PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI BÀ TRONG BÀI THƠ BẾP LỬA Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 1 Bằng Việt là nhà thơ cùng lứa với các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mĩ cứu nước[.]
Trang 1PHÂN TÍCH HÌNH ẢNH NGƯỜI BÀ TRONG BÀI THƠ BẾP
LỬA Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 1
Bằng Việt là nhà thơ cùng lứa với các nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mĩ cứu nước Thơ Bằng Việt hàm chứa những tình cảm rộng lớn, yêu thương Tiêu biểu cho hồn thơ ông là bài thơ “Bếp lửa” được viết năm 1963 khi tác giả đang là một sinh viên ở nước ngoài Trong hoàn cảnh sống xa quê hương,
xa người thân, những tình cảm về tuổi thơ có điều kiện được đơm mầm, nảy nở, được tác giả chiêm nghiệm dài lâu.
Hình ảnh người bà kính trong dòng cảm xúc miên man của người cháu được thể hiện qua những dòng thơ nhớ thương da diết, không nguôi Như một quy luật nghiệt ngã của văn chương, của sáng tạo nghệ thuật, ai cũng muốn viết về tuổi thơ của mình nhưng vì thơ viết về kỷ niệm bao giờ cũng được bao bọc không khí nhớ thương, tiếc nuối những chuyện đã qua nên thường lan man, khó tìm thấy những chi tiết đặc sắc để lay động tâm hồn bạn đọc Bằng Việt cũng viết về kỷ niệm ấu thơ thuở hoa còn là nụ nhưng nhà thơ đã chọn cho mình một chi tiết độc đáo, tuy bình dị nhưng không phải ai cũng nhận ra: “Bếp lửa” Nhớ về tuổi thơ, nghĩ về bếp lửa, tác giả lại nhớ, lại nghĩ đến hình ảnh người bà thương yêu – một hình ảnh xuyên suốt bài thơ, lúc nào cũng chập chờn lay động:
“Một bếp lửa chơi vơi sương sớm.
Một bếp lửa ấp iu nồng đượm.
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Lúc nào cũng vậy, bỏ qua không gian, bỏ qua thời gian, còn lại trong nhân vật người cháu không gì khác ngoài hình ảnh người bà Đầu tiên, ký ức đưa nhân vật trở về những năm đói mòn đói mỏi Cái đói quay đói quắt đã ám ảnh trong văn chương một thời của ta, đói đến nỗi phải ăn đất sét (trong văn của Ngô Tất Tố), những trăn trở về miếng ăn luôn dằn vặt trang viết của Nam Cao… Đến nỗi nhà thơ Chế Lan Viên đã từng tổng kết trong một câu thơ đau đớn: “Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rợ… ”Tuy nhiên, cái đói ở đây chỉ là cái cớ để tác giả nhớ về một tuổi thơ cay cực, thiếu thốn trăm bề:
Trang 2“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc người gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Là vì khói, vì khó nhọc hay vì những tình cảm của một thời chia xa? Qua
đó, nhà thơ khẳng định tuổi thơ mình dẫu thiếu thốn vật chất nhưng không bao giờ thiếu thốn nghĩa tình.Từ mùi khói bếp, nhân vật trữ tình lại nhớ về tiếng chim tu
hú trong suốt tám năm ròng trong tuổi thơ Đoạn thơ không khỏi khiến ta chạnh nhớ về “Tiếng chim tu hú” của nữ sĩ Anh Thơ: Cũng cha già, những kỷ niệm về một thời thiếu nữ hoa niên, tiếng chim tu hú len lỏi khắp bài thơ như một tiếng chim u uẩn, không buồn mà tiếc Còn ở đây, tiếng chim tu hú bước vào thơ như một chi tiết để thêm yêu bà mà thôi:
“Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi! Chẳng đến ỏ cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Còn gì hơn với những chi tiết tự sự xúc động như thế? Câu thơ giản dị lời
ăn tiếng nói hàng ngày, không trau chuốt nhưng mới thực sự là thơ bởi đó là tiếng nói của tình cảm, của yêu thương Bà luôn bên cháu dạy dỗ, chăm sóc cho cháu lớn lên, nuôi dưỡng cả tâm hồn lẫn thể chất cho cháu Vậy mà bây giờ cháu cũng
đi xa, để bà một mình khó nhọc:
“Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa”
Trang 3Câu thơ mới thấm thía làm sao, xót xa làm sao! Đặc biệt, hình ảnh người bà bỗng nhiên trở nên cao lớn, vĩ đại khi Bằng Việt nhớ về những năm đau thương, vất vả Mặc kệ “Giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”, mặc cho chiến tranh tàn phá, kho đau chất chồng, bà lúc nào cũng “đinh ninh” dặn cháu: “Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” Bà là hiện thánh cụ thể nhất, sinh động nhất cho hậu phương lớn Dẫu
có thế nào đi chăng nữa thì không gì có thể lay chuyển được niềm tin dai dẳng” của bà vào tương lai được:
“Rồi sớm rồi chiều lại bén lửa bà nhen Một ngọn lừa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”
Không còn là bếp nữa rồi, bây giờ ngọn lửa luôn cháy trong lòng bà Có người nói, cứ quay ngược trái tim, là tấm lòng, tâm hồn cửa bà như bao người Việt Nam đó Một niềm tin bất diệt lạ lùng Chính đức tin của bà ủ sẵn đã được truyền sang cho cháu một cách tự nhiên như truyền lửa cho thế hệ mai sau.Làm nên thành công của đoạn thơ nhớ về bà, qua dòng chảy cảm xúc của nhân vật trữ tình chính là sự kết hợp, đan cài nhuần nhuyễn với nhau qua giữa các yếu tố biểu cảm, miêu tả và tự sự Đây là nét bút pháp quen thuộc của nhà thơ Chính sự kết hợp nhuần nhị, độc đáo đó khiến cho hình ảnh của bà thật gần gũi, những mảng
ký ức tuổi thơ lại hiện về sống động và chân thật, giản dị.Qua dòng hồi tưởng tinh
tế đó nhà thơ trở về với hiện tại cũng là để nhớ về bà nhiều hơn, thương bà nhiều hơn:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa.
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
Nhà thơ khẳng định chắc chắn bếp lửa là hoá thân cụ thể của bà và bà cũng chính là bếp lửa sưởi ấm tâm hồn nhà thơ mà bà luôn nhóm:
“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm thương yêu khoai sắn ngọt bùi
Trang 4Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”
Tình cảm của bà thật bao la, giản dị như khoai sắn và cũng ngọt bùi như khoai sắn Cuối cùng, nhà thơ khẳng định: “Ôi! kỳ lạ và thiêng liêng bếp lửa”, một câu thơ có sức khái quát cao Qua thời gian, qua bom đạn, bếp lửa vẫn bập bùng cháy Nhưng hơn hết, nó còn là biểu tượng cho những tình cảm thiêng liêng, những ân tình thuỷ chung trong cuộc đời mỗi người.Hình ảnh của người bà, tình yêu của bà, niềm tin của bà qua hồi tưởng và suy ngẫm của đứa cháu đã lớn, suy rộng ra là hình ảnh, tình yêu của quê hương, đất nước đối với ta Tình cảm trân trọng, yêu quý đối với bà là biểu hiện cụ thể tình yêu lớn của mỗi người đối với nơi mình sinh ra và lớn lên Ai cũng có một tuổi thơ như thế Vì vậy mà bài thơ đã đưa ta về với những ngày xưa tưởng đã ngủ yên trong quên lãng
Sơ đồ tư duy
Dàn ý chi tiết
1 Mở bài: Giới thiệu về tác giả Bằng Việt và tác phẩm thơ Bếp lửa
- Nêu khái quát nội dung, nghệ thuật của tác phẩm: bài thơ gợi lên những kỉ niệm sâu sắc về tuổi thơ,tình bà cháu thiêng liêng, cảm động
Trang 5- Hình ảnh người bà nhân hậu, giàu tình yêu thương, sự hi sinh vì con cháu hiện lên thật giản dị, gần gũi và ấm áp
2 Thân bài
- Hình ảnh bếp lửa nơi xứ người gợi lên nỗi nhớ bà, nhớ quê hương
- Dòng hồi tưởng về bà, về tuổi thơ được khơi gợi từ hình ảnh thân thương- bếp lửa
+ Bếp lửa “chờn vờn sương sớm” và “ấp iu nồng đượm” ùa về trong tâm trí người cháu hình ảnh người bà nhân hậu với tấm lòng chi chút của người nhóm lửa
- Bếp lửa thực tự nhiên khi xa xứ đánh thức dòng cảm xúc, nỗi nhớ luôn trực chờ trong lòng người cháu về bà: cháu thương bà lặng lẽ, âm thầm
- Bài thơ gợi lại kỉ niệm ấm áp, êm đềm của tuổi thơ khi bên bà
+ Tuổi thơ đứa cháu là những chuỗi ngày thiếu thốn, khó khăn “đói mòn đói mỏi” dường như ám ảnh,xót xa cho người cháu mỗi khi nhớ lại
+ Nhưng có bà, cuộc sống của cháu luôn tràn ngập tình yêu thương, đầm ấm
- Bên cạnh bếp lửa, âm thanh của tiếng tu hú gợi lên hình ảnh hai bà cháu gắn bó, chia sẻ tình cảm nồng ấm suốt 8 năm trời
- Bà luôn ân cần đảm nhiệm nhiều vai trò khi chăm sóc cháu: biện pháp liệt kê “bà bảo, bà chăm, bà dạy” diễn tả sâu sắc và cảm động sự nhân hậu, tình yêu thương cháu và sự chăm sóc chi chút cho cháu của bà
+ Bà trở thành chỗ dựa vững chắc cho cháu, lấp đầy những thiếu thốn về vật chất và tinh thần của đứa cháu
- Trong hoàn cảnh chiến tranh tàn phá, bà vững lòng, bình tĩnh tạo niềm tin cho con cháu
+ Hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa ấm áp từ tình thương yêu, sự hi sinh của bà đối lập với ngọn lửa hung tàn, tiêu diệt sự sống của kẻ thù (năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi)
Trang 6→ Mạch cảm xúc xen với lời kể, cùng hình ảnh thơ lan tỏa hiện lên rõ nét đã để lại dấu ấn sâu đậm về người bà Những suy ngẫm về cuộc đời bà và hình tượng bếp lửa
- Từ những hoài niệm về bà, người cháu suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời bà + Hình ảnh của bà luôn gắn chặt với hình ảnh bếp lửa ấm áp, thân thuộc
+ Trong lòng bà luôn có một “ngọn lửa” “ủ sẵn”, đây là ngọn lửa của niềm tin,
ý chí, nghị lực và khát vọng sống
+ Điệp từ “một ngọn lửa” nhấn mạnh vào tình yêu thương cũng như tấm lòng nhân hậu của bà dành cho cháu
+ Ngọn lửa đó thắp lên niềm tin, tình yêu và nghị lực sống tin tưởng vào ngày mai cho đứa cháu
- Hình ảnh người bà tần tảo khuya sớm, là người thắp lửa, giữ lửa truyền tới thế
hệ trẻ
+ Mặc dù cuộc đời bà trải qua “nắng mưa” lận đận, nhưng bà luôn lạc quan, tin tưởng và dành những điều tốt đẹp cho con cháu
+ Động từ “nhóm” được lặp đi lặp lại nhằm khẳng định : bà chính là người khơi dậy những giá trị sống tốt đẹp trong cuộc đời mỗi con người Bà đã truyền hơi ấm tình người, khơi dậy trong tâm hồn cháu tình yêu thương ruột thịt, sự cảm thông chia sẻ
+ Từ đó nhà thơ khám phá ra điều kì diệu giữa cuộc đời bình dị “Ôi kì lạ và thiêng liêng- bếp lửa
- Khổ thơ cuối là lời tự bạch của người cháu khi trưởng thành, xa quê
+ Dù xa quê hương, xa bà nhưng người cháu vẫn luôn nhớ và hướng về bà với niềm yêu thương, sự biết ơn vô hạn
3 Kết bài:
Trang 7- Tác giả xây dựng thành công hình tượng bếp lửa để làm sáng lên phẩm chất đáng quý của bà Qua đó thể hiện tình cảm yêu quý, kính trọng bà của người cháu
xa quê nhưng luôn nhớ và biết ơn sự hy sinh, chăm sóc, dạy bảo của bà.
Các bài mẫu khác:
Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 2
Hình ảnh người cháu đi lính trở về quê ngoại hồi tưởng lại hình bóng bà lam lũ vất vả trong bài thơ “ Đò Lèn” của Nguyễn Duy:
“Bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”
Gợi nhắc ta nhớ tới tình cảm bà cháu sâu nặng trong bài thơ “ Bếp lửa” Nhà văn khắc họa hình ảnh người bà với những vẻ đẹp tần tảo, đức hi sinh và niềm tin mãnh liệt, qua đó thể hiện lòng kính yêu bà sâu nặng Khơi nguồn kí ức của người cháu khi trưởng thành nhớ về bà khi anh bắt gặp hình ảnh quen thuộc:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”
Người bà hiện lên chịu thương chịu khó, cần mẫn nhóm lửa ngày nào nay
ùa về trước mắt người cháu Hình ảnh bàn tay cần mẫn của người bà đang nâng niu, vun vén cho ngọn lửa chập chờn, bập bùng trong mỗi sớm mai In hằn suốt đời bà là những vất vả, nhọc nhằn, hình ảnh ẩn dụ “ biết mấy nắng mưa” tượng trưng cho bao nỗi cơ hàn đè nặng lên tấm thân già nua của bà Hình ảnh ấy khơi dậy niềm thương cảm, xót xa của người cháu khiến dòng hồi tưởng về bà rõ nét, chân thực hơn:
“ Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Trang 8Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,”
Khi cháu lên bốn, lên tám đó là những mốc thời gian nguy khó nhất của cuộc chiến tranh: cái đói hoành hành, giặc tàn phá hậu phương Bà cưu mang đứa cháu nhỏ dại, suốt tám năm ròng “ cháu cùng bà nhóm lửa” Phải chăng bà luôn bền bỉ nhen lên hơi ấm của sự sống bền bỉ? Bà không chỉ trở thành người cha, người mẹ của cháu lúc cha mẹ bận công tác nơi tiền tuyến mà bà còn là người thầy hết mực bảo ban cháu Điệp từ “ bà” lặp đi lặp lại cùng một loạt động từ “ kể chuyện, dạy, chăm cháu học” giúp ta hình dung bà là người khắc sâu lòng căm thù giặc trong lòng cháu qua những câu chuyện kể và bà bảo ban cháu nên người.Khó nhọc đời bà thêm trĩu nặng khi nuôi lớn cháu trong hoàn cảnh khốn khó, đầy thiếu thốn về vật chất Nhà thơ khắc họa hình ảnh người bà với tình yêu thương cháu vô
bờ bến, có lẽ bà muốn bù đắp phần nào những bất hạnh trong tuổi thơ đứa cháu bé bỏng Không chỉ giàu tình yêu thương cháu mà bà còn giàu đức hi sinh và lòng vị tha:
“Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, Mày viết thư chớ kể này, kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Nén nỗi khổ đau một mình bà chịu đựng tất cả nên lời căn dặn cháu “ chớ
kể này, kể nọ” những gian khó ở quê nhà : “ giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi”, bởi
bà muốn làm yên lòng những người nơi hỏa tuyến để họ làm tốt nhiệm vụ Lòng
vị tha giúp bà và dân làng tạo thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến đánh giặc Bà luôn nuôi dưỡng, ấp ủ một niềm tin không bao giờ dập tắt, niềm tin nhỏ
bé nhưng dai dẳng, được nhen lên bằng cả tấm lòng, trái tim nhân hậu:
“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng ”
Điệp ngữ “một ngọn lửa” ấm nồng vẫn âm ỉ cháy ngày qua ngày được bà nâng niu biến hình ảnh bếp lửa trở thành một hình tượng giàu sức tượng trưng:
Trang 9“Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm tình yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui Nhóm dậy cả tâm tình tuổi nhỏ”
Hành động “nhóm” bếp điệp lại tới bốn lần nhấn mạnh thói quen thường ngày thành nếp sống của suốt cuộc đời long đong “lận đận” của bà Nhưng việc làm giản đơn ấy có sức mạnh kì lạ Nó thắt chặt tình nghĩa xóm làng bằng những
củ khoai sắn hay nồi xôi gạo ngọt bùi từ bếp lửa bà đun nấu Một trời mộng mơ của cháu từng bị lãng quên nay bên bà những nỗi niềm ấy lại sống dậy khi được sưởi ấm tâm hồn Vậy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa.Qua dòng kí ức tuổi thơ của người cháu, bài thơ “ Bếp lửa” gửi gắm lòng biết ơn bà sâu nặng Nhà thơ Bằng Việt khéo léo xây dựng hình ảnh bếp lửa gắn liền với hình tượng người bà vừa làm nổi bật vẻ đẹp cao cả vừa tạo tính biểu tượng cho hình ảnh thơ
Phân tích hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa – mẫu 3
Bạn đã bao giờ đắm chìm trong những kỉ niệm tuổi thơ với một hình ảnh thân thuộc nào đó? Phải chăng hình ảnh ấy đã để lại cho bạn ấn tượng sâu sắc nơi tâm hồn? Với Bằng Việt, có lẽ bóng dáng thân thương của người bà bên bếp lửa
đã thấm đẫm trang kí ức tuổi thơ.Những kí ức đó đã được Bằng Việt tái hiện chân thực qua bài thơ “Bếp lửa” Vậy hình ảnh người bà hiện lên trên những vần thơ ấy sâu sắc như thế nào? Điều đó góp phần thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm
ra sao? Hãy thử hòa mình vào hơi ấm ngọn lửa của tình bà ngay từ những câu thơ đầu tiên:
“Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”
Dòng cảm xúc trong trẻo, bình dị ấy bắt nguồn từ hình ảnh bếp lửa “chờn vờn sương sớm”, “ấp iu nồng đượm” gợi bàn tay nhóm lửa khéo léo, chi chút của
Trang 10người bà Sự hi sinh thầm lặng miệt mài của bà đã sưởi ấm trái tim đứa cháu nhỏ, sưởi ấm những năm tháng tuổi thơ của cháu Tuổi thơ ấy có thật sự bình yên, êm đềm bên ngọn lửa ấm áp? Không! Những kỉ niệm tuổi thơ bên cạnh bà là cuộc sống có nhiều gian khổ, thiếu thốn và nhọc nhằn:
“Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”
Những dòng thơ chân thực đến ám ảnh, xót xa Năm lên bốn, cháu đã phải đối mặt với nạn đói năm 1945, vậy mà trong những mảnh ghép kí ức mơ hồ ấy vẫn lưu giữ mùi khói bếp của bà – mùi khói đã hun nhèm mắt cháu, để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”.Cay vì khói bếp, cay vì cảm xúc sống dậy những mùi khói của mấy chục năm qua Không thể không nhận thấy sức ám ảnh, lay động trong tâm hồn cháu khi mà dù cho những kỉ niệm đã nhạt nhòa thì mùi khói bếp năm nào vẫn để lại dư vị cay cay nơi sống mũi Bà vẫn lặng lẽ, vẫn âm thầm tích góp hơi ấm nuôi dưỡng cháu trong những năm tháng ấy, đến tận “tám năm ròng” Càng lớn lên trong vòng tay của bà, những kí ức về bà lại càng sâu đậm trong tâm hồn người cháu:
“Mẹ cùng cha công tác bận không về Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.”
Trong sương khói mịt mờ của chiến tranh, cháu không được sống cùng bố
mẹ, nhưng lại được yêu thương, che chở, nuôi dưỡng tâm hồn từ tấm lòng bà Bên bếp lửa hồng bà kể chuyện, chuyện đời thường ngày nay, chuyện cổ tích ngày xưa Từng việc, từng việc, nhỏ nhẹ, hai bà cháu từng ngày, từng tháng và “tám năm ròng” cùng nhau “nhóm bếp lửa” để nấu nướng thức ăn, để sưởi ấm chỗ ở, và hơn thế, là để soi sáng trí tuệ và tâm hồn.Bà đã đóng vai trò thay thế người mẹ,