1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

83 600 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Môi Trường Đầu Tư Với Sự Phát Triển Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Bích Thắm
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Mai
Trường học Bộ môn Kinh tế Đầu tư
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 201,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

Trang 1

Lời nói đầu

Trong những năm qua sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa( DNNVV) có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân: huyđộng nguồn lực cho đầu tư phát triển, có ý nghĩa then chốt trong quá trình giảiquyết các vấn đề kinh tế xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, pháttriển đồng đều giữa các khu vực trong cả nước…Bên cạnh đó chúng ta đangtrong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới do đó phải biết tận dụng cáccác lợi thế so sánh, chính các DNNVV là cơ hội để sử dụng tốt các lợi thế này

Tuy nhiên đặc điểm chung của các DNNVV ở tất cả các nước, nhất làtrong giai đoạn mới hình thành và phát triển là còn thiếu tiềm lực về vốn,công nghệ, kĩ năng quản lý non kém, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếukém Trong thời gian qua Chính phủ đã tiến hành nhiều cải tổ, đổi mới để cảithiện môi trường đầu tư, trợ giúp DNNVV phát triển Tuy vậy môi trường đầu

tư ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập : Hệ thống Pháp luật chưa đầy đủ vàđồng bộ, thủ tục đầu tư còn phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư, cơ sở

hạ tầng yếu kém…

Với việc nhìn nhận và đánh giá môi trường đầu tư, trong đó DNNVV hoạtđộng, là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của DNNVV, em

đã chọn đề tài “Môi trường đầu tư với sự phát triển của DNNVV Việt Nam”

làm luận văn tốt nghiệp của mình Nội dung chính của luận văn bao gồm baphần chính sau:

Chương 1: Môi trường đầu tư nhân tố quan trọng cho sự phát triển

Trang 2

Do còn hạn chế về thời gian và kiến thức chuyên môn nên luận văn nàycòn nhiều thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô

Em chân thành cảm ơn cô giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Ngọc Mai

và Phòng xúc tiến phát triển DNNVV - Cục phát triển DNNVV - Bộ kế hoạchđầu tư đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành luận văn này

Trang 3

Chương 1 : Môi trường đầu tư, nhân tố quan trọng cho

sự phát triển các DNNVV ở Việt Nam

I.Doanh nghiệp nhỏ vừa trong sự phát triển kinh tế xã hội

1.Khái niệm

Theo quy định tại điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-Cp ngày 23/11/2001 vềtrợ giúp phát triển DNNVV thì: “DNNVV là các cơ sở sản xuất kinh doanhđộc lập đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành,có vốn đănng kíkhông quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300người”

2.1 Về điểm mạnh

So vói các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế như cácdoanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế, các Tổng công ty, các công ty đa quốcgia thì DNNVV có những điểm mạnh sau:

Dễ khởi nghiệp: Hầu hết các DNNVV đều dễ dàng bắt đầu ngay sau khi có ý

tưởng kinh doanh và một số ít vốn cũng như lao động nhất định Loại hìnhdoanh nghiệp này hầu như không đòi hỏi một số vốn đầu tư lớn ngay tronggiai đoạn đầu và rất nhiều các doanh nghiệp lớn các công ty đa quốc gia đượcbắt đầu từ những doanh nghiệp nhỏ

Linh hoạt : Do hoạt động với quy mô nhỏ nên hầu hết các DNNVV đều rất

năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường.Trong một sốtrường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu những biến động

Trang 4

đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội hay các dao động độtbiến trên thị trường Trên góc độ thương mại thì nhờ tính năng động này màcác DNNVV dễ dàng tìm kiếm những thị trường ngách và gia nhập thị trườngnày khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi thịtrường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả hơn.Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặccác nền kinh tế đang phát triển

Lợi thế so sánh trong cạnh tranh: So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV

có lợi thế so sánh trong cạnh tranh đó là khả năng phát huy những nguồn lựcđầu vào như lao động hay tài nguyên hoặc nguồn vốn tại chỗ khi khai thác vàphát huy các ngành nghề truyền thống của từng địa phương Bên cạnh đó cácDNNVV còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc theo sátnhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, qua đó sáng tạo ra nhiều loại hànghoá và dịch vụ mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.Theo khía cạnh này, DNNVV có lợi thế trong việc định hướng và làm xuấthiện nhiều nhu cầu mới của người tiêu dùng và, nhờ sự phát triển của cácDNNVV mà hiện nay đã có nhiều loại sản phẩm và dịch vụ mới ra đời, cungcấp cho người tiêu dùng

Tạo ra các tác động ngoại lai : Trên góc độ kinh tế thì các DNNVV tạo ra các

tác động ngoại lai rất mạnh cả về mặt tích cực và tiêu cực Với lợi thế trongviệc khai thác các nguồn lực sẵn có của các địa phương đặc biệt là các ngành

sử dụng nhiều lao động, DNNVV đã có những tác động tích cực trong việctạo ra việc làm cũng như nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho dân cư tạiđại phương hoặc duy trì và bảo vệ các môi trường văn hoá truyền thống củadân tộc Bên cạnh đó sự phát triển của các DNNVV còn có các lợi ích nhưgiảm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, giảm sự cách biệt giữathành thị và nông thôn, qua đó góp phần giúp Chính phủ giảm các tệ nạn xãhội và giúp Chính phủ giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội khác

2.2.Về các điểm yếu

Bên cạnh các điểm mạnh được chỉ ra ở trên thì các DNNVV còn có cácđiểm yếu nhất định như thiếu các nguòn lực để tiến hành các công trình lớn,

Trang 5

Các DNNVV không có các lợi thế kinh tế theo quy mô và trong một số nước

nhất định thì loại hình doanh nghiệp này thường lép vế trong mối quan hệ vớingân hàng, với Chính phủ và với giới báo chí cũng như thiếu sự ủng hộ củacông chúng Nhiều DNNVV bị phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp lớntrong quá trình phát triển

Dễ gặp rủi ro trong kinh doanh: Kinh nghiệm ở nhiều nước trên thế giói cho

thấy rằng càng có nhiều DNNVV ra đời thì cũng có nhiều doanh nghiệp phảiphá sản, có những doanh nghiệp bị phá sản sau một thời gian hoạt động rấtngắn Theo kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới thì các DNNVV có

tỷ lệ phá sản và thất bại cao trong năm hoạt động thứ 4

Bên cạnh các tác động ngoại lai tích cực thì DNNVV cũng gây ra nhữngtác động ngoại lai tiêu cực trong nền kinh tế Do vốn ít các doanh nghiệp nàykhông quan tâm đầy đủ đến việc bảo vệ môi trường hoặc khi doanh nghiệp bịphá sản do hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả gây sự thiếu tintưởng của dân chúng đối với loại hình doanh nghiệp này, gây khó khăn chongười tiêu dùng khi chọn lựa các sản phẩm tiêu dùng cũng như khi lựa chọnnhà cung cấp dịch vụ Điều này làm giảm uy tín của loại hình DNNVV đốivói công chúng và người lao động

3.Vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hoạt động của cácDNNVV đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triểnkinh tế xã hội Vai trò của các DNNVV được biết đến như là các cơ sở sảnxuất kinh doanh có khả năng:

- Tạo nhiều việc làm với chi phí thấp

- Cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hoá dịch vụ và làm tăngGDP cho nền kinh tế

- Tăng cường kĩ năng quản lý và đổi mới công nghệ

- Góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập triong xã hội, xóa đói giảmnghèo và tăng sự công bằng trong nền kinh tế

- Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tếnăng động và hiệu quả hơn

- Cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế với nhau

Trang 6

Mức độ đóng góp của DNNVV vào sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia đượcthể hiện ở mức độ thu hút lao động, VĐT và tạo ra giá trị gia tăng góp phầntăng trưởng kinh tế

Bảng 1 : Vai trò của DNNVV ở một số nước

N ư ớc % tổng số

doanh nghiệp

% tổng số laođộng

% tổng giá trị giatăng của KVKTTN

% Trong xuấtkhẩuCác nước kinh tế phát triển

Nguồn : Hồ sơ của các DNNVV của APEC- Năm 2004

Như vậy qua bảng trên có thể thấy DNNVV có vai trò hết sức quantrong trong sự phát triển của mỗi quốc gia ngay cả đối với các quốc gia pháttriển, DNNVV tạo ra phần lớn các công ăn việc làm và đóng góp đáng kể vàogiá trị xuất khẩu của mỗi quốc gia

4 Điều kiện để phát triển DNNVV ở Việt Nam

4.1 Điều kiện khách quan

Cũng như các thành phần khác của nền kinh tế, các DNNVV chịu tácđộng của môi trường bên ngoài như môi trường đầu tư, môi trường văn hoá

xã hội, môi trường công nghệ và môi trường chính trị luật pháp Các yếu tốmôi trường bên ngoài này có thể tạo ra các cơ hội hay các rào cản đối với sựphát triển DNNVV trong từng giai đoạn phát triển nhất định

Môi trường chính trị và luật pháp: Đây là điều kiện quan trọng tác độngđến sự phát triển của các DNNVV thông qua việc Chính phủ ban hành các cơchế chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô và các chính sách định hướng phát triển

Trang 7

từng thời kì, trong từng ngành nghề nhất định nhằm khai thác tốt hơn cácnguồn lực của nền kinh tế

Ngoài ra sự tác động của môi trường chính trị luật pháp còn thể hiện ởthái độ, hành vi của bản thân những người đại diện cho cơ quan hành phápkhi giả quyết các vấn đề của DNNVV

Các yếu tố kinh tế : Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu ngưòi tăng lên

sẽ góp phần tăng thu nhập của các tầng lớp dân cư, tăng sức mua của nền kinh

tế từ đó mở rộng thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, trong đó cóDNNVV Tiết kiệm nền kinh tế tăng lên sẽ làm tăng nguồn vốn đầu tư củacác khu vực kinh tế trong đó có DNNVV nhờ đó mà tiềm lực kinh tế của cácDNNVV sẽ được tăng cường, mở rộng các cơ hội đầu tư đổi mới công nghệcũng như đa dạng hoá sản phẩm, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của ngườitiêu dùng Sự phát triển kinh tế cũng tạo ra những thách thức đối với cácDNNVV khi mà mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng cao, ngườidân trở nên khó tính hơn khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng và nơi làm việc,điều này buộc các DNNVV phải kinh doanh ngày càng bài bản hơn, quan tâmnhiều hơn đến khách hàng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp

Các yếu tố Văn hoá xã hội : Ở đây được xem như sự thừa nhận của xãhội với sự tồn tại và phát triển của DNNVV Nếu người tiêu dùng và các cánhân trong xã hội ủng hộ DNNVV thì họ sẽ tiêu dùng sản phẩm của DNNVVnhiều hơn, đầu tư cho các DNNVV nhiều hơn và bản thân họ cũng sẵn sànglàm việc cũng như đem lại lợi ích nhiều hơn cho các DNNVV và cho toàn xãhội Thái độ của dân chúng đối với sự phát triển của DNNVV còn thể hiện ởnhận thức của dân chúng đối với vai trò của các DNNVV trong nền kinh tếđặc biệt là thái độ đối với các cá nhân chủ doanh nghiệp thành công đã đemlại nhiều việc làm cũng như lợi nhuận cho bản thân chủ doanh nghiệp và cho

xã hội Các yếu tố văn hóa còn tác động đến sự phát triển của DNNVV thôngqua việc hình thành và phát triển phong cách quản lý trong các DNNVV qua

đó hình thành văn hoá kinh doanh trong DNNVV

Các yếu tố công nghệ : Được tính đến như việc xuất hiện các loại máymóc thiết bị, cách thức sản xuất cũng như nguyên vật liệu mới trên thị trườnggiúp cho các DNNVV tăng năng suất lao động, nhờ đó mở rộng các cơ hội

Trang 8

lựa chọn và áp dụng công nghệ phù hợp vào sản xuất và quản lý nhằm tănggiá trị của sản phẩm và tăng kĩ năng quản lý của bản thân chủ doanh nghiệp.Các yếu tố công nghệ hiện nay còn được xem xét bởi sự phát triển của kinh tếtri thức qua đó nâng cao khả năng làm việc của từng nhân viên và của doanhnghiệp trong các DNNVV Xu hướng phát triển công nghệ của thế giới vàtừng quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của loại hình doanhnghiệp quy mô nhỏ và vừa, đặc biệt là sự sát nhập của ngành công nghệ thôngtin liên lạc và viễn thông.

Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích như sự tiện lợi và tiết kiệm chi phíthì sự phát triển của công nghệ mới không phải lúc nào cũng là ưu thế choDNNVV mà nó còn là mối đe doạ của các doanh nghiệp này khi xét đếnnguồn chi phí hạn hẹp và khả năng hạn chế của người quản lý khi áp dụngcông nghệ vào sản xuất Điều quan trọng nhất đối với loại hình doanh nghiệpnày đó là lựa chọn được các công nghệ phù hợp với quy mô, đặc điểm vànăng lực của doanh nghiệp mình

4.2 Điều kiện chủ quan

Ở đây có thể kể đến như sự tác động của môi trường cạnh tranh từngngành, sức mạnh của đối thủ cạnh tranh, đặc điểm tính chất của ngành thểhiện ở mức độ khó dễ khi gia nhập ngành, quyền thương lượng của các nhàcung cấp và người tiêu dùng cũng như mức độ giới hạn của hàng hoá thay thế.Tất cả các yếu tố này sẽ tạo ra những cơ hội phát triển cho bản thân cácDNNVV trong từng thời kì khác nhau

Nhưng bản thân mỗi DNNVV có thể thành công được hay không cònphụ thuộc vào các yếu tố nội tại của từng doanh nghiệp như kĩ năng quản lý

và điều hành kinh doanh của các chủ doanh nghiệp, số lượng và trình độ nhâncông, trình độ máy móc thiết bị và công nghệ, mô hình tổ chức các hoạt độngsản xuất…

Đây chính là các yếu tố nội tại bên trong của bản thân mỗi doanhnghiệp, các yếu tố này tạo nên điểm mạnh điểm yếu của mỗi doanh nghiệp.Mặc dù các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể có cùng cơ hội phát triểnnhưng khả năng nắm bắt các cơ hội khác nhau đã tạo ra sự khác nhau của

Trang 9

từng doanh nghiệp và cả cộng đồng DNNVV trong từng thời kì phát triểnkhác nhau của đất nước

II Môi trường đầu tư

1.Khái niệm

Môi trường đầu tư là tổng hoà các nhân tố tự nhiên, kinh tế, chính trị,

xã hội có tác động tới hoạt động đầu tư

Trong một nền kinh tế, các nhân tố trên có thể tác động riêng rẽ hoặc đachiều tới hoạt động đầu tư Chính vì vậy các yếu tố quyết định sức hấp dẫncủa một môi trường đầu tư chính là ở chính sách và môi trường kinh tế

2.Các yếu tố cơ bản của môi trường đầu tư.

2.1.Các yếu tố tự nhiên và kinh tế

Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên

Đây là những ưu đãi vốn có của một quốc gia, trong đó tài nguyên thì

có thể cạn kiệt và vị trí địa lý có ưu thế lâu dài hơn

Trong lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới,ví dụ như cácquốc gia công nghiệp lâu đời Anh, Pháp, Đức, Mỹ đều dựa vào nguồn tàinguyên đa dạng và phong phú của mình Trong công cuộc công nghiệp hoángày nay các quốc gia Đông Nam Á cũng phải tích cực khai thác nguồn tàinguyên thiên nhiên của mình để tích luỹ vốn trong thời kì đầu của quá trìnhphát triển Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ như Nhật Bản làmột đất nước nghèo tài nguyên nhưng có sức mạnh kinh tế vào bậc nhất thếgiới Điều đó chứng tỏ tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhưng không phải làyếu tố sống còn, điều đó càng đúng khi mà nền kinh tế thế giới đang trongquá trình chuyển từ thâm dụng vật liệu sang thâm dụng thông tin

Ưu thế địa lý của một quốc gia còn thể hiện ở chỗ quốc gia đó có nằmtrong khu vực phát triển kinh tế sôi động không, có giao lộ của các tuyến giaothông quốc tế không và tại đó có kiểm soát được vùng rộng lớn không.Mộtquốc gia có vị trí như vậy có nghĩa là quốc gia đó được hưởng lợi từ các dòngthông tin, các trào lưu phát triển mới, thuận lợi cho việc chu chuyển vốn, vậnchuyển sản phẩm và hưởng địa tô nếu nằm ở vị trí chiếm lược

Đối với các nhà đầu tư thì các ưu đãi thiên nhiên đó là những nơi có cơhội làm ăn nhiều hơn, mức sinh lợi cao hơn

Trang 10

Phong tục tập quán : Trong một môi trường đầu tư của một quốc gia nếu các

nhân tố như hệ thống pháp luật, các chính sách kinh tế là những nhân tố làmyên tâm các nhà đầu tư thì khi nghiên cứu mức độ hấp dẫn của môi trườngđầu tư đó người ta không thể không xét đến các yếu tố về phong tục tập quáncũng như lối sống của bộ phận dân cư trong môi trường ấy.Các yếu tố này lànhững tín hiệu đầu tiên thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trước khi họ quyếtđịnh đầu tư Phong tục tập quán và lối sống là một bộ phận quan trọng trongnghiên cứu Maketing của các công ty khi tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm củamình.Hơn nữa ngay cả khi thâm nhập được thị trường thì những phong tụctập quán này vẫn có ảnh hưởng quan trọng, chúng không chỉ liên quan đến sựtồn tại của sản phẩm đó trên thị trường còn là nhân tố giúp công ty củng cốđịa vị trên thị trường trước những đối thủ cạnh tranh nếu như sản phẩm củacông ty có sự phù hợp nào đó đối với với các phong tục tập quán này

Dân số: Khi xem xét dân số của một quốc gia như là một nhân tố của môi

trường đầu tư người ta phải xem xét trên cả hai phương diện đầu vào và đầu

Trên góc độ đầu vào, một quốc gia có dân số trẻ tức là có một nguồnlao động dồi dào, tuy nhiên chất lượng lao động mới là yếu tố có tính cạnhtranh mạnh mẽ Đối với các nhà đầu tư thì nguồn nhân lực chất lượng caođồng nghĩa với năng suất lao động cao, tính sáng tạo đổi mới sản phẩm lớn và

có ưu thế cạnh tranh lớn hơn Còn đối với một nền kinh tế, các nhà kinh tếhọc đều cho rằng việc phát triển nguồn nhân lực càng mạnh có tác dụng thúcđẩy nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh và ngược lại tốc độ tăng trưởng cao

có tác dụng chi phối trở lại một cách tích cực đối với hầu như tất cả các nhân

tố của môi trường đầu tư

Cơ sở hạ tầng: Bao gồm mạng lưới giao thông, mạng lưới thông tin liên lạc,

Trang 11

vụ sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ đời sống nhân dân như hệ thốngcảng biển, cảng hàng không, trường học…

Cơ sở hạ tầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp giảm chi phígián tiếp trong sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư.Thực tế phát triển tạicác quốc gia khác nhau cũng như tại các vùng trong một quốc gia cho thấycác dòng vốn đầu tư chỉ đổ vào nơi nào có cơ sở hạ tầng phát triển đủ khảnăng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư

Mạng lưới giao thông phục vụ cho việc cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sảnphẩm, quan trọng nhất là các đầu mối giao thông tiếp giáp với thế giới nhưcảng biển, cảng hàng không Một mạng lưới giao thông đa phương tiện vàhiện đại sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được các hao phí chuyên chở không cầnthiết

Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bốicảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cả các biến độngtrên thị trường ở mọi nơi được truyền tải liên tục trên thế giới Chậm trễ trongthông tin liên lạc có nghĩa là đánh mất cơ hội làm ăn Các nhà đầu tư thườngđánh giá môi trường đầu tư hấp dẫn là môi trường có hệ thống thông tin liênlạc và cước phí rẻ

Các dịch vụ cung cấp năng lượng và nước sạch đảm bảo cho việc sản xuấtquy mô lớn và liên tục, các dịch vụ này bị gián đoạn có nghĩa là chi phí cơ hộicho nhà đầu tư tăng lên

2.2.Môi trường chính trị xã hội

Tình hình chính trị xã hội có ảnh hưởng lớn đến các nhà đầu tư Nềnchính trị xã hội tại một quốc gia khi xét dưới góc độ của môi trường đầu tưđược xem xét dưới hai khía cạnh: Sự ổn định chính trị và cơ chế vận hành của

bộ máy Nhà nước trong nền chính trị xã hội đó

Sự ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết cho các hoạt động kinh tế, sự ổn

định chính trị trước hết tạo sự an tâm cho các nhà đầu tư về tài sản và thậmchí là cả tính mạng của họ Một quốc gia có nội chiến không bao giờ có thể cómôi trường đầu tư tốt Môi trường chính trị xã hội ổn định cũng là điều kiện

để một quốc gia thiết lập các mối quan hệ với cộng đồng quốc tế cũng nhưvới các thiết chế tài chính, tín dụng, các tổ chức thương mại trên thế giới

Trang 12

Cơ chế vận hành bộ máy nhà nước là kết quả trực tiếp của hệ thống kinh tế,

chính trị, xã hội Dưới con mắt của các nhà đầu tư thì đó là việc cơ chế vậnhành có tạo điều kiện cho họ giải quyết nhanh chóng các thủ tục hành chínhtrong công việc đầu tư của họ hay không Do nó là kết quả của hệ thống kinh

tế chính trị xã hội nên bất kì một sự thay đổi nào trong ba thành tố trên cũngdẫn đến sự thay đổi trong cơ chế vận hành Bộ máy Nhà nước và sự thay đổinày cũng thể hiện mức độ đổi mới tư duy, linh hoạt theo thời của hàng ngũlãnh đạo cấp cao cũng như trình độ thích ứng của đội ngũ nhân sự làm việctrong các cơ quan Nhà nước nói chung

độ nhà đầu tư người ta mới quan tâm đến tính hấp dẫn và thông thoáng

Môi trường đầu tư tốt xét về mặt pháp luật phải là một môi trườngkhông chỉ hoàn thiện về pháp luật kinh tế mà đây là yêu cầu chung cho luậtpháp của tất cả các lĩnh vực khác vì các nhà đầu tư khi tham gia sản xuất kinhdoanh trên lãnh thổ của một quốc gia thì tất yếu bị điều chỉnh bởi các tất cảcác Bộ luật khác nhau.Tuy nhiên khi xem xét trên góc độ kinh doanh thuầntuý thì các nhà đầu tư quan tâm đến các vấn đề chính sau:

- Các vấn đề mang tính chất hành chính

Hệ thống pháp luật kinh doanh phải đầy đủ thống nhất, không chồng chéo

và công bằng, một số vấn đề phải được luật hoá và mang tính pháp lý cao.Cácvăn bản pháp luật khoa học, sát thực tiễn và phù hợp với yêu cầu, cần đượcđiều chỉnh bởi môi trường kinh doanh, tất nhiên việc cho ra đời một văn bảnluật có thể đem lại lợi ích cho người này và làm phương hại tới lợi ích củangười kia nhưng điều chủ yếu là mức độ gây hại phải được hạn chế ở mứcthấp nhất Các văn bản pháp luật phải có hệ thống văn bản hướng dẫn dưới

Trang 13

luật một cách cụ thể và rõ ràng giúp cho các nhà đầu tư hiểu và thực hiệnđúng các quy định của luật.

- Các vấn đề mang tính chất kinh tế

Thuế là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư vì nó liên quan tới cảđầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất Các khoản thuế và các mức thuếphải bao quát được tất cả các nhân tố phát sinh trong quá trình sản xuất kinhdoanh và phải hợp lý, tận thu nhưng phải nuôi dưỡng nguồn thu, cách tínhthuế phải khoa học và xét trong môi trường cạnh tranh thu hút đầu tư thì phải

có các quy định về miễn giảm thuế, các mức thuế ưu đãi

Các vấn đề nhập khẩu nguyên vật liệu, máy móc phải có quy định rõ ràngcác mặt hàng cấm nhập, các mặt hàng hạn chế nhập với mức thuế suất cao,các mặt hàng được ưu đãi miễn giảm thuế, hạn ngạch…

Các vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải đủ hấp dẫn các nhà đầu tưnhưng phải chặt chẽ để bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như bảo vệmôi trường sinh thái

Các vấn đề về lao động như tuyển dụng lao động, đào tạo lương tối thiểu,

sa thải, thuế thu nhập…Các quy định về vấn đề này vừa phải khuyến khích sửdụng lao động tại địa phương, khuyến khích đào tạo nâng cao trình độ của lựclượng lao động, vừa phải đảm bảo quyền lợi cho họ

Ngoài các vấn đề chi phối đầu vào còn các vấn đề chi phối đầu ra như cácquy định về xuất khẩu, các quy định về bảo vệ như bản quyền về nhãn mác,tên gọi…

Tuy nhiên có một vấn đề vô cùng quan trọng là hệ thống pháp luật phải

có tính linh hoạt để kịp thời đưa ra những điều chỉnh phù hợp với các biếnđộng của môi trường kinh doanh

2.4 Các chính sách kinh tế

Chính sách phát triển cơ cấu vùng : Các nhà đầu tư quan tâm chínhsách phát triển cơ cấu vùng nhằm đánh giá mức độ thuận lợi trong công việcsản xuất kinh doanh của họ qua các công cụ khuyến khích hay hạn chế pháttriển vùng

Chính sách trợ cấp với các khoản hỗ trợ đầu tư, các khoản vay ưu đãi…

Trang 14

Các ưu đãi về thuế được khu vực hoá như giảm thuế, giãn thuế đối vớicác địa điểm nhất định hay các quy định thuận lợi về khấu hao.

Chính sách cước giá theo vùng trong đó các doanh nghiệp được hưởng

ưu đãi khi sử dụng các tiện ích công cộng như điện nước sinh hoạt, cước viễnthông…

Công cụ thúc đẩy cuối cùng có thể là các đơn đặt hàng theo vùng, tức

là Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong vùng thực hiện các đơnđặt hàng với các ưu đãi

Các công cụ thúc đẩy này tuy có tác dụng tức thời và mạnh mẽ tuynhiên chúng không thể duy trì được lâu vì ngân sách nhà nước không thể bảotrợ cho doanh nghiệp mãi được mà đây chỉ là biện pháp trước tiên thu hút vàgiúp doanh nghiệp định hướng cũng như bước đầu giúp doanh nghiệp có thểcạnh tranh.Vấn đề quan trọng là các ưu đãi này phải tạo ra được các thuận lợimang tính chất là kết quả gián tiếp, ví dụ cơ sở hạ tầng được cải thiện, mứcsống dân cư trong vùng được nâng cao…

Ngoài các chính sách khuyến khích về mặt tài chính nói trên còn có cáccông cụ có tác dụng dài hạn như chính sách về cơ sở hạ tầng, nó có thể đượcchia thành chính sách phát triển hạ tầng liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp

ví dụ như xây dựng các khu công nghiệp, các công trình phụ trợ ngoài hàngrào hay chính sách phát triển hạ tầng nhằm nâng cao đời sống nhân dân nhưđưòng sá, trường học…Nhờ chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng mà các vùng

có thể thu hút thêm các nhà đầu tư cũng như lực lượng lao động có trình độcao.Tuy nhiên chính sách phát triển cơ sở hạ tầng với tư cách là một công cụthúc đẩy phát triển cơ cấu vùng gặp phải khó khăn to lớn là nó đòi hỏi cáckhoản đầu tư lớn, nhưng trong tương lai không biết các công trình này pháthuy tác dụng có như mong muốn hoặc việc thu phí tại các công trình hạ tầngnày nhằm thu hồi vốn đầu tư cũng khó mà thực hiện được

Ngoài các công cụ chính nêu trên còn có các công cụ mang tính chất hỗ trợnhư việc tăng cường thông tin hướng dẫn, các hoạt động tư vấn liên quan đếnphát triển vùng cho nhà đầu tư

2.5.Hệ thống ngân hàng tài chính.

Trang 15

Hệ thống ngân hàng tài chính được coi là các mạch máu của một môitrường kinh tế, vì vậy không một nhà đầu tư nào có thể bỏ qua hệ thống nàykhi xem xét mức độ an toàn của môi trường đầu tư.

Nhìn chung một hệ thống ngân hàng được đánh giá trên các góc độ sau:

- Chặt chẽ và khoa học về mặt cơ cấu tổ chức thể hiện ở chỗ cơ chế liên hệgiữa hệ thống các ngân hàng thương mại và ngân hàng Trung ương, giữacác ngân hàng thương mại với nhau và với các trung gian tài chính khácphải tạo điều kiện cho toàn bộ hệ thống hoạt động một cách thuận lợi saocho ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được hoạt động của các ngânhàng thương mại và các trung gian tài chính khác nhưng không can thiệpquá sâu vào hoạt động của các tổ chức này.Cơ chế này cũng phải bảo đảmcho các ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính có quan hệtương hỗ với nhau trong các hoạt động nghiệp vụ của mình

- Đa dạng hoá các kênh chuyển tải vốn thể hiện ở sự có mặt đầy đủ của các

tổ chức tín dụng đựoc thành lập dưới các hình thức khác nhau như cáccông ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các quỹ tiết kiệm

- Hệ thống hỗ trợ về mặt kĩ thuật phải đủ hiện đại đáp ứng được nhu cầugiao dịch với khối lượng lớn và tốc độ cao

- Cơ chế vận hành phải tạo được sự thông thoáng cho các hoạt động kinh tếnói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nói riêng

và do đó nó tác động thế nào đến công việc sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, từ đó doanh nghiệp có các biện pháp thích hợp và phòng chống rủi rođối với các các biến động đó Các chỉ tiêu trên hoàn toàn không hoạt độngriêng rẽ mà chúng có sự tác động tưong hỗ rất phức tạp cả trong ngắn hạn vàdài hạn Điều quan trọng khi đánh giá một môi trường kinh tế có hấp dẫn haykhông là ở chỗ khi mà doanh nghiệp phải hoạt động trong một nền kinh tế tồn

Trang 16

tại cơ hội và nguy cơ thì cơ chế hoạt động của nền kinh tế đó cũng như Chínhphủ điều hành nền kinh tế cố gắng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hạn chếnguy cơ và rủi ro hay không Nói cách khác ở tầm vĩ mô các doanh nghiệpnói chung và các nhà đầu tư nói riêng sợ nhất là chu kì kinh doanh, và các chỉtiêu trên sẽ cho thấy các phương sách của Chính phủ có đủ hiệu quả để giảmbớt sự thất thường của chu kì kinh doanh hay không

Khi đánh giá môi trường kinh tế, trên góc độ nhà đầu tư thì về mặt dàihạn nhiệm vụ quan trọng nhất mà Chính phủ phải làm là làm thế nào để chu

kì kinh doanh có biên độ nhỏ nhất, tức là các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng,lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất biến động nhỏ nhất để cho các tính toán banđầu của nhà đầu tư không bị đảo lộn và các kế hoạch dài hạn của họ thànhcông

Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Đây là một chỉ tiêu tổng quát nhất khi đánh giá

sức khoẻ của một nền kinh tế Khi nhìn một quốc gia có mức tăng trưởng caotrong một thời gian dài, rõ ràng đây là một tín hiệu hấp dẫn không chỉ đối vớicác nhà đầu tư đang mong muốn nhập cuộc mà cả đối với các nhà đầu tư đanghoạt động vì tăng trưởng cao đồng nghĩa với nhu cầu và khả năng thanh toánngày càng tăng lên Hơn nữa đối với các nhà đầu tư đang chuẩn bị nhập cuộcthì tốc độ tăng trưởng cao chứng tỏ nền kinh tế này đang được điều chỉnh bởicác giải pháp có hiệu quả và một môi trường như vậy là đáng tin cậy

Tăng trưởng cao cũng báo hiệu rằng trong dài hạn quốc gia này đang phảiđối mặt với sức ép lạm pháp ngày càng nhích dần lên và đối với nhà đầu tư họphải đặt ra câu hỏi rằng liệu Chính phủ có khả năng và biện pháp tối ưu đểkìm chế sức ép gia tăng lạm phát này hay không, nếu không về dài hạn lạmphát cao có thể làm đảo lộn mọi tính toán ban đầu của họ

Mức lạm phát: Mức lạm phát cũng chứa đựng nhiều yếu tố mang tính chất dự

đoán các động thái của Chính phủ cũng như của thị trường Tất nhiên mộtmức lạm phát thấp sẽ là lý tưởng đối với các nhà đầu tư vì nó làm cho tài sảncủa họ ít bị xói mòn hơn Một mức lạm phát cao và kéo dài có thể báo hiệurằng nền kinh tế đang dần đi vào giai đoạn suy thoái của chu kì kinh doanhkhi mà giá cả tăng cao làm cho tiền lương thực tế giảm đi và kết quả là giảm

Trang 17

cuộc hay không còn các nhà đầu tư đang hoạt động thì tiếp tục dự đoán Cácnhà kinh tế cũng chứng minh được rằng khi mức lạm phát tăng thì cũng kéotheo lãi suất tăng

Tỷ giá hối đoái : Các quốc gia có chiến lược công nghiệp hoá và hiện đại hoá

đều mong muốn khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực xuất khẩu Các nhà đầu tưđều mong muốn có một tỷ giá thấp ổn định sao cho có lợi cho hoạt động xuấtkhẩu Tuy nhiên cũng như các biến số kinh tế vĩ mô khác thì tỷ giá hối đoáicũng thay đổi theo thời gian, tính hấp dẫn của môi trường đầu tư khi xem xéttrên phương diện này là ở chỗ, tỷ giá hối đoái có dễ bị tác động không và khi

nó giao động Chính phủ có khả năng can thiệp để giữ ổn định hay không

Cán cân thanh toán : Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức độ ổn

định của môi trường đầu tư Cán cân thanh toán thâm hụt hay thặng dư quálớn đều không tốt đối với mỗi nền kinh tế Bởi vì điều đó có nghĩa là cácChính phủ đều phải tài trợ cho các khoản thặng dư hay thâm hụt đó khiến cho

tỷ giá hối đoái lên xuống thất thường

Trang 18

Chương 2: Thực trạng môi trường đầu tư ở Việt Nam

đối với sự phát triển của DNNVV

I Thực trạng môi trường đầu tư ở Việt Nam đối với sự phát triển của DNNVV

Chiếm trên 96% số doanh nghiệp đăng kí và hoạt động theo luật doanhnghiệp và 99% tổng số cơ sở sản xuất kinh doanh của cả nước, nếu xét riêngtừng loại doanh nghiệp thì DNNVV không có được lợi thế về mặt kinh tế nhưcác doanh nghiệp lớn, song về tổng thể các DNNVV đóng vai trò cực kì quantrọng trong việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển và có ý nghĩa thenchốt trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạoviệc làm, phát triển đồng đều giữa các khu vực trong cả nước…Do vậy màviệc cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư của khu vực DNNVV đã đượcthực hiện một cách mạnh mẽ trong thời gian qua,và đã đạt được những thànhtựu nhất định.Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những tồn tại đã hạn chế đầu tưcủa doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.Vị trí địa lý và nguồn tài nguyên thiên nhiên

Nước ta có tiềm năng tài nguyên mặt đất, trong lòng đất, dưới mặt nướcphong phú đa dạng phù hợp với nhu cầu phát triển KTXH Việt Nam có bờbiển dài 3200km với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nguồn tài nguyênnước dồi dào Bên cạnh đó chúng ta lại có một lượng đáng kể về dầu mỏ,bôxit, hải sản, là những nhân tố quan trọng thúc đẩy các nhà đầu tư thực hiệnhoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Tuy vậy tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam có trữ lượng không lớn

và phân bố rải rác Theo đánh giá chỉ số trữ lượng kim loại của Việt Nam là0,01 trong khi đó của Thái Lan là 0,47, của Philippin là 0,03 …Đất canh tácchỉ chiếm 21% lãnh thổ và 0,11ha/người, chỉ bằng 33% mức bình quân trênthế giới Đặc biệt đối với tài nguyên rừng, tuy chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiêncủa toàn quốc nhưng tốc độ mất rừng của Việt Nam cao nhất trong khu vực2,8%, trong khi đó của Thái Lan là 0,6%, Malaysia là 1,2%…

Trang 19

Như vậy Việt Nam có thế mạnh về địa lý và tài nguyên thiên nhiên,song lợi thế này sẽ mất dần đi quá trình phát triển Do vậy cần tích cực cảithiện môi trường đầu tư khác trong thời gian tới khi mà lợi thế tài nguyêngiảm đi

2 Môi trường chính trị xã hội

Các DNNVV Việt Nam đang hoạt động trong một môi trường ổn định vềchính trị, đây là một điều hết sức quan trọng đối với các nhà đầu tư vì mỗi sựthay đổi trong hệ thống chính trị sẽ tạo nên các thể chế kinh tế mới nhằmphục vụ cho lợi ích của hệ thống chính trị đó.Trong những năm vừa qua thìViệt Nam được coi là một trong những nước có môi trường chính trị ổn địnhnhất thế giới

Tuy nhiên tình trạng tham nhũng đang đe doạ sự ổn định xã hội và sự pháttriển kinh tế nói chung và làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DNNVVnói riêng Các doanh nghiệp cho rằng đấu tranh chống tham nhũng là hànhđộng cấp bách nhất mà Chính phủ cần tiến hành trong thời gian tới vì thamnhũng có thể làm tăng chi phí kinh doanh cũng như làm méo mó các chínhsách phát triển kinh tế Theo một điều tra của ban nội chính Trung ương thìtham nhũng hiện đang lan tràn ở các lĩnh vực như cung cấp cơ sở hạ tầng,quản lý đất đai, thuế…Một loạt những vụ tham nhũng ở các bộ ngành vàTổng công ty được phát hiện trong năm qua một mặt thể hiện quyết tâmchống tham nhũng của Chính phủ, mặt khác thể hiện mức độ trầm trọng vàảnh hưởng tiêu cực của tệ nạn này tới môi trường đầu tư chung của các doanhnghiệp

DNNVV, đặc biệt là khối doanh nghiệp dân doanh ra đời trong bối cảnhkhông được sự ủng hộ của các yếu tố văn hoá truyền thống, mặc dù nguồn laođộng của Việt Nam rất lớn nhưng nhiều người lao động có tâm lý không thíchlàm việc ở các DNNVV hoặc chỉ muốn làm việc tại các doanh nghiệp nàytrong thời gian ngắn làm bước đệm cho sự phát triển nghề nghiệp của mìnhtrước khi đến được với doanh nghiệp lớn hơn, không những thế người tiêudùng cũng có tâm lý e ngại tiêu dùng những hàng hoá của DNNVV sản xuất

do chưa thật tin tưởng vào chất lượng hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệpnày cung cấp

Trang 20

Sự phát triển văn hoá giáo dục và tốc độ tăng dân số tương đối cao của ViệtNam hiện nay sẽ tạo ra cho các DNNVV nguồn lực lao động dồi dào, có tríthức và một thị trường tiêu thụ sản phẩm tiềm năng lớn.Không những thế mứcsống tăng cao làm tăng sức mua của thị trường và tạo ra nhu cầu mới, mở ra

cơ hội đầu tư cho các DNNVV trong việc khai thác các thị trường ngách và

mở ra các ngành sản xuất dịch vụ mới thoả mãn nhu cầu của người dân

3 Về khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư

Thời gian vừa qua Quốc hội,Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã banhành nhiều cơ chế chính sách mang tính khuyến khích cao, từng bước xoá bỏrào cản để tăng cường thu hút mọi nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tưnhân Dưới đây phân tích một số chính sách cơ bản liên quan đến thu hútđầu tư trong nước và một số bất cập của các chính sách này

3.1.Luật Doanh nghiệp 1999

Kể từ khi có hiệu lực, Luật doanh nghiệp được đánh giá là bước đột phátrong cải cách kinh tế nói chung và cải thiện môi trường đầu tư nói riêng ởViệt Nam Luật doanh nghiệp khuyến khích việc thành lập doanh nghiệpthông qua quy định không yêu cầu vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp( trừ các công ty trong lĩnh vực tài chính), nhờ đó giảm bớt số lượng thànhviên và cổ đông tối thiểu đối với công ty cổ phần, bên cạnh đó luật doanhnghiệp còn thay đổi quan điểm từ việc nhà nước cho phép các doanh nghiệphoạt động trong một số lĩnh vực sang việc doanh nghiệp có thể hoạt độngtrong mọi lĩnh vực mà nhà nước không cấm Điều này giúp nâng cao tínhcông bằng và bình đẳng trong kinh doanh và thể chế hoá nguyên tắc công dânViệt Nam hoàn toàn được tự do đăng kí kinh doanh phù hợp với pháp luật.Kết quả là nhờ sự đơn giản hoá trong việc cấp giấy phép bằng việc bãi bỏ 150văn bản và thực hiện hệ thống đăng kí một cửa, giảm các thủ tục đăng kí từyêu cầu 20 văn bản trong hồ sơ đăng kí kinh doanh xuống 3 văn bản và thờigian tối đa cho việc cấp giấy phép kinh doanh là 15 ngày đã làm nên sự khácbiệt trong đời sống kinh tế nhiều mặt như giải phóng tư duy và sức sáng tạo

về ý tưởng kinh doanh và phương thức tổ chức kinh doanh, số lượng doanhnghiệp và số vốn đầu tư đã liên tục tăng nhanh

Trang 21

Từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực thì doanh nghiệp nhỏ và vừa đã phát

triển vượt bậc cả về số lượng, chất lượng, tham gia hầu hết vào các ngành lĩnhvực của nền kinh tế, ngày càng huy động nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh

tế xã hội Tuy nhiên trong quá trình hoạt động thì Luật doanh nghiệp vẫn cònnhững tồn tại, và nó đã phần nào cản trở sự phát triển của các DNNVV.Mặc

dù Luật doanh nghiệp đã đơn giản hoá quy trình đăng kí đối với doanh nghiệp

và thủ tướng Chính phủ đã quyết định bãi bỏ hiệu lực 150 văn bản nhưng còn

có nhiều văn bản pháp quy bổ sung được ban hành kể từ năm 2000, trong đóđặt ra các quy định về giấy phép bổ sung, hoặc điều kiện hoạt động…đối vớimột số lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, bên cạnh đó có một số địa phương cònban hành những quy định cấm đăng kí kinh doanh đối với một số lĩnh vựcnhư khách sạn, nhà hàng …

Thủ tục và chi phí gia nhập thị trường bao gồm chi phí thời gian và tiền bạcvẫn còn cao Theo quy định hiện hành, ở trường hợp đơn giản nhất, để hoànthành thủ tục gia nhập thị trường doanh nghiệp phải tiến hành 4 bước tại 3 cơquan khác nhau ( gồm ĐKKD, khắc dấu, đăng kí mã số thuế và mua hoá đơntài chính) và để hoàn tất 4 bước nói trên trung bình phải mất 50 ngày với chiphí khoảng gần 2 triệu đồng ( nếu qua các doanh nghiệp dịch vụ thì chi phínày còn cao hơn nhiều) Ngoài ra còn phải đăng báo trên 3 số liên tiếp vềnhững nội dung ĐKKD chủ yếu, với chi phí từ 600-750 nghìn đồng tuỳ thuộcvào địa phương và tờ báo Như vậy tổng chi phí gia nhập thị trường đối vớitrường hợp tốt nhất ở nước ta vào khoảng từ gần 3 triệu (chưa kể thuế mônbài) Nhìn chung gia nhập thị trường với chi phí cao, đang có biểu hiện tănglên đã có tác động không tốt đến môi trường đầu tư của nước ta trong thờigian gần đây

3.2.Chính sách tài chính.

Chính sách tài chính là hệ thống các chính sách nhằm huy động vốn trongnền kinh tế nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, bao gồm: Chínhsách thuế,chính sách tài chính công và chính sách khuyến khích đầu tư trongnước

Trang 22

3.2.1.Chính sách thuế

Đây là một trong những công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng củaChính phủ trong nền kinh tế thị trường Do đó đồng thời với việc chuyển đổinền kinh tế trong thời gian qua, Chính phủ đã quan tâm đến việc không ngừngcải thiện chính sách thuế cho phù hợp với sự phát triển kinh tế trong từng thời

kì Nội dung đổi mới chính sách thuế bao gồm: chuyển từ hệ thống thu quốcdoanh sang hệ thống thu thuế thống nhất cho tất cả các thành phần kinh tế làmcho thuế thực sự là công cụ điều tiết tác động đến tất cả các thực thể kinh tế

có mặt trên thị trường Chính phủ đã ban hành và áp dụng một số chính sáchgiảm thuế cho các đối tượng được khuyến khích đầu tư, bên cạnh đó chínhphủ còn sử dụng nhiều chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích DNNVV pháttriển Tuy vậy chính sách thuế hiện hành còn nhiều bất cập, thể hiện ở một sốđiểm sau:

- Một số quy định về thu thuế không rõ ràng khiến cho cán bộ thuế có thể giảithích vận dụng các khung thuế khác nhau đối với cùng đối tượng nộp thuế.Điều này tạo ra khe hở dẫn đến việc các DNNVV hay trốn thuế Theo đánhgiá của Bộ tài chính thì tình trạng trốn thuế của doanh nghiệp tư nhân là rấtnghiêm trọng, còn các doanh nghiệp tư nhân thì cho rằng nếu họ thực hiệnnghiêm chỉnh chế độ nộp thuế theo quy định thì sẽ không có doanh nghiệpnào còn tồn tại

- Các quy định về thuế và việc thực hiện thu nộp thuế còn nhiều bất hợp lý,nặng về cơ chế thu, chưa có cơ chế động viên và bồi dưỡng các nguồn thu.Nhà nước đã có nhiều lần sửa đổi chính sách thuế nhưng cho đến nay thuếsuất vẫn còn cao và còn có nhiều khoản thu ngoài thuế.Hay nói cách khácchính sách thuế chưa thực sự thể hiện quyền lợi của người nộp thuế mà chỉnhấn mạnh đến các nghĩa vụ của người nộp thuế,chưa có doanh nghiệp tựgiác nộp thuế để tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

- Một số quy định về thuế gây khó khăn trong kinh doanh,ví dụ như thời hạnnhập khẩu nguyên liệu là 3 tháng nhưng có những nguyên vật liệu nhập về đểsản xuất trong 1 năm hoặc 6 tháng, hoặc thuế môn bài áp dụng cho các doanhnghiệp vẫn còn quá cao vì có nhiều doanh nghiệp kinh doanh với quy mô nhỏ

Trang 23

- Các quy định về thuế vẫn còn rườm rà, rắc rối, đặc biệt là thời gian hoànthuế VAT chưa phù hợp với từng đối tượng doanh nghiệp và gây khó khăncho DNNVV vì đặc điểm của các loại hình doanh nghiệp là khác nhau.

- Bên cạnh đó các DNNVV cũng gặp thiệt thòi vì các chính sách thuếthường tập trung vào thu hút đầu tư nước ngoài hơn là thu hút đầu tư trongnước

3.2.2.Chính sách tài chính công

Bên cạnh chính sách thuế, chính sách tài chính công cũng là một trong cácchính sách cơ bản tác động đến đầu tư của DNNVV Vai trò của chính sáchtài chính công được đánh giá như là một chính sách tài chính nhằm điều chỉnhnhững sự không công bằng giữa các loại hình kinh tế Thông qua đầu tư vàocác công trình công cộng như cơ sở hạ tầng, đường xá, điện nước, viễnthông…chính phủ sẽ giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí và kinh doanhthuận lợi hơn

Một trong những lĩnh vực mà chính sách tài chính công có thể đầu tư rấthiệu quả là cải thiện bộ máy và hệ thống quản lý hành chính, nâng cao việccung cấp dịch vụ công ở nước ta Thái độ của cán bộ nhà nước khi cung cấpcác dịch vụ công vẫn cửa quyền và mang nặng tính ban ơn cho doanh nghiệpchứ không phải cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp Do vậy mà bản thândoanh nghiệp ngại tiếp xúc với cơ quan hành pháp.Trong thời gian tới thìchính sách tài chính công cần có đầu tư thích đáng vào việc nâng cao hiệu quả

và hoàn thiện hệ thống cung cấp dịch vụ công, tạo môi trường hành chínhthuận lợi hơn nữa cho Doanh nghiệp

3.2.3 Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước.

Thực tế những năm qua cho thấy hệ thống chính sách khuyến khích đầu tưtrong nước đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nước,thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế trong đó có DNNVV

Luật khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành 1994 và được sửa đổi

1998 đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của các thành phầnkinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân Kể từ năm 1996 cho đến hếtnăm 2004 số lượng dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã tăngnhanh một cách đáng kể Đến năm 2004 cả nước đã có 15443 dự án được cấp

Trang 24

giấy chứng nhận ưu đãi, với tổng số vốn đầu tư thực hiện lên đến 237720 tỷđồng, thu hút 1.895.884 lao động Tính bình quân mỗi dự án có số vốn đầu tưkhoảng 15,2 tỷ đồng và thu hút 120 lao động.

Bảng 2: Kết quả thực hiện Luật KKĐT trong nước-1996/2004

Năm

Số lượng

Tỷ trọng

Tỷ đồng Tỷ trọng

(%)

Số người

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư

Nhờ thực hiện luật khuyến khích đầu tư trong nước mà số lượng dự án ưuđãi đã tăng dần qua các năm, từ 1389 dự án năm 1996-1997 đã tăng lên 2805

dự án năm 2004, về tỷ trọng trong tổng số dự án đã tăng từ 8,9% (1996-1997)lên 18,3% năm 2004

Về số vốn đầu tư năm 2004 đạt 45.236 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18,9 %trong khi đó giai đoạn 1996-1997 số vốn đầu tư chỉ có 19.051 tỷ đồng chiếm8,1%

Đánh giá chung, cho đến nay số lượng dự án được cấp GCNƯĐĐT cùng sốvốn đầu tư cũng như số lượng lao động đã tăng gấp nhiều lần so với nhữngnăm đầu thực hiện Luật Cụ thể là số lượng dự án tính trung bình đã tăng gấp

9 lần, số vốn đầu tư tăng gấp 9,1 lần và số lao động đã tăng 26,1 lần

Điểm nổi bật trong việc cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đó là số lượng

dự án thuộc khu vực DNNVV đã tăng nhanh.Giai đoạn 1996-1997 số lượng

dự án thuộc khu vực này chỉ là 524 dự án ( chiếm 37,7% số dự án), đến năm

2004 thì con số này đã lên tới 9.773 dự án với số vốn thực hiện lên tới108.841 tỷ đồng, bình quân một dự án có vốn đầu tư trên 11,1 tỷ đồng và thu

Trang 25

hút 125 lao động Đến nay tỷ trọng đầu tư của khu vực này liên tục tăng vàvượt lên hẳn tỷ trọng đầu tư của DNNN, tương ứng là 62% và 38%.

Mặt khác trong giai đoạn 1996-2004 số lượng dự án do các địa phương cấpgiấy chứng nhận ưu đãi đã tăng lên nhanh chóng, cụ thể số dự án đã tăng 16,7lần và số vốn đầu tư đã tăng 31,7 lần Điều này cho thấy khu vực kinh tế tưnhân ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế thông qua cơ cấu vốn đầu tư

và tạo việc làm của khu vực này Theo kết quả báo cáo của các địa phương cơcấu vốn đầu tư trung bình của một dự án thuộc khu vực kinh tế này trong giaiđoạn 1996-2004 đã tăng từ 4,5 tỷ lên 11,1 tỷ

Bảng 3: Cơ cấu ưu đãi đầu tư theo loại hình doanh nghiệp do

địa phương cấp (1996-2004)

Loại hình DN

Dự án ưu đãi Số vốn thực hiện Số lao động

Số dự án

Tỷ trọng (%)

Tổng vốn(tỷ.đ )

Tỷ trọng ( %)

Số lượng (người)

Tỷ trọng (%)

Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư

Số lượng dự án của hộ kinh doanh được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư

đã tăng 12 lần kể từ năm 1996 cho đến cuối năm 2004, cả về quy mô vốn đầu

tư cũng như quy mô tạo việc làm Nhưng nếu so với 2,4 triệu hộ kinh doanhđang hoạt động trong cả nước thì 598 giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư là quá ítỏi

Trong giai đoạn 1996-2004 đã có 6996 dự án được hưởng theo ngành nghề

ưu đãi đầu tư thuộc danh mục A do địa phương cấp, với số vốn đầu tư là63.135 tỷ đồng, thu hút 789.069 lao động Số dự án đầu tư cũng như số vốnđầu tư tập trung nhiều nhất ở các dự án xây dựng dây chuyền sản xuất, mở

Trang 26

rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện sinh thái và môi trường vệ sinh đôthị đã chiếm 41% tổng vốn đầu tư và 32% tổng số lao động trong ngành nghề

ưu đãi đầu tư Đây là tín hiệu tốt khi các doanh nghiệp dân doanh tự đổi mớinâng cao khả năng cạnh tranh

Số liệu tổng hợp cho thấy hầu hết các dự án được hưởng ưu đãi của cácDNNN đầu tư thuộc danh mục A ( chiếm 96% số dự án của các DNNN do BộKHĐT xét cấp và 80% dự án của DNNN do địa phương cấp) chỉ có 18% sốlượng dự án và vốn đầu tư của DNNN được đầu tư vào địa bàn khó khăn vàđặc biệt khó khăn, ít hơn nhiều so với khu vực kinh tế dân doanh ( tỷ lệ tươngứng là 1:3 và 1:4) Điều này chỉ ra một thực tế là chính khu vực kinh tế tưnhân chứ không phải là kinh tế nhà nước đang và sẽ là lực lượng chính có khảnăng đưa các địa bàn khó khăn và đặc biệt khó khăn phát triển

Tuy nhiên qua quá trình thực hiện các chính sách khuyến khích đầu tư chothấy vẫn còn có những bất cập, cản trở DNNVV tiếp cận hệ thống chính sáchkhuyến khích đầu tư trong nước

- Hệ thống chính sách ưu đãi đầu tư còn dàn trải, quá phức tạp,khập khiễng

và chồng chéo, thể hiện nhiều loại, nhiều cấp văn bản khác nhau

- Chưa thực sự khuyến khích DNNVV đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp.Sốlượng doanh nghiệp tập trung đầu tư vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ đờisống vẫn còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu đầu tư

- Các quy định về khuyến khích và ưu đãi đầu tư vẫn chưa thực sự đi vàothực tiễn do thủ tục còn phiền hà và vẫn có sự phân biệt đối xử trong cấp ưuđãi đầu tư.Nhiều doanh nghiệp biết đến các quỹ như quỹ hỗ trợ phát triển…nhưng vẫn chưa biết cách tiếp cận các quỹ này như thế nào Trong khi đónhiều doanh nghiệp chỉ vì muốn nhận được vốn hỗ trợ từ các quỹ này đã phảitách doanh nghiệp hoặc thành lập những doanh nghiệp mới gây phân tánnguồn lực doanh nghiệp

- Thiếu định hướng phát triển dài hạn cho các ngành công nghiệp, các chínhsách thiếu ổn định không nhất quán, không có cơ sở khoa học cho các nhà đầu

tư lựa chọn phương án đầu tư thuận lợi

Trang 27

Thành phần kinh tế dân doanh trong đó chủ yếu là các DNNVV ngày càngđược đối xử công bằng như các thành phần kinh tế khác và chiếm vị trí ngàycàng quan trọng trong các Nghị quyết, chính sách và pháp luật của Đảng vànhà nước.

Xuất phát từ vai trò quan trọng của DNNVV trong phát triển kinh tế quốcdân, chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triểnDNNVV trong đó đã xác định các chính sách trợ giúp phát triển DNNVVgồm trợ giúp đầu tư thông qua các biện pháp về tài chính, tín dụng; thành lậpquỹ bão lãnh DNNVV để bảo lãnh cho các DNNVV khi không có đủ tài sảnthế chấp, cầm cố, vay vốn, các địa phương tạo thuận lợi cho các DNNVV cómặt bằng sản xuất phù hợp, khuyến khích phát triển các khu cụm công nghiệpcho các DNNVV có mặt bằng sản xuất,khuyến khích các hình thức phát triểnthị trường và tăng khả năng cạnh tranh của DNNVV; thông qua các chươngtrình xúc tiến thương mại quốc gia trợ giúp xúc tiến xuất khẩu cho cácDNNVV; Chính phủ trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực choDNNVV; đẩy mạnh việc cung cấp thông tin về sản xuất kinh doanh cho cácDNNVV thông qua các ấn phẩm, internet; khuyến khích thành lập các vườnươm doanh nghiệp

Mặc dù có Nghị định trên là cơ sở pháp lý và định hướng hết sức quantrọng, song việc hỗ trợ DNNVV còn mới mẻ ở nước ta, trong khi nguồn lựcđang còn hạn chế, hệ thống pháp luật đang được hoàn thiện để đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, hơn thế nữa

là các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân hiện chưa đượcmột số cán bộ công chức các ngành và địa phương nhận thức đầy đủ do đóviệc triển khai thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Khi tiếp cận vấn

đề trợ giúp DNNVV có tính tổng thể như trên hầu như các Bộ, ngành và địaphương không xây dựng lộ trình các chính sách trợ giúp cụ thể và chưa có sựlựa chọn lĩnh vực ưu tiên ( ví dụ về sản xuất, chế tạo, chế biến nông sản, hảisản…rất cần thiết trợ giúp về kĩ thuật, công nghệ, khác với khu vực dịch vụthương mại), mức độ ưu tiên trợ giúp dàn trải nên việc triển khai thực hiệnlúng túng, kém hiệu quả và không đáp ứng được đòi hỏi của DNNVV

Trang 28

Ngoài ra còn hàng loạt các Văn bản pháp luật có liên quan đã được ban hànhnhằm khuyến khích phát triển các DNNVV Việt Nam Đó là :

- Luật lao động cho phép các doanh nghiệp có quyền tuyển dụng laođộng trực tiếp thay cho việc phải thông qua các trung gian

- Các văn bản pháp luật liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá, cải tiếncác thủ tục hải quan

- Các luật khuyến khích đầu tư và xây dựng nhà cho thuê

- Luật và các điều khoản liên quan đến đất đai và thủ tục cấp quyền sửdụng đất, quy hoạch đô thị

- Luật và các điều khoản liên quan đến các thủ tục chuyển nhượng tàisản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất

- Các quy định và điều khoản liên quan đến việc miễn giảm thuế và hàngloạt các quy định khác được ban hành bởi các Bộ, ngành liên quan

4 Môi trường kinh tế vĩ mô

Với các thành tích đã đạt được trong thời gian qua, Việt Nam được đánhgiá là rất thành công trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với tốc

độ tăng trưởng tương đối nhanh và nền kinh tế vĩ mô tương đối ổn định

Cùng với chủ trương mở cửa nền kinh tế, Việt Nam cũng chủ trương

mở rộng thị trường vốn, cho phép các ngân hàng nước ngoài hoạt động tạiViệt Nam tạo điều kiện cho các ngân hàng cổ phần phát triển, do đó mà ngàycàng có nhiều nguồn vốn hơn cho các Doanh nghiệp vay đầu tư

Cân đối tích luỹ - tiêu dùng được cải thiện, tổng quỹ tiêu dùng vẫn tăngtrưởng khá, bình quân khoảng 6,2%/ năm, tiêu dùng bình quân theo đầu ngườităng gần 6% Nhờ đó mà tích luỹ của nhân dân được cải thiện đáng kể, Quỹtiết kiệm và tích luỹ tiếp tục được tăng nhanh để đảm bảo nguồn vốn phục vụđầu tư phát triển

Tài chính quốc gia có nhiều cải thiện, tổng thu ngân sách nhà nước tăngbình quân trên 15%, tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân hàngnăm đạt gần 23% GDP Nguồn thu ổn định từ sản xuất trong nước đã bướcđầu tăng, tổng chi ngân sách nhà nước tăng bình quân 14,9%/ năm, tỷ lệ chibình quân bằng 28% GDP, trong đó chi cho đầu tư phát triển bình quân đạt

Trang 29

Cân đối vốn đầu tư phát triển liên tục được cải thiện qua các năm,tỷ lệ huyđộng vốn đầu tư trong GDP tăng từ 34% năm 2001 lên 36,5% năm 2005,tổngvốn đầu tư trong 5 năm 2001-2005 tính theo giá năm 2000 vượt khoảng 16%

so với kế hoạch đề ra

5 Kết cấu hạ tầng cho thu hút đầu tư

Thời gian vừa qua, Chính phủ đã cố gắng trong việc thiết lập các kết cấu hạtầng tạo điều kiện cho thu hút đầu tư Mạng lưới kết cấu hạ tầng đã được phân

bổ hợp lý và chia tập trung cho 3 vùng kinh tế trọng điểm, động lực thúc đẩytăng trưởng cho các vùng lân cận

- Ngành điện: Đã có sự phát triển mạnh mẽ, nhiều nhà máy đã được xâydựng và đưa vào sử dụng đáp ứng nhu cầu điện năng cho các doanh nghiệpsản xuất được hiệu quả và không bị gián đoạn

Bảng 4: Sản lượng điện sản xuất theo nguồn

Nguồn

Sản lượng điện sản xuất ( triệu kWh )

Sản lượng điện của các

nhà máy thuộc EVN

Nguồn: Tổng công ty điện lực Việt Nam.

Nhìn vào bảng trên ta thấy rằng sản lượng điện sản xuất năm 2004 tăngvượt bâc so với năm trước và đảm bảo nguồn điện sản xuất cho các doanhnghiệp

- Hệ thống giao thông vận tải đường sắt đường bộ đã đảm bảo lưu thôngthông suốt an toàn Nhiều tuyến đường bộ đã được xây dựng mới và nâng cấphiện đại, đạt tiêu chuẩn kĩ thuật và công nghệ tiên tiến Hệ thống sân bay, bếncảng được nâng cấp mở rộng, giao thông đường thuỷ được tăng cường khaithông, tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại trong các hoạt động vận tảibốc dỡ

Việt Nam có một hệ thống giao thông với đầy đủ các phương thức vận tải:219.192 km đường bộ, 3.143 km đường sắt, 17.139 km đường sông đang khaithác, hơn 90 cảng biển lớn nhỏ và 52 sân bay Sau 15 năm đổi mới, được sựquan tâm của Đảng và Nhà nước, GTVT đã có những bước phát triển đáng

kể Trong giai đoạn 1997-2002, khối lượng hàng hóa vận chuyển được là 851

Trang 30

triệu tấn và 273 tỷ TKm, khối lượng vận tải hành khách là 4,3 tỷ HK và 151

tỷ HK.Km, khối lượng hàng hóa thông qua các cảng biển đạt 447 triệu tấn,tăng bình quân 15%/năm Chất lượng vận tải và dịch vụ vận tải được nânglên, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, chấm dứt tình trạng áchtắc vận tải, cung cấp hàng hóa chậm trễ thường diễn ra trong thời kỳ bao cấp Bằng nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như vay vốn ưu đãi ODA, nhiềucông trình giao thông đã được khôi phục, nâng cấp Trong giai đoạn 1997-

2004, với tổng vốn đầu tư XDCB được giao là 57.488,4 tỷ đồng, trong đó BộGTVT trực tiếp quản lý 54.051,1 tỷ đồng, ngành GTVT đã hoàn thành xâydựng mới và nâng cấp được 8.924 km quốc lộ, làm mới 61,4 km cầu đường

bộ, sửa chữa, đại tu và nâng cấp 1.253 km đường sắt, khôi phục và đại tu 8

km cầu đường sắt, mở rộng và nâng cấp hệ thống cảng tổng hợp quốc gia, cáctuyến đường thủy huyết mạch, hệ thống giao thông đô thị đã được cải thiệnmột bước, giao thông nông thôn có sự phát triển vượt bậc, làm thay đổi bộmặt nông thôn Nhiều công trình đã đi vào khai thác và phát huy hiệu quả rõrệt

Theo phân tích đánh giá của JBIC về các tác động sau khi hoàn thànhđường 5, thời gian đi lại giữa Hải Phòng và Hà Nội đã giảm còn ½, số lượngphương tiện tăng gấp 2, hàng hoá qua cảng Hải Phòng tăng lên 1,5 lần thời kì2001-2002, về tác động sau khi hoàn thành cầu Mỹ Thuận và nâng cấp quốc

lộ 1 thời gian đi lại từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Cần Thơ giảm từ 5 giờxuống còn 3,5 giờ…

- Hệ thống bưu chính viễn thông được hiện đại hoá, từ thành phố đến tỉnhhuyện đã được trang bị tổng đài điện tử và truyền dẫn kĩ thuật số, đảm bảothông tin thông suốt từ trung ương đến các xã trong mọi điều kiện thời tiết vàtình huống phức tạp Dịch vụ Internet phát triển mạnh, cung cấp kịp thời cácthông tin cần thiết và mở rộng giao lưu quốc tế

Trang 31

Nguồn: Bộ bưu chính viễn thông.

Qua số liệu trên có thể thấy số lượng điện thoại tăng vọt qua từng năm,tăng khối lượng thông tin được truyền tải, và rõ ràng là điều này đã tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong đó có các DNNVV trong hoạt độngkinh doanh của mình

Bên cạnh đó thì ở Việt Nam trong những năm gần đây sự tăng mạnh củadịch vụ internet cả về số lượng và chất lượng, làm cho các hoạt động củaDNNVV như tìm kiếm thị trường, giao dịch với các doanh nghiệp nướcngoài…được diễn ra một cách thuận lợi hơn Dưới đây là biểu đồ thể hiện sựtăng trưởng của số thuê bao internet :

Biểu đồ 2 : Tăng trưởng thuê bao Internet qua các năm

Nguồn : Bộ bưu chính viễn thông

Trang 32

- Hệ thống cung cấp nước sạch được nâng cấp và cải tạo, đầu tư mới đãđảm bảo cung cấp nước cho sản xuất của doanh nghiệp

Bên cạnh các thành tựu nói trên thì hệ thống kết cấu hạ tầng của ViệtNam vẫn còn tồn tại như yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của doanhnghiệp và làm cho chi phí đầu vào sản xuất cao hạn chế khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp

Bảng dưới đây so sánh 3 loại chi phí đầu vào tại Hà Nội và một sốthành phố ở Châu Á, qua đó cho thấy Việt Nam có chi phí cao nhất so với cácnước trong khu vực:

Thuê văn

Chi phí giao

Nguồn: JETRO- So sánh chi phí đầu tư tại các thành phố Châu Á- năm 2004

Giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng của Việt Nam cao hơn mức trung bình của cácnước trong khu vực,ví dụ so với cước điện thoại quốc tế cao hơn 136%, thuêbao điện thoại cố định cao hơn 91%, phí vận hành đối với tàu 1 vạn tấn tạicảng Sài Gòn là 40.000USD cao gấp đôi cảng ở Bangkok

Tuy giá cả cao nhưng chất lượng phục vụ các dịch vụ còn thấp và trong cácngành dịch vụ này tình trạng độc quyền vẫn duy trì điều này ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả đầu tư của các DNNVV

6 Các nguồn lực đầu vào

6 1 Vốn

Qua hơn 15 năm đổi mới với chủ trương khuyến khích phát triển kinh tếnhiều thành phần, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nước ta đã được nhà nướcquan tâm hỗ trợ nhiều mặt, trong đó có sự hỗ trợ về mặt tín dụng Trong 4năm( 2000-2004), khối lượng tín dụng cho vay đối với doanh nghiệp dândoanh ( chủ yếu là DNNVV) tăng trưởng với tốc độ cao, khoảng 21-24%năm, dư nợ cuối năm 2004 gấp 2,2 lần so với cuối năm 2000, cho vay trung

Trang 33

móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng Các tổ chức tín dụng đã có sự điều chỉnh

cơ cấu vốn cho vay doanh nghiệp, bằng cách giảm dần tỷ trọng cho vayDNNN mở rộng cho doanh nghiệp dân doanh, làm tỷ trọng dư nợ đối vớidoanh nghiệp dân doanh tăng lên khoảng 18% vào cuối năm 2004 ( cuối năm

2001 là 12,6%), phù hợp với số lượng doanh nghiệp dân doanh tăng nhanh Đối với việc vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển : đến nay, sau hơn 10 nămtriển khai thực hiện Luật khuyến khích đầu tư trong nước mới có 2222 dự ánđược hưởng tín dụng ưu đãi từ quỹ với số tiền được hỗ trợ là 5.076 tỷ đồng

Bảng 5: Tín dụng ưu đãi đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển 1996-2004 Khu

Số dự án

Số vốn (tỷ đ)

Số dự án

Số tiền (tỷ đ)

Số dự án

Vốn (tỷ đ)

Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư

Ta thấy rằng mặc dù số lượng dự án của khu vực DNDD nhiều hơn khu vựcDNNN nhưng tỷ trọng vốn vay ưu đãi vẫn thấp hơn nhiều so với doanhnghiệp nhà nước( tỷ lệ là 70,7% và 29,3%) Còn đối với hình thức hỗ trợ lãisuất sau đầu tư con số cũng rất khiêm tốn với 490 dự án, với số tiền được hỗtrợ 1.851 tỷ đồng Trong đó mỗi dự án DNNN được hỗ trợ 7,9 tỷ đồng cònDNDD chỉ được hỗ trợ 2,1 tỷ đồng Như vậy trung bình mỗi dự án củaDNNN được hỗ trợ gấp 3,7 lần so với DNDD Rõ ràng ở đây vẫn có sự phânbiệt trong cấp tín dụng từ quỹ đối với 2 thành phần kinh tế này

Về bảo lãnh tín dụng, đã có 47 dự án được bảo lãnh tín dụng, với số tiềnđược bảo lãnh trên 121 tỷ đồng, như vậy mỗi dự án được bảo lãnh 2,5 tỷđồng Con số này cho thấy hình thức bảo lãnh tín dụng chưa được thực hiệntốt, mặc dù nhu cầu về bảo lãnh tín dụng của các doanh nghiệp là rất lớn, nhất

là đối với những dự án vay vốn với lãi suất cao từ các ngân hàng thương mại

Trang 34

Thời gian qua việc huy động vốn còn mất cân đối và chưa tương xứng với

vị trí của các DNNVV trong nền kinh tế Nguyên nhân của tình trạng này làmặc dù các DNNVV đã được thừa nhận và khuyến khích phát triển, tuy nhiênvẫn chưa thoát ra khỏi những khó khăn khi tiếp cận với thị trường tín dụngchính thức Vì vậy hầu hết các DNNVV huy động vốn từ thị trường tín dụngphi chính thức như từ gia đình, bạn bè, các hình thức góp hội cho dù đôi khiphải trả lãi suất cao Tất cả những hình thức huy động vốn phi chính thức nàynằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước

Nguồn vốn đầu tư của DNNVV bao gồm vốn huy động trong nước và vốnhuy động từ nước ngoài, trong đó nguồn vốn trong nước là chủ yếu Thực tếcho thấy hầu hết các DNNVV ở nước ta được hình thành từ nguồn vốn trongnước, còn số lượng DNNVV có vốn đầu tư nước ngoài chiếm một số lượngrất nhỏ Đối với nguồn vốn trong nước, vốn của DNNVV bao gồm :

-Nguồn vốn ngân sách: Ở Việt Nam hiện nay, nguồn vốn này chủ yếu là

từ hoạt động thu thuế mang lại Trong việc đầu tư cho các doanh nghiệp vừa

và nhỏ nguồn vốn này chiếm một tỷ lệ nhỏ (chiếm 23% trong tổng vốn đầu tưphát triển của cả nước năm 2004)

-Nguồn vốn tín dụng: Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

có thể đáp ứng bằng khu vực tiền tệ chính thức và khu vực tiền tệ phi chínhthức Khu vực tiền tệ chính thức bao gồm các nguồn hỗ trợ phát triển chínhthức ODA, vốn hỗ trợ phát triển thông qua các ngân hàng phát triển, các quỹ

hỗ trợ phát triển như ngân hàng dành cho người nghèo, quỹ phát triển nôngthôn, quỹ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quỹ tín dụng nhân dân, cácnguồn tín dụng thương mại thông thường Khu vực tài chính tiền tệ phi chínhthức bao gồm các nguồn vốn từ tầng lớp cho vay nặng lãi, người thân, bạnbè…và đây cũng là nguồn vốn chính đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Theothống kê 72% doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội chưa vay được vốn củangân hàng Nguồn vốn của các doanh nghiệp này là 16% vay vốn của bạn bè,còn lại sử dụng vốn tự có, vốn vay gia đình và vốn vay ngoài tổ chức tín dụngvới lãi suất trên 1%/ tháng Còn các khoản vay của các tổ chức thì: 50% cáckhoản vay này dành cho doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc

Trang 35

mại quốc doanh dùng khoảng 55% khoản vay để cấp cho các doanh nghiệpNhà nước trong khi chỉ cấp cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh 14,7% Ngânhàng công thương là ngân hàng cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh vaynhiều nhất cũng chỉ đạt 21% các khoản vay (2003) Các ngân hàng thươngmại quốc doanh cũng dành tới 32,5% cho các doanh nghiệp Nhà nước vay vàchỉ có 22,6% được dành cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Các khoảnvay trung hạn và dài hạn của các ngân hàng trong cả nước chiếm 34,5% trong

đó phần lớn các khoản vay này dành cho doanh nghiệp Nhà nước (66,2%),doanh nghiệp ngoài quốc doanh chỉ nhận được một phần ít ỏi là khoảng 5,4%.Nguyên nhân của việc này là do: các thủ tục vay vốn tín dụng của các ngânhàng và các tổ chức tín dụng chính thức rất phức tạp làm cho chi phí giao dịchcao làm cho các khoản tín dụng này trở nên quá đắt đối với các doanh nghiệpvừa và nhỏ Hơn nữa các quy định khắt khe về tài sản thế chấp và về các dự

án đầu tư làm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể đáp ứng đượckhi họ muốn vay vốn từ các tổ chưc tài chính Sự phân biệt đối xử trong cáchnhìn nhận của xã hội đối với khu vực kinh tế tư nhân (phần lớn là các doanhnghiệp vừa và nhỏ) cũng tác động tiêu cực đến việc cấp tín dụng cho cácdoanh nghiệp này Chính vì vậy, nếu doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệpNhà nước cùng có đủ các điều kiện như nhau thì thông thường cán bộ tíndụng sẽ cấp tín dụng cho DNNN và từ chối đối với DNTN

-Vốn tự có của các doanh nghiệp : Vốn này được hình thành từ lợi nhuận

để lại của doanh nghiệp bổ sung cho vốn kinh doanh Đối với các doanhnghiệp ngoài quốc doanh đây là nguồn vốn chủ yếu Các chủ doanh nghiệptrực tiếp bỏ vốn của mình ra đầu tư, có tới 70% số doanh nghiệp được thànhlập theo hình thức này Đối với DNNN thì nguồn vốn tự có của doanh nghiệpchỉ chiếm khoảng 25% tổng số vốn của doanh nghiệp Vốn tự có của DNNN

và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh liên tục tăng qua các năm, tuy nhiên

tỷ trọng vốn tự có của các DNNN lại có xu hướng sút giảm do sự sút giảmcủa việc thành lập các DNNN

-Vốn huy động từ dân cư: Trong những năm gần đây, các loại hìnhdoanh nghiệp đã thu hút một lượng vốn đáng kể của dân cư, đưa nguồn vốn

đó vào chu chuyển khắc phục một nghịch lí đã tồn tại nhiều năm là các doanh

Trang 36

nghiệp thiếu vốn trầm trọng trong khi lượng vốn trong dân cư còn nhiều, khảnăng tiềm ẩn chưa được khai thác Trên thực tế, từ khi chuyển sang cơ chế thịtrường, vốn trong dân cư được huy động vào đầu tư phát triển ngày càng tăng

Kết quả huy động vốn trong dân hàng năm tuy tăng nhanh nhưng cũngchỉ đạt ở mức thấp so với nguồn lực trong dân Vấn đề đặt ra là tìm cơ chế,chính sách, giải pháp thích hợp nhằm khuyến khích các tầng lớp dân cư yêntâm đầu tư, tạo lòng tin và môi trường đầu tư hấp dẫn Doanh nghiệp vừa vànhỏ phát triển thu hút khá nhiều vốn trong dân cư do tính chất hiệu quả, qui

mô phù hợp, lượng vốn đòi hỏi không nhiều…do đó cần có những biện phápthúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển

-Theo đánh giá mới đây nhất của ngân hàng thế giới về sự kém phát triểncủa kinh tế tư nhân Việt Nam trong thời gian qua là do sự kém phát triển của

hệ thống ngân hàng đã cản trở sự luân chuyển các nguồn tài chính từ ngườitiết kiệm tới người đầu tư Sự lệ thuộc của DNNVV vào nguồn vốn phi chínhthức cho thấy mức độ ảnh hưởng của chính sách tài chính, tín dụng đối vớicác doanh nghiệp này là không lớn Sự phụ thuộc đó gây thiệt hại cho cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh do chúng phải chịu chi phí giao dịch và lãisuất cao hơn nhiều lần Lãi suất đối với các khoản vay từ khu vực phi chínhthức có thể gấp 3 lần so với lãi suất từ khu vực chính thức

Hiện nay các DNNVV tư nhân ít sử dụng các dịch vụ ngân hàng cho cácgiao dịch mua bán và họ thực sự thấy kém bình đẳng hơn so với khu vực kinh

tế nhà nước khi phải đối mặt với các điều khoản vay vốn

Chính phủ thường sử dụng chính sách tín dụng như một chính sáchđiều tiết lượng cung tiền và giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn vềvốn Trong thời gian qua tuy chính sách tín dụng của Việt Nam đã và đangdần được cải thiện tuy nhiên tác động của chính sách tín dụng này là khônglớn.Trong khi mà các chính sách của chính phủ là khuyến khích các DNNVVvay vốn thông qua các nguồn vốn ưu đãi thì nhiều DNNVV không biết làmthế nào để tiếp cận được với nguồn vốn vay ưu đãi của nhà nước và của cácngân hàng, thậm chí có doanh nghiệp đã tiếp cận được với các thủ tục vayvốn ưu đãi nhưng thấy quá phức tạp và tốn kém cả về chi phí và thời gian

Trang 37

sản xuất kinh doanh, các DNNVV ở thành phố Hồ Chí Minh có tiềm lực vềvốn cao hơn nhiều so với các DNNVV khác trong cả nước, tuy nhiên so vớinhu cầu thực tế của quá trình sản xuất kinh doanh thì vẫn còn khoảng cách xa.

Số doanh nghiệp có quy mô vốn từ 500 triệu đồng trở xuống chiếm khoảng45,6%, số có quy mô từ 10-50 tỷ chiếm khoảng 1,6% do đó có thể thấy phầnlớn các doanh nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh là các doanh nghiệp nhỏ vàvừa, trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn( 82%) Mặc dù rấtthiếu vốn để sản xuất kinh doanh nhưng các DNNVV lại gặp khó khăn trongtiếp cận các nguồn vốn tín dụng, làm cho tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhautăng lên

Hiện tượng các ngân hàng dư thừa vốn trong khi các DNNVV lại thiếu vốn

và phải đi vay ở thị trường không chính thức vừa tác động xấu đến hoạt độngcủa ngân hàng lại vừa không hỗ trợ được cho các DNNVV gây thiệt hại chotoàn xã hội Nguyên nhân của tình trạng này được cho là có nguồn gốc từ 2yếu tố đó là đòi hỏi phải có những đảm bảo công khai như tài sản cố định,giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…trong khi DNNVV thường thiếu nhữngtài sản thế chấp này và yếu tố thứ 2 là do bảo lãnh ngầm cho doanh nghiệpnhà nước, vì là doanh nghiệp của nhà nước nên nếu làm ăn thua lỗ thì đã cónhà nước trả

Bên cạnh những nguyên nhân trên thì nguyên nhân không kém phần quantrọng xuất phát từ chính các DNNVV Một trong những nguyên nhân cơ bảnkhiến việc tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Namcòn rất hạn chế do doanh nghiệp không hiểu về cơ chế tín dụng của ngânhàng thương mại, có tâm lý sợ thủ tục vay vốn của ngân hàng rườm rà, phứctạp, việc giải quyết cho vay của ngân hàng khó khăn Phần lớn các DNNVVthiết lập thủ tục vay vốn của ngân hàng không đúng quy định mà ngân hàngyêu cầu

Nhiều doanh nghiệp, nhất là các công ty TNHH, tài sản pháp nhân và tàisản cá nhân lẫn lộn, thiếu minh bạch nên ngân hàng rất khó thẩm định, đánhgiá về năng lực thực sự của khách hàng Hệ thống sổ sách kế toán, nội dung

và phương pháp hạch toán kế toán của doanh nghiệp thường không đầy đủ,chính xác và thiếu minh bạch Năng lực tài chính nội tại của doanh nghiệp

Trang 38

yếu, các hệ số tài chính không đảm bảo theo yêu cầu của ngân hàng, khôngxác định rõ ràng được dòng tiền lưu chuyển bởi vậy không tính toán đượcđúng khả năng trả nợ trong tương lai Một số lớn các DNNVV lập phương án,

kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư còn mang nặng tính chủ quan, ápđặt của lãnh đạo doanh nghiệp, hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần tuý.Nộidung của phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư đôi khi đượcthiết lập sơ sài, bởi vậy thiếu thuyết phục ngân hàng khi xem xét thẩm địnhcho vay

Ở một số doanh nghiệp, việc điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạothiếu bài bản, mang nặng tính gia đình Trong quan hệ với ngân hàng cònthiếu kinh nghiệm, việc bố trí cán bộ quan hệ giao dịch với ngân hàng khônghợp lý, cán bộ có tư tưởng e ngại, thiếu tự tin trong quan hệ, khả năng thuyếttrình, đàm phán với ngân hàng Đây chính là những vấn đề mà các DNNVVcần lưu tâm và khắc phục, nếu khắc phục tốt những điểm hạn chế này thì chắcchắn vay vốn ngân hàng dễ dàng hơn nhiều Các ngân hàng cần đổi mới cơchế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường và nâng cao quyền tự chủ

và tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, cải tiến thủ tục cho vay đốivới các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn, tiếp tụccải tiến quy trình cho vay nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay Đồngthời cần đa dạng hoá hơn nữa các hình thức bảo đảm tín dụng để thích ứngvới đặc điểm của các DNNVV, tiếp tục nghiên cứu và triển khai mạnh việcphát triển và hoàn thiện các dịch vụ ngân hàng mới như dịch vụ tư vấn, môigiới đầu tư chứng khoán, bảo quản vật có giá, cung cấp các dịch vụ sản phẩmbảo hiểm, uỷ thác

6.2 Mặt bằng sản xuất kinh doanh

Mặt bằng phục vụ sản xuất kinh doanh hiện nay là vấn đề bức xúc nhấtđối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các DNNVV

Tình trạng khá phổ biến trong thời gian qua đó là trong khi nhiều DNNNđược giao đất và sử dụng đất không có hiệu quả, đất đai bỏ hoang và sử dụngkhông đúng mục đích thì các doanh nghiệp tư nhân lại gặp rất nhiều khó khăntrong việc tìm kiếm đất đai làm mặt bằng kinh doanh

Trang 39

- Thuê đất của nhà nước: thông thường để thuê được đất của nhà nước phục

vụ sản xuất DNNVV phải làm rất nhiều thủ tục ở cả 3 cấp với gần 25 con dấu

và chữ kí khác nhau và với rất nhiều thời gian từ 1,5-5 năm, chi phí ( kể cảchi phí đi lại và chi phí tiêu cực ), ngoài ra doanh nghiệp phải thực hiện việcbồi thường, giải phóng mặt bằng kèm theo các khoản chi phí hỗ trợ như hỗ trợchuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ địa phương xây dựng cơ sở hạ tầng…với chiphí cao.Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp khi hoàn tất các thủ tục nàythì cơ hội kinh doanh qua đi và phần lớn vốn tự có của doanh nghiệp đã chi để

có đất nên đã hạn chế phần vốn dành cho sản xuất kinh doanh

- Thuê lại diện tích sử dụng đất chưa sử dụng hết của các DNNN Xuất phát

từ lý do trước đây các DNNN được nhà nước giao đất để sản xuất kinh doanh,đến nay chuyển đổi nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có sự năngđộng cao, nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, hoạt độngcầm chừng, không sử dụng hết diện tích đất được giao, nhưng không trả lạicho nhà nước và các doanh nghiệp này cho các DNNVV thuê lại một phần đểsản xuất kinh doanh

Thời hạn thuê đất trong các trường hợp này thông thường là ngắn, do đódoanh nghiệp không yên tâm sản xuất, đầu tư vào công nghệ Mặt khác việcthuê lại đất chưa sử dụng hết của DNNN là bất hợp pháp, các DNNVV thuêđất không thể mang tài sản này để thế chấp, cầm cố vay vốn ngân hàng để cóthêm vốn đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ

- Thuê quyền sử dụng đất của các cá nhân : Việc thuê đất của các cá nhân để

sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh cũng mang tính bất ổn cao.Giốngnhư trường hợp thuê lại đất sử dụng chưa hết của DNNN, thời gian thuê đấtcủa cá nhân ngắn, ngoài ra tính rủi ro cao vì trong nhiều trường hợp chủ đấtthấy khi doanh nghiệp làm ăn có lãi đã đòi lại đất để kinh doanh cùng mặthàng, hoặc đòi tiền thuê đất cao hơn, để cho doanh nghiệp khác thuê nên cũngkhông khuyến khích đầu tư lâu dài

- Chủ đầu tư sử dụng nhà xưởng hiện có để tiến hành sản xuất kinh doanh,hình thứ này chủ yếu tập trung ở các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực dịch

vụ thương mại hoặc sản xuất quy mô hộ gia đình

Trang 40

- Thuê đất trong các KCN, cụm công nghiệp: đối với các KCN có cơ sở hạtầng tốt, chi phí thuê đất thường cao và yêu cầu doanh nghiệp trả tiền một lần,với giá thấp nhất khoảng 20-22USD/m2 Nếu giả sử một DNNVV có vốn đầu

tư khoảng 10 tỷ đồng,cần diện tích khoảng 0,5ha và giá thuê đất tại khu côngnghiệp là khoảng 20USD/m2 (đây là giá thuê đất thấp nhất và ở các địaphương có điều kiện khó khăn, còn tại các địa phương có điều kiện kinh tế xãhội phát triển thì giá cho thuê lại đất trong các KCN cao gấp 2-3 lần), thì chiphí này của doanh nghiệp đã chiếm 1/5 tổng vốn của doanh nghiệp, với sốvốn còn lại doanh nghiệp rất khó đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ tiêntiến

Như vậy tiếp cận với quyền sử dụng đất để làm mặt bằng sản xuất kinhdoanh là vấn đề khó khăn nhất đối với đầu tư mới cũng như đầu tư mở rộngcủa các DNNVV.Số đất nhà nước để cho thuê là quá ít so với nhu cầu, ví dụ ở

Hà Nội từ năm 1994-2000 chỉ có 376 DNDD thuê được đất của nhà nước đểphục vụ sản xuất kinh doanh trong khi đó chỉ tính riêng 10 tháng đầu năm

2002 đã có 400 doanh nghiệp có nhu cầu thuê đất Điều tra của Ban quản lýkhu công nghiệp cho thấy 66,7% doanh nghiệp gặp quá nhiều khó khăn trongtìm kiếm mặt bằng kinh doanh, 44,4% không đủ kiên nhẫn vì thủ tục thuê đấtquá vòng vèo và không rõ ràng, đùn đẩy trách nhiệm giữa cơ quan này và cơquan khác.Tình hình này cũng diễn ra ở các địa phương khác nhất là ở cácthành phố và vùng đô thị

Để thực hiện đầu tư đại đa số các DNNVV phải tự xoay xở kiếm mặt bằngsản xuất kinh doanh Trong trường hợp này chi phí đầu tư của doanh nghiệp

là rất lớn, nhưng nghịch lý ở chỗ là doanh nghiệp sau khi đã chi ra một khoảntiền lớn để có được mặt bằng kinh doanh thì nó vẫn không thuộc sở hữu củadoanh nghiệp, điều này không chỉ gây thiệt hại cho các nhà đầu tư, cho cácdoanh nghiệp mà nó còn làm tổn hại đến nền kinh tế xã hội, vì đất đai vàquyền sử dụng đất đai nói trên đã không trở thành vốn luân chuyển để vốn thuhút thêm vốn và tạo ra vốn mới để phát triển kinh tế xã hội

6.3.Công nghệ

6.3.1 Tình trạng công nghệ của các DNNVV

Ngày đăng: 17/12/2012, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Kinh tế đầu tư – PGS.TS . Nguyễn Ngọc Mai- NXB Giáo dục –1998 Khác
2. Kinh tế đầu tư – PGS. TS Nguyễn Bạch Nguyệt, TS. Từ Quang Phương- NXB Thống kê Khác
3. Giáo trình đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ- TS Nguyễn Hồng Minh Khác
4. Giáo trình Quản trị Doanh nghiệp- Nguyễn Hải Sản- NXB Thống kê 5. Luật khuyến khích đầu tư tròng nước 1994 Khác
7. Tạp chí kinh tế phát triển 2002-2005 8. Tạp chí kinh tế phát triển 2002-2005 9. Báo kinh tế đầu tư 2002-2005 Khác
10.Các trang web của Bộ kế hoạch và đầu tư, VCCI, Bộ tài chính, tổng cục thống kê… Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Vai trò của DNNVV ở một số nước - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 1 Vai trò của DNNVV ở một số nước (Trang 5)
Bảng 5: Tín dụng ưu đãi đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển 1996-2004 - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 5 Tín dụng ưu đãi đầu tư từ quỹ hỗ trợ phát triển 1996-2004 (Trang 32)
Bảng 8:So sánh về đầu tư cho R&D của Việt Nam và một số nước trong khu vực Tổng chi - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 8 So sánh về đầu tư cho R&D của Việt Nam và một số nước trong khu vực Tổng chi (Trang 42)
Bảng 7: Đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 7 Đầu tư cho KHCN từ ngân sách nhà nước (Trang 42)
Bảng 11: Vốn đầu tư của DNNVV năm 2000-2005 - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 11 Vốn đầu tư của DNNVV năm 2000-2005 (Trang 49)
Bảng 13: Số lao động của DNNVV qua các năm - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 13 Số lao động của DNNVV qua các năm (Trang 51)
Bảng 14 : So sánh quy mô  lao động trung bình một cơ sở của DNNVV  Việt Nam và EU - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 14 So sánh quy mô lao động trung bình một cơ sở của DNNVV Việt Nam và EU (Trang 52)
Bảng 15: Phân bố DNNVV theo vùng và lãnh thổ - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 15 Phân bố DNNVV theo vùng và lãnh thổ (Trang 53)
BẢNG 17: Thuế và các khoản phí nộp ngân sách nhà nước  của các DNNVV - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
BẢNG 17 Thuế và các khoản phí nộp ngân sách nhà nước của các DNNVV (Trang 54)
Bảng 18: Lương trả cho người lao động - Môi trường đầu tư với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
Bảng 18 Lương trả cho người lao động (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w