thế giới
FED Federal Reserve
System – Fed
Cục dự trữ liên bang
FDIC Federal Deposit
Insurance Corporation
Bảo hiểm tiền gửi liên bang
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Số thứ tự
Trang
1 Bảng 2.1 Thống kê các ngân hàng thương mại liên doanh hiện nay 61
2 Bảng 2.2 Thống kê ngân hàng thương mại nước ngoài đang hoạt
động ở nước ta hiện nay
5 Bảng 2.5 Các NHTM Việt nam có quy mô vốn đạt chuẩn Camel 66
6 Bảng 2.6 Đòn bẩy của các NHTM Việt nam từ 2003- 2012 67
7 Bảng 2.7 Các NHTM sử dụng đòn bẩy vượt chuẩn quy định 68
8 Bảng 2.8 Tỷ lệ CAR của hệ thống NHTM Việt Nam từ 2003-
15 Bảng 2.15 Một số ngân hàng có ROA không đạt so với yêu cầu 77
16 Bảng 2.16 Khả năng sinh lời trên vốn CSH của hệ thống NHTM
Việt Nam từ 2003- 2012
78
17 Bảng 2.17 Các NHTM Việt Nam có chỉ tiêu ROE chưa đạt yêu cầu 80
18 Bảng 2.18 Thống kê tỷ lệ lãi ròng cận biên của hệ thống NHTM
Trang 821 Bảng 2.21 Hệ số đảm bảo tiền gửi của hệ thống NHTM Việt Nam
24 Bảng 2.24 Chỉ số hoạt động của NHTM Việt Nam từ 2003- 2012 91
25 Bảng 2.25 Tóm tắt các biến trong mô hình 94
26 Bảng 2.26 Bảng kiểm tra đa cộng tuyến giữa các biến 96
27 Bảng 2.27 Kết quả hồi quy Probit với các hệ số hồi quy trong mô
33 Bảng 2.33 So sánh ROE của các NHTM Việt Nam với NHTM của
một số quốc gia khác năm 2012
121
34 Bảng 2.34 So sánh ROA của các NHTM Việt Nam với NHTM của
một số quốc gia khác năm 2012
122
35 Bảng 2.35 So sánh NNIM của NHTM Việt Nam với
NHLD-NHNNg
122
36 Bảng 2.36 So sánh dư nợ cho vay trên tiền gửi của Việt Nam so với
một số quốc gia trên thế giới
125
37 Bảng 2.37 So sánh CAR của NHTM Việt Nam với NHLD-NHNNg 126
39 Bảng 3.2 Dự báo xác suất NLTC tăng khi vốn CSH tăng 138
41 Bảng 3.4 Dự báo xác suất NLTC tăng khi tỷ lệ nợ xấu giảm 141
42 Bảng 3.5 Dự báo xác suất NLTC tăng khi ROA tăng 144
43 Bảng 3.6 Bộ chỉ số đánh giá theo CAMEL 152
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 9TT Số thứ tự
biểu đồ
2 Biểu đồ 2.1 Quy mô vốn chủ sở hữu các NHTM Việt Nam từ 2003-
17 Biểu đồ 2.16 So sánh nợ xấu của NHTM Việt Nam với
NHLD-NHNNg
114
18 Biểu đồ 2.17 So sánh VCS của NHTM Việt Nam với NHLD-NHNNg 120
19 Biểu đồ 2.18 So sánh Nnim của NHTM Việt Nam với
NHLD-NHNNg
123
20 Biểu đồ 2.19 So sánh Car của NHTM Việt Nam với NHLD-NHNNg 127
21 Biểu đồ 3.1 Nhóm các NHTM Việt Nam có cùng cơ cấu và kết quả
kinh doanh
135
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của luận án 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
3.1 Đối tượng nghiên cứu 6
3.2 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 7
5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án 9
5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9
5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 12
6 Kết quả nghiên cứu 15
6.1 Về phương diện học thuật 15
6.2 Về phương diện thực tiễn 16
7 Nội dung của đề tài 17
CHƯƠNG 1: CƠ CỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 18
1.1 Tổng quan về tài chính của Ngân hàng thương mại 18
1.1.1 Khái niệm và hoạt động của Ngân hàng thương mại 18
1.1.2 Tài chính của Ngân hàng thương mại 21
1.2 Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại 25
Trang 111.2.1 Quan niệm về năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại 25
1.2.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM trong xu thế hội nhập 25
1.3 Đánh giá năng lực tài chính của NHTM 35
1.3.1 Đánh giá năng lực tài chính của NHTM Theo tiêu chuẩn Moody’s 35
1.3.2 Đánh giá năng lực tài chính của NHTM Theo khung an toàn Camel 36
1.3.3 Đánh giá năng lực tài chính của NHTM Theo QĐ06/2008/NHNN 38
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của NHTM 40
1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan 40
1.4.2 Nhóm nhân tố chủ quan 42
1.4.3 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại 43
1.5 Sự cần thiết phải nâng cao NLTC của NHTM 45
1.5.1 Đáp ứng yêu cầu tối đa hóa lợi nhuận và đạt mục tiêu tăng trưởng 46
1.5.2 Đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng dịch vụ 47
1.5.3 Đáp ứng yêu cầu hội nhập 47
1.5.4 Đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công nghệ trong môi trường cạnh tranh 47
1.6 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực tài chính của một số NHTM trên thế giới và bài học rút ra đối với Việt Nam 48
1.6.1 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trên thế giới về nâng cao NLTC 48
1.6.2 Bài học đối với Việt Nam 55
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠI 2003-2012 59
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại Việt Nam 59
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NH Việt Nam 59
2.1.2 Hệ thống NHTM Việt Nam hiện nay 60
2.2
Đánh giá Năng lực tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam 62
2.2.1 Đánh giá quy mô vốn chủ sở hữu 64
2.2.2 Qui mô, tốc độ tăng trưởng và chất lượng tổng tài sản 70
Trang 122.2.3 Khả năng sinh lời 75
2.2.4 Phân tích khả năng thanh khoản 83
2.2.5 Chất lượng quản lý 90
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam bằng mô hình Probit 93
2.3.1 Mô hình đánh giá 93
2.3.2 Kết quả nghiên cứu 96
2.3.3 Kiểm định các giả thuyết 104
2.3.4 Kết quả nghiên cứu 108
2.4 Đánh giá chung về năng lực tài chính của NHTM Việt Nam 109
2.3.1 Những kết quả đạt được 109
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 112
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CHO HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 129
3.1 Mục đích xây dựng giải pháp 129
3.2 Quan điểm đề xuất giải pháp 129
3.2.1 Về định hướng chiến lược phát triển của ngành 129
3.2.2 Về mục tiêu của ngành 130
3.3 Căn cứ đề xuất giải pháp 131
3.3.1 Dựa vào định hướng và chiến lược phát triển ngành Ngân hàng giai đoạn
2011-2020 131
3.3.2 Dựa vào các bài học kinh nghiệm rút ra ở chương 131
3.3.3 Dựa vào các tồn tại hiện nay của NHTM Việt Nam 132
3.3.4 Dựa vào dữ liệu phân tích từ SPSS và kết quả hồi quy từ mô hình Probit 133
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao NLTC cho hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2013-2020 134
3.4.1 Giải pháp 1: Tăng vốn chủ sở hữu cho các NHTM Việt Nam 134
3.4.2 Giải pháp 2: Xử lý nợ xấu cho các NHTM Việt Nam 139
3.4.3 Giải pháp 3: Tăng tính thanh khoản cho các NHTM Việt Nam 142
Trang 133.4.4 Giải pháp 4: Tăng hiệu quả hoạt động cho các NHTM Việt Nam 143
3.4.5 Giải pháp 5: Tăng chất lượng quản lý cho các NHTM Việt Nam 145
3.5 Kiến nghị 149
3.5.1 Chính phủ 150
3.5.2 NHNN 151
Kết luận 158
Những công trình khoa học tác giả đã công bố 161
Tài liệu tham khảo 162
Phụ lục 168
Trang 14MỞ ĐẦU
2 Tính cấp thiết của luận án
Tốc độ toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại nhanh chóng trong những năm vừa qua đã tạo ra nhiều thay đổi to lớn về môi trường kinh tế quốc tế Các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia đã mở rộng lãnh thổ hoạt động của mình và ngày càng có nhiều ảnh hưởng đến các quốc gia trên thế giới, đồng thời dòng vốn quốc tế cũng đã và đang ngày càng gia tăng mạnh
Cũng như các thị trường khác, thị trường tài chính giờ đây cũng phải chịu những sức ép lớn của quá trình hội nhập Đặc biệt các Ngân hàng thương mại - tổ chức trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc kết nối giữa khu vực tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế - ngày càng bị cạnh tranh bởi các trung gian tài chính phi ngân hàng và các ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh sẽ tác động đến ngành ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và năng lực tài chính của chính các ngân hàng trong môi trường cạnh tranh gay gắt này Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân hàng có năng lực tài chính tốt, kinh doanh hiệu quả nhất mới có lợi thế về cạnh tranh Như vậy, năng lực tài chính trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và khốc liệt
Hội nhập kinh tế quốc tế là điều kiện thuận lợi để đưa quốc gia phát triển, bên cạnh đó cạnh tranh trong các lĩnh vực kinh tế trở nên gay gắt hơn đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Thực hiện cam kết mở cửa thị trường tài chính cụ thể là từ ngày 01/04/2007 các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, được phép huy động tiền gửi VNĐ Với những kinh nghiệm lâu năm, với những công nghệ hiện đại, với nguồn vốn hùng hậu được hậu thuẫn bởi những tập đoàn tài chính vững mạnh và có uy tín trên thế giới Họ tuyên bố một cách hùng hồn rằng sẽ đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu về lĩnh vực tài chính cho người Việt Ngân hàng ngoại đã dần xâm nhập sâu vào thị trường nội địa Các tập đoàn tài chính nước ngoài chính là thách thức đối với ngành Ngân hàng Việt Nam
Trang 15Theo NHNN Việt Nam, hiện các ngân hàng ngoại có thể cung cấp rất nhiều dịch
vụ khác nhau cho khách hàng nhưng ngân hàng nội chỉ cung cấp được vài dịch vụ Khi
họ dần đứng vững, các ngân hàng nội sẽ bị mất dần thị phần và khách hàng, vì lợi thế của các ngân hàng Việt Nam như có nhiều khách hàng truyền thống, am hiểu địa phương là không còn phù hợp trong nền kinh tế hội nhập Cùng quan điểm này, đại diện Ngân hàng Đầu tư Phát triển cho rằng ngân hàng nội sẽ phải đối mặt với sự thu hẹp thị phần và kênh phân phối khi Việt Nam buộc phải nới lỏng các hạn chế về tiếp cận thị trường dịch vụ ngân hàng Khi đó, với sự hơn hẳn về công nghệ, trình độ quản
lý, chất lượng và sự đa dạng của hệ thống sản phẩm sẽ làm nên tính vượt trội của ngân hàng ngoại
Sau hơn 6 năm gia nhập WTO, Ngân hàng thương mại Việt Nam đã thể hiện nhiều sự yếu kém của mình như: Năng lực tài chính thấp, sức cạnh tranh chưa cao, năng lực quản trị và công nghệ yếu, cải cách diễn ra chậm và thiếu tính minh bạch Điều này được thể hiện rõ qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, cụ thể chính là cuộc chạy đua lãi suất, làm cho lãi suất huy động có lúc lên đến 21%/ năm Yếu tố “sân nhà” cũng như am hiểu tâm lý người Việt thường được đưa ra như là lợi thế so sánh duy nhất giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài Tuy nhiên, có thể thấy rằng điều này không còn phù hợp trong nền kinh tế toàn cầu hóa.Với những hoạt động của ngân hàng truyền thống thì tương lai không xa chúng ta sẽ bị đánh bại ngay trên
sân nhà
Đầu năm 2011 sự biến động tăng lãi suất giữa các ngân hàng trở nên gay gắt và chứa đựng nhiều nguy cơ - rủi ro Các ngân hàng đã xé rào trong việc huy động vốn lãi suất huy động thỏa thuận giữa người gửi và các ngân hàng, tùy theo mức gửi và thời gian gửi sẽ có mức lãi suất tương ứng, với mức lãi suất cao nhất lên đến 22%/năm Sau
đó các ngân hàng cho vay với lãi suất cao ngất ngưỡng 25%/năm cộng cho các loại phí như: Phí quản lý tài sản; Phí định giá tài sản , cuối năm 2012, đầu năm 2013 thì nợ xấu gia tăng đột biến, tính thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam rất thấp, có nguy cơ đổ vỡ rất cao
Trước tình hình đó, Chính phủ ra quyết định 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 về việc phê duyệt đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 Nội
Trang 16dung chiến lược: Phát triển hệ thống tổ chức tín dụng đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả vững chắc với cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại hình có khả năng cạnh tranh lớn hơn dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị ngân hàng tiên tiến phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về dịch vụ tài chính, ngân hàng của nền kinh tế; lành mạnh hóa tình trạng tài chính và củng cố năng lực hoạt động của các tổ chức tín dụng
Cũng thời điểm đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký Quyết định số 734/QĐ-NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” Nhằm thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng được tiến hành khẩn trương, quyết liệt
để nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng được đẩy lùi, thanh khoản của hệ thống được cải thiện, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tâm lý, niềm tin của nhân dân vào chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng được củng cố
Xuất phát từ tầm quan trọng nêu trên cho thấy việc đánh giá năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam ở giai đoạn này là rất quan trọng, vì từ đó giúp các nhà quản lý thực hiện được cơ cấu lại hệ thống ngân một cách có cơ sở, định hướng việc sáp nhập, hợp nhất cũng có căn cứ khoa học…
Sau khi đánh giá được năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại sẽ xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nó và từ đó giúp các nhà quản lý ở cấp độ vi mô, vĩ mô
có căn cứ đưa ra các giải pháp khả thi nhằm đạt được mục tiêu vi mô: các ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn, đẩy lùi được nguy cơ đổ vỡ, phát triển bền vững và có khả năng cạnh tranh tốt với các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, còn ở cấp độ vĩ mô thì Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, thực hiện thành công đề án và quyết định đã ban hành nêu trên
Để đạt được mục tiêu này thì cần có sự nghiên cứu chuyên sâu và ứng dụng kinh
tế lượng trong phân tích và đánh giá về năng lực tài chính của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Thời gian qua đã có khá nhiều các nghiên cứu đánh giá năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu này đều tiếp cận theo phương pháp phân tích định tính truyền thống và phạm vi nghiên cứu chỉ bó
Trang 17hẹp trong phân tích cho một hoặc một vài Ngân hàng thương mại Nhà nước Trong khi
đó các nghiên cứu định lượng còn ít và hạn chế nhiều về phương pháp tiếp cận
Như vậy, hiện nay việc xem xét một cách tổng thể và xác định những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam là hết sức quan trọng và có giá trị Bởi vì, nó sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc ra quyết định Qua đó, nó cũng là cơ sở để hoàn thiện một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản lý hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập
Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu bức thiết ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập khu vực và toàn cầu hóa, xu thế phát triển của nền kinh tế có sự quản lý của Chính phủ một cách gián tiếp thông qua các chính sách kinh tế, với mong muốn nghiên cứu để tìm ra giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho NHTM Việt Nam giai đoạn 2013-2020, đồng thời bổ sung thêm những hiểu biết và ứng dụng đối với việc đưa ra chính sách quản lý hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”
làm luận án nghiên cứu, để tiếp tục đóng góp thêm về phương diện lý luận vai trò của năng lực tài chính trong hệ thống NHTM Việt Nam và là cơ sở cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam trên phương diện thực tiễn để giúp các ngân hàng giải quyết các khó khăn hiện nay từ đó phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu cốt lõi của luận án là tập trung nghiên cứu đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam có đảm bảo khung an toàn CAMEL hay không?
Và các nhân tố tác động đến năng lực tài chính Ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?
Hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Phân tích thực trạng năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại ở Việt Nam
so với khung an toàn CAMEL
Trang 18Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động của chúng đến năng lực tài chính Ngân hàng thương mại Việt Nam
Lập luận và đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn tình hình nghiên cứu trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2013 – 2020 nhằm giúp các Ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực tài chính để tồn tại và phát triển bền vững
Để nghiên cứu này giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau: (i) Bản chất của năng lực tài chính? Tiêu chuẩn để đánh giá năng lực tài chính? Các nhân tố nào có ảnh hưởng đến năng lực tài chính Ngân hàng thương mại Việt Nam? (ii) Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu nào để xây dựng
và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến năng lực tài chính? (iii) Những hướng tác động có thể nâng cao năng lực tài chính Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2013- 2020
Từ các câu hỏi nghiên cứu nêu trên thì luận án cũng đưa ra các giả thuyết:
Giả thuyết 1: Vốn chủ sở hữu càng lớn thì năng lực tài chính của NHTM Việt Nam càng mạnh
Giả thuyết 2: Sử dụng đòn bẩy tài chính càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam càng tốt
Giả thuyết 3: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu càng cao cho thấy năng lực tài chính của NHTM Việt Nam càng tốt
Giả thuyết 4: Dư nợ trên tài sản càng cao sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam càng tốt
Giả thuyết 5: Tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam giảm xuống
Giả thuyết 6: Tỷ lệ sinh lãi trên vốn chủ sở hữu (ROE) càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Giả thuyết 7: Tỷ lệ sinh lãi trên tài sản (ROA) càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Giả thuyết 8: Tỷ lệ lãi cận biên (Nim) càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Trang 19Giả thuyết 9: Tỷ lệ sinh lãi ngoài cận biên(Nnim) càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Giả thuyết 10: Chỉ số chi phí hoạt động càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam giảm xuống
Giả thuyết 11: Khả năng thanh khoản trên tài sản càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Giả thuyết 12: Khả năng thanh khoản ngắn hạn càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam tốt hơn
Giả thuyết 13: Hệ số đảm bảo tiền gửi càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam mạnh hơn
Giả thuyết 14: Dư nợ cho vay trên tiền gửi càng lớn sẽ làm cho năng lực tài chính của NHTM Việt Nam càng được nâng cao
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam
- Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam
- Kinh nghiệm nâng cao năng lực tài chính của một số tập đoàn tài chính, quốc gia trên thế giới
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận án được thu thập trong khoảng thời gian chủ yếu từ năm 2003-2012, trong đó gồm dữ liệu có sẵn từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, báo báo của NHNN, báo cáo ngân hàng thế giới, báo cáo của hệ thống giám sát ngân hàng
Về nội dung và hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án:
Nghiên cứu các lý thuyết đã đề cập đến việc đánh giá năng lực tài chính của các NHTM, nghiên cứu này đi sâu vào việc đánh giá năng lực tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn Camel
Đối tượng phân tích là các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 205 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
- Nghiên cứu đã sử dụng các số liệu thống kê thông qua thu thập dữ liệu có sẵn, tiến hành lập bảng biểu, vẽ đồ thị, biểu đồ để dễ dàng so sánh và đánh giá nội dung cần tập trung nghiên cứu
- Bên cạnh đó, đề tài cũng đã sử dụng phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích đặc điểm của từng chỉ tiêu trong quá trình phân tích số liệu nghiên cứu
- Ngoài ra, trong nghiên cứu này còn sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua việc phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng và một số khách hàng có dư nợ lớn không có khả năng thanh toán nhằm xác định một số nguyên nhân dẫn đến nợ xấu tăng đột biến năm 2012
5.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Được thực hiện bằng kiểm định và nhận diện các nhân tố thông qua giá trị, độ tin cậy, kiểm định mô hình tác giả nghiên cứu, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, được thực hiện thông qua các giai đoạn sau:
- Thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, với kích thước mẫu là 28/37 Các ngân hàng được chọn để phân tích bao gồm tất
cả các NHTM Nhà Nước, các NHTM cổ phần quy mô vốn lớn, nhỏ, trung bình và các mẫu đã đại diện được cho các tổng thể nghiên cứu với kích thước mẫu đạt trên 75%
- Kiểm định sự phù hợp của mô hình sử dụng
- Sau đó sử dụng mô hình Probit hồi quy với các quan hệ tuyến tính để kiểm định các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến năng lực tài chính, từ đó tính được xác suất tác động của từng nhân tố với mức độ quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính
Trang 21Biểu đồ 0.1 Khung nghiên cứu của luận án
Vấn đề nghiên cứu
Đánh giá năng lực tài chính và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu
-Năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam có đảm bảo khung an toàn CAMEL?
-Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
-Từ đó đưa ra các giải pháp khả thi
Phương pháp nghiên cứu
cứu
Kết quả nghiên cứu
-Đánh giá năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam chưa đảm bảo khung an toàn CAMEL
-Xác định có 13 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
- Do chưa đo lường đầy đủ các nhân tố khách quan tác động đến NLTC nên chưa khám phá hết các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực tài chính của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam giai đoạn 2013-2020
Trang 226 Tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án
6.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
(1) Nghiên cứu của R Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark D Vaughan
R Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark D Vaughan [24], nhóm tác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn của mô hình Camel Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Từ đó tiến hành hồi quy theo Probit để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản
(2) Nghiên cứu của Frank Heid
Frank Heid [37] nghiên cứu về những “Tác động mang tính chu kỳ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng theo nguyên tắc Basel II”, trong đó tác giả sử dụng tiêu chuẩn của Basel II để đo lường năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng Na Uy giai đoạn 1998-2002, theo kết quả nghiên cứu của tác giả, cho thấy các yếu tố như tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu có ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng có ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của ngân hàng, vốn kinh doanh (tổng tài sản) có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng
(3) Nghiên cứu John Tatom
John Tatom [25], tác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn của mô hình Camel Nghiên cứu của tác giả đã cho thấy đánh giá khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Từ đó tiến hành hồi quy theo Probit để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản Sau đó tác giả sử dụng phương pháp hạ cấp để dự báo khả năng thất bại trong tương lai của các tổ chức tín dụng giai đoạn 2003-2007
Trang 23(4) Nghiên cứu của Asli Demirguc và Harr Huizinga
Asli Demirguc và Harr Huizinga [28], nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, tác giả sử dụng dữ liệu của 80 quốc gia trong giai đoạn 1988-1995, nghiên cứu cho thấy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị tác động bởi nhiều yếu tố như: đặc điểm kinh doanh của ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, quy
mô tài sản của ngân hàng, đặc biệt quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ cho thấy sức mạnh của ngân hàng, đồng thời đa dạng hóa được hoạt động của các ngân hàng và có điều kiện để làm tăng lợi nhuận cho các ngân hang
(5) Nghiên cứu của Xiaoqing (Maggie) Fu và Shelagh Heffernan
Xiaoqing (Maggie) Fu và Shelagh Heffernan [30] nghiên cứu về chất lượng quản lý của các tổ chức tín dụng Trung Quốc giai đoạn 1992-2002, kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng quản lý của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng, chất lượng quản lý thông qua chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển ngân hàng Tổ chức tín dụng nào có chất lượng quản lý tốt sẽ làm cho tài chính của tổ chức đó phát triển tốt hơn
(6) Nghiên cứu của Christine Brown và Kevin Davis
Christine Brown và Kevin Davis [31], nghiên cứu về quản lý vốn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Australia giai đoạn 1991-2004, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ an toàn vốn càng cao cho thấy sự lành mạnh trong kinh doanh của ngân hàng càng lớn, tỷ suất sinh lời trên tài sản càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, quản lý vốn hiệu quả sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh cao hơn, dẫn đến khả năng tài chính phát triển tốt hơn
(7) Nghiên cứu của Michelle L Barnesa và Jose A Lopez
Michelle L Barnesa và Jose A Lopez [40], nhóm tác giả nghiên cứu về chi phí vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, hệ thống thanh toán có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các ngân hàng Pháp giai đoạn 1990-2003, kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí vốn càng lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến khả năng tài chính của các ngân hàng, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu càng cao cho thấy ngân hàng kinh doanh hiệu quả, đồng thời làm cho khả năng tài chính của ngân hàng đó sẽ tốt hơn, hệ
Trang 24thống thanh toán của một ngân hàng mà tốt sẽ thu hút được nhiều người thực hiện dịch
vụ và từ đó làm tăng lợi nhuận ngoài cận biên
(8) Nghiên cứu của Wolf Wagner
Wolf Wagner [38] nghiên cứu về tính thanh khoản của tài sản ngân hàng, nghiên cứu được thực hiện tại các ngân hàng Anh giai đoạn 1999-2004, kết quả nghiên cứu cho thấy tài sản ngân hàng có tính thanh khoản cao thì ngân hàng đó phát triển ổn định mà như thế sẽ thu hút được tiền gửi nhiều hơn làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng làm tăng khả năng tài chính cho các ngân hàng Tác giả cũng đưa ra giải pháp cho các ngân hàng có thể tăng tính thanh khoản bằng cách bán rủi ro cho các công ty mua
nợ
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu khác có liên quan đến một phần năng lực tài chính của các NHTM như: nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tiếp cận theo phương pháp phân tích định lượng, đã được sử dụng trong các nghiên cứu như của Nathan và Neave (1992) [35] áp dụng phương pháp biên ngẫu nhiên để phân tích hiệu quả hoạt động các ngân hàng Canada trong thời kỳ 1983- 1987 Các tác giả đã sử dụng cách tiếp cận giá trị gia tăng và cách tiếp cận trung gian để ước tính hàm chi phí Trong đó, tác giả đã sử dụng các biến như: lao động, vốn, và các quỹ, cho vay thương mại và công nghiệp, các loại cho vay khác, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn… theo cách tiếp cận giá trị gia tăng, còn đối với cách tiếp cận trung gian các tác giả sử dụng các biến là: cho vay thương mại, công nghiệp, các loại cho vay khác, chứng khoán và đầu tư Các kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng lớn không có lợi thế về chi phí hơn hẳn các ngân hàng nhỏ điều này cũng tương đồng đối với nghiên cứu ở Mỹ đó là tính kinh tế nhờ quy mô đều quan sát thấy ở các ngân hàng nhỏ và lớn
Fukuyama (1993) [32] cũng áp dụng phương pháp phân tích bao số liệu (DEA)
để ước tính hiệu quả 143 Ngân hàng thương mại ở Nhật Bản vào năm 1991 Fukuyama
đã sử dụng 3 đầu vào: Lao động, tư bản (bao gồm trụ sở và bất động sản ngành hàng, tài sản vô hình…) vốn huy động từ khách hàng (gồm tiền gửi, chứng chỉ tiền gửi, chứng từ chiết khấu, tiền vay, ngoại tệ và các khoản khác) và hai đầu ra: thu lãi từ vốn cho vay, và các khoản thu từ các hoạt động ngân hàng khác Fukuyama kết luận rằng
Trang 25nguyên nhân chính của phi hiệu quả kỹ thuật toàn bộ chính là do phi hiệu quả thuần chứ không phải phi hiệu quả quy mô gây ra Kết luận của nghiên cứu cũng cho thấy phần lớn các ngân hàng đang hoạt động trong điều kiện hiểu quả tăng theo quy mô Cuối cùng, nhóm các ngân hàng lớn có tài sản trên 8 tỷ yên hoạt động hiểu quả hơn các ngân hàng có quy mô vốn dưới 8 tỷ yên
Ji- Li Hu, Chiang -Ping Chen và Yi- Yuan Su (2006) [34] áp dụng phương pháp phi tham số để nghiên cứu hiệu quả hoạt động và xem xét một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 12 ngân hàng Trung Quốc thời kỳ 1996-2003 Trong mô hình DEA để ước lượng các độ đo hiệu quả các tác giả đã lựa chọn ba biến đầu vào gồm có tiền gửi, số nhân viên và tài sản cố định ròng; hai biến đầu ra gồm đầu tư và cho vay Dựa trên kết quả của các độ đo hiệu quả ước lượng được, các tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy Tobit để xem xét ảnh hưởng của các biến: loại hình sở hữu, quy
mô, các biến giả phản ánh những ảnh hưởng của quá trình tham gia WTO, khủng hoảng tài chính Châu Á ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của 12 ngân hàng được lựa chọn trong nghiên cứu
Nghiên cứu của Tser- yieth Chen (2005) [36] đã sử dụng mô hình DEA để đánh giá sự thay đổi của hiệu quả kĩ thuật và nhân tố năng suất tổng hợp và cũng đã sử dụng
mô hình hồi quy để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng thương mại của Đài loan thời kỳ khủng hoảng kinh tế châu Á… Tuy nhiên những biến số được sử dụng trong mô hình hồi quy xem xét ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trong các nghiên cứu này lại chỉ chủ yếu tập trung ở một số chỉ tiêu chính như loại hình sở hữu, quy mô, và xem xét ảnh hưởng của một số chỉ tiêu khác như ROA, ROE
6.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
(1) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đông
Nguyễn Văn Đông [4], nghiên cứu các thành phần chính ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam năm 2008 của 28 ngân hàng, tác giả đo lường năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại theo các khung an toàn Camel Tác giả đã đưa ra được các tiêu chí từ đó đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, tuy nhiên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở phần đánh giá năng lực tài chính
Trang 26(2) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Ngọc
Nguyễn Thị Hồng Ngọc [8], nghiên cứu này tác giả đã đánh giá thực trạng về năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn - Hà Nội, từ đó tác giả
đã đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng này trong giai đoạn tới
(3) Nghiên cứu của Lê Thanh Thủy và Nguyễn Thị Thu Thảo
Lê Thanh Thủy [10] và Nguyễn Thị Thu Thảo [9], nghiên cứu này các tác giả đã nghiên cứu về năng lực tài chính và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Tác giả đã đưa ra được các tiêu chí từ đó đánh giá các tiêu chí đó nhưng nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính
(4) Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền
Nguyễn Thu Hiền [5], tác giả nghiên cứu về năng lực cạnh trạnh của Ngân hàng thương mại Nhà nước, trong nghiên cứu này tác giả đã đề cập đến năng lực tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính, tác giả đã phân tích các chỉ tiêu này ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các NHTM Nhà nước và nghiên cứu cũng chỉ dừng lại ở phân tích định tính
(5) Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng
Nguyễn Việt Hùng [6], đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2005, trong nghiên cứu tác giả đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng bằng các tiêu chí theo mô hình Camel, sau đó hồi quy với Tobit, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tài sản của ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tỷ lệ tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ nợ xấu,… có ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn đó Tuy nhiên nghiên cứu chưa mô tả đầy đủ các nhân tố tác động, và nghiên cứu cũng chưa cho biết các biến đã giải thích được bao nhiêu phần trăm mức tác động đến khả năng tài chính của các NHTM
Ngoài ra, còn các nghiên cứu khác về đánh giá năng lực tài chính của hệ thống
Ngân hàng thương mại như: nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Thị Hương năm 2002 [7] về “Nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại Việt Nam”, hay
Trang 27nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Dân năm 2004 [3] về “Vận dụng phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam” tuy đã
có phần nào tiếp cận theo cách thức phân tích định lượng nhưng vẫn chỉ dừng lại chủ yếu ở các chỉ tiêu mang tính chất thống kê, hoặc nghiên cứu của TS Phạm Thanh Bình (2005) [2] với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế” cũng chỉ chủ yếu dừng lại ở phân tích định tính Nghiên cứu của Bùi Duy Phú (2002) [11] đó là đánh giá năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại qua hàm sản xuất và hàm chi phí, tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu đó chỉ là đơn thuần dừng lại ở việc xác định hàm chi phí
và ước lượng trực tiếp hàm chi phí này để tìm các tham số của mô hình, do vậy mà không thể tách được phần phi hiệu quả trong hoạt động của ngân hàng Nguyễn Thị Việt Anh (2004) [1] ước lượng các nhân tố phi hiệu quả cho ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam có áp dụng phương pháp hàm biên ngẫu nhiên và ước lượng dưới dạng hàm chi phí Cobb- Douglas, tuy nhiên hạn chế cơ bản của nghiên cứu đó là việc chỉ định dạng hàm
Như vậy, qua phần tổng kết các nghiên cứu trên, cho thấy hầu hết các nghiên cứu mang tính định lượng đều ở các nước phát triển, còn các nghiên cứu trong nước chủ yếu mang tính định tính
Hơn nữa, qua thực tiễn tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước về năng lực tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại có thể rút cho luận án một số gợi ý trong việc lựa các biến liên quan đến NLTC như: quy mô tài sản, khả năng thanh khoản, chất lượng tài sản, tỷ suất sinh lời, chất lượng quản lý trong mô hình đánh giá năng lực tài chính của ngành ngân hàng và tạo
cơ sở cho việc xây dựng mô hình Probit đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính, cụ thể là:
- Về mặt lí thuyết: qua tổng kết các nghiên cứu đi trước, luận án đã thấy được những điểm mạnh của các phương pháp tiếp cận phân tích định lượng, cũng như một
số hạn chế của phương pháp này Đồng thời qua đó cũng là cơ sở nhận thức lý thuyết một cách hoàn thiện, đầy đủ trong lĩnh vực nghiên cứu
Trang 28- Về mặt thực nghiệm: chính việc tổng kết các nghiên cứu trên thế giới về đánh giá năng lực tài chính đã giúp luận án không những hiểu sâu sắc về mặt lí thuyết mà còn qua đó có thể vận dụng một cách phù hợp vào phân tích đánh giá năng lực tài chính của các NHTM tại Việt Nam Đặc biệt là trong việc hình thành những kiểm định thống kê trong việc lựa chọn các biến ảnh hưởng đến NLTC của các ngân hàng sao cho phù hợp nhất với nghiên cứu của luận án để có thể thu được các kết quả thực nghiệm
có ý nghĩa
- Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu các công trình của các tác giả đi trước, luận án cũng đã hình thành lên được một số chỉ tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, cũng như lựa chọn được mô hình ước lượng thích hợp nhất (mô hình Probit) để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố này đến năng lực tài chính của 28 Ngân hàng thương mại ở Việt Nam giai đoạn 2003- 2012
Những kết quả của quá trình phân tích thống kê lựa chọn biến, lựa chọn mô hình hồi quy, từ đó phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, cũng như kết quả phân tích định lượng, kiểm định giả thuyết, hồi quy mô hình Probit được tác giả trình bày cụ thể trong chương 2
7 Kết quả nghiên cứu
Điểm mới trong nghiên cứu này, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu và đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn Camel kết quả đã đánh giá được năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2003-2012, cũng từ kết quả đánh giá đó tác giả đã đưa ra được mô hình về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam bị chi phối bởi 13 yếu tố gồm: Quy mô vốn vốn chủ sở hữu; Đòn bẩy tài chính; Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; Dư nợ/tổng tài sản có; Nợ xấu/ Tổng dư nợ (noxau_duno); ROA; ROE; NIM; Chỉ số chi phí hoạt động; Tỷ lệ thanh khoản tài sản;
Hệ số đảm bảo tiền gửi; Hệ số thanh khoản ngắn hạn; Dư nợ cho vay/ Tiền gửi, tất cả các nhân tố trên đều có sự tác động nhất định đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam Dựa trên tình hình nghiên cứu đã đề cập, luận án đã có những đóng góp sau:
7.1 Về phương diện học thuật
Trang 29(1) Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về năng lực tài chính, các tiêu chí đánh giá năng lực tài chính, các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính trên thế giới
và tại Việt Nam Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết về năng lực tài chính của các NHTM
(2) Nghiên cứa đã tiến hành đã đo lường và đánh giá được năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2003-2012 mà ở Việt Nam rất ít tác giả nghiên cứu
về nó Qua đó kết quả đánh giá đã cho thấy một bức tranh khá toàn diện về năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam là chưa đảm bảo so với khung an toàn Camel
(3) Nghiên cứu là một công trình thử nghiệm kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm lặp lại và nghiên cứu ứng dụng, qua đó kiểm định mô hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của hệ thống NHTM Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh độ tin cậy cũng như bổ sung và phát triển về mặt phương pháp luận trong đánh giá năng lực tài chính và đề xuất các giải pháp khả thi
7.2 Về phương diện thực nghiệm
(1) Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý trong ngành Ngân hàng tại Việt Nam có cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một phương pháp tiếp cận trong đo lường và đánh giá năng lực tài chính Đồng thời nhận diện các yếu tố cơ bản và vai trò tác động của chúng đến năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam Đây là điều kiện để triển khai các nghiên cứu ứng dụng hoặc có những giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực tài chính cho hệ thống NHTM Việt Nam Qua đó giúp Chính phủ, NHNN thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu các NHTM giai đoạn 2011-
2015
(2) Nghiên cứu này là một thể nghiệm vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu đó là phương pháp định tính như: thống kê mô tả, chuyên gia, suy diễn, sử dụng kỹ thuật định tính… cùng với phương pháp định lượng như kiểm định sự phù hợp của mô hình, kiểm định giả thuyết, hồi quy bằng mô hình Probit Mỗi phương pháp được vận dụng phù hợp theo từng nội dung nghiên cứu trong luận án Công trình nghiên cứu này có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến năng lực tài chính của các NHTM về phương pháp luận, về đánh giá đo lường, về kiểm định cũng như kết quả của nghiên cứu
Trang 308 Nội dung của luận án
Luận án nghiên cứu với kết cấu như sau:
Chương 1 Cơ sở khoa học về năng lực tài chính ngân hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính ngân hàng
Chương 2 Thực trạng năng lực tài chính của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoại 2003-2012
Chương 3 Giải pháp nâng cao năng lực tài chính cho hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 31CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm và hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền
kinh tế thị trường ở các nước Có nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và
hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính [14]
Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công
chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính [14]
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay, tài trợ đầu tư [14]
Theo luật tổ chức tín dụng 1997:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này
và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác
Theo Nghị định của Chính phủ số 49/2001/NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa:
NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước
Trang 32Theo Luật số 47/2010/QH12 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận
Tóm lại: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm: NHTM, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã và các loại hình ngân hàng khác NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ mà nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên
là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán”
1.1.1.2 Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Theo điều IV của Luật tổ chức tín dụng số 47/2012/QH12 quy định:
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một
số các nghiệp vụ sau đây:
Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi,
kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy
đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận
Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng
và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản là việc cung ứng phương tiện thanh
toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu,
Trang 33thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng
Cụ thể:
+ Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết
giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi
+ Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua
hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ
+ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam
kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận
+ Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các
công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán
+ Tái chiết khấu là việc chiết khấu các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá
khác đã được chiết khấu trước khi đến hạn thanh toán
+ Môi giới tiền tệ là việc làm trung gian có thu phí môi giới để thu xếp thực
hiện các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác giữa các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính khác
+ Tài khoản thanh toán là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng mở
tại ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung ứng
+ Sản phẩm phái sinh là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến
về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác
+ Góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng là việc tổ chức tín dụng góp vốn
cấu thành vốn điều lệ, mua cổ phần của các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng khác, bao gồm cả việc cấp vốn, góp vốn vào công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng;
Trang 34góp vốn vào quỹ đầu tư và ủy thác vốn cho các tổ chức khác góp vốn, mua cổ phần theo các hình thức nêu trên
Khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp bao gồm khoản đầu tư chiếm trên 50% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hoặc khoản đầu tư khác đủ để chi phối quyết định của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên
Mặc dù hoạt động ngân hàng rất đa dạng và phong phú nhưng các ngân hàng chỉ được thực hiện các hoạt động được nêu trong giấy phép của họ Những chức năng này sẽ
do NHTW quyết định theo từng trường hợp cụ thể
1.1.2 Tài chính của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Quan niệm về tài chính
Tài chính là phạm trù kinh tế có tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế Theo từ điển kinh tế học hiện đại, tài chính biểu thị vốn dưới các dạng tiền tệ, nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài chính hay các định chế tài chính Nói cách khác tài chính phản ánh hoạt động mà các cá nhân, công ty và tổ chức tạo lập tiền tệ và sử dụng nguồn tiền tệ để đáp ứng những nhu cầu phát triển khác nhau
Như vậy, tài chính có đặc điểm là:
- Tài chính được đặc trưng không chỉ bao gồm các nguồn lực dưới dạng tiền mặt hay các khoản tiền gửi mà còn dưới dạng các loại tài sản tài chính như: cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ nợ trao đổi hay chuyển tải giá trị
- Tài chính liên quan đến việc chuyển giao các nguồn tài chính giữa các chủ thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm đến các chủ thể cần vốn Ở mức độ vĩ mô, mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư biểu thị sự chuyển giao nguồn lực giữa các cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ trong tổng thể nền kinh tế
Với cách tiếp cận trên, khái niệm tài chính có thể hiểu một cách tổng quát: Tài
chính là sự vận động của vốn tiền tệ diễn ra ở mọi chủ thể trong xã hội, nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Trang 35Hoạt động kinh doanh: đi vay (mua vốn) và cho vay (bán vốn) của NHTM để tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất đã làm xuất hiện các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi
NH, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong NHTM
Chính sự vận động của các luồng tiền tệ trong ngân hàng đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế trong kinh doanh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các qũy tiền tệ của ngân hàng Các quan hệ kinh tế đó là:
- Quan hệ giữa NHTM với Nhà nước, thể hiện thông qua việc Nhà nước cấp vốn cho các NHTMNN để hoạt động và NHTM thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế, phí…
- Quan hệ giữa NHTM với NHNN, thể hiện qua các nghiệp vụ dự trữ bắt buộc, thanh toán, cho vay tái chiết khấu
- Quan hệ giữa NHTM với NHTM, thể hiện qua các nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng
- Quan hệ giữa NHTM với các doanh nghiệp và cá nhân như: Quan hệ về thanh toán trong việc vay, cho vay, đầu tư vốn, mua bán tài sản…
- Quan hệ trong nội bộ NHTM như: Thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền phạt đối với nhân viên trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế và hình thành các qũy của ngân hàng
Các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị, nảy sinh trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các qũy tiền tệ của ngân hàng để phục vụ cho kinh doanh chính là các quan hệ tài chính của ngân hàng
Trang 36Từ đó có thể hiểu tài chính NHTM là sự vận động của các luồng tài chính gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1.2.2 Đặc điểm tài chính của Ngân hàng thương mại
Đặc điểm kinh doanh của NHTM đã quyết định đến đặc điểm tài chính của NHTM như sau:
Một là: Tài chính NHTM có tính nhạy cảm cao phụ thuộc môi trường kinh doanh
Yếu tố đầu vào và đầu ra của hoạt động kinh doanh ngân hàng đều là tiền Đó là dòng tiền phát sinh từ các nghiệp vụ tài chính thuần tuý: vay hoặc cho vay trong NHTM Đây là dòng tiền vận động độc lập, không có đối trọng với dòng hàng hoá dịch vụ Sự vận động này rất nhạy cảm, phụ thuộc vào khách hàng của quá trình kinh doanh Khách hàng
có gửi tiền vào ngân hàng thì ngân hàng mới huy động được vốn (đầu vào tài chính) và mới có nguồn vốn để cho vay Khách hàng muốn vay vốn của ngân hàng thì ngân hàng mới có thể cho vay (đầu ra tài chính) Khi luồng tiền vận động liên tục thì NHTM mới có thể tồn tại và thực hiện chức năng trung gian của mình
Hai là: Tài chính NHTM phụ thuộc vào khả năng tạo tiền của NHTM
Xuất phát từ chức năng tạo tiền là chức năng riêng có của NHTM mà tài chính NHTM có khả năng làm tăng lượng tiền (cho vay không bằng tiền mặt) hoặc có thể làm giảm lượng tiền (thu nợ không bằng tiền mặt) nhằm cung cấp phương tiện thanh toán cho nền kinh tế đồng thời tạo ra nguồn vốn quan trọng nhất phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình NHTM tạo tiền bằng cách tạo ra bút tệ (tiền ghi sổ), khả năng tạo tiền này chỉ có thể thực hiện được nếu vốn mà NHTM huy động được dưới hình thức tiền gửi đã cho vay được và số tiền cho vay đó phải luân chuyển trong hệ thống ngân hàng Việc tạo tiền được phát sinh sau khi NHTM cho vay bằng chuyển khoản trong cùng một hệ thống NHTM Đơn vị vay vốn được ghi nợ tài khoản cho vay, đơn vị cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho đơn vị cho vay được ghi có vào tài khoản tiền gửi tại một ngân hàng Như vậy trong trường hợp cho vay như trên, không có nguồn vốn nhưng NHTM vẫn có thể cho vay được Đó là bản chất việc tạo tiền ghi sổ của NHTM Các bút tệ thực sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên cơ sở nguồn tiền gửi mới do hệ thống ngân hàng tạo ra
Ba là: Tài chính NHTM có kết cấu vốn đặc thù
Trang 37Để có vốn hoạt động, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng nguồn vốn tự
có là chính, vì vậy tỷ trọng vốn tự có tối thiểu phải đạt được 30% trong tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, là trung gian tài chính, ngân hàng chủ yếu huy động vốn từ các thành phần kinh tế, vì vậy nợ là phần vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất, thường từ 80-90% tổng vốn kinh doanh còn vốn tự có của ngân hàng lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (<10%) Như vậy, về phương diện vốn hoạt động, NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác mà ngân hàng không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng với những điều kiện ràng buộc nhất định
Bốn là: Một số hoạt động cơ bản của ngân hàng gắn liền với doanh nghiệp
Khách hàng là đối tượng chính trong hoạt động kinh doanh của NHTM Nếu khách hàng có tiềm lực tài chính lớn thì đó là điều kiện để ngân hàng huy động được nhiều, đồng thời việc cho vay đầu tư sẽ có hiệu quả Thông qua chức năng huy động vốn và phân phối vốn của mình, tài chính NHTM đã điều tiết vốn, chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh bình thường không bị gián đoạn Chính vì vậy, tư cách, năng lực hoạt động và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp sẽ là yếu tố quyết định đến năng lực và sức mạnh tài chính của NHTM Nếu doanh nghiệp đầu tư bị thua lỗ, tài sản nợ tài chính gia tăng, kết quả là các khoản tín dụng không thu hồi được sẽ kéo theo tình trạng tài chính của ngân hàng không lành mạnh
Năm là: Tài chính NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro lớn
Xuất phát từ phương thức “đi vay để cho vay”, NHTM tiến hành các hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng nguồn vốn huy động của khách hàng Điều này đồng nghĩa với việc tài chính NHTM có thể sẽ phải gánh chịu những rủi ro rất lớn từ cả hai phía: người cho ngân hàng vay và người đi vay của ngân hàng Nếu huy động được vốn mà không cho vay được sẽ gây nên tình trạng ứ đọng vốn, chi phí kinh doanh cao vì ngân hàng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền Dòng tiền không vận động sẽ không tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí có thể lỗ Hoặc nếu cho vay mà không thu hồi được nợ thì không những vốn tự có của ngân hàng mất mà ngân hàng còn có nguy cơ không hoàn trả được số tiền đã huy động của khách hàng dẫn đến mất khả năng thanh toán Như vậy nếu khách hàng gặp rủi ro tài chính thì lập tức tài chính NHTM sẽ phải gánh chịu Điều quan trọng là rủi ro tài
Trang 38chính NHTM có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, có nguy cơ lây lan làm suy giảm đến cả hệ thống ngân hàng, đẩy nền kinh tế vào suy thoái
1.2 NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Quan niệm về năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại
“Tài chính NHTM” là sự vận động của các luồng tài chính gắn liền với quá trình tạo
lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
của ngân hàng
Như vậy, “Năng lực tài chính của NHTM” chính là khả năng tài chính để ngân hàng
thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả
Năng lực tài chính của ngân hàng không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh Năng lực tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó
1.2.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập
Năng lực tài chính của một ngân hàng chính là việc dùng khả năng tài chính để tạo ra lợi nhuận ổn định và đạt cao hơn các đối thủ khác hoặc cao hơn mức bình quân của ngành, hoạt động an toàn và đạt được vị thế tốt hơn trên thương trường Vì hoạt động của NHTM gồm: Huy động vốn, tín dụng, đầu tư, hoạt động thanh toán nên năng lực tài chính của NHTM được thể hiện ở hiệu quả hoạt động kinh doanh trong các mặt hoạt động trên Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính là: i/ Phản ánh đúng bản chất của khái niệm năng lực tài chính của NHTM là khả năng về tài chính để giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả không chỉ trong ngắn hạn mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền vững; ii/ Đáp ứng được mục đích của việc đánh giá là xác định đúng năng lực tài chính và vị thế so sánh của một NHTM so với các TCTD trên thị trường tài chính trong và ngoài nước; iii/ Có thể thu thập
số liệu thống kê, kế toán và tính toán được; iv/ Phải phù hợp với các chuẩn mực và thông
Trang 39lệ quốc tế trong hoạt động tài chính – tiền tệ – ngân hàng và hạch toán, kế toán, thống kê
Cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
1.2.2.1 Vốn chủ sở hữu lớn
Vốn chủ sở hữu của NHTM là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên…
Vốn chủ sở hữu bao gồm hai bộ phận: Vốn của chủ sở hữu ban đầu và vốn của chủ
sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
Vốn chủ sở hữu ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTMNN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTMCP) bao gồm cổ phần thường và các cổ phần ưu đãi Mức vốn này phải đảm bảo bằng mức vốn pháp định
Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ sở hữu bổ sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn…
Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ Trong đó, vốn điều lệ là vốn được ghi trong điều lệ ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
Trong trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động thì nghĩa vụ thanh toán
nợ sẽ được thanh toán theo thứ tự: các khoản tiền gửi của khách hàng, nghĩa vụ với Chính phủ và người lao động, các khoản vay và cuối cùng mới đến phần các chủ sở hữu Nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền và người cho vay càng cảm thấy an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau) Do đó, vốn của chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng
Đồng thời, vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ
Trang 40Phần lớn vốn chủ sở hữu là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ Phần còn lại của vốn chủ sở hữu tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng
Vốn chủ sở hữu lớn cho phép ngân hàng thành lập các công ty con và tham gia hoạt động đầu tư, liên doanh liên kết với các đối tác chiến lược, hùn vốn vào các công ty
và có thể thôn tính các ngân hàng khác theo qui định không được vượt quá 40% vốn điều
lệ và quỹ dự trữ
Tiêu chuẩn quốc tế quy định ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn và thặng
dư vốn đối với một khách hàng Đối với các khoản vay được đảm bảo an toàn thì giới hạn này là 25% Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép cho vay những
dự án lớn, từ đó làm tăng qui mô tín dụng và tăng qui mô tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng huy động vốn thông qua chỉ tiêu Hệ số đòn bẩy
Tổng tài sản nợ bình quân
Hệ số đòn bẩy =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Và vốn chủ sở hữu còn tác động đến khả năng mở rộng mạng lưới Theo thông
tư 21/2013/TT-NHNN, số lượng chi nhánh của một Ngân hàng thương mại được thành lập phải đảm bảo:
300 tỷ đồng x N1 + 50 tỷ đồng x N2 < C
Trong đó:
- C là giá trị thực của vốn điều lệ của ngân hàng thương mại đến thời điểm đề
nghị (tính bằng tỷ Đồng Việt Nam)
- N1 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực nội
thành thành phố Hà Nội và khu vực nội thành thành phố Hồ Chí Minh
- N2 là số lượng chi nhánh đã thành lập và đề nghị thành lập tại khu vực ngoại
thành thành phố Hà Nội, khu vực ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; và các tỉnh, thành phố khác trực thuộc Trung ương
Hệ thống sở giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các dịch vụ ngân hàng đến khách hàng NHTM có mạng lưới rộng sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận