1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giảm giá thành sản phẩm xây lắp của Xí nghiệp 492

78 383 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Nhằm Hoàn Thiện Công Tác Hồ Sơ Địa Chính Ở Nước Ta
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 468,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Giảm giá thành sản phẩm xây lắp của Xí nghiệp 492

Trang 1

A Lời nói đầu

Đất đai là nguồn lực tự nhiên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế– xã hội của mỗi một quốc gia Từ xa xưa loài người đã biết tới nguồn lực này

để chinh phục khai thác dần dần chuyển sang quan hệ kinh tế – xã hội đó là sởhữu và sử dụng đất đai như một tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là mộttrong 4 yếu tố sản xuất (lao động, vốn, đất đai, công nghệ) – nguồn lực đầu vào

cơ bản cho mọi nền sản xuất xã hội Mối quan hệ đất đai nó còn ảnh hưởng tớilợi ích quốc gia, cộng đồng và cá nhân Do đó, mối quan hệ đất đai được quantâm ở nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước thìvai trò, vị trí đất đai càng được nâng lên Có những mối quan hệ đất đai mới nảysinh phức tạp Vì vậy, cần có sự quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên này

để phát huy nguồn lực đất đai, khai thác và sử dụng có hiệu quả bảo vệ lợi íchquốc gia, cộng đồng và cá nhân Và một trong các công cụ để Nhà nước và cáccấp chính quyền thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai đó là công tác

hồ sơ địa chính Thật vậy, hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, sổ sách ghi nhậnthông tin về đất đai để phục vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai Nhìn vào

hồ sơ địa chính ta có thể biết được mọi thông tin về đất đai Do hồ sơ địa chính

có vai trò quan trọng như vậy nên từ xa xưa Nhà nước ta đã tiến hành công táclập hồ sơ địa chính bằng hình thức đi từ đo đạc thủ công đến sử dụng cácphương tiện hiện đại là máy móc để đo đạc lập bản đồ địa chính để thiết lập lên

hồ sơ địa chính Song trong tình hình hiện nay đất đai tham gia tích cực vào hoạtđộng kinh tế xã hội, thị trường bất động sản hình thành, Do đó, đất đai cũng nhưcác mối quan hệ đất đai có nhiều thay đổi Vì vậy để phản ánh đúng hiện trạngđất đai, những biến đổi đất đai cần làm tốt công tác đăng kí thống kê đất đai, đođạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính Việc làm tốt công tác lập và quản lý hồ sơ địachính cho phép Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật, xáclập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, tạo điềukiện cho việc sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả Do vai tròquan trọng của công tác này do vậy những năm qua Nhà nước chú trọng vàothực hiện công tác này, nhưng đến nay trên cả nước chưa có bộ hồ sơ địa chínhhoàn chỉnh nào đó là yêu cầu bức xúc trong việc quản lý Nhà nước về đất đai

Vì vậy em chọn đề tài

“Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác

Trang 2

Mục đích nghiên cứu: tìm hiểu vai trò, mục đích ý nghĩa của công tác lập

và quản lý hồ sơ địa chính trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai đồng thờitìm hiểu thực hiện công tác này từ đó tìm ra giải pháp để hoàn thiện công tácquản lý Nhà nước về đất đai nói chung và công tác hồ sơ địa chính nói riêng

Để đáp ứng mục đích nghiên cứu trên thì đối tượng nghiên cứu: các quan

hệ đất đai, đặc điểm, nội dung hồ sơ địa chính, yếu tố ảnh hưởng đến công táclập và quản lý hồ sơ địa chính để biết được các đặc điểm, yếu tố này ảnh hưởngnhư thế nào tới việc lập và quản lý hồ sơ địa chính đồng thời nghiên cứu quátrình lập và quản lý hồ sơ địa chính để tìm ra biện pháp nhằm thúc đẩy nhanhtiến trình Thông qua nghiên cứu nhữnh thuận lợi, khó khăn trong công tác lập

và quản lý hồ sơ địa chính của thành phố Hà Nội về việc thực hiện thí điểm tại

12 phường, xã, thị trấn tại Hà Nội từ đó rút ra kinh nghiệm để triển khai công tácnày trên toàn thành phố tiếp đến thực hiện trên cả nước

Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duyvật lịch sử – tức là đặt việc xây dựng hồ sơ địa chính trong mối quan hệ của đấtđai cũng như nội dung khác của quản lý Nhà nước về đất đai và các mối quan hệgiữa các nội dung của hồ sơ địa chính Ngoài ra sử dụng phương pháp phân tích,tổng hợp, thống kê, tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ lý luận

Nội dung gồm 3 phần:

+ Phần I: Cơ sở lý luận của công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính

+ Phần II : Thực trạng công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính ở nước ta + Phần III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hồ sơ địa chính.

Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình củaGS.TSKH Lê Đình Thắng và các cô chú phòng Đăng ký thống kê của Sở Tàinguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội đã hướng dẫn em hoàn thành tốt đề tàinày

Trang 3

B Nội dung Phần I: Cơ sở lí luận của công tác lập và

quản lý hồ sơ địa chính

I Khái quát về công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Đất đai là tặng vật của thiên nhiên cho không loài người thông qua laođộng và trí tuệ của chính bản thân mình mà con người tác động vào đất làm rasản phẩm nuôi sống mình

Đất đai là tài nguyên, tài sản quý giá thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nướcthống nhất quản lý và là một trong những điều kiện không thể thiếu được trongtất cả các hoạt động của đời sống kinh tế- xã hội Do đó quản lý và sử dụng đấtđai một cách hợp lý, có hiệu quả đòi hỏi cần thực hiện công tác quản lý Nhànước về đất đai

Để thấy được rõ sự cần thiết của công tác này ta đi tìm hiểu vai trò đất đaitrong sự nghiệp phát triển đất nước

1 Vai trò đất đai trong phát triển kinh tế – xã hội

1.1 Vai trò đất đai trong sản xuất, đời sống.

Con người sinh ra đã gắn liền với đất, tồn tại được là nhờ vào sản phẩm

từ đất và đế khi nhắm mắt xuôi tay con người lại trở về với đất Đất gắn bó với

sự tồn tại và phát triển của con người Không chỉ có vậy mà trên phương diệnkinh tế xã hội thì đất đai là tài nguyên, tài sản của mỗi quốc gia tạo nên của cảivật chất cho xã hội Thật vậy, đất đai là tặng vật của thiên nhiên cho không loàingười, không phải do con người làm ra Trong tiến trình lịch sử của xã hội loàingười, con người và đất đai ngày càng gắn bó với nhau Con người khai thácnguồn của cải vô tận này để tạo lên sản phẩm nuôi sống mình Đất đai là sảnphẩm cuả tự nhiên, con người khai phá chiếm hữu nó do vậy đất đai chứa đựngyếu tố lao động Như vậy, đất đai từ nguồn tài nguyên trở thành tài sản của xãhội Không chỉ có vậy xét trong đời sống và sản xuất thì đất đai là thành phầnquan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, là tư liệusản xuất đặc biệt đối với nông, lâm, ngư nghiệp

Luật đất đai 1993 của nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “ Đất đai là tàinguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần

Trang 4

xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiềuthế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ đượcvốn đất đai như ngày nay!”.

1.2 Vai trò đất đai trong sự nghiệp phát triển đất nước

Trong xã hội phong kiến thì đinh (lao động) và điền (đất đai) là hai yếu tốđược nhà vua quản lý chặt chẽ bởi đó là hai yếu tố cơ bản đầu vào của nền sảnxuất xã hội Khi chuyển sang hình thái kinh tế tư bản, thì nền sản xuất xã hộichuyển trọng tâm từ khu vực sản xuất nông nghiệp sang khu vực công nghiệplúc đó đòi hỏi một yếu tố đầu vào mới đó là tư bản (vốn) Và khi công nghiệpphát triển nên trình độ cao hơn, con người đã sử dụng công nghệ thông tin vàotrong sản xuất, lúc đó công nghệ trở thành yếu tố đầu vào mới cho nên sản xuất

xã hội Như vậy bốn yếu tố : con người, đất đai, vốn, công nghệ là bốn nguồnlực đầu vào cơ bản cho mọi nền sản xuất xã hội, tuỳ theo trình độ lực lượng sảnxuất mà tầm quan trọng của các yếu tố này có mức độ khác nhau

Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, từ một nền sản xuất nông nghiệp lạchậu chúng ta đang xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại Đây chính là nộidung của công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước Tỉ trọng kinh tế nông, lâm,ngư nghiệp nước ta năm 1995 là chiếm 29%, hơn nữa nông dân nước ta chiếmtới hơn 80% dân số Vì thế nông nghiệp nước ta vẫn đóng vai trò quan trọng

Do đó công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp là mục tiêu hàng đầu Mà tabiết đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với sản xuất nông, lâm,ngư nghiệp Nó không chỉ là tư liệu lao động mà còn là đối tượng lao động.Thông qua phương tiện đất đai con người đã khai thác sản phẩm từ đất và cònhơn thế nữa khi con người biết khai thác hợp lý biết bảo vệ đất sản xuất Thựchiện công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp là làm sao để tăng sản xuấtnông nghiệp trong quỹ đất hạn hẹp do quá trình đô thị hoá Muốn vậy cần phải

có chính sách đất đai hợp lý để tác động trực tiếp vào lực lượng sản xuất nôngnghiệp Để có chính sách đất đai hợp lý cần nhanh chóng thực hiện tốt công tácđiều tra khảo sát, đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính

Trong vấn đề bảo vệ môi trường của cả nước và khu vực thì việc bảo đảmdiện tích rừng có vai trò quan trọng đặc biệt Do vậy bên cạnh chính sách khaithác rừng cần thực hiện quy hoạch, phủ xanh đất trống đồi núi trọc Có như vậy

Trang 5

mới phát triển bền vững được như vậy đất đai có vai trò quan trọng trong sựnghiệp bảo vệ môi trường.

Trong giai đoạn hiện nay đô thị hoá đang là xu thế tất yếu do đó các khucông nghiệp tập trung được hình thành Vấn đề đặt ra là cần quy hoạch các khucông nghiệp ở đâu và với quy mô như thế nào cho có lợi nhất trên mặt bằngphân tích tổng hợp kinh tế – xã hội của tỉnh, vùng, cả nước Điều này bắt nguồn

tù việc cân đối kinh tế trong quy hoạch sử dụng đất Để thực hiện quy hoạch sửdụng đất cần điều tra, khảo sát đo đạc bản đồ, tìm hiểu hiện trạng sử dụng đấtnhư vậy cần làm tốt công tác đo đạc bản đồ, lập hồ sơ địa chính bởi nó là căn

cứ pháp lý và khoa học thực hiện quy hoạch sử dụng đất

Trong mọi thời đại thì vấn đề nhà ở và đất ở luôn được quan tâm, đặc biệttrong giai đoạn hiện nay dân số tăng lên đất chặt người đông, đất ở trở thànhnhu cầu bức xúc Nhà ở không chỉ là tài sản quan trọng đặc biệt đối với mỗi giađình mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình độphát triển kinh tế –xã hội của mỗi nước và đánh giá mức độ công bằng và trình

độ văn minh của xã hội Do vậy cần có chính sách đất đai hợp lý cho việc xâydựng nhà ở, nhanh chóng thực hiện công tác đăng kí đất, lập hồ sơ địa chính,cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở để bảo vệ chongười dân

Ơ nước ta, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì một hệ thống cácloại thị trương được hình thành và phát triển, trong đó có thị trường bất độngsản – một lĩnh vực nhạy cảm và phức tạ Thị trường tuy mới được hình thànhnhưnh đã thu hút lượng vốn không nhỏ vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,cung cấp hành hoá thiết yếu cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu kinh doanh bấtđộng sản của các thành phần kinh tế Nó được coi như lĩnh vực kinh tế quantrọng do đó cần phát triển thị trường này Muốn vậy cần có chính sách đất đaihợp lý, cần nhanh chóng hoàn thiện công tác hồ sơ địa chính để cung cấp thôngtin xác thực về hàng hoá bất động sản để lành mạnh hoá thị trường bất động sản

và Nhà nước có thể kiểm soát được thị trường này Việc phát triển thị trườngnày góp phần hình thành đồng bộ các loại thị trường là điều kiện để thực hiệncông nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước

Nếu xét trên bình diện kinh tế xã hội, mặt bằng tổng thể của toàn bộ nềnkinh tế, để phát triển một xã hội công nghiệp trên cơ sở một xã hội nông nghiệp

Trang 6

công cụ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đó chính là quyhoạch sử dụng đất, các chính sách đất đai và các chính sách xã hội Như vậy,quản lý đất đai lúc này có thể phát huy tác dụng là động lực thúc đẩy nhanh quátrình công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.

Trong kinh tế, thì đất đai là nguồn vốn to lớn của đất nước Nhà nước cóthể tạo nguồn thu đáng kể từ hoạt động kinh tế trên đất vì đó là đầu vào khôngthể thiếu được của mọi hoạt động kinh tế Nó là nguồn vốn không bao giờ cạn

mà trong quá trình khai thác sử dụng có thể làm cho giá trị tăng lên Trong tìnhthế cơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện và dân số tăng lên thì giá trị bằngtiền của đất tăng lên không ngừng Điều này minh chứng cho sự to lớn củanguồn vốn đất đai Như vậy, đất đai có ý nghĩa tạo nguồn thu cho ngân sách

Để có thể tạo nguồn thu hơn nữa cần có hệ thống quản lý đất đai chặt chẽ, hồ

sơ quản lý đầy đủ và chính sách đất đai từng bước ổn định

Tóm lại, đất đai có vai trò hết sức quan trọng trọng trong sự nghiệp pháttriển kinh tế –xã hội của đất nước Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sảnxuất vật chất xã hội như tư liệu sản xuất đặc biệt Thực hiện công tác quản lýNhà nước về đất đai sẽ cho phép ta giải quyết vấn đề: Tăng sản lượng kinh tếnông nghiệp, đổi mới bộ mặt nông thôn,cải thiện đời sống nhân dân; đảm bảo

an toàn lương thực quốc gia; bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái; quyhoạch hợp lý các khu công nghiệp và kiểm soát quá trình đô thị hoá; chuyểndịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động trên cơ sở quy hoạch đất hợp lý; xâydựng xã hội công bằng trên cơ sở thực hiện chính sách nhà ở và đất ở; pháttriển thị trường bất động sản; tăng cường nguồn thu cho ngân sách quốc gia

Do đất đai có vai trò quan trọng như trên vì thế mà công tác quản lý Nhànướcvề đất đai ở nước ta đã được chú ý từ lâu nhưng do điều kiện hoàn cảnh ởmỗi thời kỳ khác nhau mà công tác quản lý Nhà nước có nhiệm vụ cụ thể khácnhau Vì vậy ta cần tìm hiểu quan hệ đất đai trong lịch sử Việt Nam để thấyđược công tác quản lý Nhà nước về đất đai qua các thời kỳ Từ đó nhận thứcquan hệ đất đai trong thời đại ngày nay

2 Quan hệ đất đai trong lịch sử Việt Nam

Bất kỳ một quốc gia nào, Nhà nước nào cũng có một quỹ đất đai nhấtđịnh được giới hạn bởi biên giớ quốc gia mà thiên nhiên ban tặng

Trang 7

Đất đai là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia vì vậy Nhà nước muốn tồntại và phát triển được thì phải quản lý chặt, nắm chắc tài nguyên đất đai Mỗithời kỳ với chế độ chính trị khác nhau đều có chính sách quản lý đất đai đặctrưng của thời kỳ đó.

2.1) Thời kỳ đầu lập nước

Trong thời kỳ này đất đai là của chung và đó chính là khởi thuỷ của ruộngđất công

Khi nhà nước Văn Lang ra đời thì toàn bộ ruộng đất trong đó là củachung và cũng là của nhà vua Sau khi đất đai bị xâm chiếm thì các vua Hùng

tổ chức chống cự dần dần hình thành khái niệm sơ khai đất đai là sở hữu củanhà vua

2.2) Thời kỳ phong kiến

Trong hơn 1000 năm Bắc thuộc, hình thức sở hữu tối cao phong kiến vềruộng đất chi phối xã hội Việt Nam Nhà Đường đã áp dụng nhiều chính sách

về đất đai để tạo nguồn thu cho nhà nước đô hộ

Khi giành được độc lập tự chủ, Đinh Bộ Lĩnh làm vua xây dựng nhà nướcĐại Cồ Việt – quyền sở hữu tối cao về nhà vua được xác lập

Dưới thời Lý – Trần, nhà vua chấp nhận ba hình thức sở hữu: sở hữu nhàvua, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Nhưng tất cả người sử dụng đất đều phảinộp công quỹ cho nhà vua

Đến thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách cải cách ruộng đất(1397) thực hiện chế độ hạn điền (mỗi người không quá 10 mẫu ruộng) để thuhồi đất đai cho nhà nước

Vào năm 1428 Lê Lợi lên ngôi đã phong đất cho các quần thần và thựchiện kiểm kê đất đai để lập sổ sách (địa bạ) từ đó có chính sách phân phối lạiruộng công bỏ hoang cho binh lính và nông dân Trong giai đoạn này bộ luậtđầu tiên ở nước ta được ban hành gọi là Luật Hồng Đức trong đó có 60 điều nói

về đất đai Các điều luật nói về đất đai thể hiện tính nhân đạo và triệt để để bảo

vệ đất công Tuy nhiên, công việc đo đạc từ khi Lê Lợi lên ngôi đến hết đời hậu

Lê vẫn chưa được hoàn thành

Sau khi Nguyễn ánh lên ngôi, từ năm 1805 đến năm 1836 suốt 31 nămnhà Nguyễn hoàn tất bộ địa bạ của 18 nghìn xã từ Mục Quan Nam đến Múi Cà

Trang 8

Mau gồm 10044 tập Trong địa bạ ghi rõ thửa đất của ai, sử dụng làm gì, kíchthức bao nhiêu trên cơ sở đo đạc thực địa, đo đạc cụ thể có sự nhất trí chủ sởhữu và quan đạc điền Trong thời kỳ này nhà Nguyễn đã ban hành bộ luật thứhai của nước ta mang tên Hoàng Việt Luật Lệ (gọi là Luật Gia Long) Trong bộluật này có 14 điều nhằm điều chỉnh quan hệ về nhà đất và thuế lúa Tinh thần

là xác định quyền tối thượng của nhà vua đối với ruộng đất cả nước, trong đóchia ra đất công quản và tư quản Trên cơ sở này thuế lúa được thu rất triệt đểcho ngân khố quốc gia Và cũng trong thời kỳ này chế độ hạn điền được thựchiện lần thứ hai và nhà Nguyễn đã thực hiện thành công việc khai khẩn đấthoang

Như vậy, tuỳ theo chế độ chính trị và hoàn cảnh lịch sử ở mỗi thời kỳ màquan hệ đất đai có sự khác nhau và ta thấy rằng đất đai ngày càng được quantâm hơn, các mối quan hệ đất đai, công tác quản lý đất đai ngày một rõ ràng cụthể hơn, chi tiết hơn

2.3) Chế độ thực dân phong kiến (thời Pháp thuộc 1883-1945)

Thực dân Pháp vừa bình định xong đã lo ngay đến vấn đề ruộng đất Họcấp đất cho bọn tay sai và bán đất với giá rẻ mặt (10frăng/1 ha) vì thế đã tạo lênchế độ đại địa chủ ở nước ta Thực hiện chính sách chia để trị, Pháp chia nước

ta thành 3 kỳ, lập Sở địa chính ở các kỳ, Ty địa chính ở các tỉnh và trưởng bạ ởcác xã để phụ trách điền địa

Pháp đã tiến hành thành lập bản đồ địa chính với tỷ lệ 1/1000-1/4000 đốivới ruộng đất và dùng tỉ lệ 1/200-1/1000 ở đô thị

Pháp đã thực hiện chế độ cai trị về đất đai khác nhau ở mỗi kỳ

- Nam kỳ: Thành lập Sở địa chính, tiền hành làm bao đạc và lập biểutính thuế Đến năm1930 đã đo đạc xong bản đồ giải thửa Thực hiện tu chỉnhđịa bộ thời Minh Mạng và thực hiện lưu trữ ở phong quản lý địa bộ

- Trung kỳ: Tiến hành đo đạc giản đơn để có căn cứ tính thuế Ngày26/4/1930 Khâm sứ Trung kỳ ban hành Nghị định số 1385 lập sổ bảo tồn điềntrạch sau đổi thành Sở quản thủ địa chính

- Bắc kỳ: Tiến hành lập bản đồ bao đạc và thành lập bản đồ địa chínhchính quy Đồng thời lập lược đồ giản đơn nhanh chóng nắm bắt được diện tíchđất đai Mở lớp đào tạo trên 6000 thư ký đạc điền đồng thời quy định chuyểndịch ruộng đất phải nộp lệ phí theo quy định

Trang 9

Như vậy, có thể nói dưới chế độ thực dân phong kiến, các mối quan hệđất đai ở nước ta được xác lập chỉ nhằm mục đích khai thác nguồn tài nguyênnày của thực dân Pháp Việc lập bản đồ, thành lập Sở địa chính, Ty địa chính làphục vụ cho việc thu thếu đất và nắm bắt nguồn tài nguyên này.

2.4) Chính sách đất đai ở miền Nam thời kỳ Mỹ Nguỵ (1954-1975)

Trong thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất đó là chính sách ruộngđất của chính quyền cách mạng và chính sách ruộng đất của Mỹ- Ngụy

Chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng mà nội dung xuyênsuốt trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc là: Ruộng đất về tay ngườicày song điều này chỉ thực hiện được ở vùng giải phóng

Còn chính sách ruộng đất ruộng đất của Mỹ –Ngụy nằm trong chính sáchxâm lược vì vậy thực hiện chính sách “cải cách điền địa ” của chính quyền NgôĐình Diệm và luật “người cày có ruộng ”của chính quyền Nguyễn Văn Thiệunhằm lôi kéo, giành giật nông dân Luật người cày có ruộng bao gồm 6 chương

22 điều trong đó việc cấp “chứng khoán ” ruộng đất cho nông dân khẳng địnhquyền sở hữu ruộng đất của nông dân nhưng chính quyền Thiệu lại ép nông dânnhận “chứng khoán ”

2.5) Quan hệ đất đai ở nước ta từ sau cách mạng tháng 8/ 1945.

Đất đai là một trong hai mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam

“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng” Vì vậy ngay sau khicách mạng tháng 8 thành công Nhà nước ta đã ban hành thông tư, chỉ thị nhằmtăng cường hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Quốc hội thông qua luật cải cáchruộng đất, ruộng đất được chia đều cho dân cày, người cày được canh tác trênthửa đất của mình

Trong giai đoạn từ năm 1955- 1959, cơ quan quản lý đất đai được thànhlập đó là Sở địa chính nằm trong Bộ tài chính với chức năng là quản lý ruộngđất và thu thuế nông nghiệp

Hiến pháp năm 1960 đã xác định quyền sở hữu toàn dân về đất đai, sởhữu tập thể và sở hữu tư nhân

Từ năm 1980- 1991: Thực hiện quyết định 201/ CP (01/17/1980); Chỉ thị299/TTG(10/11/1980); Chỉ thị 100/CT_TW (13/01/1981); Nghị quyết 10/NQ-

TW (05/04/1988) về khoán ruộng đất lâu dài

Trang 10

Hiến pháp 1992 xác định “đất đai sở hữu toàn dân”( điều 17) Như vậy,chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và quản lý đất đai được ghi nhận trong hiếnpháp 1992 Tiếp đó luật đất đai ban hành 9/1993 đã quy định rõ hơn các quyền

và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Chính sách đất đai nước ta hiện nay thể hiện nội dung chủ chủ yếu sau:

- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lýbằng pháp luật và quy hoạch, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân được Nhànước giao quyền sử dụng đất hoặc cho thuê đất

- Nhà nước có chính sách ưu tiên đối với sử dụng đất nông, lâm, ngưnghiệp nhằm bảo đảm an toàn lương thực và bảo vệ môi trường

- Nhà nước có chính sách hợp lý để bảo đảm nhà ở cho mọi người

- Hộ gia đình và cá nhân được Nhà nước giao đất nông, lâm nghiệp

để sử dụng ổn định lâu dài thì được hưởng các quyền quy định ở Luật đất đai

- Nhà nước quản đất đai bằng bản đồ địa chính có toạ độ và hồ sơđăng kí đất đai, chủ sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đượcthực hiện khi có quy hoạch sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnxét quyệt

- Nhà nước định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thutiền khi giao đất, cho thuê đất, tính giá tài sản khi giao đất và bồi thường thiệthại khi thu hồi đất

- Tuỳ theo mục đích sử dụng, loại đất, đối tượng sử dụng đất mà Nhànước quy định hạn mức, thời hạn sử dụng

- Nhà nước khuyến khích khai hoang vỡ hoá mở rộng diện tích sửdụng đất, sử dụng bãi bồi đất trống đồi núi trọc và sử dụng đất phải đi đôi vớicải tạo bồi bổ đất

Như vậy, chính sách đất đai hiện nay ở nước ta thể hiện chế độ sở hữutoàn dân về đất đai, bảo đảm quyền lợi của người sử dụng đất, đồng thời tạođiều kiện cho việc sử dụng đất hợp lý có hiệu quả, phục vụ sự nghiệp phát triểnkinh tế-xã hội

Trên đây ta đi nghiên cứu quan hệ đất đai qua các thời kỳ, ta thấy rằngđất đai ở mọi thời kỳ đều được quan tâm, tất cả các chế độ khác nhau đều muốnnắm giữ nguồn tài nguyên này, quản lý và sử dụng triệt để nguồn tài nguyênnày để phục vụ mục tiêu của các thời kỳ

Trang 11

Việc đi sâu nghiên cứu vai trò của đất đai cũng như những quan hệ đấtđai qua các thời kỳ để ta nhận thức rằng luôn luôn và cần thiết phải có quản lýNhà nước về đất đai và tuỳ theo từng thời kỳ, từng điều kiện hoàn cảnh khácnhau mà ta thực hiện quản lý sao cho có lợi nhất phục vụ được mục tiêu củatừng thời kỳ.

Trong tình hình hiện nay để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đạihoá đất nước thì nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau

3)Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.

Chế độ quản lý Nhà nước về đất đai là toàn bộ các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước đốivới đất đai

Chế độ quản lý Nhà nước về đất đai bắt nguồn từ nội dung quản lý Nhànước về đất đai Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm các hoạt độngcủa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền sở hữu Nhà nước vàbảo đảm quyền sở hữu đó về đất đai Nó bao gồm các hoạt động của Nhà nướctrong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, hoạt động của Nhà nước về phânphối lại quỹ đất trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất các hoạt độngcủa Nhà nước về kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai

Điều 13 Luật đất đai năm 1993 nêu 7 nội dung quản lý Nhà nước về đấtđai như sau:

3.1) Điều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất.

Điều tra, khảo sát, đo đạc đánh giá và phân hạng đất là những công việchết sức quan trọng bởi qua đó Nhà nước mới nắm được toàn bộ quỹ đất đai cả

về số lượng và chất lượng, mới có khả năng phát hiện năng lực đất đai ở mỗivùng, từng địa phương Qua đó, Nhà nước có những chính sách và biện pháp sửdụng đất có hệ thống, có căn cứ khoa học trên phạm vi cả nước, từng vùng,từng địa phương

Như vậy, qua tài liệu này ta biết được đất đai đang sử dụng làm gì và sửdụng vào việc gì là tốt nhất để phát huy tiềm năng ở mỗi vùng

Để nắm được số lượng, chất lượng đất đai Nhà nước phải tiến hành điềutra, khảo sát đo đạc và nghiên cứu, điều tra thực địa nắm được tổng diện tích tựnhiên, diện tích từng loại đất như đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất dân cư nông

Trang 12

thôn, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng… Từ đó mà thực hiện quy hoạch đấtđai.

Việc đánh giá phân hạng đất là công tác khoa học và rất phức tạp nhằmxác định tác dụng sử dụng đất cụ thể cho từng vùng, từng diện tích đất Đây làviệc làm hết sức cần thiết trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước nhằm góp phần đảm bảo cho thị trường bất động sản phát triểnlành mạnh, sản xuất phát triển và ổn định đời sống của nhân dân

Việc xác định giá các loại đất phải xem xét cụ thể vị trí, địa hình, mụcđích sử dụng cũng như xem xét quan hệ cung cầu được hình thành trên thịtrường bất động sản và xu hướng biến động của chúng Đó là cơ sở để tính thuếchuyền quyền sử dụng đất, tính tiền khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thuhồi đất, tính giá trị quyền sử dụng đất khi góp vốn liên doanh

Bản đồ địa chính là cơ sở để thể hiện số liệu về điều tra khảo sát, đo đạc.Mặt khác, bản đồ địa chính còn là một thành phần của hệ thống hồ sơ địa chính

để phục vụ quản lý từng thửa đất Vì vậy, Luật đất đai quy định việc tổ chứcchỉ đạo lập bản đồ địa chính như sau:

+ Chính phủ chỉ đạo việc tổ chức lập bản đồ địa chính thống nhất trênphạm vi cả nước Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương ban hành quy trình kỹthuật, quy phạm xây dựng bản đồ địa chính

+ ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo tổ chứcviệc lập bản đồ địa chính ở địa phương mình

+ Bản đồ địa chính được lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.+ Bản đồ địa chính gốc được lưu trữ tại cơ quan quản lý đất đai cấp tỉnh,huyện, quận, thị xã và UBND phường, thị trấn

3.2) Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất.

Quy hoạch đất đai là sự tính toán, phân bổ đất đai một cách cụ thể về sốlượng, chất lượng, vị trí, không gian trên cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho cácmục đích kinh tế, xã hội Kế hoạch hoá đất đai là sự xác định các chỉ tiêu về sửdụng đất đai thông qua việc khoanh định mục tiêu sử dụng từng vùng đất chotừng thời kỳ nhỏ trong thời gian quy hoạch Kế hoạch còn điều chỉnh mục đích

sử dụng đất cho phù hợp với phương án quy hoạch và điều kiện thực tế của đấtđai

Trang 13

Công tác quản lý đất đai theo quy hoạch, kế hoạch có ý nghĩa to lớn Nógiúp việc sử dụng đất đai đúng mục đích đạt hiệu quả cao và tiết kiệm, giúpNhà nước quản lý chặt chẽ đất đai Chính vì vai trò quan trọng vậy Luật đất đainăm 1993 đã có những điều khoản quy định về nội dung quy hoạch đất đai(điều 17); quy định về nội dung lập và xét duyệt quy hoạch đất đai (điều 16);quy định về thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.

3.3) Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản đó.

Các văn bản quản lý Nhà nước nói riêng và các tài liệu khác nói chungluôn luôn được sản sinh do nhu cầu cầu của xã hội nhất định Từ các hiệntượng kinh tế – xã hội có liên quan tới quan hệ đất đai, các cơ quan địa chínhcần tổng hợp lại thành quy luật trong các địa phương mình đề nghị xây dựngcác văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh pháp luật đất đai và các chính sách đấtđai

Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chứcthực hiện các văn bản đó là trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước, các cơquan quản lý đất đai ở các cấp Trách nhiệm của cơ quan quản lý đất đai ởtrung ương là soạn thảo các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất để trìnhchính phủ quyết định chính sách đất đai

Các cơ quan chuyên môn ở địa phương căn cứ vào quyền hạn và chứcnăng nhiệm vụ của mình giúp UBND các cấp ban hành văn bản hướng dẫn và

tổ chức thực hiện đầy đủ chính sách ruộng đất của Đảng và Nhà nước Để cóchính sách đất đai phù hợp cần phải nhận thức đầy đủ các quy luật tự nhiênđồng thời căn cứ vào số liệu điều tra đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và căn cứvào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có như vậy việc quản lý, sử dụng đất mớithực hiện tốt

3.4) Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.

Đất đai là một tài nguyên vô cùng quý giá Quỹ đất đai có hạn trong khinhu cầu đất đai để phát triển sản xuất, phục vụ nhu cầu xây dựng và đời sốnghàng ngày tăng Do đó, việc phân phối đất phải đảm bảo công bằng và hợp lý,tạo điều kiện khai thác tốt đúng quỹ đất “chọn mặt gửi vàng” Đây cũng là việcthực hiện quyền năng về đất đai mà Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân tuỳtheo mức độ giao quyền năng này mà nảy sinh hình thức giao, cho thuê, thu hồi

Trang 14

*Nguyên tắc khi giao đất, cho thuê đất.

- Việc giao đất phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

đã được cơ quan Nhà nước xét duyệt

- Việc giao đất phải đúng đối tượng và phải có nhu cầu sử dụng đất

- Yêu cầu sử dụng đất đai phải được ghi trong luận chứng kinh tế kỹthuật và trong thiết kế đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

- Phải có đơn xin giao đất hoặc cho thuê đất

* Thẩm quyền giao đất

Điều 23 và 24 Luật đất đai có quy định thẩm quyền giao đất của các cấp:Chính Phủ, UBND tỉnh và thành phố trực thuộc TW và UBND huyện, thị xã,thành phố thuộc tỉnh

- Chính Phủ là cơ quan có thẩm quyền cao nhất quyết định nhữngvấn đề quan trọng, quyết định giao đất và sử dụng đất vào mọi mục đích trongtrường hợp cần thiết Cụ thể:

+Chính Phủ xét duyệt kế hoạch hằng năm của UBND tỉnh, thành phố trựcthuộc TW về việc giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vàomục đích khác

+Chính Phủ quyết định cho các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài,người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuê đất

+Chính Phủ giao đất trên diện tích quy định cho UBND tỉnh, thành phốtrực thuộc TW theo quy định ở khoản 3 điều 23

- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW được giao thẩm quyền quyếtđịnh giao đất để sử dụng vào mục đích không phải là sản xuất nông, lâmnghiệp Cụ thể:

+ Từ 1ha trở xuống đối với đất nông nghhiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đấtkhu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 2 ha trở xuống đối với đất trống đồi núitrọc cho mỗi công trình không theo tuyến

+ Từ 3 ha trở xuống đối với đất ông nghhiệp, đất lâm nghiệp có rừng, đấtkhu dân cư nông thôn, đất đô thị và từ 5 ha trở xuống đối với đất trống đồi núitrọc cho mỗi công trình đường bộ, đường sắt, đường điện, đê điều và từ 10 hatrở xuống đối với đất trống, đồi núi trọc cho mỗi công trình xây dựng hồ chứanước

Trang 15

- Giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để hộ gia đình, cá nhânlàm nhà ở, đất chuyên dùng để sử dụng vào mục đích chuyên dùng khác hoặc

để làm nhà ở, đất ở đô thị theo định mức do Chính Phủ quy định

+ Giao đất khu dân cư nông thôn để UBND huyện, thị xã, thành phốthuộc tỉnh giao đất cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở

+ Giao đất để sử dụng vào mục đích nông, lâm nghiệp cho các tổ chức + Quyết định mức đất giao cho mỗi hộ gia đình sử dụng để làm nhà ởtheo quyết định của Chính Phủ đối với từng vùng

+ Quyết định giao đất cho các nhà thờ, nhà chùa, thành thất đang sử dụng

- UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có các thẩm quyền sau:+ Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích nông, lâmnghiệp

+ Giao đất khu dân cư nông thôn cho hộ gia đình và cá nhân làm nhà ởtrên cơ sở quy hoạch đã được xét duyệt của UBND tỉnh, thành phố trực thuộcTW

+ Giao đất chưa sử dụng cho cá tổ chức và cá nhân có thời hạn hoặc tạmchia

* Những quy định về việc cho thuê đất

- Điều 29 Luất đất đai quy định:”Chính Phủ, UBND các cấp thựchiện việc cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân thuê đất để sản xuất kinhdoanh ” theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật

- Điều 80-84 của Luật đất đai quy định về việc tổ chức, cá nhân nướcngoài, tổ chức quốc tế thuê đất

Việc cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất tuân thủ theo pháplệnh ngày 14/10/1994 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội và Nghị định số 11/CPngày 24/01/1994 của Chính Phủ

* Những quy định về thu hồi đất

Điều 26 Luật đất đai 1993 quy định: Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc mộtphần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau:

-Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, phá sản chuyển đi nơi khác giảm nhucầu sử dụng đất

- Cá nhân sử dụng đất bị chết mà không có người được quyền tiếptục sử dụng đất

Trang 16

- Đất không được sử dụng trong 12 tháng liền mà không được cơquan Nhà nước có thẩm quyền có thẩm quyền giao đất cho phép

- Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước

- Đất sử dụng không đúng mục đích được giao

- Đất được giao không đúng thẩm quyền

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụngđất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích côngcộng bị thu hồi được đền bù thiệt hại

Cơ quan Nhà nước nào có thẩm quyền giao loại đất nào thì có thẩmquyền thu hồi loại đất đó

2.5) Đăng kí đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đăng kí đất đai là việc cung cấp thông tin về quan hệ đối với đất đai đểthiết lập lên hồ sơ địa chính nhằm xác lập mối quan hệ giữa người sử dụng đấtvới Nhà nước và Nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người sử dụng đất

Lí do để thực hiện đăng kí đó là thông tin đất đai luôn thay đổi dẫn đếnquan hệ đất đai thay đổi vậy cần thực hiện nghĩa vụ đăng kí để xác lập quan hệthường xuyên tương ứng loại thông tin đó

Đăng kí lần đầu là việc đăng kí lần đầu tiên thực hiện một cách thốngnhất trên toàn q uốc kết quả tạo hồ sơ ban đầu

Khi thông tin thay đổi thì tiến hành đăng kí biến động đất đai Khi phátsinh thay đổi thông tin về đất đai thì chủ sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ đăng kínhững thay đổi này với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai kết quả hình thành

hồ sơ cập nhật về các biến động của đất đai

Đăng kí đất đai là nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ sử dụng đất vàcủa cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai

Điều 33 Luật đất đai quy định

“Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép thay đổimục đích sử dụng đất phải đăng kí tại UBND xã, phường, thị trấn” Người đang

sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn nào thì phải đăng kí tại xã, phường, thị trấnđó

Trang 17

UBND xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng kí vào sổđịa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về sử dụng đất

 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận quan

hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất trong quá trình quản lý và sửdụng đất

Điều 36 Luật đất đai quy định

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan quản lý đất đai ở

TW phát hành

- Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất thì có thẩm quyền quyếtđịnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong trường hợp Chính Phủgiao đất thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất

 Thống kê đất đai:

Thống kê đất đai là công việc hết sức quan trọng nhằm nắm chính xác,kịp thời những biến động về đất đa, cung cấp thông tin cần thiết cho công tácquản lý Nhà nước về đất đai

Điều 35 Luật đất đai quy định : UBND các cấp có trách nhiệm tổ chứcviệc thống kê, kiểm kê đất đai tại địa phương mình Cơ quan quản lý đất đai cótrách nhiệm báo cáo kết quả thống kê đất đai lên cơ quan quản lý đất đai cấptrên trực tiếp Việc thống kê đất đai thực hiện mỗi năm một lần, việc kiểm kêđất đai được tiến hành năm năm một lần Đơn vị thống kê, kiểm kê đất đai làđơn vị lập sổ địa chính: UBND xã, phường, thị trấn

Như vậy, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai này gồm ba phần côngviệc: Kết hợp với bản đồ địa chính, tổ chức đăng kí và thành lập các hồ sơ đăng

kí đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để hình thành hệ thống hồ sơđịa chính ban đầu; Quản lí hồ sơ địa chính, thực hiện các thủ tục pháp lý trongbiến động đất đai(giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển đổi, chuyểnnhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…), cập nhật hồ sơ địa chính; Thực hiệnthống kê đất đai hàng năm và kiểm kê đất đai năm năm một lần để nắm lại quỹđất và phát hiện quy luật kinh tế – xã hội có liên quan tới quan hệ đất đai

Trang 18

2.6) Thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý sử dụng đất.

Mục tiều của công tác này nhằm đảm bảo cho các quy định về chế độquản lý sử dụng đất được thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ đồng thờiphát hiện và đề xuất những bất hợp lý, những phương hướng xử lý sai phạmtrong thay đổi quan hệ sử dụng đất Có như vậy đất đai mới sử dụng tốt và cóhiệu quả

Nội dung của công việc này thanh tra người sử dụng đất xem việc sửdụng đất có đúng mục đích, chế độ không và thanh tra trong hoạt động quản lýđất đai: thanh tra bộ phận thực hiện chức năng, nghiệp vụ quản lý đất đai nhưxác định có đúng nghĩa vụ không? đúng chế độ quản lý không?

Như vậy có thể nói thanh tra kiểm tra việc quản lý và sử dụng đất đai làmột trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đấtđai

Điều 37 Luật đất đai quy định:

Chính Phủ tổ chức thanh tra đất đai trong cả nước, UBND các cấp tổchức thanh tra đất đai trong địa phương mình

Cơ quan quản lý đất đai ở TW giúp Chính Phủ, cơ quan quản lý đất đai ởđịa phương giúp UBND cùng cấp trong việc thực hiện thanh tra đất đai

Thanh tra đất đai phải được thực hiện thường xuyên, đều khắp, phải lưu ý

cả điểm và diện, phải lưu ý cả lý và tình bởi quan hệ đất đai thường rất nhạycảm và phức tạp

2.7) Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và

sử dụng đất đai là một công việc khó khăn bởi tranh chấp đất đai thường tranhchấp về quyền sử dụng và quyền chiếm giữ đất đai giữa các bên sử dụng đấtđòi hỏi khi giải quyết phải nắm được hồ sơ ban đầu và hồ sơ biến động đất đai

để từ đó đi đến kết luận đúng đắn trong việc giải quyết tranh chấp đất đai Cònkiếu nại là việc các đương sự sử dụng và quản lý đất đai nhận thấy bị sai phạm

về quyền lợi của mình do cơ quan Nhà nước gây ra và đề nghị giải quyết cácquyền lợi vi phạm Còn tố cáo là hành vi của cá nhân hoặc tổ chức phát hiện ranhững sai trái trong việc quản lý và sử dụng đất đai và những sai phạm này gây

ra hậu quả bất lợi

Trang 19

Nhà nước khuyến khích việc hoà giải tranh chấp đất đai trong nhân dân.Trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất thì chính quyền UBND và cơ quan địa chính có trách nhiệmgiải quyết Trường hợp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan

có thẩm quyền cấp theo quy định của Luật đất đai thì do hệ thống toàn án giảiquyết Hiện nay ở nước ta tranh chấp và khiếu tố về đất đai đều do ngành điạchính và các cấp chính quyền xử lý Hơn nữa khi lập hồ sơ địa chính ban đầuchúng ta đã phải giải quyết hàng loạt những vấn đề do lịch sử để lại, những vấn

đề này liên quan tới tranh chấp và khiếu tố về đất đai Do đó để giải quyết tốtcông việc này đòi hỏi cần nắm vững pháp luật đồng thời tuỳ điều kiện hoàncảnh cụ thể mà xử lý các tình huống cho thấu tình đạt lý

Trên đây là những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, nó phảnánh được vai trò đất đai trong bức tranh hoạt động vĩ mô của nền kinh tế- xãhội Thật vậy, khi kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn công nghiệp conngười đã ý thức rõ hơn ý nghĩa quan hệ đất đai ở tầm vĩ mô từ đó xuất hiệnkhái niệm “ quản lý đất đai hiện đại” Quản lý đất đai hiện đại bao gồm nhữngnội dung trên Tuy nhiên, tuỳ từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và mục tiêu củacác thời kỳ thì mối quan hệ đất đai có nhiều thay đổi phù hợp với thay đổikhách quan của nền kinh tế- xã hộ Do đó nội dung quản lý Nhà nước đã nảysinh nhiều vấn đề mới bảo đảm nhận thực đây đủ hơn, khoa học hơn vai trò đấtđai đối với phát triển kinh tế- xã hội Chính vì vậy Luật đất đai sẽ ban hành01/07/2004 đã có nội dung quản lý Nhà nước về đất đai mới như sau: Quản lý

và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; quản

lý tài chính về đất đai; quản lý hoạt động dịch vụ công về đất đai; quản lý, giámsát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Những nội dung quản lý Nhà nước trên đây có mối quan hệ khăng khítvới nhau Để thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước vê đất đai cần làm tốt tất

cả các nội dung trên Trong các nội dung trên thì công tác lập và quản lý hồ sơđịa chính hết sức quan trọng không thể thiếu được trong công tác quản lý Nhànước về đất đai bởi nó là hồ sơ pháp lý cao nhất và nếu thực hiện tốt nhiệm vụnày sẽ là cơ sở điều kiện để thực hiện các nội dung khác của quản lý Nhà nước

về đất đai Hơn nữa hồ sơ địa chính giúp các cấp chính quyền sử dụng tài liệuquản lý cập nhật thông tin đất đai

Trang 20

Trong tình hình hiện nay công tác này đang là yêu cầu bức xúc và là mộtnhiệm vụ chiến lược của toàn ngành địa chính nhằm hoàn thiện hồ sơ địa chính,cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cơ sở triển khai thi hành luật, đưahoạt động quản lý Nhà nước về đất đai ở các cấp thành nề nếp thường xuyên.

Để từng bước hoàn thiện công tác này thì ta cần tìm hiểu hồ sơ địa chính là gì?đặc điểm ra sao? Tại sao lại thực hiện công tác này?nội dung của nó gồmnhững gì?

II Sự cần thiết phải xây dựng hồ sơ địa chính trong công tác quản lý Nhà nước

về đất đai

Cho đến nay trên thế giới có hai hệ thống hồ sơ quản lý đất đai: hệ thốngđịa bạ (deed system) và hệ thống bằng khoán(title system) Hệ thống địa bạ thì

áp dụng từ tất lâu đời bao gồm: các sổ sách địa chính mô tả thửa đất theo kiểu

sơ đồ do chính quyền quản lý và các giấy tờ pháp lý trên các khế ước, văn tựđược pháp luật thừa nhận Khi mà các mối quan hệ đất đai trở lên phức tạp thìmột bộ hồ sơ hiện đại hơn đó là hệ thống bằng khoán Hệ thống này bao gồm:bản đồ địa chính, các hồ sơ đăng kí đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụngđất Như vậy, so với hệ thống địa bạ thì hệ thống bằng khoán cho phép chínhquyền quản lý cụ thể hơn, chặt chẽ hơn, thống nhất hơn Tuy nhiên tuỳ từnghoàn cảnh, điều kiện mà sử dụng hệ thống quản lý nào tốt hơn

Trên đây đã nói về hệ thống hồ sơ quản lý đất đai Nó phản ánh rằng việcquản lý đất đai chỉ quan tâm tới việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong phạm

vi dân sự và hành chính, không chú ý tới vai trò đất đai trong bức trang hoạtđộng vĩ mô của nền kinh tế- xã hội Trong bối cảnh hiện nay, đất đai đang thamgia tích cực vào hoạt động kinh tế- xã hội do đó đòi hỏi phải xây dựng chođược hệ thống hồ sơ quản lý đất đai hiện đại Muốn vậy ta cần tìm hiểu kháiniệm hồ sơ địa chính cũng như đặc điểm và các loại hồ sơ địa chính ở nước ta

1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm hồ sơ địa chính

*Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách vv… phảnánh yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai tính cho từng đơn vịđất Rõ ràng hồ sơ địa chính phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước về đất đaibởi nó chứa đựng thông tin về đất đai Tất cả các thông tin về tự nhiên của đấtđai được lấy thông qua đo đạc khảo sát; còn các yếu tố kinh tế của đất đai lấy

Trang 21

thông tin từ việc phân loại, đánh giá, phân hạng đất đai là điều kiệu để xác địnhgiá đất và thu thuế Yếu tố xã hội về đất đai lấy từ hoạt động của Nhà nước vềquy định quyền sở hữu, quyền sử dụng, các quan hệ về chuyển đổi, chuyểnnhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp…Còn yếu tố pháp luật của đất đai thì căn

cứ vào quyết định

của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ví dụ như quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất, các quy định pháp luật về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất vv… Như vậy, để có tất cẩ thông tin đất đai ở trong hồ sơ địa chính như trênthì cần thực hiện được tất cả nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đấtđai

Hồ sơ địa chính nói chung bao gồm các tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách

… chứa đựng toàn bộ thông tin về đất đai Nó là sản phẩm do người quản lý lậplên và mỗi bộ máy địa chính lập các loại hồ sơ địa chính khác nhau Vì thếphân loại hồ sơ địa chính theo cách này ta có các loại hồ sơ địa chính như sau:

- Hệ thống địa bạ: hệ thống này dùng để ghi chép thông tin yếu tố vềđất đai, là hệ thống các loại sổ sách dùng trong đăng kí và quản lý đất đai Nóchứa đựng đầy đủ các thông tin về vị trí, hình thể, kích thức, loại, hạng đất,cũng như chủ sở hữu và chủ sử dụng đất

Nội dung của sổ địa bạ bao gồm: Sổ đăng ký đất (sổ địa bạ) do cơ quanquản lý đất đai cấp xã (cấp cơ sở) cấp và quản lý; thứ hai là các loại giấy tờkhác, nó xác định quan hệ sở hữu và pháp lý về đất đai Việc sử dụng hệ thốngđịa bạ có ưu điểm đơn giản, dễ dàng thực hiện, dễ làm và dễ sử dụng Tuynhiên, bên cạnh ưu điểm nó có nhược điểm đó là việc quản lý đất đai không antoàn, không chặt chẽ bởi việc quản lý chỉ sử dụng ở đơn vị hành chính nhỏ vàquản lý trên từng lô đất, mảnh đất, không thể thể hiện đầy đủ thông tin của cảmột vùng Do vậy, nếu vượt khỏi vùng thì nó không còn giá trị

Hệ thống hồ sơ địa chính tiếp theo là hệ thống bằng khoán (bằng khoánđiền thổ): là hệ thống giấy tờ trong hồ sơ quản lý đất đai nó được xác định mộtcách thống nhất, trên cơ sở đó hệ thống bản đồ địa chính cùng với hệ thốngquản lý hoàn chỉnh và đồng bộ

Hệ thống này ra đời sau khi hệ thống địa bạ ra đời Sự ra đời của hệ thốngnày là khách quan bởi cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các quan hệ đấtđai phát triển đặc biệt là quan hệ hàng hoá tiền tệ (mua – bán) cho thuê, chuyển

Trang 22

nhượng…Do đó mà hệ thống thông tin về quản lý đất đai phát triển đó là việcxác lập bản đồ địa chính.

Nội dung của hệ thống bằng khoán bao gồm: Hệ thống bản đồ địa chínhquy định thống nhất trong cả nước; Thứ hai là hồ sơ, sổ sách để quản lý thôngtin về mảnh đất đó vì một bản đồ không thể ghi đầy đủ thông tin về đất đai Dovậy, dựa trên bản đồ mà thực hiện việc đăng ký lần đầu như đăng ký về diệntích, tính chất, mục đích sử dụng, chủ sử dụng đất…và khi có thông tin thay đổithì thực hiện đăng ký lại trong hồ sơ gọi là đăng ký biến động; thứ ba là hệthống Giấy chứng nhận quyền sử dụng (do người sở hữu quản lý)

Với nội dung trên thì hệ thống bằng khoán giúp người quản lý đất đai mộtcách chặt chẽ, thống nhất, việc quản lý này không những chỉ ở địa phương,vùng mà quản lý liên vùng, cả nước Việc sử dụng hệ thống này tạo điều kiện

cơ bản để phát triển quan hệ hàng hoá tiền tệ về đất đai một cách đầy đủ vàchính xác sẽ ngăn chặn tình trạng thông tin ngầm tạo điều kiện co thông tin bấtđộng sản phát triển lành mạnh Không chỉ có vậy nếu tạo được hệ thống bằngkhoán đầy đủ sẽ cho phép ta quản lý mục đích sử dụng được thực hiện mộtcách thống nhất và cho phép điều chỉnh quy hoạch, thay đổi mục đích sử dụngđất đai một cách linh hoạt và phù hợp

Tuy nhiên, để tạo được hệ thống bằng khoán đầy đủ chính xác đòi hỏivốn đầu tư lớn, đòi hỏi công nghệ cao, đòi hỏi phải có cán bộ có trình chuyênmôn nghiệp vụ cao

Bên cạnh việc sử dụng hệ thống địa bạ, hệ thống bằng khoán thì hệ thốnghỗn hợp tức là sử dụng đồng thời cả hai loại hồ sơ địa chính trên cũng được sửdụng

Việc kết hợp sử dụng 2 loại hồ sơ địa bạ và bằng khoán không có nghĩa là

sử dụng 2 thông tin hệ thống trên một mảnh đất mà có loại đất thì sử dụngthông tin địa bạ sẽ tốt, đơn giản, dễ làm, dễ thực hiện, tiết kiệm Còn có loại đấtthì phải sử dụng thông tin đất đai Thật vậy, bởi khi đất đai ít biến động thì nên

sử dụng hệ thống địa bạ vì giản đơn, dễ làm mà vẫn đảm bảo quản lý thông tinmột cách đầy đủ Còn với đất đô thị, công nghiệp, sử dụng như một yếu tố đểkinh doanh cộng với nhiều biến đổi do quá trình đô hoá đòi hỏi các thông tinphải chính xác do vậy cần sử dụng hệ thống bằng khoán vì đất đai ở khu vựcnày mang nhiều yếu tố kinh tế nó chứa đựng yếu tố tạo vốn và sử dụng vốn do

đó tất cả các thông tin về đất đai cần phải được cập nhật đầy đủ, chính xác có

Trang 23

như vậy mới tạo ra công bằng trong trong sử dụng, kinh doanh bất động sảngiữa các thành phần kinh tế đồng thời thể hiện được vai trò của Nhà nước trongviệc quản lý tài nguyên đất đai Là cơ sở để đất đai tham gia tất cả các hoạtđộng kinh tế- xã hội như một nguồn lực thực sự, đóng góp vào sự phát triểnkinh tế – xã hội theo đúng vai trò của nó và hơn thế nữa.

Như vậy, qua đây ta có thể thấy rằng việc lập và quản lý hồ sơ địa chính

có vai trò và ý nghĩa rất to lớn trong việc quản lý đất đai nói chung

Trên đây ta đi tìm hiểu các loại hồ sơ địa chính, và vấn đề đặt ra là ta nên

sử dụng hồ sơ địa chính nào cho mục đích nào là tốt nhất và cần thiết phải hoànthiện các loại hồ sơ địa chính như thế nào? để phục vụ tốt cho các công tácquản lý Nhà nước về đất đai

Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách vv… chứađựng đầy đủ các thông tin về đất đai do đó các loại giấy tờ này luôn được sửdụng và tuỳ vào mục đích sử dụng của các loại giấy tờ này mà ta có cách phânloại hồ sơ địa chính như sau:

- Các tài liệu sử dụng thường xuyên Các tài liệu này bao gồm:

+ Bản đồ địa chính: Tuỳ theo điều kiện hiện nay ở từng địa phương bản

đồ này có mức độ khác nhau về chất lượng:bản đồ địa chính có tạo độ theo hệtoạ độ thống nhất; bản đồ giải thửa toàn xã đo vẽ bằng nhiều phương pháp khácnhau ; hồ sơ kỹ thuật thửa đất đối với đất đô thị hoặc sơ đồ trích thửa đối vớithửa đất nông, lâm nghiệp nhiều chủ sử dụng nhưng ranh giới giữa các chủchưa thể hiện bằng bờ cố định; bản đồ trích lục ô phố, xứ đồng, thôn ấp, bảnhoặc từng thửa đất trong trường hợp chưa có bản đồ địa chính mà có nhu cầucần đăng kí lập hồ sơ, cấp giấy chứng nhận đến từng nhóm hộ, cá nhân, từng tổchức trên từng thửa đất

+ Sổ địa chính bao gồm cả nông thôn và thành thị Sổ địa chính và bản đồđịa chính là hai tài liệu chứa đựng thông tin mang tính pháp lý của đất đai.+ Sổ mục kê: dùng cho khu vực nông thôn được dùng để thống kê, kiểm

kê đất đai rất tiện lợi

+ Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở(đối với đất

đô thị)- đây là tài liệu chứa đựng thông tin pháp lý về đất đai

+ Sổ theo dõi biến động đất đai

Trang 24

+ Biểu số liệu thống kê diện tích: cho biết diện tích từng đơn vị… giúpcho nhà quản lý có được thông tin cụ thể.

Tất cả các tài liệu trên phục vụ cho công tác trực tiềp quản lý đất đai, đây

là hồ sơ thường trực, hồ sơ này thường được sử dụng thường xuyên hiện đướidạng như thế nào? ta còn phải tìm hiểu đặc điểm của nó để từ đó có thể phântích tìm ra cách tác động đến sự vật, hiện tượng đó theo hướng tích cực và Bên cạnh các tài liệu được sử dụng thường xuyên thì có tài liệu chỉ được

sử dụng khi cần thiết đó là các tài liệu gốc lưu trữ

- Tài liệu gốc lưu trữ: Các tài liệu này dùng xác nhận thông tin đảmbảo hệ thống hồ sơ trên mang tính pháp lý và dùng để thẩm tra, kiểm tra

Các tài liệu này hình thành trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chínhgồm toàn bộ thành quả giao nộp theo luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được duyệtcủa mỗi công trình đo vẽ, lập bản đồ địa chính và các thông tin, tư liệu hìnhthành trong quá trình đăng kí lần đầu và đăng kí biến động đất đai gồm: cácgiấy tờ do chủ sử dụng đất nộp khi kê khai đăng kí; đơn kê khai đăng kí, cấpgiấy tờ pháp lý về nguồn gốc đất đai; hồ sơ, tài liệu được hình thành trong quátrình thẩm tra, xét duyệt đơn của cấp xã, huyện; các văn bản pháp lý của cấp cóthẩm quyền trong việc thực hiện đăng kí đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất: quyết định thành lập hội đồng đăng kí đất, quyết định cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, quyết định xử lý các vi phạm pháp luật đất đai vv…;

Hồ sơ về kiểm tra kỹ thuật, nghiệp thu sản phẩm đăng kí đất đai xét cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất

Khi xem xét bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào ngoài việc hiểu nó là gì vàđược thể hồ sơ địa chính cũng không nằm ngoài quy luật đó Trên đây ta cũngphần nào hiểu được thế nào là hồ sơ địa chính và các loại hồ sơ địa chính giờ tatìm hiểu xem nó có đặc điểm gì?

- Hồ sơ địa chính bao gồm nhiều tài liệu chứa đựng nhiều thông tin

về đất đai Thật vậy, không một tài liệu riêng lẻ nào chứa đựng được toàn bộthông tin về đất đai, chỉ có hồ sơ địa chính mới có được toàn bộ thông tin vềđất đai bởi nó là tập hợp của tất cả các tài liệu chứa đựng các thông tin về điềukiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai Nhìn vào hồ sơ địa chính ta

có thể biết được toàn bộ thông tin về đất đai.Các loại tài liệu trong hồ sơ địachính chứa đựng các thông tin về đất đai một cách chính xác và thống nhất Với

Trang 25

đặc điểm này yêu cầu đặt ra cần biết phân loại và quản lý các tài liệu sao chotiện lợi nhất.

- Đặc điểm thứ hai là việc lập và quản lý hồ sơ địa chính là một nộidung mang tính đặc thù của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và nó cóquan hệ mật thiết với các nội dung khác của quản lý Nhà nước vê đất đai Đúngvậy, việc lập và quản lý hồ sơ địa chính không phải cấp nào, ngành nào cũnglàm được mà phải có cơ quan chuyên trách thực hiện như phải thực hiện một sốnghĩa vụ đặc thù của ngành địa chính như đo đạc bản đồ, lưu trữ thông tinvv… Đây là nhiệm vụ hoàn thành chức năng quản lý của Nhà nước, bắt buộcNhà nước phải hoàn thành đăng kí đất đai lập hồ sơ địa chính do đó phải cónhững bộ phân, những người thực hiện nhiệm vụ này, đồng thời bảo đảm quyềnlợi, nhu cầu của Nhà nước Để hoàn thành công tác lập hồ sơ địa chính đòi hỏiphải thực hiện đồng thời các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai Vấn đề đặt

ra là cần đào tạo cán bộ có chuyên môn trong việc thực hiện công tác đăng kíđất đai, lập hồ sơ địa chính đồng thời phối hợp với các cấp, các ngành để làmtốt nội dung quản lý Nhà nước về dất đai

- Đặc điểm thứ ba là các tài liệu, số liệu trong hồ sơ mang tính pháp

lý cao Các tài liệu này có ý nghĩa pháp lý chặt chẽ ở chỗ nó là căn cứ để hoạchđịnh các chủ trương, kế hoạch phăt triển kinh tế- xã hội, làm cơ sở xác địnhquyền và nghĩa vụ pháp lý của đối tượng sử dụn Việc thực hiện tốt công tác đođạc bản đồ, đăng kí đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất… thì cáctài liệu hồ sơ địa chính càng có giá trị pháp lý cao

Với các đặc điểm trên làm cho việc thực hiện công tác lập và quản lý hồ

sơ địa chính cần phải có một số lượng lao động, vật tư kỹ thuật, thời gian, kinhphí nhất định và người làm công tác lập hồ sơ địa chính phải được đào tạo cótrình độ kỹ thuật chuyên môn đầy đủ mới có thể thực hiện được Cũng do đặcđiểm trên nên chỉ ngành địa chính mới thực hiện công tác này một cách chínhxác và đầy đủ trở thành nội dung quản lý Nhà nước về đất đai

2 Yêu cầu, phân cấp lập và quản lý hồ sơ địa chính.

Với mỗi một công tác quản lý Nhà nước về đất đai thì đều có yêu cầuriêng phù hợp với đặc điểm cũng như bản chất của từng nội dung Và việc lập

hồ sơ địa chính phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Trang 26

- Phải đầy đủ các loại tư liệu Bởi nếu không đầy đủ thì những thôngtin về đất đai sẽ không đầy đủ, tính chất pháp lý không đầy đủ dẫn đến khaithác và sử dụng các tài liệu khác bị hạn chế.

- Bên cạnh việc lập đầy đủ các loại tư liệu thì mỗi loại tư liệu phảiđảm bảo tính pháp lý Tính pháp lý ở mỗi tư liệu làm cơ sở để có hồ sơ địachính có tính pháp lý Bởi cái hình thành nên hồ sơ địa chính mà không chínhxác, không đảm bảo tính pháp lý dẫn đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtkhông có tính pháp lý và hồ sơ không có tính pháp lý

- Song song với hai yêu cầu trên thì công tác lập hồ sơ địa chính đòihỏi các nội dung thông tin phải thể hiện chính xác, thống nhất trên tất cả các tàiliệu của hồ sơ địa chính Với yêu cầu này đòi hỏi các thông tin đưa vào phảichính xác dựa vào thông tin do chính người đứng ra kê khai đăng kí và trên cơ

sở đó phải thẩm tra đồng thời thực hiện một loạt biện pháp kỹ thuật cần thiếtxem kê khai đúng chưa? chính xác chưa? Và khi phê duyệt phải dựa trên kêkhai và thẩm tra có như vậy thông tin đảm bảo tính chính xác Sau mỗi mộtbước thực hiện cần tiến hành thẩm tra lại ngay Các thông tin còn phải đảm bảotính thống nhất tức là toàn bộ dữ liệu đưa vào trong hồ sơ phải nhất quán thốngnhất với nhau Thông tin mảnh đất nó không chỉ nằm một loại sổ mà nằm nhiều

sổ nếu không thống nhất sẽ rất khó cho việc quản lý

- Một yêu cầu nữa của công tác lập hồ sơ địa chính đó là hình thứctrình bày các tài liệu hồ sơ phải rõ ràng, không được cạo, tẩy hoặc dùng bút phủnội dung đã viết, việc chỉnh lý biến động trên tài liệu hồ sơ phải theo đúng quyđịnh đối với mỗi tài liệu Như vậy, đáp ứng yêu cầu này là đảm bảo thông tinđưa vào rõ ràng, tiện tra cứu, quản lý, các ngôn từ sử dụng đúng tiêu chuẩn kỹthuật, đúng các kí hiệu, đảm bảo đúng quy định về sử chữa

Để đảm bảo các yêu cầu trên được thực hiện thì cần thực hiện phân cấptrong việc lập và quản lý hồ sơ địa chính

Về lập hồ sơ

- Cấp xã, phường thực hiện lập; sổ địa chính thông qua đăng kí đất ởcấp xã; lập sổ mục kê; biểu số liệu thống kê đất đai; sổ theo dõi biến động đấtđai

- Cấp huyện: lập biểu số liệu thống kê đất đai; thực hiện kiểm tra,nghiệm thu, xác định công tác lập sổ của cấp xã, phường; tiến hành lập sổ theodõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấ: cá nhân, hộ gia đình

Trang 27

- Cấp tỉnh: tiến hành lập sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất do cấp tỉnh quản lý, thuộc thẩm quyền cấp tỉnh; đồng thời thành lậpvăn bản, hệ thống hồ sơ xác định, kiểm tra công tác đăng kí, cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất của cấp huyện; lập biểu số liệu thống kê; bản đồ địachính; thành lập tài liệu liên quan đến quyết định hành chính trong công tácthanh tra, phúc tra

Như vậy, công tác đăng kí đất đai, lập hồ sơ địa chính được tiến hànhngay từ cấp cơ sở đồng thời có sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát cũng như hướngdẫn của cấp trên do đó muốn công tác lập hồ sơ địa chính được tiến hành nhanhcần có sự phối hợp chỉ đạo giữa các ngành và các cấp chính quyền

Về phân cấp quản lý hồ sơ địa chính:

- Cấp xã: quản lý hồ sơ do mình lập ra và bản đồ địa chính

- Cấp huyện: quản lý hồ sơ do mình lập ra; bản đồ địa chính và toàn

Trên đây ta đi tìm hiểu về yêu cầu và phân cấp trong việc lập và quản lý

hồ sơ địa chính và vấn đề đặt ra cho công tác quản lý đất đai nói chung và côngtác lập hồ sơ địa chính nói riêng là cần làm tốt các yêu cầu đặt ra và trong việcphân cấp cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn nhiệm vụ của từng cấp tránh chồngchéo và tình trạng “cha chung không ai khóc”

3 Vai trò của việc xác lập hồ sơ địa chính(xây dựng hồ sơ địa chính

là yêu cầu khách quan).

Như chúng ta đã biết đất đai có vai trò quan trọng trong phát triển kinh

tế-xã hội và Nhà nước nào cũng muốn nắm giữ quyền lực này để phục vụ cho việcphát triển kinh tế- xã hội do đó cần có quản lý Nhà nước về đất đai ở nước tađất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý nhằm đảm bảo sử dụng đấtmột cách đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao nhất Và công tác lập hồ

sơ địa chính là nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Trang 28

nó là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, là điều kiện để Nhànước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ đảm bảo cho đấtđai được sử dụng một cách triệt để Việc thực hiện tốt công tác này là điều kiện

để thực hiện tốt các nhiệm vụ khác của công tác quản lý Nhà nước về đất đai

Cụ thể như sau:

- Thực hiện lập hồ sơ địa chính là cơ sở để bảo vệ chế độ sở hữu toàndân về đất đai Thật vậy, chế độ sở hữu bao gồm ba quyền: quyền chiếm hữu,quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai Quyền chiếm hữu thể hiện Nhà nướcchiếm giữ toàn bộ đất đai muốn vậy Nhà nước phải nắm được toàn bộ thông tin

về đất đai Do vậy, Nhà nước phải thực hiện nhiệm vụ đăng kí đất đai, lập hồ sơđịa chính Bởi tất cả tài liệu hồ sơ địa chính nó chứa đựng toàn bộ thông tin vềđất đai Còn về phía người sử dụng quyền chiếm giữ đất đai chỉ giới hạn trongphạm vi Nhà nước giao nhưng người sử dụng phải có thông tin về đất đai thôngqua đăng kí đất đaivà nhằm thiết lập lên hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chính là tàiliệu khẳng định quyền chiếm giữ đất đai hợp pháp của người được Nhà nướcgiao quyền sử dụng Còn quyền sử dụng thể hiện ở Nhà nước quyết định vêmục đích sử dụng, và người sử dụng khai thác công dụng lợi ích của đất đaiphải phụ thuộc vào quy định của Nhà nước Mà để có quyết định về mục đích

sử dụng thì phải nắm được toàn bộ thông tin về đất đai phải dựa vào hồ sơ địachính Nếu không có hồ sơ địa chính thì dẫn đến không quản lý được mục đích

sử dụng Còn đối với người sử dụng đất nếu không thực hiện đăng kí đất đai đểxác lập nên hồ sơ địa chính thì họ không yên tâm đầu tư khai thác bởi thànhquả của việc sử dụng đất không được thừa nhận, không bảo vệ quyền năngtrong việc khai thác Nếu đăng kí xác lập hồ sơ địa chính đầy đủ thì tất cả cácquan hệ đều được Nhà nước đứng ra bảo vệ Xét về quyền định đoạt, đây làquyền tối cao của Nhà nước đó là Nhà nước thực hiện mục đích sử dụng đấtthông qua quy hoạch đất đai và Nhà nước định đoạt quan hệ đất đai như giao,cho thuê, thu hôi, mua bán…Để có thể đưa ra quyết định này Nhà nước cần căn

cứ vào hiện trạng sử dụng đất mà tất cả điều này được phản ánh trong hồ sơ địachính Rõ ràng thông qua việc lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất, đăng kí đất quy định trách nhiệm pháp lý giữa cơ quan Nhànước về quản lý đất đai và người sử dụng đất trong việc chấp hành pháp luậtđất đai

Trang 29

Hồ sơ địa chính sẽ cung cấp thông tin đầy đủ nhất và là cơ sở pháp lýchặt chẽ để xác định các quyền của người sử dụng đất được bảo vệ khi bị tranhchấp, xâm phạm; cũng như xác định các nghĩa vụ mà người sử dụng đất nhưnghĩa vụ tài chính về sử dụng đất, nghĩa vụ bảo vệ và sử dụng đất có hiệuquả…

- Thực hiện lập hồ sơ địa chính là điều kiện tăng cường vai trò quản lýcủa Nhà nước, đảm bảo cho đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm và

có hiệu quả Thực hiện lập hồ sơ địa chính là điều kiện để tăng cường vai tròquản lý của Nhà nước, bởi Nhà nước quản lý thông qua hồ sơ Hồ sơ ở đâykhông hẳn để Nhà nước quản lý về mặt giấy tờ pháp lý mà hồ sơ luôn được cậpnhật những biến động của đất đai Từ đó, Nhà nước thực hiện chức năng chỉnh

lý những thông tin ban đầu và thông qua đó để có biện pháp xử lý đối với từngbiến động Rõ ràng thông qua việc thực hiện lập hồ sơ địa chính các thông tinđất đai luôn được cập nhật là cơ sở để thực hiện chức năng quản lý và thực hiệnbiện pháp quản lý một cách thường xuyên Hồ sơ địa chính cung cấp các thôngtin cần thiết để phục vụ cho việc quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm:

+ Đối với đất Nhà nước đã giao quyền sử dụng các thông tin cần thiếtgồm: Tên chủ sử dụng đất, vị trí, hình thể, kích thước diện tích, hạng đất, mụcđích sử dụng, thời hạn sử dụng, những ràng buộc về quyền sử dụng, những thayđổi trong quá trình sử dụng đất và cơ sở pháp lý

+ Đối với đất chưa giao quyền sử dụng các thông tin cần thiết gồm: Vị trí,hình thể, diện tích, loại đất Tất cả các thông tin trên phải được thể hiện chi tiếttới từng thửa đất Đây là đơn vị nhỏ nhất chứa đựng các thông tin về hình thể tựnhiên, kinh tế xã hội và pháp lý của đất đai theo yêu cầu quản lý Nhà nước vềđất đai

Trang 30

Yêu cầu thông tin đất đai trong quản lý Nhà nước về đất đai.

Để có được các thông tin đất đai trên thì Nhà nước phải thực hiện mộtloạt các nhiệm vụ như đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký thống kê đất đai,đánh giá, phân hạng đất, quy hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất…tất cảcác hoạt động này được phản ánh trong hồ sơ địa chính Như vậy, thông qua hồ

sơ địa chính, Nhà nước mới thực sự quản lý được tình hình đất đai trong toàn

bộ phạm vi lãnh thổ hành chính các cấp và thực hiện quản lý chặt chẽ mọi biếnđộng đất đai theo đúng pháp luật

- Lập và quản lý hồ sơ địa chính là một trong những nội dung quản lýNhà nước về đất đai có quan hệ hữu cơ với các nội dung, nhiệm vụ khác củaquản lý Nhà nước về đất đai Hệ thống hồ sơ địa chính chứa đựng đầy đủ cácthông tin về tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng thửa đất Mà hệ thống các thôngtin đó chính là sản phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ quản

1- B n ản đồ

Trang 31

+ Đối với hệ thống chính sách về quản lý và sử dụng đất: Đó là cơ sởpháp lý cao nhất cho việc thực hiện lập hồ sơ địa chính Việc lập hồ sơ địachính không chỉ tuân thủ các quy định về đăng ký, lập hồ sơ địa chính và cấpGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà còn phải chấp hành đúng chế độ vềquản lý, sử dụng đất nhằm xác lập hồ sơ địa chính đầy đủ Đồng thời, hồ sơ địachính cung cấp thông tin về tình hình đất đai để phân tích, đánh giá việc thựchiện chính sách đất đai và đề xuất, bổ sung hoặc điều chỉnh chủ trương, chínhsách, chiến lược quản lý và sử dụng đất.

+ Đối với nhiệm vụ điều tra, đo đạc, thì kết quả công tác điều tra, đo đạc

là tư liệu lập nên hồ sơ địa chính Song cũng thông qua hồ sơ địa chính để gópphần nâng cao độ chính xác kết quả đo đạc, bổ sung giá trị pháp lý của tài liệu

+ Đối với công tác giao đất, cho thuê đất, quyết định giao đất hay chothuê đất tạo cơ sở pháp lý ban đầu để người được giao đất hay thuê đất thựchiện nghĩa vụ tài chính và các cơ quan chức năng tổ chức bàn giao đất, nhưngchỉ sau khi người được giao đất, thuê đất đã đăng ký quyền sử dụng đất thì mớichính thức thực hiện hoàn chỉnh thủ tục pháp lý giữa người sử dụng đất vớiNhà nước Do đó, quyết định giao đất, cho thuê đất là cơ sở xác định quyền hợppháp của người sử dụng đất khi đăng ký, cũng chính vì vậy hồ sơ địa chính là

cơ sở thực hiện kiểm tra, thanh tra tình hình giao đất ở các cấp

+ Đối với công tác phân hạng và định giá đất Kết quẩ phân hạng, địnhgiá đất là cơ sở xác định trách nhiệm của người sử dụng đất trong việc bảo vệ

và nâng cao chất lượng đất khi sử dụng, là cơ sở xác định trách nhiệm tài chínhcủa người sử dụng đất trước và sau khi được đăng ký cấp Giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất

+ Đối với công tác thanh tra và giải quyết tranh chấp đất đai thì tài liệutrong hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng trong việc xác định nguồn gốc sửdụng đất, nó là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp Ngay cả khi đất đai

Trang 32

thông tin cho việc giải quyết tranh chấp không bị lỗi thời Đồng thời thông quacông tác thanh tra mà nâng cao chất lượng các tài trong hồ sơ địa chính.

+ Đối với công tác thống kê đất đai, thì kết quả của công tác thống kê đấtđai được tổng hợp từ các tài liệu trong hồ sơ địa chính, vì thế các tài liệu nàycàng chính xác thì kết quả của công tác thống kê sẽ rất tốt, là cơ sở để đề ra chủchương, biện pháp sử dụng đất có hiệu quả Và qua con đường thống kê đất đai

ta mới thấy được kết quả của công tác lập hồ sơ địa chính phát huy hết ý nghĩatrong quản lý đất đai, mới đánh giá được tình hình thực hiện chính sách đất đai

và các nhiệm vụ quản lý đất đai khác

Trên đây ta đi phân tích vai trò của việc xác lập hồ sơ địa chính Ta thấyrằng việc lập hồ sơ địa chính là rất cần thiết, nó là đòi hỏi khách quan khôngthể thiếu được trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai Yêu cầu của côngtác quản lý Nhà nước về đất đai là phải xác lập cho được hồ sơ địa chính đểquản lý đất đai một cách chặt chẽ Việc xây dựng hồ sơ địa chính đầy đủ là cơ

sở để bảo vệ chế độ sử hữu toàn dân về đất đai và là cơ sở để thực hiện các nộidung, nhiệm vụ khác của quản lý đất đai Đưa đất đai vào phục vụ mục tiêuphát triển kinh tế – xã hội của đất nước Xây dựng hồ sơ địa chính là rất cầnthiết vì thế cần sớm hoàn thiện công tác này Để hoàn thiện công tác này ta cầntìm hiểu nội dung của hồ sơ địa chính

4 Nội dung hồ sơ địa chính.

Như chúng ta đã biết hồ sơ địa chính là tập hợp các tài liệu cơ bản thểhiện chi tiết từng thửa đất, từng chủ sử dụng và các nội dung khác theo yêu cầuquản lý Nhà nước đối với đất đai Hồ sơ địa chính được thành lập theo đơn vịhành chính cấp xã Các tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính làm cơ sở khoa học

và pháp lý để Nhà nước quản lý chặt chẽ, thường xuyên đối với đất đai

Nội dung hồ sơ địa chính bao gồm:

1 Bản đồ địa chính

2 Sổ địa chính

3 Sổ mục kê

4 Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

5 Sổ theo dõi biến động đất đai

6 Những tài liệu được hình thành trong quá trình đăng kí đất đai, cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 33

4.1) Bản đồ địa chính

Để quản lý được đất đai chúng ta phải có được bản đồ địa chính, hồ sơđịa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bởi tư liệu này phải ánh thửađất với bốn yếu tố:

- Yếu tố tự nhiên của thửa đất như vị trí, hình dạng, kích thức, chấtlượng đất vv…

- Yếu tố kinh tế của thửa đất như giá đất, thuế đất, giá trị các côngtrình trên đất vv…

- Yếu tố xã hội của thửa đất như chủ sử dụng đất, chế độ sử dụng đất,quá trình biến động đất, vv …

- Yếu tố pháp lý của thửa đất như các văn bản giấy tờ xác nhậnquyền sử dụng đất, xác nhận quy hoạch, vv …

Trong các yếu tố trên thì một số yếu tố được ghi nhận trong hồ sơ địachính còn một số yếu tố khác được thể hiện trên bản đồ địa chính Do vậy bản

đồ địa chính là một trong các công cụ để quản lý đất đai Trên bản đồ địa chínhghi nhận những thông tin về yếu tố tự nhiên của thửa đất Bản đồ địa chính liên

hệ với hồ sơ địa chính người ta còn thể hiện tên chủ sử dụng đất, loại đất vàmột số yếu tố quy hoạch sử dụng đất

Trước kia, khi kỹ thuật đo đạc chưa phát triển người ta chưa có bản đồđịa chính cho cả khu vực mà chỉ mô tả thửa đất bằng việc sử dụng công cụ thô

sơ như thước dây để đo chiều dài các cạnh để tích diện tích Tiến thêm bướcnữa người ta đo được sơ đồ đất (bản đồ giải thửa) kết nối với các hồ sơ pháp lý

về thửa đất (hệ thống địa bạ) nhằm quản lý toàn bộ đất đai Khi kỹ thuật đo đạcphát triển hơn, người ta có thể thành lập bản đồ địa chính cho cả khu vực rộnglớn Lúc này trên hệ thống bản đồ địa chính từng khu vực đã thể hiện được mốiquan hệ đất đai về mặt tự nhiên ở các cấp địa phương và việc quản lý đất đaibằng bản đồ bắt đầu được thực hiện Từ đấy bản đồ địa chính đóng góp vai tròrất tích cực trong hệ thống quản lý đất đai song vẫn dưới tầm nhìn của mốiquan hệ đất đai trong từng địa phương nhỏ Trong thời gian gần đây, với sựphát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật đo đạc bản đồ đã được giải quyết,bản đồ địa chính theo hệ toạ độ thống nhất được thành lập Lúc này, loại bản đồđịa chính này thể hiện được mối quan hệ đất đai ở tầm vĩ mô của cả nước.Từ

đó đưa ra quy hoạch sử dụng đất hợp lý, hoạch định các chính sách đất đai,

Trang 34

nước Như vậy, bản đồ địa chính là một công cụ chủ yếu để quản lý đất đai Từđây, để quản lý đất đai tốt cần tìm hiểu bản đồ địa chính là gì? cũng như nhữngvấn đề liên quan đến bản đồ địa chính.

Bản đồ địa chính là bộ phận không thể tách rời hồ sơ địa chính nó nhằmmục đích xác định vị trí, hình thể thửa đất và làm căn cứ khoa học cho việc tínhtoàn bộ diện tích các thửa, phục vụ nhu cầu: đăng kí đất đai, lập hồ sơ địachính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…Ngoài ra, bản đồ địa chính còn

là tài liệu thực hiện thống kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, quyhoạch sử dụng đất, giao đất, thu hồi đất, bảo vệ và cải tạo đất…

Chính vì vai trò quan trọng vậy do đó bản đồ địa chính phải được chỉnh

lý thường xuyên cho phù hợp với hiện trạng sử dụng đất Việc quy định chỉnh

lý bản đồ địa chính như sau:

- Mọi việc chỉnh lý trên bản đồ địa chính chỉ được thực hiện sau khi

đã hoàn thành thủ tục pháp lý về đăng kí biến động đất đai và được cấp có thẩmquyền giao đất chấp thuận

- Việc chỉnh lý trên bản đồ địa chính phải căn cứ vào kết quả đo đạcngoài thực địa, các yếu tố mới được chỉnh lý trên bản đồ bằng màu đỏ, gạch bỏcác yếu tố cũ cũng bằng màu đỏ

- Sau khi chỉnh lý số thứ tự thửa đất được đánh bằng số tiếp theo sốhiệu thửa đất cuối cùng của tờ bản đồ và ghi vào bảng số thửa thêm bớt lập ởbên cạnh ở nơi diện tích trống trong khung bản đồ

- Mỗi yêu cầu kỹ thuật về đo đạc chỉnh lý bản đồ phải tuân theo quyphạm đo vẽ do Tổng Cục địa chính ban hành theo Quyết định720/1999/QĐ_ĐC ngày 30/12/1999

- Việc chỉnh lý bản đồ địa chính phải được chỉnh lý thường xuyên,cán bộ địa chính xã có trách nhiệm trích sao khu vực có chỉnh lý để báo cáo lên

cơ quan quản lý đất đai huyện để tập hợp báo cáo lên cơ quan quản lý đất đaitỉnh, thành phố theo định kỳ 6 tháng một lần

- Khi số hiệu chỉnh lý chiếm 40% thì phải có kế hoạch đo mới lại.Như vậy, ta thấy rằng việc thành lập bản đồ địa chính là rất cần thiềttrong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Tuy nhiên, để thiết lập được bản đồđịa chính một cách chính xác là công việc khó khăn nó không chỉ là vấn đềcông nghệ thành lập bản đồ mà nó liên quan đến vốn, nhân lực, vật lực và liên

Trang 35

quan đến sự phối hợp chỉ đạo giữa các cấp, các ngành trong việc lập bản đồcũng như chỉnh lý biến động thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai.

4.2) Sổ địa chính.

Sổ địa chính là một trong những tài liệu quan trọng của hồ sơ địa chính

Sổ địa chính lập ra với mục đích nhằm tập hợp toàn bộ thông tin cần thiết vềtoàn bộ diện tích đất đai được Nhà nước giao quyền sử dụng cho các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân và diện tích các loại đất chưa giao, chưa cho thuê sử dụng;làm cơ sở để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đất đai theo đúng phápluật Như vậy, dựa vào sổ địa chính ta biết được diện tích đất Nhà nước đã giao,biết tên chủ sử dụng đất, mục đích sử dụng đất… từ đó nắm bắt được chi tiếttình hình sử dụng đất Sổ địa chính là căn cứ để quản lý đất đai một cách chặtchẽ từ cấp cơ sở

Khi thành lập sổ địa chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Sổ được lập theo đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn do cán

bộ địa chính xã thành lập Sổ phải được UBND xã xác nhận và Sở địa chínhduyệt mới có giá trị pháp lý

- Thông tin cập nhật vào trong sổ địa chính phải dựa vào các thôngtin pháp lý do người xin đăng kí cung cấp

- Khi lập sổ địa chính ở nông thôn khác với sổ địa chính ở đô thịCũng như bản đồ địa chính, sổ địa chính cũng phải thực hiện chỉnh lý.Việc chỉnh lý chỉ được thực hiện khi đã làm đúng các thủ tục đăng ký biếnđộng đất đai và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất hoặc chứng nhận biến động trên giấy đã cấp

4.3)Sổ mục kê

Sổ mục kê được lập ra nhằm mục đích liệt kê từng thửa đất trong phạm viđịa giới hành chính xã, phường, thị trấn về các nội dung: tên chủ sử dụng đất,diện tích, loại đất đáp ứng yêu cầu tổng hợp thống kê diện tích đất đai, lập vàtra cứu sử dụng các tài liệu hồ sơ địa chính một cách đầy đủ, thuận tiện, chínhxác … Như vậy, nhìn vào sổ mục kê ta biết được diện tích từng loại đất từ đó

có biện pháp khuyến khích, điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầuphát triển kinh tế –xã hội ở từng địa phương

Rõ ràng sổ mục kê nằm trong hệ thống hồ sơ địa chính sẽ cho phép ta tracứu thông tin một cách dễ dàng đồng thời giúp cho hoạt động thống kê đất đai

Trang 36

được thực hiện một cách thuận lợi và từ số liệu thống kê này nó là cơ sở cầnthiết cho việc phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất, là cơ sở phân vùng vàquy hoạch phân bổ sử dụng đất và xây dưng kế hoạch sử dụng đất Đồng thời

số liệu thống kê còn là căn cứ cho việc tính thuế sử dụng đất Do đó, ta thấyrằng thiết lập sổ mục kê là cần thiết trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai.Nguyên tắc chung trong việc lập sổ mục kê như sau:

- Sổ được lập từ bản đồ địa chính và các tài liệu điều tra đo đạc đãđược hoàn chỉnh sau khi xét duyệt cấp giấy chứng nhận và xử lý các trườnghợp vi phạm chính sách đất đai

- Sổ được lập theo thứ tự từng tờ bản đồ địa chính, từng thửa đất củamỗi tờ bản đồ

- Sổ lập cho từng xã, phường theo địa giới đã xác định, do cán bộ địachính xã chụi trách nhiệm lập Sổ phải được UBND xã xác nhận và Sở địachính duyệt mới có giá trị pháp lý

- Sổ được lập làm ba bộ, bộ gốc lưu tại Sở địa chính, một bộ lưu tạiphòng địa chính cấp huyện, một bộ lưu tại trụ sở UBND xã do cán bộ địa chính

Nguyên tắc lập sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

- Cơ quan nào cấp giấy chứng nhận, thay đổi thông tin giấy chứngnhận thì cơ quan đó lập sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Như vậy, Sởđịa chính chụi trách nhiệm lập và giữ sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

Trang 37

đất cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh, phòng địa chính cấphuyện chụi trách nhiệm lập và giữ sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcho các đối tượng thuộc thẩm quyền của cấp huyện.

- Chỉ khi giấy chứng nhận được phát hành hoặc điều chỉnh mới đưathông tin vào sổ

- Nếu đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cánhân, hộ gia đình thì sổ địa chính lập theo cấp xã, phường; mỗi xã lập một hoặcmột số quyển riêng Còn nếu đối tượng là tổ chức, đất công cộng thì sổ địachính lập theo đơn vị quận, huyện vì giấy chứng nhận cho các tổ chức này do

Sở địa chính cấp

Chỉnh lý sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi: giấy chứng nhậnkhông còn giá trị hoặc trường hợp được chứng nhận biến động ngay trên giấychứng nhận hoặc giấy chứng nhận mới được cấp trong qúa trình đăng ký biếnđộng

4.5) Sổ theo dõi biến động đất đai

Sổ theo dõi biến động đất đai là sổ cập nhật toàn bộ thông tin về đất đai

từ sau khi đăng ký lần đầu

Mục đích lập sổ là thông qua thông tin biến động được ghi nhận ở sổ này

ta biết đất đai được thực trạng quỹ đất mỗi loại tại mỗi thời điểm Đồng thờidựa vào sổ này giúp ta thống kê biến động một cách dễ dàng ta biết được tổngquỹ đât, cơ cấu quỹ đất từ đó có biện pháp, chính sách nhằm điều chỉnh cơ cấuquỹ đât hợp lý vào thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướngcông nghiệp- dịch vụ- nông nghiệp

Quá trình vận động, phát triển của đời sống kinh tế – xã hội tất yếu dẫntới sự biến động đất đai ngày càng đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau, dovậy cần cập nhật tất cả các thông tin này qua công tác đăng ký đất đai để lậpcho sổ theo dõi biến động đất đai, đảm bảo cho hồ sơ địa chính luôn phản ánhđúng, kịp thời hiện trạng sử dụng đất và đảm bảo cho người sử dụng đất thựchiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật Như vậy, lập sổ theo dõibiến động đất đai là cần thiết, là đòi hỏi khách quan trong công tác quản lý Nhànước về đất đai Để sổ này ngày càng có chất lượng thì công tác đăng ký đất đaicần phải làm thường xuyên, liên tục ở mọi lúc, mọi nơi

Nguyên tắc lập sổ như sau:

Trang 38

- Sổ phải lập ngay sau khi kết thúc công tác đăng ký ban đầu.

- Những thông tin đưa vào sổ đăng ký biến động phải dựa trên thôngtin mà đã cập nhật về đăng ký biến động

- Sổ đăng ký biến động này do đơn vị xã, phường thực hiện(nơi thựchiện đăng ký biến động) do cán bộ địa chính xã thực hiện

4.6) Những giấy tờ được hình thành trong qúa trình đăng ký đất đai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đây là những loại giấy tờ mang ý nghĩa pháp lý cao, các tài liệu này là cơ

sở để thực hiện đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính theo đúng trình tự, thủ tục,tuân theo quy định của pháp luật Các loại giấy tờ này là:

- Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất và các giấy tờ do người sửdụng đất nộp khi kê khai đăng ký đất ban đầu và đăng ký biến động đất đai

- Các tài liệu được hình thành trong quá trình thẩm tra xét duyệt đơncủa UBND cấp xã: biên bản phân loại và xét duyệt của hội đồng đăng ký đấtđai; tờ trình của UBND cấp xã và phòng địa chính cấp huyện; tờ trình của Sởđịa chính nhà đất; danh sách các trường hợp được đề nghị cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất

- Các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: quyết địnhthành lập hội đồng đăng ký đất; quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất; quyết định chuyển mục đích các loại đất; quyết định cấp lại giấy chứngnhận quyền sử dụng đất

- Biên bản kiểm tra, nghiệm thu hồ sơ địa chính

Tất cả các loại giấy tờ trên đảm bảo hồ sơ địa chính có tính pháp lý cao,

từ đó là cơ sở để bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất hợppháp đồng thời thể hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp chínhquyền trong việc quản lý và sử dụng đất đai

Trên đây là tất cả các tài liệu cơ bản của hồ sơ địa chính và mỗi một loạitài liệu chứa đựng các loại thông tin khác nhau về đất đai nhằm quản lý toàn bộcác mối quan hệ đất đai, điều chỉnh quan hệ đất đai phục vụ cho mục tiêu kinh

tế – chính trị Vì vậy, cần xây dựng hồ sơ địa chính với chất lượng cao, tức làcác tài liệu này phản ánh chính xác hiện trạng sử dụng đất và phải thiết lập đầy

đủ các loại tài liệu trên Trên cơ sở tìm hiểu nội dung của hồ sơ địa chính thì

Trang 39

vấn đề đặt ra là: hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính thì cần đồng thời hoànthiện từng nội dung của hồ sơ địa chính.

Do hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền sửdụng đất hợp pháp của người sử dụng đất Nhờ vào hệ thống hồ sơ địa chính đãthiết lập mà Nhà nước nắm chắc quỹ đất, xác định rõ lịch sử, ranh giới từngthửa đất làm cơ sở để bảo vệ quyền sử dụng đất; giải quyết tranh chấp đất đai.Chính vì vậy Nhà nước xây dựng hệ thống văn bản về hồ sơ địa chính làm cơ

sở pháp lý cho việc lập và quản lý hồ sơ địa chính

III Cơ sở pháp lý của công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính

Như chúng ta đã biết, bất kỳ Nhà nước nào cũng coi đất đai là một trongnhững vấn đề quan trọng Nhà nước muốn quản lý chặt chẽ vốn đất đai, tìnhhình sử dụng đất và hướng việc sử dụng đất đai phục vụ mục tiêu kinh tế –chính trị của mình Vì thế để quản lý được đất đai Nhà nước sử dụng công cụpháp luật, xây dựng hệ thống văn bản pháp quy về quản lý đất đai

Hệ thống các văn bản đất đai hiện nay trước tiên là Luật đất đai 1993(14/07/1993), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai (02/12/1998),Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai do Quốc Hội khóa IX thôngqua ngày (29/06/2001) đã quy định đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nhiệm vụ bắt buộc và hết sức cần thiết.Thực hiện nhiệm vụ này là cơ sở cho việc thi hành Luật đất đai là một trongnhững nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đấtđai Hệ thống các văn bản quy định lập và quản lý hồ sơ địa chính như sau:

- Điều 13, khoản 5 quy định “đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địachính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ”

- Công văn 434/CV_ĐC tháng 7/1993 của Tổng Cục địa chính banhành tạm thời mẫu sổ sách hồ sơ địa chính thay thế cho mẫu quy định tại Quyếtđịnh số 56/ ĐKTK năm 1881

- Quyết định 499/QĐ_ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng Cục địa chínhquy định các mẫu sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, sổ theo dõi biến động đất đai

- Thông tư 346/1998/TT- TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng Cục địachính hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng

Ngày đăng: 17/12/2012, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2- Hình thể 3- Kích  th ướ c 4- Di n ệ tích - Giảm giá thành sản phẩm xây lắp của Xí nghiệp 492
2 Hình thể 3- Kích th ướ c 4- Di n ệ tích (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w