BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC PHẠM VĂN HIỀN NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI CAO TUỔI TẠI XÃ HƯƠNG VINH THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01/10/2015 đến ngày 30/04/2016.
Phương pháp nghiên cứu
Mô tả cắt ngang, nghiên cứu định lượng.
2.3.2 Cỡ mẫu Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỉ lệ: n = ⁄
Trong đó: n là cỡ mẫu.
Trong nghiên cứu này, hệ số Z tương ứng với mức tin cậy 95% là 1,96, giúp đảm bảo độ chính xác của kết quả Tỷ lệ SDD ở người cao tuổi (NCT) đã được nghiên cứu bởi Trần Thị Phúc Nguyệt và Nguyễn Văn Khiêm tại Nam Định năm 2012 là 25,7%, do đó, p được chọn là 25,7% Độ chính xác của nghiên cứu được xác định là d = 0,05, phù hợp với tiêu chuẩn nghiên cứu y tế nhằm đảm bảo kết quả chính xác và tin cậy.
Cỡ mẫu của nghiên cứu là: n Ước lượng khoảng 10% từ chối phỏng vấn hoặc lý do nào đó không tiếp cận được đối tượng nghiên cứu.
Vậy tổng cỡ mẫu của nghiên cứu là n = (294 * 10%) + 294 = 325 NCT.
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn.
Bước 1: Lập danh sách tất cả các đối tượng từ 60 tuổi trở lên ở xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bước 2: Từ danh sách 1678 NCT, dùng phần mềm Excel 2007 để chọn ngẫu nhiên 325 đối tượng nghiên cứu.
Bước 3 trong quá trình nghiên cứu là lập danh sách các đối tượng cần khảo sát và gửi cho Trưởng trạm y tế cùng Trưởng thôn Sau đó, tiến hành phân loại các đối tượng theo từng đơn vị tổ dân số nhằm chuẩn bị cho quá trình thu thập số liệu Việc này giúp tổ chức nghiên cứu một cách hệ thống, chính xác và hiệu quả hơn.
Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu Đánh giá TTDD: Sử dụng phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng để thu thập cân nặng, chiều cao, vòng eo, vòng mông của đối tượng nghiên cứu. Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu, sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn để tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến TTDD.
2.4.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
Các điều tra viên sẽ được tập huấn về mục đích, phương pháp phỏng vấn và đo các chỉ số nhân trắc trước khi tiến hành điều tra, đảm bảo kỹ năng thực hiện đúng quy trình Họ sẽ đến từng hộ gia đình để thực hiện phỏng vấn nhằm thu thập thông tin chính xác và đo các chỉ số nhân trắc trực tiếp tại gia đình, góp phần nâng cao độ chính xác của cuộc điều tra.
2.4.3 Kỹ thuật đo chỉ số nhân trắc
Để đảm bảo độ chính xác trong quá trình đo cân nặng, nên sử dụng cân sức khỏe Tania có độ chia chính xác đến 0,1 kg và kiểm tra lại sau 10 lần cân bằng cách so sánh với vật đã biết trọng lượng Người thực hiện cần mặc quần áo nhẹ, không mang dép hay mũ, giữ vững tư thế, đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng và trọng lượng phân bổ đều hai chân Cân cần đặt ở vị trí ổn định, bằng phẳng, và chỉnh về điểm số không để đạt kết quả chính xác nhất Khi cân, người đọc nhìn chính giữa mặt cân, đọc số khi cân đang trong trạng thái cân bằng, và ghi lại trọng lượng theo kg với một chữ số thập phân (0,1 kg).
Để đo chiều cao đứng, sử dụng thước cuộn lưỡi thép Stanley dài 3 mét với điểm bấm giữ cố định và độ chia đến milimet, người đo phải đứng thẳng, quay lưng vào tường, không mang dép, mũ hay khăn trùm đầu, và đi chân trần Tư thế đo cần gót chân, bắp chân, mông, vai và đầu tạo thành một đường thẳng sát vào tường, mắt nhìn thẳng về phía trước Đặt thước dẹt lên đỉnh đầu song song với mặt đất, đánh dấu vị trí trên tường tại điểm tiếp xúc của thước với tường Cuối cùng, dùng thước cuộn để đo chiều cao từ mặt đất đến điểm đã đánh dấu, ghi lại kết quả bằng đơn vị centimet và số lẻ để đảm bảo chính xác theo chuẩn đo chiều cao đứng.
Hình 2.1 Tư thế đo chiều cao đứng
Nguồn: Viện dinh dưỡngViệt Nam [31].
Để đo vòng eo và vòng mông chính xác, sử dụng thước dây không giãn dài 1,5 mét, có độ chia đến milimet Đối tượng đứng thẳng và thoải mái, kết quả đo ghi theo centimet (cm) và làm tròn đến một chữ số thập phân, ví dụ 0,1 cm Vòng eo được đo tại điểm nhỏ nhất nằm giữa bờ dưới xương sườn cuối và đỉnh mào chậu trên mặt phẳng ngang, còn vòng mông là vòng lớn nhất đo qua phần mông rộng nhất Đo tại các điểm bé nhất của eo và lớn nhất của mông để có số đo chính xác nhất.
Hình 2.2 Vị trí đo vòng eo và vòng mông
Nguồn: https://vi.wikipedia.org.[1].
- Nhóm biến số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm:+ Nhóm tuổi: phân thành 3 nhóm là 60 – 69, 70 – 79, 80 tuổi trở lên + Giới: phân định thành nam và nữ
Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thói quen ăn uống của người dân, bao gồm Thiên chúa giáo, Phật giáo, không theo tôn giáo và các tôn giáo khác Do đặc điểm của thực hành chế độ ăn chay liên quan đến các tôn giáo, phân tích mối liên quan được chia thành hai nhóm chính: nhóm theo Phật giáo và nhóm không theo Phật giáo Các tôn giáo như Phật giáo thường khuyến khích ăn chay mang ý nghĩa tâm linh, trong khi các tôn giáo khác có các quy định về chế độ ăn uống khác nhau Việc hiểu rõ vai trò của tôn giáo giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ ăn chay cũng như tập quán ẩm thực của dân cư.
Trình độ học vấn thể hiện mức độ hoàn thành các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các nhóm như mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) trở lên Trình độ này phản ánh bằng cấp học cao nhất mà người đó đã hoàn tất, có vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lực và khả năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân Hiểu rõ về trình độ học vấn giúp xác định khả năng học tập và phát triển của từng người trong xã hội hiện nay.
Nghề nghiệp hiện tại của NCT bao gồm nội trợ, ở nhà, làm ruộng, rẫy, làm thuê, buôn bán và các nghề khác Việc phân tích mối liên quan dựa trên nghề nghiệp giúp xác định rõ hơn tình trạng làm việc của NCT, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
• Có làm việc: là đối tượng còn làm các công việc như làm ruộng, rẫy, làm thuê, buôn bán và làm các nghề khác.
• Không làm việc: là các đối tượng như ở nhà, nội trợ, thất nghiệp.
Tình trạng hôn nhân bao gồm các trạng thái như có vợ/chồng, độc thân, ly thân hoặc ly dị, và góa vợ hoặc chồng Khi phân tích mối liên hệ, chúng tôi chia các nhóm này thành hai nhóm chính để dễ dàng nghiên cứu và đánh giá Điều này giúp xác định rõ hơn các ảnh hưởng của từng trạng thái hôn nhân đối với các yếu tố liên quan.
Khác bao gồm: độc thân, ly thân/ly dị và góa vợ/chồng.
+ Hoàn cảnh sống bao gồm:
Sống một mình: hiện tại không sống chung với ai.
Sống với vợ/chồng: đối tượng chỉ sống với vợ hoặc chồng, không sống chung với con cháu.
Sống với con/cháu: đối tượng chỉ sống với con cháu không sống chung với chồng hoặc vợ.
Sống với vợ/chồng và con/cháu: đối tượng hiện đang sống cùng vợ/chồng và con/cháu.
Khi phân tích mối liên hệ, hoàn cảnh sống của đối tượng được phân thành hai nhóm chính: sống một mình và sống cùng người thân Các đối tượng sống cùng người thân bao gồm những người sống với vợ/chồng, sống với con/cháu, hoặc kết hợp cả vợ/chồng và con/cháu Điều này cho thấy rằng hoàn cảnh sống ảnh hưởng đáng kể đến các mối liên hệ xã hội và cách họ tương tác trong cuộc sống hàng ngày.
Đánh giá tình trạng kinh tế dựa trên đánh giá của địa phương, loại nhà ởvà các phương tiện sinh hoạt trong gia đình.
• Nghèo: dựa theo phân loại đánh giá của địa phương bao gồm các đối tượng được xếp hộ nghèo và cận nghèo.
Trung bình, các đối tượng không nằm trong diện hộ nghèo hoặc cận nghèo do chính quyền địa phương xếp loại Gia đình của họ thường sống trong nhà vách ván hoặc tường gạch, mái tôn hoặc mái ngói, và sở hữu một số phương tiện sinh hoạt cơ bản như xe máy và ti vi Những tiêu chí này phản ánh mức độ phát triển kinh tế và cuộc sống ổn định hơn của các hộ gia đình trong cộng đồng.
Khá giả là những đối tượng sở hữu nhà mái bằng hoặc nhà tầng, với tường xây bằng gạch chắc chắn, đầy đủ các tiện nghi sinh hoạt như xe máy, ti vi, tủ lạnh, ghế salon và tủ trưng bày đồ dùng Những người này có khả năng chi tiêu và duy trì cuộc sống ổn định, thể hiện mức độ giàu có và tiện nghi trong sinh hoạt hàng ngày.
-Nhóm biến số lối sống, thói quen ăn uống của đối tượng nghiên cứu. + Hút thuốc lá gồm:
Đang hút thuốc lá: đối tượng có hút thuốc lá với bất kỳ số lượng nào trong vòng 12 tháng qua [26].
Đối tượng đã từng hút thuốc lá là người đã từng thực hiện hành vi hút thuốc trong quá khứ nhưng hiện tại không còn hút thuốc nữa Trong vòng 12 tháng gần nhất, họ không hút thuốc lá ở bất cứ số lượng nào, cho thấy sự từ bỏ thói quen hút thuốc và duy trì lối sống lành mạnh Việc này đóng vai trò quan trọng trong việc giảm nguy cơ các bệnh liên quan đến thuốc lá và cải thiện sức khỏe tổng thể.
Không hút thuốc: đối tượng chưa bao giờ hút thuốc lá.
+ Sử dụng rượu bia gồm:
Người sử dụng rượu bia hàng ngày, với lượng tiêu thụ vượt quá 2 cốc chuẩn mỗi ngày (cốc chuẩn gồm 340 ml bia, 45 ml rượu mạnh hoặc 150 ml rượu vang), được xác định là nhóm có thói quen tiêu thụ rượu bia thường xuyên Việc sử dụng rượu bia vượt mức này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và cần được kiểm soát chặt chẽ.
• Không sử dụng rượu bia: đối tượng hoàn toàn không sử dụng hoặc chỉ sử dụng thỉnh thoảng khi đi đám tiệc hoặc sử dụng < 1 lần/tuần.
Có tập thể dục: tập thể dục ≥ 30 phút/ngày và ít nhất 3 ngày/tuần.
Không tập thể dục: không tập thể dục hoặc tập thể dục dưới 30 phút/ngày và dưới 3 ngày/tuần [18].
+ Sức khỏe răng miệng (SKRM) gồm:
• Có vấn đề SKRM: là khi đối tượng trả lời như mất răng, đau, ê buốt khi ăn, mang răng giả, khô miệng, khó cảm nhận mùi vị thức ăn,…
Số bữa ăn bao gồm: < 3 bữa, 3 bữa, > 3 bữa [29].
Thói quen sử dụng thức ăn ngọt:
Có sử dụng thường xuyên là đối tượng có sử dụng các loại đồ uống, các loại thức ăn ngọt ≥ 4 lần/tuần.
Không sử dụng thường xuyên các loại đồ uống và thức ăn ngọt, chỉ thỉnh thoảng dùng trong các dịp lễ hội hoặc tiệc tùng, hoặc với tần suất dưới 4 lần mỗi tuần, giúp duy trì lối sống lành mạnh và giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe.
Có điều trị: là đối tượng được chẩn đoán tại cơ sở y tế là mắc bệnh và hiện tại đang dùng thuốc.
Cách đánh giá và nhận định kết quả
Phân loại TTDD theo đối tượng nghiên cứu dựa trên cơ quan của Tổ chức Y tế Thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO - WHO) giúp phù hợp hơn với đặc điểm dịch tễ của người Việt Nam Việc áp dụng phân loại này cải thiện khả năng chẩn đoán, quản lý và phòng chống các bệnh truyền nhiễm hiệu quả hơn trong cộng đồng Việt Nam Các phân loại cụ thể theo cơ quan tổ chức đã nâng cao độ chính xác trong việc xác định các tác nhân gây bệnh, từ đó hỗ trợ các chiến lược can thiệp y tế phù hợp và tối ưu hóa nguồn lực y tế địa phương.
Để đánh giá thêm tình trạng béo phì, chúng tôi cũng tiến hành đo tỷ lệ vòng eo/vòng mông theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng Việt Nam Phương pháp này giúp xác định chính xác tỷ lệ béo trung tâm trên đối tượng nghiên cứu, từ đó đưa ra các đánh giá toàn diện về tình trạng sức khỏe Việc sử dụng tỷ số vòng eo/vòng mông là công cụ quan trọng trong việc xác định rối loạn chuyển hóa liên quan đến mỡ phân bố không đều của cơ thể.
-Xác định một số yếu tố liên quan đến TTDD bao gồm:
Trong nghiên cứu, việc xác định mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng (TTDD) và các đặc điểm nhân khẩu học như nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tôn giáo, tình trạng kinh tế, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và hoàn cảnh sống đóng vai trò quan trọng Điều này giúp hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và thiết kế các chương trình can thiệp phù hợp Phân tích các mối liên hệ này cung cấp cơ sở dữ liệu hữu ích để đưa ra các chiến lược phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu.
Xác định mối liên quan giữa TTDD và lối sống, thói quen ăn uống như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia, tập thể dục, số bữa ăn, sức khỏe răng miệng và thói quen ăn ngọt là yếu tố quan trọng giúp hiểu rõ các yếu tố tác động đến tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Những thói quen này có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ phát triển của TTDD, đồng thời cung cấp thông tin cơ bản để xây dựng các chiến lược phòng ngừa và chăm sóc sức khỏe phù hợp Việc nghiên cứu này giúp xác định các yếu tố rủi ro và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của lối sống lành mạnh trong việc giảm thiểu các bệnh liên quan đến TTDD.
Xác định mối liên quan giữa TTDD với tình hình điều trị bệnh tật ở đối tượng nghiên cứu.
Xử lý số liệu
-Nhập số liệu bằng phần mềm Epi data 3.0
-Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0
- Tìm mối liên quan bằng test với độ tin cậy 95%.
- Vẽ biểu đồ bằng phần mềm Excel 2007.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi đã được sự chấp thuận của trạm y tế và chính quyền địa phương, đảm bảo tuân thủ các quy định về nghiên cứu Đối tượng tham gia khảo sát được giải thích rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời có quyền từ chối tham gia mà không gặp bất kỳ hậu quả nào Tất cả các thông tin thu thập được đều được lưu giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học nhằm đảm bảo tính bảo mật và uy tín của dữ liệu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu
3.3.1 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng với nhóm tuổi
Bảng 3.5 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng với nhóm tuổi
TTDD SDD TC/BP BT , p
Tỉ lệ SDD thấp nhất (14,2%) xuất hiện ở nhóm tuổi dưới 70, và tăng dần theo các nhóm tuổi cao hơn, cho thấy sự gia tăng của SDD theo tuổi Trong khi đó, tỉ lệ TC/BP lại cao nhất (27,7%) ở nhóm tuổi dưới 70 và giảm dần ở các nhóm tuổi cao hơn, thể hiện sự khác biệt rõ rệt theo tuổi Các sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), nhấn mạnh mối liên hệ giữa tuổi tác và tỷ lệ mắc các tình trạng sức khỏe này.
3.3.2 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và giới tính
Bảng 3.6 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và giới tính
TTDD SDD TC/BP BT
Tỉ lệ SDD ở nam giới (22,6%) cao hơn nữ giới (20,8%), ngược lại tỉ lệ TC/BP ở nữ giới (29,2%) lại cao hơn nam giới (16,5%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n % n % Tổng
Suy dinh dưỡng phổ biến hơn ở nhóm người cao tuổi mù chữ và có trình độ học vấn tiểu học, trong khi tỷ lệ tụt huyết áp hoặc biến chứng (TC/BP) lại cao hơn nhiều ở nhóm tốt nghiệp THPT trở lên Tuy nhiên, sự khác biệt này không mang ý nghĩa thống kê đáng kể (p > 0,05), cho thấy các yếu tố này không liên quan chặt chẽ đến mức độ trình độ học vấn.
3.3.4 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tôn giáo
Bảng 3.8 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tôn giáo
TTDD SDD TC/BP BT
Theo nghiên cứu, người cao tuổi theo Phật giáo có tỷ lệ suy giảm nhận thức (SDD) và tỷ lệ trầm cảm/bệnh tâm thần (TC/BP) thấp hơn so với những người không theo đạo Phật Tuy nhiên, sự khác biệt này không rõ ràng về mặt thống kê (p > 0,05), cho thấy chưa có bằng chứng chắc chắn về ảnh hưởng của Phật giáo đối với các yếu tố này ở người cao tuổi.
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n % n % Tổng
Nhóm NCT có điều kiện kinh tế nghèo có tỉ lệ SDD cao nhất (33,3%) và tỉ lệ TC/BP thấp nhất (20,0%), cho thấy họ gặp nhiều khó khăn về thu nhập Trong khi đó, nhóm có điều kiện kinh tế khá giả lại có tỉ lệ TC/BP cao nhất (36,9%) và tỉ lệ SDD thấp nhất (15,4%), phản ánh sự khác biệt rõ rệt về kinh tế giữa các nhóm Sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05, chứng tỏ ảnh hưởng rõ rệt của điều kiện kinh tế đến các tỷ lệ này.
3.3.6 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tình trạng làm việc
Bảng 3.10 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tình trạng làm việc
TTDD SDD TC/BP BT , p
Trong nhóm người cao tuổi (NCT), tỷ lệ SDD và TC/BP thấp hơn ở những người có công việc so với những người không có việc làm Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ ràng về các chỉ số này giữa hai nhóm.
TTDD SDD TC/BP BT , p
Người cao tuổi đã có vợ/chồng có tỉ lệ SDD thấp hơn các nhóm khác Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.8 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và hoàn cảnh sống
Bảng 3.12 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và hoàn cảnh sống
TTDD SDD TC/BP BT , p
= 1,983 Sống một mình 9 31,0 5 17,2 15 51,7 29 p = 0,371 Sống cùng người thân 61 20,6 73 24,7 162 54,7 296
Người cao tuổi sống một mình có tỉ lệ SDD (31,0%) cao hơn so với NCT đang sống cùng người thân (20,6%) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê(p > 0,05).
3.3.9 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và hút thuốc lá
Bảng 3.13 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và hút thuốc lá
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n% n % Tổng
Hút thuốc lá Đang hút thuốc lá 32 34,0 14 14,9 48 51,1 94 = 14,884 Đã từng hút thuốc lá 9 18,4 12 24,5 28 57,1 49 p = 0,005 Không hút thuốc lá 29 15,9 52 28,6 101 55,5 182
Nhóm đối tượng nghiên cứu đang hút thuốc lá có tỉ lệ SDD (34,0%) cao hơn so với các nhóm còn lại Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
3.3.10 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và sử dụng rƣợu bia
Bảng 3.14 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và sử dụng rƣợu bia
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n % n % Tổng
Tỷ lệ sốc đa chấn thương (SDD) ở nhóm người sử dụng rượu bia (23,3%) cao hơn so với nhóm không dùng rượu bia (21,1%) Trong khi đó, tỷ lệ tổn thương chấn thương hoặc bỏng (TC/BP) ở nhóm uống rượu bia thấp hơn (20,0%) so với nhóm không sử dụng rượu bia (24,9%) Tuy nhiên, những khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05, cho thấy rượu bia không ảnh hưởng rõ rệt đến các tỷ lệ này.
3.3.11 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tập thể dục
Bảng 3.15 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và tập thể dục
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n % n % Tổng
Người cao tuổi tập thể dục có tỷ lệ SDD và TC/BP thấp hơn so với nhóm không tập thể dục, cho thấy tác dụng tích cực của hoạt động thể chất giúp cải thiện sức khỏe người cao tuổi Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05), nghĩa là chưa thể khẳng định chắc chắn tác động của tập thể dục đối với các chỉ số này trong nghiên cứu hiện tại.
3.3.12 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và số bữa ăn
Bảng 3.16 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và số bữa ăn
TTDD SDD TC/BP BT , p n % n % n % Tổng
Tỷ lệ SDD cao nhất được ghi nhận ở nhóm người cao tuổi (NCT) có số bữa ăn ít hơn 3 bữa mỗi ngày, đạt 25,0% Trong khi đó, nhóm ăn trên 3 bữa mỗi ngày có tỷ lệ TC/BP cao nhất, lên đến 47,8% Sự khác biệt giữa các nhóm này là rõ ràng và có ý nghĩa thống kê (p < 0,05), cho thấy số lượng bữa ăn hàng ngày ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ SDD và TC/BP trong nhóm NCT.
TTDD SDD TC/BP BT , p
Sức khỏe Tổng n % n % n % răng miệng = 6,292
Có vấn đề SKRM 39 27,7 28 19,9 74 52,4 141 p = 0,043 Bình thường 31 16,8 50 27,2 103 56,0 184
Người cao tuổi gặp các vấn đề về sức khỏe răng miệng có tỷ lệ SDD cao (27,7%) so với nhóm không gặp vấn đề về răng miệng (16,8%), cho thấy mối liên hệ rõ ràng giữa sức khỏe răng miệng và tình trạng SDD Sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sức khỏe răng miệng tốt để giảm nguy cơ SDD trong cộng đồng người cao tuổi.
3.2.14 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và thói quen ăn ngọt
Bảng 3.18 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và thói quen ăn ngọt
TTDD SDD TC/BP BT , p
Thói quen n % n % n % Tổng ăn ngọt
Nhóm NCT có thói quen ăn ngọt với tỉ lệ TC/BP lên đến 41,7%, gấp gần hai lần so với nhóm không có thói quen ăn ngọt (21,8%) Sự khác biệt này mang ý nghĩa thống kê rõ ràng (p < 0,05), cho thấy thói quen ăn ngọt có mối liên hệ chặt chẽ với tỷ lệ TC/BP cao hơn.
3.2.15 Liên quan giữa tình trạng dinh dƣỡng và điều trị bệnh tật n % n % n % Tổng Điều trị bệnh
Nhóm NCT đang điều trị bệnh có tỉ lệ TC/BP (30,9%) cao hơn so với nhóm không điều trị bệnh (18,8%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p