1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ Chủ đề CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Sinh viên Nguyễn Trung Đức Lớp K60 Lưu[.]
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
BÀI KIỂM TRA GIỮA KÌ
C hủ đề:
C HỦ N GHĨ A D U Y V Ậ T LỊ C H SỬ
Sinh viên : Nguyễn Trung Đức Lớp : K60 Lưu trữ học Môn học : Nguyên lý 2 Giảng viên : TS Trần Thị Điểu
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Trang 22
Câu 1 Nêu các khái niệm sản xuất vật chất, phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất Trình bày nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới của Việt Nam hiện nay
a Các khái niệm
*Khái niệm sản xuất vật chất
- Sản xuất là một loại hình hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người, bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra bản thân con người Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau, trong
đó sản xuát vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
- Sản xuất vật chất: Là quá trình hoạt động của con người mà trong quá trình
đó con người sử dụng các phương tiện công cụ lao động thích hợp tác động vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất của tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất để thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình
*Khái niệm phương thức sản xuất
Là cách thức mà con người dùng để tạo ra của cải vật chất cho mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định, theo cách đó, con người có những quan hệ sản xuất nhất định với nhau trong sản xuất
*Khái niệm lực lượng sản xuất
Là sự kết hợp giữa người lao động (sức khỏe thể chất, kinh nghiệm, kĩ năng, trí thức lao động của họ) với tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động để tạo ra một sức sản xuất vật chất nhất định
*Khái niệm quan hệ sản xuất
Là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt hữu cơ đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất về mặt phân phối sản phẩm sản xuất ra
Trang 33
b Nội dung quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
*Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kỹ thuật của quá trình sản xuất, chúng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức là tạo ra năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội
Lực lượng sản xuất bao gồm: Người lao động (như năng lực, kỹ năng, tri thức ) và các tư liệu sản xuất (gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động) trong
đó nhân tố người lao động giữ vai trò quyết định Sở dĩ như vậy là vì suy đến cùng các tư liệu sản xuất chỉ là sản phẩm lao động của con người, đồng thời giá trị và hiệu quả thực tế của các tư liệu sản xuất phụ thuộc vào trình độ sử dụng của người lao động Trong tư liệu sản xuất, nhân tố công cụ lao động do con người sáng tạo
ra phản ánh rõ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Ngày nay, với sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất làm cho các tri thức khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển
và chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức
Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm sản xuẩt
Ba quan hệ sản xuất này thống nhất với nhau, tuy nhiên, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đóng vao trò quyết định bởi lẽ ai nắm tư liệu sản xuất trong tay thì người ấy sẽ quyết định việc tổ chức quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm sản xuất
*Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Trang 44
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất Lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất, trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất của quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất là hình thức kinh tế của quá trình đó
Trong quá trình sản xuất, không thể có sự kết hợp các yếu tố sản xuất diễn ra bên ngoài những hình thức kinh tế nhất định; ngược lại cũng không có quátrình sản xuất nào lại có thể diễn ra chỉ với những quan hệ sản xuất mà không có nội dung vật chất của nó Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau
Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên tắc khách quan: quan hệ sản xuất phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất được thể hiện ở chỗ:
- Lực lượng sản xuất thế nào thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũng phải biến đổi theo - Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức là quyết định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phân phối sản phẩm
Tuy nhiên, quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất luôn có tác động trở lại lực lượng sản xuất Sự tác động này diễn ra theo
cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng của lực lượng sản xuất
- Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra tác động tích cực, thúc đẩy và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển
Trang 5Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất, tạo nên sự ổn định tương đối, đảm bảo sự tương thích giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển
Lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi, phát triển, tạo ra khả năng phá vỡ
sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất làm xuất hiện nhu cầu khách quan phải tái thiết lập quan hệ thống nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan
hệ sản xuất phải phù hợp với yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất Sự vận động của mâu thuẫn này tuân theo quy luật “từ sự thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất và ngược lại”, “quy luật phủ định của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất tiệm tiến, tuần tự lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở trình trình độ ngày càng cao hơn
Sự vận động của mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phát triển các phương thức sản xuất Nó là cơ sở để giải thích một cách khoa học về nguồn gốc sâu xa của toàn bộ hiện tượng xã hội và sự biến động trong đời sống chính trị, văn hóa của xã hội
c Ý nghĩa
- Là nền tảng cở sở để duy trì sinh hoạt vật chất cho xã hội Nếu thiếu nó sẽ không có bộ mặt tinh thần, không có sản xuất tinh thần và tất nhiên, xã hội con người không tồn tại
Trang 66
- Chính lịch sử phát triển của sản xuất vật chất quyết định đến sự phát triển của đời sống tinh thần như chính trị, đạo đức, pháp quyền Trong quá trình này, con người không chỉ cải tạo thế giới tự nhiên mà còn cải tạo chính mình
Ở Việt Nam, sau hòa bình lập lại, ở miền Bắc (1945) và thống nhất đất nước (1975) chúng ta đã tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Vào buổi đầu, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hóa tập trung Trong điều kiện chiến tranh,
mô hình đó đóng vai trò tích cực, nhưng trong điều kiện hòa bình, mô hình đó dần bộc lộ những hạn chế và dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về kinh tế - xã hội
Đứng trước tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra đường lối đổi mới đất nước Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là nhận thức cho đúng mục tiêu và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ĐCSVN đã định ra đường lối chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với đặc điểm phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta trong điều kiện hiện nay Nó cho phép khai thác tốt nhất các năng lực sản xuất trong nước, thúc đẩy quá trình phân công lao động trong nước và gắn phân công lao động trong nước với quốc tế
và khu vực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng Những thành tựu đạt được về mặt kinh tế trong 20 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đó
Trong giai đoạn hiện nay Đảng chủ trương giải phóng mạnh mẽ hơn nữa lực lượng sản xuất, phát huy nguồn lực toàn xã hội Mọi công dân, mọi vùng, mọi ngành nghề kinh tế, phát triển khoa học công nghệ, phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực, phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa,
Trang 7Câu 2 Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Ý nghĩa của việc nắm vững mối quan hệ này đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay
*Khái niệm cơ sở hạ tầng
Là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội Gồm: + Những quan hệ sản xuất thống trị
+ Những quan hệ sản xuất tàn dư + Những quan hệ sản xuất mầm mống
Ví dụ: Xã hội Phong kiến: Trong đó chiếm hữu nô lệ, nguyên thủy (là quan
hệ tàn dư) phong kiến (là quan hệ thống trị) tư bản chủ nghĩa (là quan hệ mầm mống)
Trong 3 quan hệ trên, quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, đồng thời nó cũng quy định chung xu hướng của toàn xã hội
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, tính giai cấp của cơ sở hạ tầng do quan
hệ sản xuất thống trị quy định, đồng thời vì thế dẫn đến mâu thuẫn giai cấp xuất phát từ cơ sở hạ tầng
*Khái niệm kiến trúc thượng tầng
Là toàn bộ hệ thống kết cấu các hình thái ý thức xã hội cùng với các thiết chế chính trị - xã hội tương ứng, được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Trang 88
Kiến trúc thượng tầng gồm: Những tư tưởng xã hội, chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo và các thiết chế xã hội tương ứng: Nhà nước, chính đảng, đoàn thể
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều có đặc điểm, quy luật phát triển riêng nhưng chúng lại tác động, có mối liên hệ với nhau và đều được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
Kiến trúc thượng tầng trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng bao gồm hệ tư tưởng có các thiết chế của giai cấp thống trị, những tàn dư của xã hội cũ để lại cũng như những tàn dư của giai cấp mới ra đời
Ví dụ: trong xã hội phong kiến, con vua thì lại làm vua cha truyền con nối
Trong kiến trúc thượng tầng, bộ phận có quyền lực mạnh nhất là Nhà nước
Về danh nghĩa, nhà nước là hệ thống tổ chức đại biểu cho quyền lực chung của xã hội để quản lý, điều hành mọi hoạt động của xã hội, thực hiện chức năng chính trị
và xã hội; đối nội và đối ngoại của quốc gia Về thực chất, bất cứ nhà nước nào cũng là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị, tức giai cấp thống trị nắm giữ được những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội
*Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai phương diện cơ bản của đời sống xã hội, đó là phương diện kinh tế và chính trị - xã hội Chúng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, tác động lẫn nhau Trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, đồng thời kiến trúc thượng tầng thường xuyên có sự tác động trở lại cơ sở hạ tầng
1/ Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng
Thư nhất: Cơ sở hạ tầng nào thì “sinh ra” kiến trúc thượng tầng ấy Vì để làm chủ về kinh tế, thì giai cấp thống trị tổ chức ra bộ máy cùng với quy định luật
lệ và những quan điểm tư tưởng hướng xã hội hoạt động, bảo vệ quan hệ sản xuất thống trị ấy, bảo vệ lợi ích giai cấp mình
Trang 9Ví dụ: Cơ sở hạ tầng quan hệ sản xuất tư bản thì kiến trúc thượng tầng là kiến trúc thượng tầng tư bản
Tóm lại: Cơ sở hạ tầng quyết định sự hình thành và biến đổi của Kiến trúc thượng tầng Khi cơ sở hạ tầng biến đổi => kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo
2/ Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng diễn ra theo hai xu hướng là tích cực và tiêu cực
+ Tích cực: Kiến trúc thượng tầng bảo vệ, duy trì, củng cố, phát triển cơ sở
hạ tầng sinh ra nó Đấu tranh để xóa bỏ cơ sở hạ tầng lỗi thời
+ Tiêu cực: Kiến trúc thượng tầng tác động ngược chiều với sự vận động của
LIÊN HỆ : Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ
ra: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng
Trang 1010
tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”
- Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng Vì vậy, để củng cố kiến trúc thượng tầng vững mạnh thì cần phải mở rộng và phát huy vai trò của các quan hệ sản xuất trong đời sống xã hội, cụ thể:
+ Thực hiện mở rộng, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước
+ Thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối sản phẩm nhằm bảo đảm lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Qua đó, sẽ kích thích, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, góp phần củng cố kiến trúc thượng tầng và tình hình an ninh chính trị của quốc gia
- Trong quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sản xuất tàn dư, quan hệ sản xuất thống trị và mầm mống của quan hệ sản xuất tương lai
+ Nhà nước và các tổ chức xã hội cần có cơ chế, chính sách loại bỏ dần các quan hệ sản xuất tàn dư, lạc hậu và củng cố vững chắc quan hệ sản xuất thống trị hiện tồn
+ Từng bước ưu tiên phát triển những quan hệ sản xuất mới tiến bộ, khoa học nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động Qua đó, góp phần củng cố kiến trúc thượng tầng vững mạnh
2 Vận dụng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào trong đổi mới chính trị ở Việt Nam
- Thực hiện đổi mới trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, đổi mới có bước đi, lộ trình, kế hoạch trên tinh thần Đảng lãnh đạo, NHÀ NƯỚC quản lý, nhân dân lao động làm chủ
Đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị Trước hết, Đổi mới kinh tế, từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng chủ
Trang 1111
nghĩa xã hội Trong đó Cơ sở hạ tầng Việt Nam hiện nay là cơ sở hạ tầng quá độ bao gồm nhiều loại hình quan hệ sản xuất Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo kinh tế hợp tác làm nền tảng, đó là nguyên tắc
Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Ví dụ: công nghiệp hóa gắn với mất ruộng, giải quyết đời sống cho người lao động
Thứ 2 là: đổi mới chính trị:Đổi mới chính trị không phải thay đổi chế độ chính trị mà đổi mới tư duy chính trị về Chủ nghĩa xã hội
Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị giới sự lãnh đạo của Đảng mà thực chất là đẩy mạnh dân chủ hóa
Cụ thể là nâng cao hiệu quả sự lãnh đạo của đảng với các thành viên trong
hệ thống chính trị và giải quết tốt mối quan hệ giữa các thành viên, thực chất là đẩy mạnh dân chủ hóa chủ nghĩa xã hội
Kiến thức thượng tầng của Việt Nam hiện nay:về mặt chính trị nước ta đang xây dựng định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác Leenin , tư tưởng
Hồ Chí Minh là kim chỉ nam là nền tảng tư tưởng, là cơ sở chiến lược, sách lược cách mạng cho Đảng lãnh đạo, thể chế Việt Nam là thể chế nhất nguyên chính trị Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân vì dân
Chúng ta đổi mới toàn diện, nhưng đổi mới kinh tế là trọng tâm, chính trị là từng bước
Câu 3 Khái niệm và kết cấu hình thái kinh tế xã hội Tại sao nói sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên?
Khái niệm
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng
để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và
Trang 12Là nền tảng vật chất kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế xã hội, là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế xã hội bởi bản thân các lực lượng sản xuất không phải là sản phẩm riêng của thời đại nào mà là sản phẩm của cả một quá trình phát triển liên tục từ thấp lên cao qua các thời đại, là sự tiếp biến không ngừng của lịch sử
- Quan hệ sản xuất: Là những quan hệ cơ bản giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) thể hiện ở quan hệ về mặt hữu cơ đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức quản lý sản xuất về mặt phân phối sản phẩm sản xuất ra
Được hình thành trên cơ sở thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất, đóng vai trò là hình thức kinh tế của các lực lượng sản xuấtđó Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác
- Hệ thống kiến trúc thượng tầng: được xác lập trên cơ sở hạ tầng kinh tế, đóng vai trò là các hình thức chính trị, pháp luật, đạo đức, văn hoá của các quan
hệ sản xuất của xã hội
Chứng minh sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên