1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Một số kiến nghị mong hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đường toà án

126 15 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số kiến nghị mong hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, thương mại bằng con đường toà án
Tác giả Th.S Nguyễn Anh Tú
Trường học Trường Đại học Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Doanh
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 107,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG (7)
    • 1.1 Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại (7)
      • 1.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại (7)
      • 1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại (10)
    • 1.2 Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại (11)
      • 1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên (11)
      • 1.2.2 Hoà giải các tranh chấp (13)
      • 1.2.3 Giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại (14)
      • 1.2.4 Giải quyết tranh chấp tại toà án (17)
    • 1.3 Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án (19)
      • 1.3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án (0)
      • 1.3.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án (0)
      • 1.3.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà án (0)
      • 1.3.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004 (0)
      • 1.3.5 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại của toà án (0)
        • 1.3.5.1 Thẩm quyền theo vụ việc (27)
        • 1.3.5.2 Thẩm quyền theo cấp toà án (30)
        • 1.3.5.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ (33)
        • 1.3.5.4 Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn (34)
      • 1.3.6 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án (35)
        • 1.3.6.1 Tại toà án cấp sơ thẩm (35)
        • 1.3.6.2 Tại toà án cấp phúc thẩm (55)
        • 1.3.6.3 Thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (60)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH (64)
    • 2.1 Khái quát về Toà kinh tế TAND thành phố Hà Nội (64)
      • 2.1.1 Sự hình thành và cơ cấu tổ chức của toà (0)
      • 2.1.2 Thẩm quyền của toà (66)
    • 2.2 Thực tiễn xét xử (0)
      • 2.2.1 Một số vấn đề về công tác giải quyết án kinh tế qua các năm (67)
      • 2.2.2 Đánh giá nguyên nhân số lượng án kinh tế tăng đột biến (0)
      • 2.2.3 Phương hướng xét xử án kinh tế trong thời gian tới (0)
  • CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT (83)
    • 3.1 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp nói chung (0)
    • 3.2 Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại (0)

Nội dung

Chuyên đề tốt nghiệp Th S Nguyễn Anh Tú ( 126 )Chuyên đề tốt nghiệp Th S Nguyễn Anh Tú LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp với đề tài “ Pháp luật về giải quyết tranh chấp t[.]

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG

Khái quát chung về tranh chấp trong kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm kinh doanh thương mại

Thủa ban đầu, thuật ngữ “thương mại” chỉ dùng để phản ánh hoạt động buôn bán của các thương gia, nhằm mục đích kiếm lời Theo thời gian, khái niệm thương mại mở rộng sang các lĩnh vực liên quan như vận tải, bảo hiểm, thanh toán, và sau đó trở thành tất cả các hoạt động liên quan đến sinh lợi từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và dịch vụ hậu mãi Trong luật pháp quốc tế, thương mại được hiểu rộng rãi bao gồm mọi hình thức giao dịch nhằm mục đích lợi nhuận, từ mua bán hàng hóa, dịch vụ đến thuê tài sản, tín dụng, bảo hiểm, và các hình thức hợp tác khác Các luật thương mại của Nhật Bản, Philippines và Thái Lan cũng thể hiện khái niệm này, trong đó không chỉ giới hạn ở hoạt động buôn bán hàng hóa mà còn bao gồm các hoạt động tài chính, thuê mướn và dịch vụ Với sự phát triển toàn cầu, khái niệm thương mại ngày càng mở rộng và đa dạng, dẫn đến việc các quy định pháp luật quốc tế như Luật mẫu UNCITRAL đề cập đến tất cả các mối quan hệ thương mại kể cả khi không dựa trên hợp đồng Trong bối cảnh Việt Nam, thuật ngữ “thương mại” thường hiểu là hoạt động mua bán nhằm kiếm lời, nhưng cũng xuất hiện trong các đạo luật như Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, liên quan đến các khái niệm mới như “kinh doanh”, phản ánh sự phát triển của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực thương mại.

Kinh doanh được định nghĩa là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (khoản 3 điều 2) Khái niệm này phù hợp với quan điểm về thương mại trong nghĩa rộng, được sử dụng phổ biến trên thế giới và đã được giải thích trong Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế năm 1985.

“thương mại” theo Luật thương mại 1997 được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm

Các hành vi điều chỉnh mối quan hệ mua bán hàng hóa và dịch vụ liên quan trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa gồm các hoạt động như mua bán hàng hóa và dịch vụ, phân phối, đại lý thương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, khai thác, vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ, theo quy định của pháp luật Trong khi đó, các bất động sản như nhà máy, công trình xây dựng (không phải nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, cùng các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa như vận chuyển, thanh toán qua hệ thống ngân hàng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997 Pháp lệnh trọng tài thương mại có hiệu lực từ ngày 01/7/2003 xác định rõ: hoạt động thương mại gồm nhiều hành vi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại lý, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn, kỹ thuật, đầu tư, tài chính, vận chuyển hàng hóa, hành khách qua các phương tiện vận tải khác nhau theo quy định pháp luật Tuy nhiên, khái niệm thương mại trong nghĩa rộng này chỉ tồn tại trong các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao Khái niệm “kinh doanh” theo Luật doanh nghiệp 1999 đã xuất hiện, mở ra khái niệm mới về hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và doanh nghiệp.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm "kinh tế" trong Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 và "thương mại" theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đã tạo ra sự khác biệt rõ rệt trong cách hiểu về các lĩnh vực này so với Luật thương mại 1997 Phạm vi điều chỉnh của các khái niệm này được giới hạn và có sự mâu thuẫn, chồng chéo trong việc áp dụng các quy định về nội dung như Luật doanh nghiệp 1999, Luật thương mại 1997 và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, cũng như trong lĩnh vực tố tụng theo Pháp lệnh trọng tài thương mại.

Việt Nam đã gặp nhiều thách thức trong việc thích ứng với các quy định và tập quán thương mại quốc tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Việc thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đặt ra những yêu cầu khó khăn trong điều chỉnh pháp lý và thực tiễn thương mại Hạn chế về phạm vi điều chỉnh của luật thương mại 1997 theo diện hẹp đã phát sinh nhiều vấn đề, ảnh hưởng đến quá trình giao dịch, giải quyết tranh chấp thương mại và công nhận, thi hành các bản án, quyết định của trọng tài nước ngoài.

Năm 2005, tại kỳ họp thứ 7, khóa XI của Quốc hội, Luật Thương mại 2005 đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006, thay thế Luật Thương mại 1997 Luật Thương mại 2005 mở rộng khái niệm “thương mại” thông qua khái niệm “hoạt động thương mại,” bao gồm các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác có mục đích sinh lợi Khái niệm “hàng hóa” cũng được mở rộng, bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai Luật Thương mại có phạm vi điều chỉnh rất rộng và không bị giới hạn.

Luật Thương mại năm 1997 quy định 14 hành vi thương mại, điều chỉnh toàn diện các hoạt động thương mại bao gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và các lĩnh vực liên quan đến đầu tư, sở hữu trí tuệ Luật này hướng đến việc phù hợp với các chuẩn mực của WTO và UNCITRAL nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật giúp cho quá trình giải quyết tranh chấp quốc tế trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

1.1.2 Tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại là những bất đồng phát sinh trong hoạt động thương mại, nhưng hiện chưa có khái niệm thống nhất về loại tranh chấp này Luật Thương mại 2005 điều chỉnh quan hệ thương mại giữa thương nhân nhưng không quy định rõ về tranh chấp trong kinh doanh thương mại Theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và mục đích lợi nhuận Tuy nhiên, nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp theo Điều 29 và 30 của BLTTDS, bao gồm cả các tranh chấp mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh nhưng vẫn nhằm mục đích lợi nhuận Trong khi đó, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 định nghĩa trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại do các bên thỏa thuận và bao gồm cả các hoạt động thương mại của cá nhân, tổ chức không cần đăng ký kinh doanh Do đó, khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại theo Pháp lệnh rộng hơn, bao gồm mọi cá nhân, tổ chức kinh doanh mà không bắt buộc có đăng ký.

Phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại

1.2.1 Thương lượng trực tiếp giữa các bên Đó là việc khi có tranh chấp hai bên có thể tự bàn bạc, dàn xếp, thảo luận để đưa ra phương án giải quyết tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp của bên thứ ba cũng như là thông qua một thủ tục tố tụng nào Phương thức này là phương thức cố điển, thông dụng nhất bởi nó dễ thực hiện, ít tốn kém, ít tổn hại đến uy tín cũng như bí mật kinh doanh, không bị ràng buộc bởi bất kỳ một nguyên tắc pháp lý nào, đặc biệt là giữ được mối quan hệ lâu dài giữa các bên,thậm chí còn tăng cường sự hiểu biết, sự hợp tác giữa các bên nếu như thương lượng thành công Khi xảy ra tranh chấp thì hầu như các bên sẽ lựa chọn phương thức này đầu tiên, họ chỉ lựa chọn phương thức khác khi mà đã thực hiện phương thức này nhưng không có kết quả Xuất phát từ bản chất của các mối quan hệ trong kinh doanh thương mại, đó là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, do vậy mà nguyên tắc tự do thoả thuận cũng được đặt lên hàng đầu Theo đó thì trong quan hệ kinh doanh thương mại, cũng như việc giải quyết các tranh chấp hoàn toàn có quyền tự thoả thuận trên cơ sở những gì mà pháp luật không cấm Thương lượng chính là sự thể hiện quyền tự do thoả thuận, tự do định đoạt của các bên tranh chấp Các bên tự đề xuất các phương phương án, cách thức thoả thuận mà không phải tuân theo bất kỳ một thủ tục pháp lý nào Có thể nói việc thương lượng giữa các bên có 3 đặc trưng cơ bản sau: thứ nhất là các bên tự mình bàn bạc thoả thuận để giải quyết tranh chấp mà không cần có sự giúp đỡ của bất kỳ bên thứ ba hay cơ quan nào Thứ hai là quá trình thương lượng giữa các bên không phải tuân theo bất cứ một nguyên tắc hay trình tự thủ tục tố tụng mang tính pháp lý nào Pháp luật chỉ quy định thương lượng như một quyền của các bên mà không quy định các hành vi cụ thể của các chủ thể Do đó các bên hoàn toàn có thể thoả thuận những gì mà pháp luật không cấm Thứ ba là việc thực hiện các kết quả thương lượng là hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên, không có một sự ràng buộc cưỡng chế mang tính pháp lý nào Có chăng, cái ràng buộc các bên thực hiện trong trường hợp này đó là uy tín của các bên mà thôi Quá trình giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau do hai bên lựa chọn, hai bên có thể gặp mặt trực tiếp hoặc gửi cho nhau các tài liệu thể hiện các quan điểm của mình nhằm đưa ra được cách giải quyết hợp lý hoặc cũng có thể kết hợp thương lượng trực tiếp và gián tiếp

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả, tiện lợi, ít tốn kém và linh hoạt, giúp bảo vệ uy tín và bí mật kinh doanh của các bên Tuy nhiên, thành công của thương lượng phụ thuộc vào thiện chí của các bên; nếu không có thiện chí, kết quả thương lượng có thể không được thực hiện hoặc bị trì hoãn kéo dài Vì vậy, khi lựa chọn thương lượng làm phương pháp giải quyết tranh chấp, các bên cần cân nhắc để tìm ra cách thức phù hợp nhất, đảm bảo hiệu quả và khả năng thành công cao nhất.

1.2.2 Hoà giải các tranh chấp

Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự hỗ trợ của bên thứ ba, đóng vai trò trung gian và thuyết phục hai bên thương lượng Bên thứ ba tham gia với vai trò là người trung gian, cung cấp ý kiến tham khảo để các bên cân nhắc, nhưng quyết định cuối cùng vẫn thuộc về các bên tự thỏa thuận Khác với các hình thức giải quyết tranh chấp như trọng tài thương mại hoặc toà án, ý kiến của bên thứ ba chỉ mang tính chất tư vấn, các bên có quyền nghe hoặc bỏ qua Hoà giải có thể diễn ra ngoài tố tụng trong trường hợp này, hoặc tại trọng tài hoặc toà án nếu được tiến hành theo thủ tục tố tụng chính thức.

Hoà giải ngoài tố tụng có các đặc trưng cơ bản sau:

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, việc xuất hiện của bên thứ ba với vai trò trung gian đưa ra ý kiến và các giải pháp là điểm khác biệt chính giữa hòa giải và thương lượng Thương lượng diễn ra thông qua cơ chế giải quyết nội bộ giữa các bên, trong khi hòa giải luôn có sự tham gia của người thứ ba để làm trung gian Tuy nhiên, vai trò của bên thứ ba trong hòa giải là trung gian không có quyền quyết định hay bắt buộc các bên chấp nhận các đề xuất, mà chỉ cung cấp các ý kiến, giải pháp thuyết phục nhằm hỗ trợ các bên đưa ra quyết định cuối cùng.

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hoặc hòa giải có sự khác biệt rõ rệt so với giải quyết qua tòa án Trong cả ba hình thức này, đều có sự tham gia của bên thứ ba, nhưng vai trò của bên thứ ba trong tòa án hoặc trọng tài là đưa ra các quyết định bắt buộc các bên phải tuân theo.

Quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải không tuân theo quy trình tố tụng cố định theo pháp luật Mọi phương thức hòa giải đều dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên, tương tự như thương lượng để đạt được thoả thuận cuối cùng.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, kết quả hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên và không chịu sự cưỡng chế thi hành hay bảo đảm pháp lý nào Vai trò của bên thứ ba trong hòa giải là rất quan trọng, bởi lẽ họ được các bên lựa chọn dựa trên sự tin tưởng và cần hội tụ các yếu tố như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn Bên thứ ba phải đảm bảo tính độc lập, không có lợi ích liên quan hoặc xung đột với các bên tranh chấp, nhằm duy trì tính khách quan, trung thực và công bằng trong quá trình hòa giải.

Hòa giải và thương lượng thực chất là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên cơ chế thỏa thuận tự nguyện của các bên, không mang tính chất tố tụng, đơn giản, ít tốn kém và kết quả phụ thuộc chủ yếu vào sự tự nguyện của các bên Thêm vào đó, hòa giải có lợi thế khi có sự tham gia của bên thứ ba trung gian với trình độ, kinh nghiệm và tính khách quan, giúp các bên dễ đạt được thỏa thuận hơn Kết quả hòa giải được ghi nhận và có sự chứng kiến của bên thứ ba, nâng cao mức độ tôn trọng và tự nguyện so với thương lượng tự do Tuy nhiên, cả hòa giải và thương lượng đều gặp khó khăn trong việc thực thi và khả năng bị ảnh hưởng bởi bên thứ ba, điều này có thể làm giảm uy tín và bí mật kinh doanh của các bên tranh chấp.

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại thông qua quá trình hoạt động của trọng tài viên độc lập, nhằm đưa ra quyết định có hiệu lực bắt buộc dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp Theo quy định tại Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, đây là phương pháp giải quyết tranh chấp giữa các bên trong lĩnh vực thương mại theo trình tự, thủ tục do pháp lệnh quy định Bản chất của trọng tài thương mại thể hiện qua khái niệm này giúp nhận diện rõ tính độc lập và tính bắt buộc của kết quả giải quyết tranh chấp Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài có những đặc trưng nổi bật như tính tự nguyện, tính bắt buộc và tính nhanh chóng, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong hoạt động kinh doanh thương mại.

Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thương mại có sự tham gia của một trọng tài viên hoặc trọng tài viên duy nhất, và việc giải quyết tranh chấp phải được các bên thỏa thuận Để trở thành trọng tài viên, người tham gia phải đáp ứng các điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật, như là công dân Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ đại học và kinh nghiệm làm việc từ năm năm trở lên; những người đang bị quản chế hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đã bị kết án chưa xóa án sẽ không đủ điều kiện Ngoài ra, các cán bộ công tác tại các cơ quan tư pháp, như thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, công chức, không thể làm trọng tài viên Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và dựa trên pháp luật, đồng thời tôn trọng thỏa thuận của các bên Đối với giải quyết tranh chấp thương mại qua thương lượng hoặc hòa giải, các bên không bắt buộc phải có thỏa thuận trước, còn trong trọng tài thương mại, các bên bắt buộc phải thỏa thuận về trọng tài để có thể sử dụng hình thức này Thỏa thuận trọng tài nhằm mục đích giải quyết các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại, và phải được lập thành văn bản thông qua các phương tiện như thư, điện báo, fax hay điện tử, thể hiện rõ ý chí của các bên Thỏa thuận trọng tài có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận riêng, tuy nhiên, nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng chính và không bị ảnh hưởng bởi việc gia hạn hoặc hủy bỏ hợp đồng, phù hợp với quy định của pháp luật về trọng tài thương mại.

Trọng tài không tự động có hiệu lực pháp luật và có thể vô hiệu nếu không tuân thủ quy định tại điều 10 PL trọng tài thương mại Quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được thực hiện thông qua thủ tục tố tụng chặt chẽ, đảm bảo tính khách quan và công bằng, khác biệt hoàn toàn so với các phương thức giải quyết tranh chấp trước đó Các bên tham gia tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng của pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài; nếu không, quyết định của trọng tài có thể bị coi là không hợp lệ và không có hiệu lực thi hành Kết quả của quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài là bản án do trọng tài viên tuyên bố, dựa trên sự thỏa thuận về nội dung và phương thức giải quyết, đồng thời kết hợp yếu tố tài phán và quyết định mang tính bắt buộc đối với các bên Dù mang tính chất riêng tư, quyết định trọng tài vẫn có hiệu lực bắt buộc, trừ khi bên nào yêu cầu tuyên huỷ hoặc quyết định đã bị tòa án tuyên bố vô hiệu; nếu các bên không tự nguyện thi hành, quyết định có thể bị cưỡng chế thi hành để đảm bảo quyền lợi của các bên.

Trọng tài thương mại chủ yếu tồn tại dưới hai hình thức: trọng tài vụ việc (trọng tài Ad-hoc, Hội đồng trọng tài do các bên thỏa thuận thành lập và chấm dứt khi tranh chấp được giải quyết) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế) là các trung tâm trọng tài có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, trụ sở cố định và danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ riêng.

Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp kết hợp nhiều ưu điểm như đảm bảo sự tự do thỏa thuận ý chí, bí mật và uy tín cho các bên, giữ được quan hệ hợp tác sau khi giải quyết, cùng với tính chặt chẽ về thủ tục tố tụng và khả năng tài phán như hình thức toà án Lựa chọn trọng tài giúp các bên tranh chấp yên tâm vì tranh chấp sẽ được giải quyết nhanh chóng, rõ ràng, tránh lãng phí thời gian và chi phí Chính vì những ưu điểm này, trọng tài trở thành phương pháp phổ biến tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, được các doanh nghiệp sử dụng như một hình thức tối ưu để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại.

1.2.4 Giải quyết tranh chấp tại toà án

Toàán là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực của Nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt và chặt chẽ Bản án hoặc quyết định của toà án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi công lý và trật tự xã hội.

Các đặc trưng cơ bản của phương thức giải quyết tranh chấp bằng con đường toà án như sau:

Việc giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án có sự tham gia của bên thứ ba thông qua hoạt động xét xử của hội đồng xét xử gồm các thẩm phán và hội thẩm nhân dân Tòa án là cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, và quyết định tranh chấp bằng tòa án không cần sự thỏa thuận trước của các bên Nếu các bên không thống nhất phương thức giải quyết, tranh chấp sẽ được xử tại tòa án sau quá trình hòa giải hoặc thương lượng không thành công Thành viên tham gia hội đồng xét xử cần đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật; không đáp ứng sẽ không được tham gia xét xử và bản án do họ tuyên có thể không có hiệu lực pháp lý.

Giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại tại toà án

1.3.1 Khái quát về cơ cấu tổ chức của toà án Ở Việt Nam, hệ thống được tổ chức theo đơn vị hành chính, lãnh thổ. Theo quy định tại điều 2 Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002 thì ở Việt Nam có các toà án sau: Toà án nhân dân tối cao; các toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; các toà quân sự; các toà khác do luật định Trong đó toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống toà án Toà án nhân dân tối cao gồm có các toà: toà quân sự trung ương, toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính và các toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao Trong đó thì toà hình sự, toà dân sự, toà kinh tế, toà lao động, toà hành chính, toà án nhân dân tối cao, giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng Các toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ và quyền hạn phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của toà án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật; giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh về tuyên bố phá sản; giải quyết khiếu nại tố cáo đối với các quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh về việc giải quyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp tỉnh gồm có các loại như: tòa hình sự, tòa dân sự, tòa kinh tế, và tòa hành chính, trong trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể quyết định thành lập thêm các tòa chuyên trách theo đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao Tòa kinh tế có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án kinh tế theo quy định của pháp luật, và xét xử phúc thẩm các vụ án kinh tế chưa có hiệu lực thi hành của bản án sơ thẩm của tòa án cấp dưới, cũng như giải quyết các vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân cấp huyện không có các tòa chuyên trách, các vụ việc thuộc thẩm quyền của tòa án cấp huyện sẽ được giao cho các thẩm phán chuyên trách giải quyết Các vụ án hình sự sẽ được phân công cho thẩm phán chuyên trách về hình sự, trong khi các vụ án kinh tế sẽ do thẩm phán chuyên trách về kinh tế đảm nhận Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm các vụ án theo quy định của pháp luật, đảm bảo xử lý các vụ việc đúng thẩm quyền và hiệu quả.

Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề này, chúng tôi tập trung vào phương thức giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại Pháp luật quy định rằng các tranh chấp này thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế hoặc tòa án chuyên trách về tranh chấp kinh doanh thương mại tại cấp huyện Tất cả các vấn đề liên quan đến phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế tại tòa án đều thuộc thẩm quyền của tòa kinh tế hoặc tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.

1.3.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế tại toà án

Trong quá trình kinh doanh, các chủ thể phát sinh mối quan hệ kinh tế dựa trên các quyền và nghĩa vụ pháp lý, và mỗi bên đều có trách nhiệm thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình Khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, gây thiệt hại cho lợi ích hợp pháp của bên kia, tranh chấp kinh tế sẽ xảy ra, dẫn đến yêu cầu giải quyết tranh chấp Pháp luật khuyến khích các bên tự thương lượng để giải quyết vấn đề nhằm duy trì nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong kinh doanh; tuy nhiên, khi không thể thương lượng thành công, tranh chấp sẽ được giải quyết qua thủ tục tố tụng tại tòa án Quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế tại tòa án là quá trình tố tụng kinh tế, bao gồm các mối quan hệ pháp lý giữa tòa án và các bên tham gia tố tụng, cũng như mối quan hệ giữa các bên với nhau Đặc điểm nổi bật của các quan hệ này là tính chất pháp lý đặc thù và ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế.

- Chúng phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế ở toà án

- Một trong các chủ thể bắt buộc của quan hệ pháp luật kinh tế là toà án

Tranh chấp phát sinh từ căn cứ pháp lý là vi phạm pháp luật kinh tế hoặc liên quan đến quyền và nghĩa vụ giữa các bên Đồng thời, mâu thuẫn này còn xuất hiện trong quan hệ pháp luật tố tụng kinh tế, phản ánh sự không thống nhất hoặc xung đột trong việc thực hiện hoặc áp dụng các quy định pháp luật kinh tế Việc xác định chính xác căn cứ pháp lý và các quy định liên quan đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp hiệu quả, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên.

Mục đích của việc giải quyết tranh chấp tại tòa án là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp đang bị vi phạm của các bên tham gia quan hệ kinh tế Quá trình này nhằm đảm bảo công bằng, công lý và duy trì trật tự pháp luật trong hoạt động kinh doanh cũng như nền kinh tế nói chung Giải quyết tranh chấp tại tòa án giúp các bên hiểu rõ quyền lợi của mình, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các vi phạm được xử lý một cách khách quan và chính xác.

Nội dung của pháp luật kinh tế bao gồm các quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế, thẩm quyền và trình tự giải quyết tranh chấp của tòa án các cấp Đồng thời, pháp luật còn quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tố tụng kinh tế để đảm bảo quá trình tranh chấp được xử lý công bằng, đúng quy định pháp luật.

1.3.3 Áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại tại toà án

Trước ngày 01/01/2005, pháp luật về tố tụng thực hiện việc giải quyết các tranh chấp kinh tế dựa trên Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ban hành ngày 16 tháng 3 năm 1994 Kể từ ngày 01/01/2005, theo hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004, pháp luật tố tụng được áp dụng là BLTTDS 2004, thay thế cho Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.

1.3.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo BLTTDS 2004

Nguyên tắc cơ bản của một đạo luật bao gồm các tư tưởng, quan điểm chỉ đạo mang tính chất khái quát, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Nội dung của các quy định pháp luật chỉ là sự cụ thể hóa những tư tưởng này, giúp giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh và thương mại phù hợp với nguyên tắc chung Trong quá trình xét xử các vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2004, có 21 nguyên tắc được áp dụng, trong đó có 4 nguyên tắc then chốt được xem là cơ bản và đặc trưng trong tố tụng dân sự cũng như tố tụng kinh tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên một cách hiệu quả.

- Nguyên tắc về quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự

Đương sự có quyền quyết định khởi kiện và yêu cầu tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ tiếp nhận và thụ lý vụ việc khi có đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu hợp lệ từ đương sự, và chỉ tiến hành xét xử trong phạm vi nội dung đã nộp đơn.

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.”

Các quan hệ kinh tế là những mối quan hệ được xác lập tự nguyện dựa trên ý chí và nguyện vọng của các bên, không có sự cưỡng ép hay đe dọa nào trong quá trình hình thành và thực hiện Trong đó, các bên hoàn toàn có quyền quyết định quyền và nghĩa vụ của mình, được pháp luật và đạo đức xã hội bảo vệ miễn là không trái luật Khi xảy ra tranh chấp, bên vi phạm có quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, nhưng cũng có thể từ bỏ quyền lợi đã bị xâm phạm Nguyên tắc tự quyết định và tự định đoạt của đương sự thể hiện xuyên suốt quá trình tố tụng; họ có quyền khởi kiện hoặc không, thay đổi yêu cầu hoặc thỏa thuận tự nguyện nếu phù hợp pháp luật và đạo đức Việc thực hiện quyền này không chỉ dừng lại ở các giai đoạn giải quyết sơ thẩm hay phúc thẩm mà còn được thể hiện trong quá trình thi hành bản án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tất cả các giai đoạn của tố tụng.

- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng kinh tế

Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án để chứng minh tính hợp pháp và căn cứ của yêu cầu của mình, đảm bảo quá trình xét xử diễn ra công bằng và chính xác.

2 Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.

3 Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định.”

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ KINH

KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT

Ngày đăng: 19/02/2023, 12:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 Khác
2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác
3. Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 Khác
7. Luật Doanh nghiệp năm 1999.8. Luật Công ty năm 1990 Khác
9. Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 Khác
10. Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 Khác
11. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế năm 1994 Khác
12. Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Khác
15. Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 quy định về án phí và lệ phí Khác
16. ThS Hoàng Minh Chiến (2006), Giáo trình Luật thương mại tập II, chương XVII, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
17. ThS. Nguyễn Công Bình, ThS. Lê Thu Hà, TS. Hoàng Ngọc Thỉnh, ThS Khác
18. ThS. Lê Hoàng Oanh, vụ pháp chế - Bộ Thương mại (2004), Khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học và pháp luật 3/2004 Khác
19. Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2007), Báo cáo tổng hợp án các năm (1994-2007), Hà Nội Khác
20. Toà kinh tế - Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2006), Báo cáo công tác giải quyết, xét xử án kinh tế, Hà Nội Khác
21. Toà kinh tế - Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2006), Báo cáo giải trình án huỷ, Hà Nội Khác
22. Toà kinh tế - Toà án nhân dân thành phố Hà Nội (2007), Báo cáo rút kinh nghiệm án kinh doanh, thương mại, Hà Nội Khác
23. Http://vietlaw.gov.vn 24. Http://thongtinphapluat.com 25. Http://vietnamnet.com.vn 26. Http://dddn.com.vn Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w