1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

bài giảng giao kết hợp đồng thương mại quốc tế

12 854 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giao kết hợp đồng thương mại quốc tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Thương mại quốc tế
Thể loại bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 23,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 14 Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT “Mộtđề nghị ký kết hợp đồng được gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và nếu chỉ rõ ý chí của người

Trang 1

Giao kết gián tiếp

Giao kết HĐTMQT

Giao kết trực tiếp

Trang 2

Giao kết hợp đồng theo phương thức gián tiếp

Đề

Đề nghị nghị giao giao kết kết hợp hợp đồng đồng

Chấp Chấp nhận nhận đề đề nghị nghị giao giao kết kết

Gửi

Gửi

Nhận

Nhận

BLDS

2005

CISG

PICC

2004

Trang 3

Những vấn đề của ĐNGKHĐ

 Khái niệm ĐNGKHĐ

 Về hình thức của ĐNGK

 Thời điểm ĐNGK có hiệu lực

 Thời hạn hiệu lực của ĐNGK

 Rút lại ĐNGK

 Hủy bỏ ĐNGK

 Chấm dứt hiệu lực ĐNGK

Trang 4

Điều 14 Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT “Một

đề nghị ký kết hợp đồng được gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ

chính xác và nếu chỉ rõ ý chí của người chào

hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có

sự chấp nhận chào hàng đó Một đề nghị được coi là

đủ chính xác nếu nó nêu rõ hàng hóa và ấn định giá

cả và số lượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc quy định theo thể thức xác định các yếu tố này

Điều 2.1.2 PICC quy định “Một đề nghị được gọi là

đề nghị giao kết hợp đồng nếu nó đủ rõ ràng và thể hiện ý chí của bên đưa ra đề nghị bị ràng buộc khi

đề nghị giao kết được chấp nhận”

Theo điều 390 khoản 1 BLDS 2005 của Việt Nam

Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.

Khái niệm ĐNGKHĐ

Trang 5

Những đặc điểm của ĐNGKHĐ

 Người nhận đề nghị

 Sự xác định của đề nghị

 Mong muốn được rằng buộc

Trang 6

Người nhận đề nghị

1 ĐNGK hướng tới một hoặc một

số người xác định

2 Tính xác định của người được

đề nghị ?

Case Study

Quảng cáo xuất hiện vào ngày 6 tháng 4 năm 1956, bị đơn đăng quảng cáo dưới đây trên báo của

Tp Minneapolis: 9h sáng thứ bảy, những chiếc áo lông mới hiệu Sharp giá 100.00USD, sẽ bán cho người có mặt đầu tiên với giá 1 USD

Vụ kiện giữa nguyên đơn LEFKOWITZ

và bị đơn GREAT MINNEAPOLIS SURPLUS STORE, INC năm 1957

Ngày 13/4/1956 bị đơn tiếp tục đăng quảng cáo với nội dung dưới đây: Khăn choàng lông thỏ màu đen dành cho phụ nữ giá 139.50 USD, sẽ bán cho người có mặt đầu

tiên với giá 1 USD

Vào một trong những ngày thứ bảy theo như đã công bố trên quảng cáo, nguyên đơn là người đầu tiên có mặt tại cửa hiệu của bị đơn và trong mỗi thời điểm nguyên đơn yêu cầu bị đơn bán áo choàng và khăn như đã quảng cáo và cho thấy anh ta sẵn sàng trả giá 1 USD

Trong cả hai thời điểm, bị đơn từ chối bán hàng trưng bày cho nguyên đơn và tuyên bố trong thời điểm thứ nhất rằng do một quy tắc của hãng, quảng cáo được đưa ra cho phụ nữ và không bán cho đàn ông và trong lần thăm thứ hai nguyên đơn đã biết những nguyên tắc của hãng

Trang 7

Sự xác định của đề nghị

1 Sự xác định về đối tượng của

Hợp đồng

2 Sự xác định về giá cả

Case Study

Trong tháng 3 năm 1991, tại

Fuerstenstein (Đức), bị đơn đặt hàng nguyên đơn, người nuôi chồn Chinchilla ở Đức một số lượng lớn các bộ lông chồn Chinchilla

Vụ kiện giữa nguyên đơn là người bán hàng Đức và bị đơn là một công ty có trụ sở tại Áo liên quan đến việc mua

bán lông chồn

Các bên đã thỏa thuận rằng

những bộ lông chồn Chinchilla có chất lượng trung bình và cao hơn mức trung bình, sẽ có mức giá trong khoảng 35 đến 65 DM

trên mỗi bộ

Vào đầu tháng 4 năm 1991, nguyên đơn đóng gỏi tổng cộng 249 bộ lông chồn Chinchilla trong đó có 236 bộ có chất lượng trung bình và 13 bộ có chất lượng thấp hơn và gửi chúng cho bị đơn Vào ngày 6/4/1991, sau khi nhận được hàng

do nguyên đơn gửi, bị đơn đã giao những túi hàng đó cho một nhà buôn của Italia

mà không mở ra kiểm tra

Nhà buôn Italia chỉ thanh toán cho 236

bộ lông có chất lượng trung bình và gửi trả lại 13 bộ lông có chất lượng kém hơn cho bị đơn Sau đó, bị đơn gửi cho nguyên đơn một bản kê khai các bộ lông chồn Chinchilla trong đó bị đơn than phiền về 13 bộ lông đã bị trả lại và chuyển cho nguyên đơn 2,400 DM, theo mức giá không quá 10 DM một bộ lông

Trang 8

Mong muốn được rằng buộc

1 Cách thức bên đề nghị

trình bày trong đề nghị

2 Nội dung của đề nghị

Case Study

Từ năm 1991 bị đơn thường xuyên mua những bộ kéo của nguyên đơn

và bán lại chúng ở Thụy sĩ theo cách bị đơn sẽ đặt hàng trước cho nguyên đơn và sau đó (thông

cho nguyên đơn số lượng, chất lượng hàng hóa và ngày giao hàng

cụ thể

Vụ kiện giữa một công ty của Đức và một công ty của Thụy Sỹ về HĐ mua

bán kéo

Sau khi bị đơn đặt hàng, hàng

sẽ được sản xuất với những mẫu mã và dấu hiệu riêng của

bị đơn và sẽ được nguyên đơn giao theo đúng số lượng, chất lượng và thời gian mà bị

đơn thông báo

Nguyên đơn cho rằng đơn đặt hàng ngày 10/4/1992 và 26/5/1992 của bị đơn đã chỉ

rõ mong muốn ký kết hợp đồng mua bán kéo với nguyên đơn và chịu sự ràng buộc

về mặt pháp lý đối với đặt hàng đó Đơn đặt hàng đó thực chất là một đề nghị giao kết hợp đồng mua bán kéo, trong đó việc giao hàng được thực hiện trong nhiều lần

Bị đơn cho rằng hai bản fax ngày 10/4/1992 và 26/5/1992 của bị đơn thực chất chỉ là những đề nghị thương lượng hợp đồng, thể hiện mong muốn của bị đơn sẽ đặt hàng trong tương lai, do đó nó không có tính ràng buộc đối với bị đơn

Trang 9

Thời điểm bắt đầu có hiệu lực của

ĐNGK

Ngày 23/10, A gửi cho B một đề nghị giao kết

hợp đồng mua bán 1000 chiếc xe máy và ấn

định thời gian trả lời là một tháng, trong thời

hạn chờ B trả lời, A bán lô hàng đó cho C Sau

khi gửi chấp nhận giao kết hợp đồng cho A vào

ngày 23/11, B phát hiện ra hành vi trên của A và

khởi kiện A ra tòa, đòi bồi thường cho những chi

phí mà B đã bỏ ra để chuẩn bị cho việc thực

hiện hợp đồng.

 Chào hàng của A có hiệu lực vào thời điểm nào

 B có kiện A được hay không ?

Trang 10

Thay đổi, rút lại ĐNGK

 Khi nào thông báo thay đổi, rút

lại ĐNGK HĐ có giá trị

 Việc thay đổi, rút lại ĐNGK

HĐ được thực hiện thông qua

hình thức nào

Trang 11

HỦY BỎ ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

1 Cơ sở pháp lý

Điều 16 CISG

Điều 2.1 4 khoản 1 PICC

Điều 393 BLDS 2005

2 Vấn đề pháp lý:

Thời điểm bên nhận được

đề nghị trả lời chấp nhận

đề nghị là thời điểm nào ?

Điều 2.1.4 khoản 1 PICC và Điều 16 khoản

1 CISG đều quy định về nguyên tắc các đề nghị giao kết hợp đồng có thể

bị hủy ngang trừ các ngoại lệ được quy định tai khoản 2 Điều 2.1.4 PICC và khoản 2 Điều

16 CISG

Điều 393 BLDS 2005

đưa ra thời điểm “bên

được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao

kết hợp đồng”

Xác định thời điểm bên được đề nghị trả lời

chấp nhận

Trang 12

Chấm dứt hiệu lực của đề nghị

 Khi nào một ĐNGK

HĐ hết hiệu lực ?

Ngày đăng: 29/03/2014, 06:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức nào - bài giảng giao kết hợp đồng thương mại quốc tế
Hình th ức nào (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w