1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng nhằm làm giảm bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã nga giáp, huyện nga sơn, tỉnh thanh hóa hiện nay

101 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng nhằm làm giảm bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay
Người hướng dẫn Thầy Nguyễn Văn Cư, Thầy Trịnh Thị Hương Giang
Trường học Trường đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 311,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (3)
  • 2. Tổng quan nghiên cứu của đề tài (5)
  • 3. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu (8)
  • 4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu (9)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (10)
  • 6. Những đóng góp về mặt khoa học của khóa luận (10)
  • 7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài (11)
  • 8. Kết cấu của đề tài khóa luận (11)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN (12)
    • 1.1. Khái niệm chung (12)
      • 1.1.1. Giới (12)
      • 1.1.2. Giới tính (12)
      • 1.1.3. Phụ nữ (12)
      • 1.1.4. Bình đẳng giới (12)
      • 1.1.5. Định kiến giới (13)
      • 1.1.6. Phân biệt đối xử về giới (13)
      • 1.1.7. Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (13)
      • 1.1.8. Chỉ số phát triển giới (GDI) (13)
      • 1.1.9. Nông thôn (13)
      • 1.1.10. Mục tiêu bình đẳng giới (13)
    • 1.2. Lý thuyết ứng dụng (14)
      • 1.2.1. Lý thuyết tiếp cận giới (14)
      • 1.2.2. Lý thuyết nữ quyền (14)
      • 1.2.3. Học thuyết nhu cầu của A. Maslaw (14)
      • 1.2.4. Thuyết về quyền con người (0)
      • 1.3.1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới (15)
      • 1.3.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bất bình đẳng giới (19)
      • 1.4.1. Bất bình đẳng giới trong quyền chủ nhà (21)
      • 1.4.2. Bất bình đẳng giới trong phân công lao động của gia đình (22)
      • 1.4.3. Bất bình đẳng giới trong giáo dục nuôi dạy con cái (24)
      • 1.4.4. Bất bình đẳng giới trong ra quyết định quan trọng (25)
      • 1.4.5. Bất bình đẳng giới trong cách cư xử (26)
    • 1.5. Các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước để giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn (27)
      • 1.5.1. Chủ trương, chính sách và pháp luật trên thế giới (27)
      • 1.5.2. Chủ trương chính sách và pháp luật ở Việt Nam (28)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG (33)
    • 2.1. Tổng quan chung về xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (33)
      • 2.1.1. Tổng quan chung về huyện Nga Sơn (33)
      • 2.1.2. Tổng quan chung về xã Nga Giáp (36)
        • 2.1.2.1. Điều kiện tự nhiên (36)
        • 2.1.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội (37)
    • 2.2. Thực trạng bất bình đẳng giới hiện nay (39)
      • 2.2.1. Thực trạng bất bình đẳng giới trên thế giới (39)
      • 2.2.2. Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. 40 2.2.3. Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay (42)
    • 2.3. Nguyên nhân về bất bình đẳng giới (60)
      • 2.3.1. Nguyên nhân bất bình đẳng giới trong gia đình ở Việt Nam (60)
    • 2.4. Hậu quả bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn gây ra (65)
      • 2.4.1. Đối với bản thân người phụ nữ (65)
      • 2.4.2. Đối với gia đình (66)
      • 2.4.3. Đối với xã hội (66)
    • 2.5. Biện pháp giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn hiện nay (66)
      • 2.5.1. Đối với nhà nước (66)
      • 2.5.2. Đối với địa phương (67)
  • CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VÀO TRỢ GIÚP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN TẠI XÃ NGA GIÁP, HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY (69)
    • 3.1. Các kỹ năng công tác xã hội sử dụng trong phương pháp phát triển cộng đồng để trợ giúp giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay (69)
      • 3.1.1. Khái niệm ngành công tác xã hội (69)
      • 3.1.2. Các kỹ năng công tác xã hội nông thôn (69)
    • 3.2. Vận dụng các phương pháp phát triển cộng đồng để trợ giúp giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay (70)
      • 3.2.1. Khái niệm phát triển cộng đồng (70)
      • 3.3.2. Các phương pháp của phát triển cộng đồng: 4 phương pháp (71)
    • 3.3. Vận dụng phương pháp PRA vào giải quyết bất bình đẳng giới trong (72)
      • 3.3.1. Vận dụng “PRA” vào công tác tuyên truyền, giáo dục, truyền thông (72)
      • 3.3.2. Vận dụng “PRA” vào chương trình tập huấn, giao lưu (73)
      • 3.3.4. Vận dụng PRA vào kết nối nguồn lực giảm bớt bất bình đẳng giới (74)
    • 3.4. Mô hình áp dụng để trợ giúp giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay (75)
      • 3.4.1. Lồng ghép giới trong việc hoạch định các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giảm bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn xã Nga Giáp (76)
      • 3.4.2. Lồng ghép giới trong tăng cường thông tin truyền thông gắn với phát triển văn hóa giáo dục, từng bước khắc phục khoảng cách giới ở xã Nga Giáp (77)
      • 3.4.3. Lồng ghép giới trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình gắn với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao phúc lợi, phát triển dịch vụ xã hội (78)
      • 3.4.4. Lồng ghép giới trong nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình ở xã Nga Giáp (79)
      • 3.4.5. Lồng ghép giới trong tạo việc làm, tăng thu nhập cho người phụ nữ ở xã Nga Giáp (81)
      • 3.4.6. Lồng ghép giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực xã hội về văn hóa- giáo dục; y tế - sức khỏe ở xã Nga Giáp (82)
      • 3.4.7. Ví dụ cụ thể về mô hình lồng ghép giới ở xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay (83)
  • KẾT LUẬN (87)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)
  • PHỤ LỤC (92)

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU ( 101 ) LỜI CẢM ƠN Học Đại học là quá trình sinh viên tự trau dồi kiến thức, có phương pháp nghiên cứu khoa học để tiếp thu những tri thức rộng lớn của nhân loại Từ đó lấy cơ sở nền tảng,[.]

Tính cấp thiết của đề tài

Sự tiến bộ của con người được xem là tiêu chuẩn cao nhất của phát triển xã hội Công bằng và bình đẳng giới trong cơ hội cống hiến và hưởng thành quả là yếu tố then chốt của sự phát triển xã hội theo hướng tiến bộ Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thúc đẩy mục tiêu đem lại bình đẳng trong xã hội, coi con người là trung tâm của sự phát triển Trong quá trình đổi mới hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhấn mạnh vai trò của nguồn lực con người, đặc biệt chú trọng phát triển toàn diện về trí tuệ, thể chất, cảm xúc và đạo đức của cả nam và nữ để đảm bảo thành công bền vững của đất nước.

Nông thôn là đơn vị hành chính và vùng cư trú lâu đời trong lịch sử Việt Nam Nhờ sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, quá trình này cũng mang lại những vấn đề cấp thiết như bất bình đẳng giới trong gia đình, đòi hỏi cần có các giải pháp phù hợp để nâng cao bình đẳng và phát triển bền vững nông thôn.

Bất bình đẳng giới là vấn đề xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài người.

Cuộc đấu tranh của phụ nữ đòi quyền bình đẳng với nam giới đã diễn ra và phát triển từ lâu, đặc biệt mạnh mẽ ở khu vực nông thôn của Việt Nam, nơi phụ nữ phải đối mặt với bất bình đẳng giới ngày càng rõ rệt Thực trạng này đặt ra nhiều thách thức khó khăn cho lãnh đạo, nhà hoạch định chính sách và các cơ quan chức năng trong việc giải quyết, đồng thời gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, như tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh.

Thanh Hóa là một vùng nông thôn điển hình của Việt Nam, nơi vẫn đang đối mặt với vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình Tình trạng này phản ánh rõ nét những thách thức trong việc thúc đẩy bình đẳng giới ở các khu vực nông thôn Những vấn đề về quyền của phụ nữ và sự phân chia công việc trong gia đình vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của cộng đồng Việc nâng cao nhận thức và thực thi các chính sách về bình đẳng giới là cần thiết để thay đổi nhận thức và cải thiện cuộc sống của người dân nơi đây.

Trong xã hội Việt Nam, phụ nữ luôn là đối tượng yếu thế, chịu nhiều thiệt thòi và bất công trong cuộc sống gia đình cũng như xã hội Họ đóng góp lớn lao, hy sinh cho gia đình và xã hội, nhưng công lao đó thường không được công nhận hoặc tôn vinh đúng mức Sự bất công này là rào cản hạn chế năng lực phát triển của phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn Các quy định, lễ giáo phong kiến và nề nếp gia phong đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Việt Nam, khiến phụ nữ nông thôn từ nhỏ đã bị giáo dục theo kiểu áp đặt bất công và cam chịu số phận Điều này khiến họ luôn xem những bất công là điều tất yếu phải chấp nhận, làm cho vai trò của phụ nữ nông thôn trở nên nhỏ bé trong gia đình và xã hội, đồng thời tiếp tục duy trì những định kiến, thành kiến truyền thống qua các thế hệ.

Xã hội hiện đại chủ nghĩa cộng sản hướng tới xây dựng một xã hội không còn bất công và bất bình đẳng giới, nhưng để đạt được mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực và hợp tác của toàn bộ các thành viên trong xã hội cùng các cơ quan tổ chức có thẩm quyền Việc loại bỏ bất bình đẳng xã hội là một thách thức lớn, đòi hỏi quá trình dài và sự phối hợp chặt chẽ giữa các phía Đây chính là vấn đề được toàn xã hội quan tâm và cũng là đối tượng nghiên cứu của ngành công tác xã hội Với vai trò là sinh viên ngành công tác xã hội, tôi mong muốn nghiên cứu sâu hơn về các giải pháp thúc đẩy bình đẳng xã hội và phát triển cộng đồng bền vững.

Vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng nhằm giảm bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa là giải pháp thiết thực thúc đẩy nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của cộng đồng Điều này giúp thúc đẩy công bằng giới, khẳng định vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội Thực hiện các hoạt động cộng đồng sẽ góp phần xây dựng môi trường lành mạnh, bình đẳng hơn tại khu vực nông thôn, từ đó nâng cao nhận thức của người dân về vai trò và quyền lợi của phụ nữ.

Bài làm của tôi còn nhiều thiếu sót do hạn chế về tài liệu tham khảo, kiến thức chuyên môn và thời gian nghiên cứu hạn hẹp Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý và bổ sung từ các thầy cô giáo để giúp bài viết của tôi được hoàn thiện hơn.

Tổng quan nghiên cứu của đề tài

Vấn đề giải phóng phụ nữ được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -

Lê Nin đã đề cập đến vai trò của phụ nữ trong cách mạng từ rất sớm trong nhiều tác phẩm của ông Tại Việt Nam, vấn đề giải phóng phụ nữ đã được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm ngay từ khi thành lập vào năm 1930 Trong quá trình nghiên cứu lịch sử, tác phẩm "Phụ nữ Việt Nam" đã nhấn mạnh vai trò và vị trí của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ Việt Nam.

Nghị luận về vị thế người phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy vai trò quan trọng của phụ nữ trong gia đình và xã hội, được phản ánh rõ nét qua các công trình như "Nam qua các thời đại" của giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết Nghiên cứu về phụ nữ và gia đình tại Việt Nam bắt đầu thực sự phát triển từ năm 1987 với sự thành lập Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ, sau đổi thành Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ năm 1993 Từ đó đến nay, đã có nhiều trung tâm nghiên cứu hoạt động chuyên sâu nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy các chính sách liên quan đến phụ nữ và gia đình tại Việt Nam.

- Trung tâm Nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia.

- Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển.

- Trung tâm Nghiên cứu lao động nữ thuộc Bộ Lao động, Thương binh và

- Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo về phụ nữ - Đại học Quốc gia Việt Nam.

Khoa Phụ nữ học - Trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh đã nhanh chóng trở thành trung tâm nghiên cứu về phụ nữ và gia đình Việt Nam, nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức quốc tế Dù thời gian hoạt động còn ngắn, nhưng nhờ sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế và tâm huyết của các nhà khoa học, khoa đã góp phần giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phụ nữ và gia đình Việt Nam Đây cũng là bước đột phá trong nghiên cứu về giới và xã hội tại Việt Nam, thúc đẩy chính sách và hoạt động hỗ trợ phụ nữ phát triển bền vững.

Nam đã được đặt ra, xem xét và có hướng giải quyết đúng đắn, trong đó có những chủ đề nghiên cứu về phụ nữ, gia đình nông thôn.

Nhiều nghiên cứu về bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn đã được thực hiện độc lập hoặc theo liên ngành, với kết quả công bố rộng rãi trên các sách, báo, tạp chí Các hội thảo chuyên ngành đã góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chủ đề này Nhiều tác giả, điển hình như tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và tiến sĩ Lê Ngọc, đã xuất bản các công trình có giá trị như sách "Phụ nữ, giới và phát triển" (1996), góp phần thúc đẩy nhận thức và nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông thôn.

Hùng, NXB Phụ nữ, Hà Nội; "Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt

Các tác phẩm như "Nam" (1998) của giáo sư Lê Thi, xuất bản bởi Nhà xuất bản Phụ nữ Hà Nội, đã đặt nền tảng lý luận quan trọng cho nghiên cứu về phụ nữ và gia đình theo phương pháp tiếp cận giới, một phương pháp nghiên cứu mới mẻ nhưng vô cùng hiệu quả Nhiều đề tài nghiên cứu cấp bộ đã được thực hiện và nghiệm thu thành công, trong đó có nghiên cứu về "Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng" (1996 - 1997), góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế và đời sống gia đình.

Nhiều nghiên cứu về bình đẳng giới và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại vùng đồng bằng sông Hồng được thực hiện trong giai đoạn 1995-1996, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ nông thôn Các công trình, sách báo như "Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn" của tiến sĩ Lê Thị Vinh Thi và "Gia đình Việt Nam ngày nay" do giáo sư Lê Thi chủ biên đã đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách phát triển nông thôn tiến bộ, đáp ứng yêu cầu giới Trên cơ sở nghiên cứu thực tế, các tài liệu này hỗ trợ trong việc hoạch định các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới và phát triển kinh tế xã hội ở khu vực đồng bằng sông Hồng Gần đây, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học về phụ nữ và gia đình tiếp tục tiến hành các cuộc điều tra về thực trạng gia đình, các công trình nghiên cứu đã được công bố rộng rãi trên các ấn phẩm khoa học.

Các công trình nghiên cứu trước đó là tài liệu tham khảo quan trọng để thực hiện đề tài của khóa luận, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu sâu, hệ thống về bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn trong thời kỳ đổi mới Trong bối cảnh đó, tôi chọn đề tài này nhằm đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu “Bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn”, đặc biệt tập trung vào xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Đề tài nhằm dựa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, ứng dụng các quan điểm của công tác xã hội để thúc đẩy bình đẳng giới trong cộng đồng nông thôn.

Nhiều chương trình và dự án nghiên cứu đã đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề này, trong đó có những dự án đã thành công và được áp dụng rộng rãi trong thực tế Các kết quả từ những sáng kiến này góp phần thúc đẩy hiệu quả và mang lại lợi ích rõ ràng cho cộng đồng.

- Chương trình bất bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ của Liên Hiệp Quốc.

- Chương trình thúc đẩy bất bình đẳng giới để chống buôn bán phụ nữ và trẻ em.

- Chiến lược quốc gia về bất bình đẳng giới.

- Quy định về các biện pháp bảo đảm về bất bình đẳng giới.

- Chương trình hành động quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho phụ nữ.

- Luật bình đẳng giới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

- Hội thảo tham vấn dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới.

- Huấn luyện bình đẳng giới tại cộng đồng.

- Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo luật phòng chống bạo hành gia đình.

- Bất bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Trong thực tế, đã có nhiều người nghiên cứu và tìm hiểu về vấn đề này Cụ thể như:

Trong bài viết của Nguyễn Thị Uyên về vấn đề bình đẳng giới trong gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang, tác giả nhấn mạnh rằng quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã tác động tích cực đến nhận thức về vai trò giới trong các gia đình nông thôn, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc thay đổi tư duy truyền thống và xóa bỏ các định kiến giới, đặc biệt là ở các vùng ven đô Bài viết cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường các hoạt động giáo dục giới tính và chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền và nghĩa vụ của cả nam và nữ trong gia đình Chính sách và cộng đồng cần đồng hành để hình thành một môi trường gia đình bình đẳng, nơi mọi thành viên đều được tôn trọng và phát huy tối đa khả năng của mình.

- Vấn đề giới trong gia đình, nghiên cứu tại xã Chuế Lưu, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ - Lê thế Nam.

- Bình đẳng về giới trong gia đình ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay- Nhóm sinh viên trường Đại học Đà Lạt.

Những nghiên cứu trên là cơ sở, nền tảng để tôi có thể tham khảo và phát triển khóa luận của mình hoàn chỉnh hơn.

Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm khai thác sâu vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới Mục tiêu của đề tài là thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của người dân, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình Thông qua việc áp dụng các mô hình phát triển cộng đồng, nghiên cứu mong muốn giảm thiểu thực trạng bất bình đẳng giới và góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Đồng thời, dự án hướng đến việc thay đổi nhận thức xã hội, thúc đẩy sự công bằng và bình đẳng giới trong cộng đồng nông thôn.

- Tìm hiểu lịch sử đấu tranh về bất bình đẳng giới trong gia đình ở trên thế giới, ở Việt Nam.

- Nghiên cứu đặc điểm tâm lý của phụ nữ nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng.

- Tìm hiểu đặc trưng của vùng nông thôn xã Nga Giáp, huyện Nga sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình tại nông thôn.

- Trình bày thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Tìm ra các nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đưa ra những hậu quả do bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn gây ra.

Đề xuất các biện pháp xây dựng mô hình phát triển cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi thái độ của người dân Các biện pháp này tập trung vào việc thúc đẩy sự tham gia cộng đồng, tăng cường truyền thông giáo dục và nâng cao kiến thức về các vấn đề xã hội Mô hình phát triển cộng đồng hiệu quả giúp thúc đẩy sự phối hợp giữa các thành viên, tạo ra môi trường tích cực để thúc đẩy thay đổi hành vi và nâng cao ý thức cộng đồng Việc xây dựng các hoạt động phù hợp và bền vững sẽ góp phần quan trọng vào việc hình thành thái độ tích cực và ý thức trách nhiệm của người dân đối với cộng đồng của họ.

+ Nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình ở nông thôn.

+ Khẳng định vị trí của người phụ nữ trong gia đình.

+ Tôn trọng ý kiến của người phụ nữ trong gia đình trong việc ra quyết định quan trọng như: chuyện học hành của con cái, chuyện cưới xin của con…

+ Thu hút sự tham gia của người phụ nữ vào các công hoạt động sản xuất kinh tế của gia đình.

+ Nâng cao nhận thức của người nam giới cũng như thái độ, suy nghĩ của họ về vai trò của người phụ nữ.

+ Thu hút sự tham gia của người nam giới vào các công việc đồng áng, chăm sóc con cái, …

- Vai trò của nhân viên công tác xã hội.

Trong bài viết này, chúng tôi nhấn mạnh việc áp dụng các biện pháp trợ giúp về tham vấn tâm lý nhằm nâng cao sức khỏe tinh thần cho phụ nữ và nam giới ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Việc triển khai các dịch vụ tư vấn tâm lý phù hợp giúp giảm bớt căng thẳng, lo âu và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây Các biện pháp này không chỉ hỗ trợ nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của cộng đồng nông thôn Hội đồng xã phối hợp chặt chẽ với các chuyên gia tâm lý để xây dựng chương trình giúp đỡ phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của người dân địa phương, hướng tới cải thiện tâm trạng và đời sống tinh thần của cả phụ nữ và nam giới.

+ Tổ chức các buổi tập huấn, giao lưu, tuyên truyền về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình tại địa phương.

+ Kết nối, khai thác các nguồn lực trong gia đình, tại địa phương để giúp đỡ giải quyết vấn đề.

Tham mưu cùng các cơ quan chức năng liên ngành trong việc xây dựng chính sách và đề ra các biện pháp giải quyết vấn đề một cách hiệu quả cao.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

- Về thời gian: Từ tháng 12 năm 2010 đến tháng 05 năm 2011.

- Về không gian: Tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Chủ thể nghiên cứu: Phụ nữ trong gia đình ở nông thôn.

- Khách thể nghiên cứu: Các gia đình nông thôn tại xã Nga Giáp,huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp quan sát bao gồm việc theo dõi cách tổ chức, sinh hoạt của từng gia đình trong địa phương để hiểu rõ hơn về cấu trúc và hoạt động hàng ngày Ngoài ra, việc quan sát không khí trong gia đình giúp nhận biết môi trường tinh thần và sự gắn kết giữa các thành viên Thêm vào đó, quan sát thái độ của các thành viên trong gia đình cung cấp những thông tin quan trọng về mối quan hệ nội bộ và tình cảm gia đình, hỗ trợ đưa ra các nhận định chính xác về đời sống gia đình trong cộng đồng.

- Phương pháp phỏng vấn: cá nhân(nam giới, phụ nữ, con cái);gia đình; hàng xóm láng giềng; chính quyền địa phương…

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được thực hiện theo từng đối tượng và từng gia đình trong khu vực, giúp thu thập dữ liệu chính xác và toàn diện Quá trình này bao gồm phân tích và xử lý các số liệu cụ thể để đảm bảo kết quả phản ánh đúng thực trạng Đây là phương pháp hiệu quả trong nghiên cứu xã hội, giúp cung cấp thông tin đáng tin cậy cho các báo cáo và quyết định chính sách.

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dựa trên các tài liệu liên quan, các báo cáo, chương trình, dự án có liên quan đến bất bình đẳng giới.

Những đóng góp về mặt khoa học của khóa luận

Trong lĩnh vực triết học và công tác xã hội, bước đầu khóa luận đã kết hợp chặt chẽ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam để xem xét và lý giải vấn đề bình đẳng giới Sự kết hợp này được xem là bước phát triển lôgíc giúp làm sáng tỏ hơn các vấn đề lý luận về giải phóng phụ nữ và thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới một cách toàn diện.

Khảo sát thực tiễn về quan hệ giới trong gia đình ở nông thôn xã Nga Giáp cho thấy sự cần thiết thúc đẩy bình đẳng giới để phát huy nguồn nhân lực địa phương Khóa luận đề xuất các phương hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao bình đẳng giới trong gia đình, coi đây là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững Việc nâng cao nhận thức và thay đổi tư duy truyền thống về vai trò giới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng giới trong cộng đồng dân cư nông thôn Các giải pháp này góp phần tạo nền tảng vững chắc để phát huy nguồn nhân lực trẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình nông thôn.

Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài tổng quan về bất bình đẳng giới trong phân công lao động và tiếp cận các nguồn lực y tế, giáo dục, quyền lực gia đình Bài viết nhấn mạnh sự chênh lệch trong mức độ đóng góp và hưởng thụ giữa nam và nữ Đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu bất bình đẳng, nâng cao nhận thức của phụ nữ về vị thế, vai trò, quyền lợi và tự khẳng định chính mình trong xã hội hiện nay Bên cạnh đó, bài viết còn góp phần thay đổi nhận thức của nam giới về vai trò của phụ nữ, hướng tới xây dựng xã hội công bằng hơn.

Nghiên cứu đề tài là cơ hội để em trải nghiệm thực tế và áp dụng kiến thức đã học, đặc biệt là lĩnh vực công tác xã hội Qua quá trình này, em tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và bài học bổ ích, góp phần nâng cao kỹ năng chuyên môn và phát triển bản thân.

Em hy vọng những kết luận và nhận định trong đề tài sẽ trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho những người muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô và các bạn để giúp đề tài của em hoàn thiện hơn.

Kết cấu của đề tài khóa luận

Ngoài phần lời nói đầu thì khóa luận tốt nghiệp gồm có 3 chương:

- Chương 1: Tổng quan chung về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn

- Chương 2: Thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa hiện nay

Chương 3 tập trung vào việc vận dụng phương pháp phát triển cộng đồng để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình tại xã Nga Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Phương pháp này nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của các thành viên trong gia đình Việc áp dụng chiến lược phát triển cộng đồng giúp tạo ra sự chuyển biến tích cực, góp phần giảm thiểu các bất công liên quan đến giới tính Các hoạt động cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về quyền của phụ nữ, thúc đẩy sự chia sẻ công bằng trong phạm vi gia đình, đồng thời xây dựng môi trường hỗ trợ cho phụ nữ và các nhóm yếu thế Nhờ đó, chương trình này góp phần thúc đẩy bình đẳng giới bền vững trong cộng đồng, hướng tới việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.

TỔNG QUAN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN

Khái niệm chung

Giới là lĩnh vực nghiên cứu về sự khác biệt sinh học và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, phản ánh vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội đề cao hoặc quy định cho từng giới Hiểu rõ về giới giúp nhận diện các chuẩn mực, định kiến và trách nhiệm xã hội liên quan đến nam và nữ trong cộng đồng Các vai trò xã hội của nam và nữ ngày càng được mở rộng, hướng tới sự công bằng và bình đẳng giới Việc nghiên cứu giới góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững, nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của mỗi giới trong xã hội hiện đại.

Khác biệt giới tính là khái niệm khoa học phản ánh sự khác nhau về mặt sinh học giữa nam và nữ, chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất và di truyền nòi giống Những khác biệt này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng sinh sản và di truyền của loài người Hiểu rõ về sự khác biệt sinh học giúp nâng cao nhận thức về vai trò của mỗi giới trong cộng đồng và thúc đẩy sự phát triển của các nghiên cứu y học, sinh học về giới tính.

Phụ nữ là lực lượng cốt lõi và nhân tố phát triển của xã hội, đóng vai trò cao quý trong các chức năng xã hội và góp phần to lớn vào sự tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên, họ lại được hưởng rất ít thành quả vật chất và tinh thần từ những đóng góp của chính mình Lịch sử luôn ghi nhận vai trò của người phụ nữ như nguồn hạnh phúc, người chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu và là chỗ dựa vững chắc cho gia đình trong nhiều khía cạnh cuộc sống.

Phụ nữ đã có vai trò đa chiều trong xã hội, không chỉ gắn liền với trách nhiệm gia đình mà còn tham gia tích cực vào công việc xã hội Ngày nay, phụ nữ ngày càng thể hiện sự thông minh, sáng tạo và giữ vai trò quan trọng, góp phần khẳng định vị trí của họ trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên, khoảng cách giới vẫn tồn tại là một thách thức toàn cầu, trong đó có Việt Nam, đòi hỏi nỗ lực không ngừng để thúc đẩy bình đẳng giới.

Nam và nữ đều có vị trí, vai trò ngang nhau trong xã hội, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình để thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và gia đình Việc bình đẳng giới giúp đảm bảo quyền lợi và thành quả phát triển được sẻ chia công bằng giữa hai giới, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và văn minh.

Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ

1.1.6 Phân biệt đối xử về giới

Việc hạn chế, loại trừ hoặc không công nhận vai trò, vị trí của nam và nữ dẫn đến bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Đây là vấn đề cần được khắc phục để thúc đẩy sự công bằng và phát triển bền vững trong cộng đồng.

1.1.7 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới nhằm đảm bảo sự công bằng thực chất giữa nam và nữ Đây là những chính sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành khi có sự chênh lệch lớn về vị trí, vai trò, điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của hai giới Các biện pháp này hỗ trợ giảm thiểu bất cập do việc áp dụng quy định như nhau giữa nam và nữ không thể xóa bỏ những khác biệt tồn tại Thời gian thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là có hạn và sẽ kết thúc khi mục tiêu bình đẳng giới đã đạt được.

1.1.8 Chỉ số phát triển giới (GDI)

Số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới dựa trên các yếu tố như tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và nữ Những số liệu này giúp đánh giá mức độ công bằng trong các lĩnh vực phát triển xã hội Thông qua phân tích các chỉ số này, chúng ta có thể thấy rõ những tiến bộ cũng như các tồn tại trong bình đẳng giới Các dữ liệu này là căn cứ để đề ra các chính sách thúc đẩy bình đẳng giới hiệu quả hơn trong tương lai.

Xã hội là một phân hệ có lãnh thổ xác định đã hình thành lâu dài trong lịch sử, với hệ thống độc lập và tương đối ổn định Nó hoạt động như một tiểu hệ thống không gian – xã hội, trong đó các thành phần cơ bản đồng nhất với đô thị nhưng vẫn giữ sự tách biệt rõ ràng.

1.1.10 Mục tiêu bình đẳng giới

Mục tiêu bình đẳng giới nhằm xoá bỏ phân biệt đối xử về giới và tạo ra cơ hội bình đẳng cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội cũng như phát triển nguồn nhân lực Đây hướng tới việc đạt được bình đẳng giới thực chất, qua đó thúc đẩy quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

Lý thuyết ứng dụng

1.2.1 Lý thuyết tiếp cận giới

Quan điểm giới, xuất phát từ lý thuyết nữ quyền, nhấn mạnh rằng nam giới và nữ giới có những trải nghiệm và cảm nhận về cuộc sống gia đình khác nhau Gia đình không phải lúc nào cũng là nơi hài hòa, hợp tác dựa trên lợi ích chung, mà thường phản ánh sự xung đột trong phân công lao động theo giới, quyền lực chênh lệch và cơ hội tiếp cận nguồn lực không đều, gây bất lợi cho phụ nữ.

Trong quá trình phân tích sự biến đổi gia đình, quan điểm giới và phương pháp luận phân tích giới đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình Các nội dung nghiên cứu chính tập trung vào sự phân công lao động theo giới, cách thức các thành viên tiếp cận nguồn lực và quyền ra quyết định, cũng như đóng góp và thụ hưởng của từng thành viên trong gia đình Nhấn mạnh vào các vấn đề này giúp hiểu rõ hơn về vai trò và vị trí của giới trong sự thay đổi của gia đình hiện đại.

Nữ quyền là phong trào phụ nữ xuất phát từ thế kỷ XIX với mục tiêu chấm dứt sự phụ thuộc của phụ nữ vào xã hội và các thế lực khác Các quan điểm về nữ quyền bao gồm nữ quyền tự do, nữ quyền mác xít và nữ quyền xã hội chủ nghĩa, đều nhằm lý giải nguyên nhân của sự đàn áp phụ nữ và thúc đẩy các thay đổi trong quan hệ giới để nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội Phong trào nữ quyền là một lực lượng xã hội quan trọng góp phần thay đổi cấu trúc xã hội vì quyền lợi và bình đẳng giới.

1.2.3 Học thuyết nhu cầu của A Maslaw

Theo Abraham Maslow, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, bắt đầu từ các nhu cầu sinh lý cơ bản nhất để duy trì sự sống Khi một lớp nhu cầu được đáp ứng đầy đủ, nó sẽ không còn là động lực thúc đẩy hành động nữa, và con người sẽ chuyển hướng tập trung vào các nhu cầu cao hơn Tháp nhu cầu của Maslow gồm có 5 bậc: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, và nhu cầu phát triển bản thân Vì vậy, để hiểu và đáp ứng được hành vi của con người, cần xét đến các mức độ nhu cầu này trong mọi hoạt động và quyết định.

1.2.4 Thuyết về quyền con người

Con người sinh ra đã được tự nhiên ban cho những quyền cơ bản như quyền sống còn, tự do và hạnh phúc Trong đó, quyền tự do, công bằng và bình đẳng là những quyền thiêng liêng không thể xâm phạm, cần được nhà nước và pháp luật công nhận Quyền con người này phải được phát triển song hành cùng sự tiến bộ của xã hội để đảm bảo quyền lợi và tự do cho mỗi cá nhân.

Quyền con người là mục tiêu và động lực quan trọng của sự phát triển bền vững Đảm bảo quyền con người chính là nền tảng thúc đẩy các hoạt động xã hội tiến bộ, công bằng và nhân văn Khi quyền của mỗi cá nhân được bảo vệ, xã hội mới có thể phát triển một cách ổn định và hài hòa.

1.3 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về bình đẳng giới

1.3.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong cách mạng, khẳng định rằng phụ nữ là lực lượng đông đảo góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội Trong bài nói tại lớp học ở Quảng Châu, Người đã nhắc lại quan điểm của Karl Marx rằng, muốn xây dựng xã hội mới thành công, không thể thiếu sự đóng góp của phụ nữ Người cũng nhấn mạnh rằng, để Việt Nam Kách mệnh đạt được thành công rực rỡ, cần có sự tham gia của nữ giới Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao khả năng và vai trò của phụ nữ cả trong gia đình và ngoài xã hội, nêu bật tầm quan trọng của họ trong sự nghiệp cách mạng.

Phụ nữ Việt Nam đã góp công lao to lớn trong việc giữ gìn và xây dựng đất nước qua nhiều thế hệ, với câu nói nổi tiếng “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” Trong lịch sử, phụ nữ từng là đối tượng bị áp bức và bóc lột dưới chế độ phong kiến và thực dân, phải chịu đựng nhiều bất công và đau khổ Nhà cách mạng Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng việc giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới là một trong những mục tiêu của cách mạng, khẳng định “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người” Tư tưởng đó thể hiện sự kế thừa và sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa, đề cao đạo lý nhân đạo, nam nữ bình đẳng Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, quan điểm “nam, nữ bình quyền” đã được xác định rõ ràng Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Nghị quyết số 152-NQ/TƯ của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 10-01-1967 đã nhấn mạnh rằng tư tưởng phong kiến còn ảnh hưởng sâu sắc trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, chưa tin vào năng lực quản lý và lãnh đạo của phụ nữ, phản ánh rõ những khó khăn mà phụ nữ phải đối mặt trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò và vị trí của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, thúc đẩy các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị quan tâm đến công tác tuyên truyền, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ để phục vụ công cuộc giải phóng phụ nữ Ngài tin tưởng vào tinh thần yêu nước và khả năng sáng tạo của phụ nữ Việt Nam, nhấn mạnh con đường giải phóng phụ nữ là tham gia cách mạng chống lại áp bức và bóc lột, đồng thời khẳng định cần phát triển văn hóa, giáo dục và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế – xã hội như nam giới Bác phê phán những nhận thức chưa đúng về bình đẳng giới, cho rằng bình đẳng không chỉ là phân công công việc trong gia đình mà còn phải có sự sắp xếp lại lao động xã hội để phụ nữ tham gia nhiều ngành nghề Trong thời kỳ hoạt động bí mật, Ngài trực tiếp tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ cách mạng, trong đó có những nữ cán bộ ưu tú như Nguyễn Thị Minh Khai, và sau Cách mạng tháng Tám, ngày 20-10-1946, Ngài đã ra Chỉ thị thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhằm đoàn kết phụ nữ thành một khối thống nhất Trong các ngày kỷ niệm quốc tế Phụ nữ 8-3, ngày thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20-10 hàng năm, cùng các hội nghị, đại hội phụ nữ toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tham dự hoặc gửi thư động viên, khen thưởng, góp phần thúc đẩy phong trào phụ nữ tiến bộ.

Để xây dựng phong trào phụ nữ vững mạnh, cần có đội ngũ cán bộ nữ ưu tú, đảm nhận vai trò quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo Việc cất nhắc cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo, đặc biệt trong các ngành phù hợp với phụ nữ, là yếu tố then chốt để thúc đẩy phong trào Cán bộ nữ đóng vai trò là cầu nối giữa Đảng và quần chúng phụ nữ, đồng thời là những người tiên phong trong phong trào phụ nữ, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh của phong trào này.

Bác Hồ luôn tin tưởng và đánh giá cao năng lực của người phụ nữ, ghi nhận những ưu điểm vượt trội như ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách và có khả năng ra lệnh như một số cán bộ nam Những đặc điểm tâm lý, đức tính tốt đẹp của phụ nữ như cẩn thận, chu đáo, tiết kiệm và gần gũi với quần chúng chính là nền tảng giúp phụ nữ phát huy năng lực trong công tác Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt cho cán bộ nữ, luôn bao dung, độ lượng, hiểu rõ hoàn cảnh và đặc điểm riêng của họ Ngài quan tâm đến tỷ lệ đại biểu nữ trong các hội nghị, thường mời chị em lên hàng ghế đầu và khích lệ ý kiến của họ, thể hiện sự coi trọng vai trò của phụ nữ trong xã hội Trong chuyến thăm lớp học của cán bộ huyện năm 1967, Bác đã động viên khuyến khích cán bộ nữ trưởng thành, góp phần nâng cao vai trò của người phụ nữ trong phong trào cách mạng Trong lễ kỷ niệm 20 năm thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Bác tự hào về tướng quân Nguyễn Thị Định, người phụ nữ tiêu biểu của miền Nam, góp phần tôn vinh vẻ vang của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc giải phóng và xây dựng đất nước.

Hiểu, thông cảm, động viên và khuyến khích kịp thời để cán bộ nữ phát huy ưu điểm, đồng thời Bác nhấn mạnh những thiếu sót cần khắc phục, đồng thời nhấn mạnh phụ nữ phải vươn lên để bình đẳng với nam giới về trình độ và năng lực quản lý kinh tế, xã hội Bác khuyên phụ nữ cố gắng học tập, chủ động vượt qua khó khăn, tự tin, tự lực, tự cường và không nên tự ti hay chờ đợi Chính phủ giải phóng Người nhấn mạnh sự công bằng cho phụ nữ dựa trên phân công công việc hợp lý, phù hợp khả năng và hoàn cảnh cá nhân, đồng thời khẳng định bình đẳng phải thể hiện trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Bác luôn căn dặn các cấp ủy Đảng và ngành nghề phải dựa trên trình độ của từng người để giúp đỡ phụ nữ, và đánh giá cao việc phụ nữ tham gia vào các cơ quan lãnh đạo là một cố gắng vượt bậc, trong đó Đảng cần quan tâm, hỗ trợ thường xuyên, không chỉ để đạt tỷ lệ nữ trong cơ cấu lãnh đạo mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của phụ nữ trong xã hội.

Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ nhằm giải phóng phụ nữ một cách triệt để qua các hình thức thích hợp để giúp họ trở thành những cán bộ giỏi, đủ sức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Người là tấm gương mẫu mực trong việc sử dụng cán bộ, đặc biệt là cán bộ phụ nữ, đồng thời phát động phong trào phụ nữ tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việc nâng cao vị trí và vai trò của phụ nữ trong công cuộc xây dựng đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu lớn, được khẳng định qua Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X nhằm thúc đẩy bình đẳng giới, nâng cao trình độ và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Chính phủ và các cấp chính quyền cần tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, mẹ, thầy đầu tiên của con người, đồng thời đẩy mạnh bồi dưỡng, đào tạo để họ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo, quản lý, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em Bên cạnh đó, cần hoàn thiện chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản và chế độ đối với lao động nữ, cùng với việc đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ, là nhiệm vụ của các cấp ủy đảng, nhất là người đứng đầu.

Ngay trong Lời kêu gọi tại Hội nghị thành lập Đảng họp ngày 03 tháng

Vào năm 1930, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định rằng "Thực hiện nam nữ bình quyền" là một trong 10 mục tiêu cơ bản của Đảng ngay từ khi mới thành lập Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Người căn dặn các cấp ủy Đảng, cơ quan, đơn vị cần quan tâm chăm lo công tác vận động phụ nữ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để góp phần thúc đẩy công cuộc giải phóng phụ nữ.

Dưới sự tiến bộ của chính trị, kinh tế, văn hóa và pháp luật, phong trào “giải phóng phụ nữ” và “bình đẳng giới” đã mang lại nhiều thành tựu cho phụ nữ Việt Nam Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, phụ nữ Việt Nam luôn vững vàng, sát cánh cùng nam giới trong nỗ lực thi đua, đóng góp trí tuệ và sức lực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bất bình đẳng giới

Các chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước để giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn

1.5.1 Chủ trương, chính sách và pháp luật trên thế giới

Liên hợp quốc nhấn mạnh rằng bình đẳng giới có nghĩa là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang bằng và có điều kiện như nhau để thực hiện quyền con người Bình đẳng giới tạo cơ hội công bằng cho cả nam và nữ đóng góp và hưởng lợi từ phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước Đây là nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, phát triển bền vững và bao trùm.

Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế.

Ngày 18/12/1979, Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ nữ trên toàn cầu Đến ngày 03/9/1981, sau khi 20 quốc gia ký kết, công ước chính thức có hiệu lực như một văn kiện quốc tế toàn diện về quyền phụ nữ Theo Ủy ban CEDAW, tính đến tháng 3/2005, có hơn 180 quốc gia đã phê chuẩn hoặc ký kết Công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc, thể hiện cam kết quốc tế mạnh mẽ trong việc đấu tranh xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ.

Sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Ủy ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW), thành lập năm 1946 nhằm giám sát và nâng cao quyền lợi của phụ nữ Hoạt động của Ủy ban đã thúc đẩy bình đẳng giới, giúp phụ nữ có quyền như nam giới ở nhiều nơi trên thế giới Các nỗ lực này đã dẫn đến sự ra đời của nhiều tuyên bố và điều ước quốc tế, trong đó Công ước CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ tại cấp quốc tế.

Công ước được xây dựng dựa trên các mục tiêu của Liên hợp quốc nhằm bảo vệ nhân cách, phẩm giá và quyền cơ bản của con người Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền bình đẳng giới và thúc đẩy sự công bằng giữa phụ nữ và nam giới Ngoài việc làm rõ ý nghĩa của bình đẳng giới, Công ước còn đề ra các phương thức để đạt được quyền bình đẳng này, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ và phát triển bền vững trong xã hội.

1.5.2 Chủ trương chính sách và pháp luật ở Việt Nam

Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến nay đều thể hiện tinh thần bình đẳng giới rõ nét, như nguyên tắc nữ quyền trong Hiến pháp đầu tiên và quy định về quyền ngang nhau của nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình ở Hiến pháp 1992 Bộ luật Lao động 1994 là bước tiến quan trọng, ghi rõ quyền tự do làm việc và lựa chọn nghề nghiệp của mọi người mà không phân biệt giới tính, dân tộc hay thành phần xã hội Các văn bản dưới luật và chỉ thị của Nhà nước đã góp phần cụ thể hóa quyền bình đẳng giới trong thực tế, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thúc đẩy quyền và vai trò của nữ giới trong xã hội Việt Nam Đặc biệt, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong ký Công ước CEDAW nhằm công nhận và thực thi các quy định về bình đẳng giới theo tiêu chuẩn quốc tế.

* Luật Bất bình đẳng giới

Theo Luật Bình đẳng giới 2006, Chính phủ Việt Nam đã ban hành chương trình hành động quốc gia đến năm 2020 nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Chương trình này thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới và ghi nhận những đóng góp quan trọng của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo.

Chương trình hành động của chính phủ nhằm tăng cường phối hợp liên ngành trong việc nâng cao năng lực và thúc đẩy tiến bộ của phụ nữ, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới Các hoạt động này tập trung vào cải thiện khả năng tiếp cận giáo dục cao hơn, trang bị kỹ năng nghề nghiệp để phụ nữ có thể tham gia thị trường lao động hiệu quả hơn, và nâng cao năng lực cho cán bộ nhà nước về bình đẳng giới và lồng ghép giới Chương trình cũng chú trọng xây dựng các mô hình thí điểm về thực hiện bình đẳng giới địa phương, đẩy mạnh hoạt động truyền thông về Luật phòng chống bạo lực gia đình, và thiết lập chỉ số nhạy cảm giới để đánh giá tiến trình trong các lĩnh vực như giáo dục và đào tạo Ông Phạm Ngọc Tiến, Vụ trưởng Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao Động, Thương Binh, Xã hội khẳng định rằng chương trình này còn tạo nền tảng pháp lý cho việc xây dựng Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, góp phần đưa Việt Nam tiến tới vị trí quốc gia có nhiều tiến bộ về bình đẳng giới trong khu vực.

Chính phủ đã ban hành ba nghị định quan trọng nhằm thực hiện tốt hơn Luật Bình đẳng giới và đảm bảo bình đẳng giới Trong đó, Nghị định số 70 ngày 04 tháng 06 năm 2008 chi tiết hóa việc thi hành các điều khoản của Luật Bình đẳng giới, đồng thời quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan cấp Bộ và Ủy ban nhân dân trong việc thực hiện luật Nghị định cũng cung cấp hướng dẫn cụ thể về các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới, góp phần thúc đẩy công bằng giới và phát triển xã hội.

Nghị định số 48 ngày 19 tháng 5 năm 2008 quy định rõ yêu cầu, nội dung và phương thức cung cấp thông tin, giáo dục, truyền thông về giới và bình đẳng giới Trong đó, mọi văn bản pháp quy của trung ương và địa phương đều phải được lồng ghép nội dung giới nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong chính sách pháp luật Nghị định nhấn mạnh sự tham gia của các Bộ, ngành liên quan trong quá trình soạn thảo văn bản pháp quy, cùng với việc tham vấn các chuyên gia và tổ chức hoạt động về giới để đảm bảo nội dung phù hợp và hiệu quả Trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc đảm bảo lồng ghép giới vào các văn bản pháp quy được quy định rõ trong nghị định này, góp phần nâng cao nhận thức và thúc đẩy bình đẳng giới trong hệ thống pháp luật.

6 năm 2009 quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức, mức xử phạt và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới.

Mặc dù đã có khuôn khổ pháp lý rõ ràng, quá trình thực thi Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng chống bạo lực gia đình gặp nhiều thách thức, đặc biệt về năng lực của các cơ quan liên quan trong việc xây dựng và lồng ghép giới Để khắc phục vấn đề này, Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc đã bắt đầu chương trình chung về Bình đẳng giới từ tháng 3 năm ngoái, giúp nâng cao nhận thức và kiến thức về việc thực hiện, giám sát, đánh giá các luật này Lồng ghép giới đã được tích hợp trong nhiều lĩnh vực và văn bản pháp lý, như Điều tra lực lượng lao động và Điều tra nông nghiệp, đồng thời hoạt động thực địa trong khuôn khổ cuộc Điều tra quốc gia về sức khỏe phụ nữ và kinh nghiệm sống cũng đang thu thập dữ liệu định tính để thúc đẩy bình đẳng giới hiệu quả hơn.

* Luật phòng, chống bạo lực gia đình

Luật này quy định về việc phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực trong gia đình Nó nhấn mạnh trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong việc phối hợp và thực hiện các biện pháp phòng chống bạo lực gia đình hiệu quả Ngoài ra, luật còn đề cập đến các quy định xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến bạo lực gia đình để đảm bảo an toàn và quyền lợi của các nạn nhân.

Luật quy định rõ các hành vi bạo lực gia đình như hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xâm hại sức khỏe, cô lập, xua đuổi, gây áp lực tâm lý hoặc ngăn cản quyền và nghĩa vụ trong gia đình là vi phạm pháp luật Nhà nước đã xây dựng các chính sách nhằm phòng chống bạo lực gia đình, trong đó hàng năm dành ngân sách cho hoạt động này; đồng thời khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia tài trợ và phát triển các mô hình ngăn ngừa bạo lực gia đình hiệu quả.

Ngoài ra luật còn quy định những nguyên tắc trong việc giải quyết và các biện pháp phòng ngừa, hỗ trợ cho nạn nhân bị bạo lực gia đình.

Chính sách pháp luật của Nhà nước đóng vai trò là nền tảng quan trọng để triển khai các giải pháp phòng chống vấn đề xã hội Đặc biệt, đối với nhân viên công tác xã hội, các văn bản pháp luật là công cụ thiết yếu để giải quyết bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn Qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, bao gồm cả bất bình đẳng giới hiện nay.

THỰC TRẠNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG VÀO TRỢ GIÚP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN TẠI XÃ NGA GIÁP, HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

Ngày đăng: 18/02/2023, 22:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thực trạng bình đẳng giới trong nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bình đẳng giới trong nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
4. Giáo sư Lê Thi. "Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam".NXB Phụ nữ, Hà Nội (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thi
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1996
5. GS. Phạm Tất Dong, Ts. Lê Ngọc Hùng, Phạm Văn Quyết, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Bá Thịnh - Xã Hội Học - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn – NXBQG Hà Nội (2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã Hội Học
Tác giả: Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng, Phạm Văn Quyết, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Bá Thịnh
Nhà XB: NXBQG Hà Nội
Năm: 2000
6. Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình. Nhà xuất bản khoa học xã hội - Viện Xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Tác giả: Mai Huy Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội - Viện Xã hội học
7. Ngân hàng thế giới, Đưa vấn đề giới vào phát triển, 385 trang, Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa vấn đề giới vào phát triển
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin
Năm: 2001
8. Nguyễn Khắc Việt, Từ điển Xã Hội Học. Nhà xuất bản Hà Nội (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Xã Hội Học
Tác giả: Nguyễn Khắc Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
Năm: 1994
9. Phạm Đình Thái, Vai trò của phụ nữ trong phát triển, Đại học Mở bán công xuất bản (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của phụ nữ trong phát triển
Tác giả: Phạm Đình Thái
Nhà XB: Đại học Mở bán công xuất bản
Năm: 1999
10. PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến trong tác phẩm “Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại”, Nhà xuất bản thống kê, (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và những vấn đề của gia đình hiện đại
Tác giả: Trần Thị Kim Xuyến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2001
11. Phạm Văn Quyết, Ts Nguyễn Quý Thanh. Phương pháp nghiên cứu xã hội học. Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia(2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết, Ts Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia
Năm: 2001
12. Quản Hoàng Linh. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về giải phóng phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới - Theo Báo Giáo dục và Thời đại (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm về giải phóng phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới
Tác giả: Quản Hoàng Linh
Nhà XB: Báo Giáo dục và Thời đại
Năm: 2010
13. Tác giả Phạm Thị Huệ - Viện Gia đình và giới với bài “Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam”. Qua điều tra ở Yên Bái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lực của vợ chồng trong gia đình nông thôn Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Huệ
Nhà XB: Viện Gia đình và giới
14. Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và tiến sĩ Lê Ngọc Hùng. "Phụ nữ, giới và phát triển"; NXB Phụ nữ, Hà Nội (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh, tiến sĩ Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 1996
15. ThS. Nguyễn Thị Nguyệt, nghiên cứu viên Tạp chí Quản lý Kinh tế. Đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Nguyệt
Nhà XB: Tạp chí Quản lý Kinh tế
16. Trần Thị Vân Anh. Đóng góp kinh tế của chồng và vợ. Viện gia đình và giới - nghiên cứu gia đình và giới số 5, (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đóng góp kinh tế của chồng và vợ
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Nhà XB: Viện gia đình và giới - nghiên cứu gia đình và giới
Năm: 2007
17. TS Chu Bích Thu, PGS TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh, TS Phạm Hùng Việt “Từ điển Tiếng Việt Phổ Thông”, Viện Ngôn ngữ học, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt Phổ Thông
Tác giả: TS Chu Bích Thu, PGS TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn Thúy Khanh, TS Phạm Hùng Việt
Nhà XB: Viện Ngôn ngữ học
2. Lê Thị Quý. Vấn đề giới trong các dân tộc ít người ở Sơn La, Lai Châu.Xã Hội Học Số 1(85), 2004 Khác
3. Lê Tiêu La, Lê Ngọc Hùng. Vấn đề giới trong kinh tế hộ - tìm hiểu phân công lao động nam nữ trong gia đình ngư dân ven biển miền trung . Xã Hội Học số 3(63), 1998 Khác
18. Vũ Tuấn Huy. Những vấn đề của gia đình việt nam trong quá trình biến đổi xã hội theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa . Xã Hội Học số 2(94), 2006 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w