PHÂN TÍCH TÌNH YÊU LÀNG CỦA ÔNG HAI TRONG TRUYỆN NGẮN LÀNG Phân tích tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng – mẫu 1 Người ta đã viết rất nhiều về cái làng Việt Nam xưa kia, từ kho tàng đồ sộ[.]
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH YÊU LÀNG CỦA ÔNG HAI TRONG
TRUYỆN NGẮN LÀNG Phân tích tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng – mẫu 1
Người ta đã viết rất nhiều về cái làng Việt Nam xưa kia, từ kho tàng đồ sộ
ca dao tục ngữ, những khảo cứu phong tục, tập quán, những phóng sự việc làm cho đến những tiểu thuyết mà cái làng gói trọn số phận của nhiều nhân vật Làng,
đó không phải chỉ là một đơn vị hành chính, địa lí, mà đó là tất cả cuộc sống xã hội đối với người nông dân xưa, ở đó có tất cả những gì gắn bó với họ, làm nên cuộc đời họ Làng, đó là khái niệm đầu tiên và có lẽ cuối cùng của họ về hai tiếng “quê hương”.Nhưng trong truyện ngắn Làng của Kim Lân, có thể thấy rõ làng chỉ là một cái cớ, một cái nền làm nổi rõ một nhân vật, một “người làng” đó
là nhân vật ông Hai Bởi vì câu chuyện không xảy ra trên đất của làng đã đành, mà trong suốt cả truyện không có một câu văn nào, một dòng chữ nào miêu tả cái làng Chợ Dầu ấy cả Người ta chỉ biết về cái làng Chợ Dầu qua lời kể của ông Hai, qua lời người đàn bà tản cư, qua những lời đồn của dân làng đi tản cư, qua lời của người đàn bà chủ nhà Nhưng nhiều nhất là qua những câu chuyện và những nỗi niềm ôm tưởng nhớ của ông Hai, qua tình yêu lạ lùng của ông đối với tất cả những gì thuộc về làng ông
Ông không thuộc hàng cung đình mà số phận có thể tiêu biểu như một người nông dân một thời như anh Pha, chị Dậu; cũng không thuộc hàng vai vế có
“miếng” có “tiếng” trong làng Ông chỉ là một người nông dân hay làm, chịu khó
và có lẽ khéo tay nữa Nhưng ông không phải là người nông dân hiền lành, ăn no vác nặng, kiểu người mà tầm mắt và suy nghĩ suốt đời không vượt khỏi lũy tre làng Ông Hai vui tính và hay chuyện nữa, và tinh khôn láu lỉnh, cái tinh khôn láu lỉnh của người nông dân đã đi đây đi đó, đã tiếp xúc nhiều Cái buồn cười đáng mến của ông già cái gì - cũng - biết: “rất thành thạo mà chẳng đâu vào đâu”, cảnh
mà ông đi “nghe đọc báo - ông khổ tâm hết sức nhưng không muốn ai biết mình đọc còn quá kém - “Ông ghét thậm những anh cậy ta đây lắm chữ, đọc báo lại cứ đọc thầm một mình, không đọc thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy Chỉ một cảnh ông già nông dân nghe anh dân quân hình như mới đọc, đánh vần được chữ nào đọc luôn chữ ấy, ngòi bút kể chuyện của Kim Lân đã dựng nên rõ rệt cái không khí kháng chiến của một thời Ông bàn những chuyện “quốc gia đại sự’,
Trang 2như để Đác-giăng li-ơ đi đi về về là sự sai khiến của ông Ta bố trí nó thế này, ta
bố trí nó thế khác, ta chính trị nó thế này, ta chính trị nó thế kia ” thật say sưa, sảng khoái và hưng phấn, mặc dù chính ông vẫn biết là “học lỏm cả đấy thôi”, nhưng vẫn thích thú tự hào.Chỉ bằng vài ba nét miêu tả, tác giả Kim Lân đã tái hiện được chân dung một mẫu người lí thú, rất thật, rất sống động, rất thường gặp
ở xung quanh ta
Tính cách của ông Hai bộc lộ ngay qua lời nói, cử chỉ, mà ta có cảm tưởng như dễ dàng biết hết cả: những con người như vậy làm sao chịu được cảnh tù túng trong gian nhà tản cư ở nhờ ở đậu, trong ánh sáng chập chờn của ánh đèn dầu, trong tiếng lầm nhầm tính toán của món tiền nhặt nhạnh hàng ngày của vợ Ông phải đi tìm người nói chuyện, và câu chuyện thường là một điều tự nhiên trong tính cách của con người hay chuyện, ưa giao tiếp, thích hiểu biết, cái hiểu biết do học lỏm của người nghèo Như đã nói đối với người nông dân, cái làng là tất cả và ông Hai thích khoe làng, khoe tất cả những cái gì “hơn người” ở làng ông, bởi cái làng chính là ông, là những gì tốt đẹp nhất của ông Những nhận thức chính trị của người nông dân này tuy đơn giản mà dứt khoát và rạch ròi: Trước đây ông mê man ca ngợi cái làng của viên Tổng đốc người làng, đến lúc thấy thù, thấy khổ vì
nó, ông lại khoe những gì ngược lại: thế giới của ông Ông đi nghe những ngày tổng khởi nghĩa, những ngày kháng chiến vẫn là cái làng ấy, nhưng bây giờ là cái làng “của ta”, của ông và những người như ông
Bây giờ trong lúc xa làng, trong cái cuộc sống chật hẹp tù túng này, cái làng càng trở nên đẹp đẽ Những điều mà ông vẫn nói về làng trong lúc khỏe hẳn có tô
vẽ lên thêm bây giờ trở thành niềm tin, sự say mê, thành ước vọng của ông Tối này sang tối khác, ông nói về làng, “làm như bác Thứ (ông hàng xóm) cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy bằng những lời đối thoại trách móc ông hàng xóm lãng ý không nghe chuyện, nhưng thực ra, ông Hai đâu có cần điều ấy lắm, ông nói cho chính mình, cho thỏa nỗi nhớ, nỗi ao ước của mình Tình hơn khi miêu tả cuộc sống của “ba bốn nếp tản cư” trong những gia đình chủ nhà tinh quái như mụ chủ nhà ông Hai Nhân vật mụ chủ này phảng phất sự tham lam tai ác của những nhân vật đàn bà nông thôn trước Cách mạng tháng Tám trong truyện ngắn của Nam Cao Những người đàn bà xấu xí quá quắt mà không biết là mình ác Tác giả vẽ hơi kĩ về mụ, là để viền một nét tương phản vào hình ảnh ông Hai Ông dễ tính, xởi lởi nhưng không thể chấp nhận, con người đẹp trong ông tương phản gay
Trang 3gắt với những gì bình thường, tối tăm đến ti tiện với mụ chủ Ông ghét lây cả người chồng hiền lành của mụ vì lẽ anh ta không biết “dạy” vợ Khổ nhất cho ông Hai là phải bó mình trong gian nhà chật hẹp, lo đối phó với người đàn bà quá quắt như người đàn bà này Vì thế, có dịp là ông bỏ nhà đi ngay, phó mặc mọi sự cho con, dù vẫn biết để dặn con: “Nó thì rút ruột ra ”
Phút giây sảng khoái, sung sướng nhất của ông Hai có lẽ là buổi trưa hôm
ấy, lúc ông phóng bước trên con đường làng “Trời xanh lồng lộng, có những tảng mây sáng chói lừ đừ Ông Hai đi nghênh ngang giữa đường vắng ” ông thoát ra ngoài sự tù túng, lao vào thế giới của ông ông đi nghe tin tức, ông phấn khởi trước những thắng lợi của kháng chiến, ông vui cả với cái nắng chang chang để cho “Tây nó ngồi trong vị trí giờ này bằng ngồi tù” - “Ruột gan ông cứ múa cả lên ” Đúng lúc ấy, cái tin sét đánh về làng ông đưa đến Tin dữ không phải là cái làng đẹp đẽ ấy bị đốt trụi, nhà cửa, ruộng đất, mồ mả ông cha của ông bị mất, mà
cả làng chúng nó Việt gian theo Tây ” Tội nghiệp ông già vui tính, hay chuyện, mong ngóng chờ từng tin tức của làng, lúc này phải “vờ vờ đứng lảng ra chỗ khác” rồi “cúi gằm mặt đi thẳng”, “cổ ông lão nghẹn đắng cả lại, da mặt tê rân rân Ông lão lặng đi tưởng như không thở được” Cơ sự ấy về làng ông có lẽ ông chưa bao giờ tưởng tượng, cũng như nỗi đau nỗi nhục đang đến trong ông có lẽ chưa từng biết Phải chăng đến lúc này, lần đầu tiên ông mới phải dùng lí trí để suy nghĩ về cái làng của ông, mới phải trăn trở về tình yêu làng trong ông Cái làng bây giờ không phải chỉ là thôn ngõ xóm, những hào những ụ giao thông, những ao làng những giếng làng xây đá ong, đường gạch đi không lấm chân những cái hơn người mà ông từng khoe nữa Làng bây giờ là một cái gì lớn hơn,
là danh dự, là chỗ đứng, là cái lẽ để làm người Suốt cả cái nước Việt Nam này, người ta ghê tởm thù hằn cái giống Việt gian bán nước ” Làng, bây giờ trong ý thức ông Hai, gắn liền với nước, với kháng chiến
Mà không phải riêng ông Hai Đó là nhận thức của người dân lúc bấy giờ ở vùng tự do cũng như vùng tạm chiến, từ người đàn bà tản cư vô tình đem tin đến,
từ mụ chủ nhà với cái lệnh mơ hồ: “đuổi hết những người làng Chợ Dầu không cho ở nữa” - có lẽ cái lệnh ấy là hiển thị thái độ hơi cực đoan lúc bấy giờ Câu chuyện thắt thêm một cái nút vào nỗi khổ tâm đau đớn của ông Hai “Biết đem nhau đi đâu bây giờ?” Trong lúc đen tối đó, ông Hai vẫn không mất sáng suốt, ông vẫn tin rằng sẽ có chỗ để ở Đó “vì chính sách cụ Hồ người ta chẳng đuổi”,
Trang 4nhưng dẫu như thế thì vẫn chẳng còn mặt mũi nào mà đi tới đâu ”Người đọc bị cuốn vào mạch tâm tư của ông Hai, vào nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật quá tự nhiên, quá tài tình, vào duyên kể chuyện của tác giả mà quên đi cái cách “gỡ nút” câu chuyện quá giản đơn tưởng như vô lí Có lẽ trên đời chưa có ai khoe cái việc “Tây nó đốt nhà tôi rồi, đốt nhẵn” một cách hả hê, sung sướng như ông Trong sự cháy rụi của nhà ông, là sự hồi sinh của một làng khác: làng Chợ Dầu kháng chiến Ai cũng mừng cho ông lão kể cả mụ chủ nhà tinh quái Không những ông Hai mà có lẽ cả người ít ngờ về thái độ vui mừng dễ dãi của mụ Nhưng nghĩ kĩ lại không bất ngờ, vì người đàn bà ấy cũng là người dân Việt Nam độc lập sống trong không khí của Cách mạng Kim Lân thật đa tài khi chỉ bằng vài nét chấm phá đã cho ta thấy thế nào là cuộc kháng chiến toàn dân.Có thể nói, linh hồn của truyện ngắn Làng là nhân vật ông Hai Với nhân vật ông Hai, Kim Lân đã đưa vào văn học một bức chân dung sống động, đẹp, một vẻ đẹp riêng về người nông dân Việt Nam những ngày đầu kháng chiến, những con người bình thường
mà những gì tốt đẹp của họ - lòng yêu làng, yêu nước được khơi dậy và hoàn thiện
để ngày càng đẹp đẽ Bằng sự hiểu biết sâu sắc về người nông dân là cuộc sống nông thôn, với tấm lòng trân trọng yêu mến họ, Kim Lân đã có những tác phẩm độc đáo và đặc sắc về nông thôn và người nông dân (trong đó không thể không kể đến Làng) Điều này đã giúp ông trở thành một trong những nhà văn viết không nhiều nhưng được yêu mến rất nhiều ở nước ta
Sơ đồ tư duy
Dàn ý chi tiết
1 Mở bài:
Trang 5- Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Làng: Truyện ngắn “Làng” của Kim Lân đã ca ngợi về tinh thần cách mạng và lòng yêu nước đó của người dân Việt Nam, cụ thể là nói về một người nông dân có tình cảm gắn bó với làng, với quê hương và đất nước sâu sắc
2 Thân bài:
a Khái quát về nhân vật ông Hai:
- Truyện kể về ông Hai, một người yêu làng và gắn bó với làng, lúc nào ông cũng khoe về làng của mình
- Ông cứ kể say sưa trong niềm nhớ thương về làng mà không cần biết người nghe
có chú ý hay không
b Tình cảm của ông Hai đối với làng chợ Dầu:
- Ông tự hào về làng mình từ cơ sở vật chất cho tới cái sinh phần của tổng đốc làng ông, vinh dự vì làng có bề dày lịch sử Sau cách mạng ông khoe về tinh thần cách mạng của làng ông, ngay cả cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập, ông khoe những hố, ụ và hào
c Diễn biến tâm lý của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng theo Tây:
- Khi ông nghe tin làng mình theo Tây, “cổ họng ông nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân”, ông lặng đi tưởng như không thở được
- Ông hỏi đi hỏi lại nhiều lần rồi lẳng lặng bỏ đi trong nỗi đau đớn và nhục nhã khi biết làng mình theo giặc
- Khi về nhà, ông nằm vật ra giường, đêm đó trằn trọc không ngủ được
+ Ông nhìn đám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng Việt gian rồi khóc
+ Ông điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông vẫn không tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy
+ Tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt và mặc cảm với thân phận là người của làng Việt gian bán nước
Trang 6+ Bên tai ông đầy rẫy tiếng chửi bọn Việt gian, ông chẳng làm được gì, chưa thể đối mặt với điều đó, ông chỉ biết cúi gằm mặt mà đi
+ Khi mụ chủ nhà muốn đuổi gia đình ông đi bởi ông là người làng Chợ Dầu, ông thoáng nghĩ về lại làng nhưng ông đã gạt phăng đi, ông dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù”
d Niềm sung sướng và vui mừng khi biết làng không phải Việt gian:
- Ông đi từ đầu làng tới cuối làng để khoe tin làng mình không theo giặc, ông tìm gặp ông Thứ để thanh minh về làng mình, khoe cả việc nhà ông bị đốt cháy một cách sung sướng, hả hê, bởi đó là minh chứng rõ nhất cho việc làng ông không phải Việt gian bán nước
3 Kết bài:
- Khẳng định giá trị nghệ thuật và nội dung của truyện ngắn: tác giả đã cho người đọc hình dung được một thời kì chống Pháp sôi nổi của nhân dân, tinh thần trung kiên với Cách mạng và một lòng theo Bác, kháng chiến đến cùng
- Qua diễn biến tâm trạng của ông Hai ta thấy được tình yêu làng sâu sắc và tình yêu nước thiết tha gắn với tinh thần kháng chiến của ông
Các bài mẫu khác:
Phân tích tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng – mẫu 2
Truyện ngắn Làng của Kim Lân là một tác phẩm nổi tiếng viết về người nông dân trong kháng chiến Hình ảnh ông Hai, nhân vật chính của truyện là hình ảnh tiêu biểu và chân thực của người nông dân trong những ngày đầu mới tiếp xúc với cách mạng, với lòng yêu làng, yêu nước sâu sắc, với sự hồ hởi say mê, tin yêu thủy chung với kháng chiến, với Bác Hồ.Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai là một nông dân nghèo khổ chất phác Cũng như bao người khác, cuộc đời ông đã trải qua những giai đoạn sóng gió, đau khổ tuyệt vọng Ông Hai đã bị bọn hương
lí trong làng truất ngôi trừ ngoại, đó là một điều xót xa cho một người yêu làng như ông Hai Có làng, có nhà, có cửa mà ông phải phiêu dạt lang thang hết nơi này đến nơi khác Cuộc sống đói nghèo cực khổ nơi đất khách quê người rồi cũng
Trang 7chấm dứt Sau mười mấy năm trời lênh đênh ông cũng tìm cách về lại làng mình,
về đến làng, cuộc sống đói nghèo vẫn không chấm dứt
Không những phải chịu cuộc sống đói nghèo cùng cực, người nông dân như ông Hai phải phục dịch cho bọn hương lí Ông Hai bị gạch đổ bại một hông trong một lần phu phen tạp dịch Cuộc sống thật tối tăm cùng cực, ông bị vùi dập đủ đường Sống một cuộc sống như thế, tấm lòng của những người nông dân như ông Hai vẫn hướng về làng mình, vẫn yêu làng mình sâu sắc Với ông Hai, làng Chợ Dầu đã trở thành máu mủ ruột rà, ông hãnh diện với làng ông, ông khoe làng Chợ Dầu với mọi người ở mọi nơi mà ông đến Nhiều lúc ông nói về làng mình cho đỡ nhớ Người đọc thấu hiểu tình cảm sâu lắng của ông Hai với nơi chôn nhau cắt rốn Ông khoe làng ông có cái sinh phần của viên tổng đốc có bề dày truyền thống, có cảnh đẹp nổi tiếng cả vùng Tất cả những gì thuộc về làng đối với ông Hai đều thiêng liêng gắn bó Do đó, mặc dù cái sinh phần đã gieo rắc cho ông, cho bao người khác tai họa song ông vẫn cảm thấy tự hào Dường như trong tâm trí ông Hai cái sinh phần đó là sức lực của cả làng, và có một chút rất riêng của bản thân ông Tình yêu làng của ông Hai thật giản dị, chất phác.Sau cách mạng, ông vẫn khoe làng mình nhưng ông khoe làng có cái nhà thông tin rộng rãi, có chòi phát thanh, khoe làng mình giàu có, trù phú Ông không khoe cái sinh phần cụ Thượng nữa, bởi bây giờ ông đã hiểu được nhiều điều Ông đã được tiếp xúc với cách mạng, với đấu tranh, vẫn là khoe làng, vẫn là tình yêu làng của con người chất phác, hiền lành, song trong tình yêu làng có một tình cảm khác đang trỗi dậy, lớn mạnh hơn, cao cả hơn, thiêng liêng hơn.Ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, ông Hai có cái bỡ ngỡ, lạ lẫm ban đầu của người nông dân chất phác, vốn quen bị vùi dập nay tiếp xúc với đấu tranh, với chính trị Cách mạng tháng Tám đến với những người như ông Hai mang theo một sự thay đổi về cuộc đời, thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước trong họ Ông đi theo cách mạng với tất cả lòng nhiệt thành, say mê, hăm hở của mình Ông nguyện ở lại chiến đấu với xóm làng và khi phải đi tản cư, ông cũng tự an ủi mình: “Đi tản cư cũng là kháng chiến”.Tình cảm của người nông dân này dành cho cách mạng, cho kháng chiến chân thành, sâu sắc vô cùng Câu chuyện của ông Hai bây giờ chỉ xoay quanh về cách mạng, về kháng chiến, về tự vệ làng ông Tình yêu làng, yêu nước hòa quyện trong con người ông Hai ngày càng rõ rệt Khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây ông Hai cổ nghẹn ắng lại, da mặt tê rân Trước hết đó là sự xót xa của ông về làng mình, sự phản bội của nơi chôn nhau cắt rốn của mình Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước việc đó Tình
Trang 8yêu làng vẫn thắm thiết trong ông, làng Chợ Dầu vẫn là nơi ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm hãnh diện, tự hào Vậy mà bây giờ ông lão nghĩ tới việc trở về làng Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng Chợ Dầu lóe lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm Từ lâu ông yêu làng ông, mong được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn, thiêng liêng hơn: không vì làng mà bỏ nước, bỏ kháng chiến Giữa sự giằng co trong tâm hồn, ông Hai đã tự thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù Anh em đồng chí biết cho bố con ông Cụ Hồ trên đầu, trên cổ soi xét cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai ”.Cách mạng đã đổi đời cho người nông dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng Gạt sang một bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống với Tây Tình cảm gắn bó với cách mạng, với Bác Hồ của những người nông dân như ông rất chất phác, mộc mạc, sâu sắc,
nó xuất phát từ đáy lòng, từ máu thịt
Thấy được tình yêu làng, yêu nước của ông Hai, ta hiểu và cũng mừng với
sự hớn hở của ông Hai khi nghe cái tin làng mình theo Tây được cải chính Tình yêu làng, yêu nước lại trở về gắn bó với nhau ngày càng sâu sắc, thắm thiết hơn trong lòng người nông dân chân chất này Từ nay ông Hai không phải dằn vặt trong sự lựa chọn khắc nghiệt giữa làng và nước Cái vui của ông Hai là cái vui của một con người yêu quê hương đất nước sâu sắc Niềm vui khiến ông lão như trẻ con lật đật, bô bô kể về làng mình bị đốt nhẵn Nhà của ông bị cháy trụi mà ông không để ý, không đau buồn, ông chỉ biết rằng lúc này làng ông là làng kháng chiến và bây giờ ông lão có thể tự hào, hãnh diện ngồi kể về làng Chợ Dầu kháng chiến của mình.Kim Lân rất thành công khi xây dựng và khắc họa hình ảnh ông Hai trong lòng người đọc Đó là một người nông dân nghèo khổ, yêu làng mình sâu sắc Được cách mạng đổi đời, ông lão nguyện đi theo cách mạng và trung thành với kháng chiến Hình ảnh ông Hai sống động, chân thực và những nét tính cách rất nông dân: chất phác, chân thành là hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.Vốn là những con người chân thực, chất phác nên những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng họ có cảm giác bỡ ngỡ, lạ lẫm Nhưng cảm giác ấy nhanh chóng tan đi Người nông dân đón nhận cách mạng với một tình cảm chân thành, một lòng hăm hở Cuộc đời người nông dân Việt Nam
rẽ sang một bước ngoặt mới, tươi sáng hơn Họ nô nức, háo hức hòa chung vào
Trang 9phong trào cách mạng của cả nước, họ hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân Những người như ông Hai cảm thấy day dứt, tủi hổ, khổ sở khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng Đó là lòng trung thành, là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dân dành cho cách mạng Cách mạng tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong lòng họ
Tác phẩm Làng của Kim Lân đã khắc họa hình ảnh ông Hai hết sức sống động, chân thực với những chi tiết dân dã, mộc mạc Hình ảnh ông Hai là tiêu biểu của người nông dân Việt Nam sau cách mạng Ta cảm nhận được sự sôi nổi trong những ngày đầu đón nhận cách mạng của người nông dân Người nông dân
đã được đổi đời nhờ có cách mạng, họ hiểu điều đó và gắn bó với cách mạng với lòng trung thành, biết ơn sâu sắc
Phân tích tình yêu làng của ông Hai trong truyện ngắn Làng – mẫu 3
Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu.Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc Từ phòng thông tin ra, đang phấn chấn, náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư, nghe nhắc đến tên làng, ông Hai quay phắt lại, lắp bắp hỏi, hy vọng được nghe những tin tốt lành, nào ngờ biết tin dữ: “Cả làng Việt gian theo Tây” Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đớn: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được, một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái
gì vướng ở cổ Ông cất tiếng hỏi lại, giọng lạc hẳn đi nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư, ông tìm cách lảng về Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái: “Cha mẹ tiên sư nhà chúng nó, đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người
ta còn thương, cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”
Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”, nhìn đàn con nước mắt ông cứ dàn ra “chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị
Trang 10người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?” Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng, ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này” Niềm tin, nỗi ngờ giằng xé trong ông Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy” Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước” Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu, “chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”, lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý, đang bàn tán đến cái chuyện làng mình Nỗi ám ảnh, day dứt, nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông Ông đau đớn, tủi hổ như chính ông là người có lỗi…Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy, ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến,
bỏ Cụ Hồ là cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.Tình yêu làng lúc này
đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu
có bị lung lay nhưng niềm tin vào Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!” Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương Bởi thế mà ông càng xót xa, đau đớn…Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ còn biết tìm niềm an ủi trong lời tâm sự với đứa con trai nhỏ Nói với con mà thực ra là đang trút nỗi lòng mình Ông hỏi con những điều đã biết trước câu trả lời: “Thế nhà con ở đâu?”,
“thế con ủng hộ ai ?” Lời đứa con vang lên trong ông thiêng liêng mà giản dị:
“Nhà ta ở làng Chợ Dầu”, “ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm !” Những điều ấy ông đã biết nhưng vẫn muốn cùng con khắc cốt ghi tâm Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông, tấm lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai, chết thì chết có bao giờ dám đơn sai” Những suy nghĩ của ông như những lời nguyện thề son sắt Ông xúc động, nước mắt “chảy ròng ròng trên hai má” Tấm lòng của ông với làng, với nước thật sâu nặng, thiêng liêng Dẫu cả làng Việt gian thì ông vẫn một lòng trung thành với kháng chiến, với Cụ Hồ.May thay, tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính Ông Hai sung sướng như được sống lại Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên” Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã, lật đật đi khoe với mọi người Đến đâu cũng chỉ mấy câu “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ! Đốt sạch! Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này