M©u thuÈn gi÷a yªu cÇu ngµy cµng cao cña nhiÖm vô víi kh n¨ng ®¸p øng thÊp cña ®éi ngò c¸n bé cÊp c së ngêi d©n téc thiÓu s ( 100 ) Më ®Çu 1 TÝnh cÊp thiÕt cña ®Ò tµi Trong thêi kú qu¸ ®é lªn CNXH ë[.]
Trang 1Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nớc ta, đổi mới hệthống chính trị là nhiệm vụ rất quan trọng Nhiệm vụ hệtrọng đó đã đợc Đảng ta khẳng định trong Cơng lĩnh xâydựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nớc ta trong giai đoạnmới là nhằm xây dựng và từng bớc hoàn thiện nền dân chủxã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”[7, tr.19] Nh vậy, quyền lực của nhân dân lao động có đợc
đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở hệ thốngchính trị có đợc đổi mới và hoàn thiện hay không Khi côngcuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ tr-
ơng hớng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội củachính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ sở.Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (9-2006) đặc biệt coi trọng đổi mới hệ thống chính trị ở cơ
sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) Đây cũng là thểhiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị.Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phơng thức đổi mới
hệ thống chính trị cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới hệthống chính trị cấp cơ sở và sự đổi mới hệ thống chính trịcấp cơ sở có tác động tích cực trở lại hệ thống chính trị nóichung
Cơ sở (xã, phờng, thị trấn), trong đó xã là chủ yếu,chiếm tới 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ
sở, do vậy hệ thống chính trị ở cơ sở thuộc khu vực nông
Trang 2thôn giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính trị nớc
ta Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nông thôn trên địa bànKon Tum trong thời gian qua đang tiếp tục đợc củng cố,hoàn thiện nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân vàthực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự Tuynhiên trong những năm gần đây, vấn đề bức xúc đã và
đang đặt ra bởi hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên
địa bàn tỉnh Kon Tum còn bộc lộ nhiều yếu kém nh: hệthống tổ chức vẫn cha ổn định; mối quan hệ giữa các bộphận cấu thành hệ thống chính trị ở đây còn nhiều bấtcập; các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức vàphơng thức hoạt động cha ngang tầm với yêu cầu thực tiễnhiện nay
Đứng trớc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc, tình hình đó phải đợc khắc phục, phải
đ-ợc giải quyết Việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trịcấp cơ sở ở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum là vấn đềrất quan trọng và cấp thiết để đảm bảo sự ổn định, pháttriển lâu bền của nông thôn KonTum đi lên CNXH hoà nhậpchung với tiến trình phát triển của đất nớc
Vì vậy, việc nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay” dới góc nhìn của Chính trị học là vấn đề
có tính lý luận và thực tiễn quan trọng vừa cơ bản lâu dài,vừa cấp bách hiện nay Đó là lý do tôi chọn đề tài này làmluận văn thạc sĩ Khoa học Chính trị học chuyên ngành Chínhtrị học
Trang 32 Tình hình nghiên cứu đề tài
ở Việt Nam vấn đề hệ thống chính trị nói chung và hệthống chính trị các cấp từ trung ơng đến cơ sở nói riêng đã
đợc nhiều nhà lý luận, nhà khoa học, nhà quản lý quan tâmnghiên cứu trong những năm qua, theo thời gian có thể tómtắt tình hình nghiên cứu đó nh sau:
- TS Lu Minh Trị, “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính
trị ở cơ sở nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai
đoạn hiện nay”, năm 1993.
- Đặng Thị Hiền, “Đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị
cấp cơ sở nông thôn (thông qua khảo sát thực tế của tỉnh Tuyên Quang)”, Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành
Triết học, 1993
- GS.TS Phạm Ngọc Quang, “Tiếp tục đổi mới hệ thống
chính trị nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân lao động”, Tạp chí Triết học, số 3 năm 1996.
- GS Nguyễn Đức Bình, GS PTS Trần Ngọc Hiên, GS
Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, PGS PTS Trần Xuân
Sầm (đồng chủ nhiệm), “Đổi mới và tăng cờng hệ thống
chính trị ở nớc ta trong giai đoạn mới” Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1999
- PGS Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), “Hệ thống chính
trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nớc ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
- TS Vũ Hoàng Công, “Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc
điểm, xu hớng và giải pháp”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, Hà Nội, 2002
Trang 4- TS Đặng Đình Tân, “Chính quyền cấp xã - những vấn
đề đặt ra hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng
Quốc hội, Đặc san số 3 năm 2002
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ơng khoá IX về “ Đổi mới và
nâng cao chất lợng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phờng, thị trấn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên), “Hệ thống chính trị
ở cơ sở nông thôn nớc ta hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004
- TS Chu Văn Thành (chủ biên), “Hệ thống chính trị cơ
sở- Thực trạng và một số giải pháp đổi mới”, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2004
- PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh (chủ biên), “Góp phần đẩy lùi
nguy cơ, bảo đảm ổn định và phát triển đất nớc”, Nxb Lý
hệ thống chính trị với những mức độ khác nhau Xuyên quanhững công trình đó, có thể tổng quan lại những vấn đềsau đây:
Trang 5Thứ nhất, các nhà khoa học đã từ nhiều cách tiếp cận
khác nhau đã đa ra những định nghĩa có thể theo nghĩarộng hoặc nghĩa hẹp về hệ thống chính trị Qua các phântích, khái quát dẫn đến việc đa ra các định nghĩa khácnhau về hệ thống chính trị của các nhà khoa học, có thể rút
ra đợc những dấu hiệu nội hàm cơ bản của khái niệm hệthống chính trị Những dấu hiệu cơ bản trong nội hàm củakhái niệm hệ thống chính trị đó thể hiện sự nhận thức về
hệ thống chính trị ngày càng sâu sắc hơn, toàn diện hơn
và có thể chỉ đạo hoạt động thực tiễn của xã hội trong việc
đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị ở nớc ta hiện nayngày càng có hiệu quả hơn
Thứ hai, các nhà khoa học đã tập trung phân tích cấu
trúc, đặc điểm, các nhân tố chế định và vị trí, vai trò của
hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị Việt Namnói riêng với những nét đặc thù của nó Điều này rất có giá trịkhi Việt Nam gia nhập WTO, giúp chúng ta có thể tiếp thu cóchọn lọc những giá trị hợp lý trong việc tổ chức và hoạt độngcủa các mô hình hệ thống chính trị trên thế giới làm cho hệthống chính trị của chúng ta về tổ chức và hoạt động có hiệuquả hơn nhng vẫn giữ đợc những nét đặc thù Việt Nam
Thứ ba, từ việc xác định các khái niệm công cụ- hệ
thống chính trị, các nhà khoa học khảo sát, phân tích thựctrang hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, vạch ra nhữngtích cực và những hạn chế, những bất cập này cùng nhữngnguyên nhân của nó Nhiều công trình đã đi tìm nhữngbức xúc nổi cộm của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
Trang 6Trên cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng đó, các côngtrình khoa học đề xuất phơng hớng cơ bản và những giảipháp chủ yếu nhằm củng cố, đổi mới và hoàn thiện hệthống chính trị Việt Nam hiện nay đáp ứng những đòi hỏicủa sự nghiệp đổi mới đất nớc đang đi vào chiều sâu vàchiều rộng.
Trong các công trình nói trên liên quan trực tiếp đến
đề tài luận văn này thì đặc biệt nhất là các công trìnhnghiên cứu trực tiếp hệ thống chính trị ở cơ sở của tập thểcác nhà khoa học do GS.TS Hoàng Chí Bảo làm chủ nhiệm
trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nớc “Nghiên cứu một số vấn
đề nhằm củng cố và tăng cờng hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nớc ta hiện nay”.
Công trình nghiên cứu này đã đợc xã hội hoá, in thành sách(đã nêu ở trên)
Và công trình khoa học “Hệ thống chính trị cơ
sở-Thực trạng và giải pháp đổi mới” do tập thể các nhà khoa học
thuộc Viện nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nớc, Bộ Nội vụbiên soạn, TS Chu Văn Thành chủ biên, đã in thành sách (đãnêu ở trên)
Công trình khoa học của PGS.TS Vũ Hoàng Công về đề
tài “Hệ thống chính trị cơ sở- đặc điểm, xu hớng và giải
pháp” (đã nêu ở trên).
Các nhà khoa học của ba công trình này đã nghiên cứutrực tiếp hệ thống chính trị ở cơ sở từ các góc độ khác nhautrên cơ sở những tìm vạch nội hàm khái niệm hệ thốngchính trị Định nghĩa khái niệm hệ thống chính trị nh trên
đã nêu, các tác giả đã khái quát những đặc điểm, xu hớng
Trang 7vận động, vị trí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ởcơ sở ở nớc ta hện nay Phân tích thực trạng và những bấtcập của hệ thống chính trị ở cơ sở, tìm vạch nguyên nhân
và đề xuất các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sởnớc ta hiện nay Những tri thức mà các nhà khoa học rút ra ở
đây rất có ý nghĩa và rất đợc trân trọng Luận văn kế thừanhiều những thành quả này
Tuy nhiên, việc nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sởkhông những chỉ ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn) và hẹphơn nữa là chỉ ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnhKonTum với những nét đặc thù riêng thì cha có công trìnhkhoa học nào dành riêng cho nó
Tất cả những công trình nghiên cứu trớc đây thực sự lànhững t tởng quý giá đối với tác giả để tiếp cận và kế thừa
có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học, về vấn đềnày cùng với việc khảo sát thực tiễn ở Kon Tum nói riêng và ởViệt Nam nói chung, sẽ là cơ sở để tác giả hoàn thành nhiệm
vụ nghiên cứu của mình
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu những thành tựu, hạn chế trong
hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum, đề tài
đa ra phơng hớng cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằmhoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địabàn tỉnh Kon Tum hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Trang 8- Trình bày khái quát một số vấn đề lý luận chung về
hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Đồng thời, làm rõ vaitrò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nôngthôn
- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động của hệthống chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh KonTum hiện nay, trên cơ sở đó vạch ra những vấn đề bức xúccần giải quyết về tổ chức và hoạt động của hệ thống chínhtrị ở cơ sở nông thôn tỉnh Kon Tum hiện nay
- Xác định rõ phơng hớng cơ bản và một số giải phápchủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nôngthôn trên địa bàn tỉnh Kon Tum hiện nay
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về hệ thống chính trị ởcơ sở nông thôn (xã, thị trấn) trên địa bàn tỉnh Kon Tum từngày thành lập tỉnh cuối năm 1991, đầu năm 1992 đếnnay
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận của đề tài là hệ thống các quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và các quan điểmcủa Đảng ta về hệ thống chính trị
- Đề tài nghiên cứu từ góc nhìn chính trị học, sử dụngphơng pháp biện chứng duy vật Macxit làm nền tảng Trêncơ sở đó, luận văn sử dụng kết hợp phơng pháp lịch sử vàlôgíc, phân tích với tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học vàcác phơng pháp đặc thù của chính trị học nh: phân tíchgiai cấp, dân tộc, nhân loại trong chính trị và phơng pháptiếp cận hình thái kinh tế - xã hội khi nghiên cứu chính trị
Trang 96 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận: Góp phần làm rõ thêm một số nhận thức
chung về hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
- Về thực tiễn: Trên cơ sở các luận cứ khoa học và khảo
sát thực tiễn để xác định rõ những vấn đề bức xúc đang
đặt ra đối với hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn tỉnhKon Tum hiện nay Đồng thời, luận văn góp tiếng nói vào việchoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn trên Địabàn tỉnh Kon Tum hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phục lục, luận văn gồm 3 chơng, 8 tiết
Trang 10định nghĩa nh thế về chính trị Song điều đáng chú ýnhất đó là: bản chất của chính trị là gì? Vấn đề trungtâm then chốt của nó là gì? Và kết cấu của nó nh thế nào?
Hơn nữa, để làm rõ khái niệm “hệ thống chính trị”, trớc
hết cần làm rõ khái niệm “chính trị” Khái niệm chỉ mộtlĩnh vực phức tạp của đời sống xã hội có giai cấp mà chínhtrị học và nhiều khoa học chính trị khác nghiên cứu
Mỗi một xã hội có giai cấp đều đợc cấu thành từ bốnlĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội Chínhtrị là một trong bốn lĩnh vực cơ bản đó Khẳng định điềunày để chống các quan điểm t tởng phi chính trị hoặctuyệt đối hoá chính trị Điều này đã đợc Hồ Chí Minh nhấnmạnh rằng: “Trong công cuộc kiến thiết nớc nhà có bốn vấn
Trang 11đề quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, vănhoá” [4, tr.11].
Do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nhất
định thì xã hội phân chia thành các giai cấp khác nhau vàkhi mâu thuẫn giữa các giai cấp dần dần trở nên gay gắtkhông thể điều hoà đợc thì nhà nớc, chính trị mới ra đời
Và cũng do sự phát triển của sản xuất đến một mức độ nào
đó, khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp thì nhà nớc,chính trị tiêu vong
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị
về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giaicấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc Trong đó, trớchết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế Đây không phải là cáchquan niệm biệt phái riêng của chủ nghĩa Mác mà nói chung,mọi t duy khoa học khách quan về chính trị đều đi tời, tìm
ra và khẳng định thực chất của chính trị là nh vậy
Rõ ràng chính trị có lô gíc vận động nội tại của nó vàchịu sự quy định của kinh tế, đồng thời nó tác động to lớn
đối với kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.Chính trị có quá trình hình thành, tồn tại, phát triển và tiêuvong nh một hiện tợng lịch sử ra đời khi xã hội phân chiathành các giai cấp và mâu thuẫn đó trở nên không thể điềuhoà đợc
Từ đó cho thấy, cái chi phối trực tiếp chính trị là quan
hệ giai cấp và vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chínhtrị là vấn đề quyền lực nhà nớc Vấn đề quan hệ giai cấp vàvấn đề quyền lực nhà nớc là hai vấn đề cơ bản nhất của
Trang 12chính trị Nói đến chính trị là phải nói đến giai cấp và nhànớc Tuy nhiên, không chỉ có giai cấp và nhà nớc mà chính trịcòn liên quan đến nhiều vấn đề khác ở những cấp độ quantrọng khác nhau Nói đến chính trị mà chỉ nói đến giai cấp
và nhà nớc thì cha đủ, nhất là trong thời đại ngày nay, khi
mà hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng
đã trở thành mệnh lệnh của đời sống nhân loại
Vì chính trị là một hiện tợng xã hội đặc biệt, nó xuấthiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp, khi xuất hiệnnhà nớc, cho nên tiếp cận với chính trị từ những lập trờng giaicấp khác nhau sẽ có những quan điểm không giống nhau.Quan điểm duy vật lịch sử về chính trị đòi hỏi phải xemxét chính trị trong quan hệ với kinh tế, với giai cấp, với dântộc, với nhân loại, với lợi ích giai cấp, với nhà nớc cùng thiết chếchính trị đảm bảo hiện thực hoá những nhu cầu chính trị
và kinh tế
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, là sự biểu hiệntập trung của kinh tế, chính trị tức là kinh tế đợc cô đọnglại Đây là thuộc tính bản chất của chính trị Trong quan
điểm đó, chính trị do kinh tế quy định; cấu trúc của đờisống kinh tế, sự vận động và phát triển của kinh tế quy
định sự biến đổi của chính trị Chính trị là sự biểu hiệntập trung của kinh tế, chính trị phản ánh khái quát các xu h-ớng kinh tế khách quan, làm nổi bật xu hớng chủ đạo trong
đời sống kinh tế Xu hớng này quy định nội dung chủ yếucủa chính trị thuộc về chủ thể cầm quyền Trên cơ sở đó,chính trị ấy sẽ quy tụ sức mạnh của toàn giai cấp hay của cả
Trang 13xã hội nói chung để củng cố, tăng cờng vai trò của thànhphần kinh tế chủ đạo trong đời sống kinh tế Đến khi đó,chủ thể cầm quyền mới duy trì đợc sự thống trị chính trịcủa mình đối với toàn xã hội Chính trị là quan hệ giữa cácgiai cấp Các giai cấp là chủ thể của chính trị tơng ứng, vìchính các giai cấp cấu thành những mặt của quan hệ chínhtrị Quan hệ giai cấp biểu hiện bản chất của đời sống chínhtrị Chính trị là mối quan hệ qua lại giữa các giai cấp, mốiquan hệ đó quy định nội dung và cấu thành nền tảng củachính trị Các giai cấp và mối quan hệ qua lại giữa chúngcấu thành cơ sở trực tiếp của chính trị, mặc dù các giai cấp
và mối quan hệ giữa chúng do kinh tế quy định Khi xác
định bản chất của giai cấp, chủ nghĩa Mác-Lênin trớc hếtnhấn mạnh phơng diện kinh tế Đó là một đặc trng cơ bản,quan trọng nhất, nhng không phải là duy nhất Giai cấp còn
đợc xác định bởi những dấu hiệu chính trị, bởi lợi ích chínhtrị, bởi quan hệ của nó với nhà nớc, bởi cuộc đấu tranh đểgiành, giữ và thực thi quyền lực chính trị Cho nên mối quan
hệ giữa các giai cấp không chỉ biểu hiện trong lĩnh vựckinh tế mà còn cả trên lĩnh vực kiến trúc thợng tầng Trongmối quan hệ đó, quan hệ kinh tế mang tính quyết định.Trong xã hội có giai cấp, các lợi ích kinh tế cơ bản biểu hiệntập trung và khái quát thành lợi ích chính trị Khát vọng lợiích cơ bản của giai cấp làm nảy sinh cuộc đấu tranh giai cấp
mà hình thức cơ bản của nó là đấu tranh chính trị Điều
đó giải thích vì sao Lênin cho rằng, lợi ích kinh tế cơ bản
Trang 14của giai cấp công nhân chỉ đợc thoả mãn nhờ cách mạngchính trị, thay thế chuyên chính t sản bằng chuyên chínhvô sản.
Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là
quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lợng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nớc nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể chính trị”.
Về mặt quan hệ, chính trị là một lĩnh vực rất rộng,gồm nhiều mối quan hệ khác nhau trong không gian và thờigian xác định nh: quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảngchính trị với các giai cấp, giữa đảng cầm quyền với các
đảng phái khác nhau, giữa đảng với nhà nớc, giữa nhà nớc vớicông dân, giữa công dân với công dân, giữa các tổ chứctrong hệ thống chính trị
Về mặt kết cấu, chính trị bao gồm các nhân tố sau:(1) Chính sách- các quyết định của các chủ thể chínhtrị
Trang 15Chính trị là hiện tợng xã hội có cấu trúc phức tạp Nó làphơng thức tổ chức, điều chỉnh các quan hệ giai cấp, là ph-
ơng thức quan hệ giữa các giai cấp và nhà nớc nhằm giành,giữ và thực thi quyền lực chính trị của một giai cấp
Vạch rõ dấu hiệu căn bản nhất của chính trị, vạch rõquy luật chung nhất của chính trị, trong đó đặc biệt là quyluật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị, sẽ là cơ sởkhoa học, là tiền đề cần thiết để khảo sát các dấu hiệu
đặc trng bản chất của thiết chế chính trị tơng ứng- Hệthống chính trị
1.1.2 Khái niệm “hệ thống chính trị”
Chính trị là một hiện tợng lịch sử, nó có quá trình ra
đời, tồn tại và mất đi chính trị chỉ tồn tại khi xã hội có giaicấp và nhà nớc Nhng không phải khi chính trị xuất hiện thìkhái niệm hệ thống chính trị cũng xuất hiện Khái niệm hệthống chính trị ra đời sau khái niệm chính trị Lịch sử t t-ởng chính trị phơng Đông và phơng Tây trớc Mác cha có kháiniệm hệ thống chính trị Các nhà kinh điển Mác, Ăngghen,Lênin vẫn cha dùng khái niệm hệ thống chính trị Tuy nhiênnội dung sự hiểu biết về hệ thống chính trị đã đợc Mác,
Ăngghen, Lênin diễn đạt bằng những phạm trù liên quan nh:hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thể chế chính trị,cơ cấu chính trị, kết cấu chính trị của xã hội hay t tởngchính trị và các thiết chế tơng ứng… Sau Mác, sớm hơn là ởcác nớc phơng Tây t bản chủ nghĩa (đầu những năm 50 củathế kỷ XX) và ở các nớc xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô muộn
Trang 16hơn vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX) mới xuất hiệnkhái niệm hệ thống chính trị ở Việt Nam, bắt đầu từ Hộinghị Trung ơng 6 khoá Vi (tháng 3-1989) Đảng ta mới dùngkhái niệm hệ thống chính trị Trong những văn kiện, sáchbáo, tạp chí, công trình nghiên cứu chính trị ở nớc ta gần
đây ngày càng sử dụng rộng rãi phạm trù hệ thống chính trị,
hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việc làm sáng tỏ phạmtrù này là nhiệm vụ quan trọng của luận văn Khái niệm hệthống chính trị ra đời ở thời kỳ hiện đại, nó là sự phản ánhchính trị hiện đại Mặc dù đến thời hiện đại, khái niệm hệthống chính trị mới ra đời, nhng sự hiểu biết về nó khôngkém phần đa dạng, phong phú đến mức mà khó có thểthống kê hết đợc những sự hiểu biết đó Chẳng hạn, ở cácnớc xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc đây, quan niệm phổbiến xem hệ thống chính trị chỉ bao gồm những tổ chứcchính trị - xã hội mang bản chất của giai cấp cầm quyềnnhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của giai cấp đó Quan
điểm này đã đồng nhất phạm trù “hệ thống chính trị” vớiphạm trù “hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền” Từ
đó, cho rằng hệ thống chính trị trong chủ nghĩa t bảnchính là hệ thống chuyên chính t sản, còn hệ thống chínhtrị chủ nghĩa xã hội là hệ thống chuyên chính vô sản ở ViệtNam trớc và một số năm đầu đổi mới, chúng ta cha dùng kháiniệm hệ thống chính trị mà vẫn dùng một cách phổ biếnkhái niệm chuyên chính vô sản để chỉ hệ thống và cơ cấucác cơ quan quyền lực lãnh đạo và quản lý xã hội
Trang 17Nhận thức là một quá trình Trớc đây nh trên đã nêu về
sự đồng nhất hai phạm trù: hệ thống chính trị và hệ thốngchuyên chính của giai cấp cầm quyền Điều đó thể hiện sựnhận thức ấy vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quan
điểm quá nhấn mạnh cái giai cấp trong chính trị mà chathấy hết diện mạo của các dân tộc, cái nhân loại trong chiphối chính trị Sau này xuất hiện quan niệm về hệ thốngchính trị toàn diện hơn, rộng hơn phản ánh rõ hơn bản chấtcủa chính trị Chẳng hạn, quan niệm xem hệ thống chínhtrị là một phạm trù rộng hơn phạm trù hệ thống chuyên chínhcủa giai cấp cầm quyền Hai phạm trù này quan hệ bao hàmnhau (phạm trù hệ thống chính trị bao hàm phạm trù hệthống chuyên chính của giai cấp cầm quyền) hay lệ thuộc(phạm trù hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền lệthuộc phạm trù hệ thống chính trị) Nh vậy, trong hệ thốngchính trị ngoài hệ thống chuyên chính của giai cấp cầmquyền-bộ phận cơ bản nhất, quan trọng nhất, quy định bảnchất của toàn bộ hệ thống chính trị trong xã hội tơng ứng,còn có các tổ chức, các thiết chế chính trị hợp pháp khác.Tuy nhiên, quan niệm nh vậy cũng mới chỉ nhấn mạnh đợc về
hệ thống tổ chức (thiết chế) tức là các bộ phận cấu thành
hệ thống chính trị mà cha chỉ ra đợc hệ thống các mốiquan hệ trong hoạt động chính trị theo chức năng, nhiệm
vụ, đồng thời còn là hệ thống các cấp độ (Trung ơng - địaphơng - cơ sở) nhằm tác động và điều chỉnh lẫn nhau và
điều chỉnh mọi quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hộigiữa các dân tộc trong cộng đồng xã hội, giữa các yếu tố xãhội, tập thể và cá nhân, về vấn đề quyền lực, về định h-
Trang 18ớng, đờng lối, chủ trơng, chính sách qui định mục tiêu,
ph-ơng hớng nội dung phát triển xã hội
Chính trị là một hiện tợng lịch sử và việc thực hiệnquyền lực chính trị phải có hệ thống các thiết chế tơngứng
Cả hai xu hớng trên đều cha đáp ứng với thực tiễn chínhtrị và mục đích nhận thức của chính trị học
Căn cứ việc đáp ứng hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục
đích nhận thức về hệ thống các tổ chức, thiết chế có vai tròthực tế và đợc thừa nhận trong việc thực hiện quyền lựcchính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thờng
xuyên Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh
hiện thực chính trị ở một hay một nhóm nớc mà còn phản ánh
đợc hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia có chế độ chính
trị-xã hội khác nhau TS Vũ Hoàng Công xác định: “Hệ thống
chính trị là một bộ phận của cấu trúc thợng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế hợp pháp, có quan hệ về mục
đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị” [5, tr.9].
Xem xét việc nghiên cứu HTCT mà thực chất là nghiêncứu hệ thống các tổ chức, các thiết chế có quyền lực chínhtrị, hoặc tham gia vào quyền lực chính trị, thì có hai kháiniệm đáng chú ý dới đây:
Tập thể tác giả của Khoa Chính trị học - Học viện Báo
chí và tuyên truyền đa ra định nghĩa: “Hệ thống tổ chức
quyền lực là hệ thống các tổ chức chính trị - xã họi, các
đảng chính trị hợp pháp và nhà nớc cùng các quan hệ tác
Trang 19động qua lại giữa các yếu tố đó nhằm tham gia vào quá trình hình thành các chính sách nhà nớc, thực thi các quyền lực chính trị đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội
và bảo đảm quyền thống trị của giai cấp thống trị hoặc quyền làm chủ của nhân dân lao động (trong các nớc xã hội chủ nghĩa)” [31, tr.124].
Tập thể tác giả của Viện Khoa học Chính trị - Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đa ra định nghĩa: “Hệ thống
chính trị là một bộ phận kiến trúc thợng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục
đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đa ra các quyết định chính trị” [45, tr.289].
Kế thừa nhiều giá trị ở các quan niệm trên, dới góc nhìncủa chính trị học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, có
thể hiểu Hệ thống chính trị là một phạm trù thuộc kiến trúc
thợng tầng dùng để chỉ một chỉnh thể hệ thống các tổ chức, các thiết chế chính trị-xã hội và các mối quan hệ giữa chúng với nhau trong và giữa các cấp độ tổ chức và hoạt
động theo chức năng, nhiệm vụ hợp thành cơ chế chính trị của một chế độ xã hội nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị.
Từ khái niệm vừa đa ra trên, ta có thể xem xét đến sựtồn tại, vận động, biến đổi của HTCT diễn ra trên thực tế rất
đa dạng Và tính đa dạng của HTCT tuỳ thuộc vào các nhân
tố khách quan và chủ quan tác động đến:
Trang 20* Nhóm nhân tố khách quan: các nhân tố ảnh hởng
đến hệ thống chính trị quốc gia là địa lý và điều kiệnkinh tế-xã hội và lịch sử Ví dụ, Anh, Mỹ, châu Âu, NhậtBản…,các nớc khác nhau ở các khu vực khác nhau có những sựkhác biệt nhất định trong quá trình hình thành và tác
động của các hệ thống chính trị Chính những điều kiệnkhác nhau này hình thành nên các quyền và các chuẩn mựcxã hội khác nhau Các quyền và các chuẩn mực xã hội đóphân biệt các hệ thống chính trị của các nớc, các thời đạikhác nhau Trình độ phát triển kinh tế; tơng quan giữa cáclực lợng chính trị đang hiện diện; yếu tố lịch sử truyềnthống văn hoá;
HTCT là một hiện tợng lịch sử chỉ tồn tại trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong xã hội có giai cấp
và hình thành nhà nớc Kết cấu HTCT không phải theo ýmuốn chủ quan của một giai cấp nào, mà do điều kiện kinh
tế - chính trị - xã hội quy định Trình độ phát triển kinh tếquốc gia quy định kết cấu xã hội - giai cấp, quy định thànhphần tham gia HTCT theo dòng chảy chủ đạo (xu hớng chính)của nền kinh tế quốc gia đang vận hành Vì chính trị là sựbiểu hiện tập trung của kinh tế Hơn nữa, sự tồn tại của cácgiai cấp với sức mạnh kinh tế của chúng sẽ tạo nên nền tảng xãhội của các lực lợng chính trị tơng ứng
Sự hiện diện của các lực lợng chính trị và mối tơngquan lực lợng giữa chúng Đây là yếu tố quyết định trực tiếpviệc thiết lập HTCT theo mô hình đa đảng hay một đảngtrên thực tế Song mối tơng quan lực lợng đó có thể bị quy
định bởi nhiều khía cạnh: các yếu tố bên trong hoặc bên
Trang 21ngoài đất nớc, đặc biệt lại càng rõ trong xu thế toàn cầuhoá ngày nay; sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự, mức độủng hộ của các tầng lớp dân chúng
Cùng với sự trởng thành của ý thức công dân thì truyềnthống, thói quen, lịch sử văn hoá chính trị của dân tộc quốcgia là yếu tố khách quan tạo nên diện mạo bản sắc về HTCTcủa mỗi quốc gia
* Nhóm nhân tố chủ quan:
+ Sự trởng thành, năng lực và đạo đức, bản chất và bảnlĩnh chính trị của đảng chính trị cùng với đội ngũ đảngviên của nó Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan đến sinhmệnh đảng chính trị, nó đợc xem là thớc đo tổng hợp đánhgiá mức độ uy tín đích thực của đảng chính trị trớc dânchúng nh thế nào Hơn nữa, nếu trong quá trình hoạt động
có sự biểu thị lợi ích của giai cấp, của đảng chính trị đồngthuận với lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội thì sẽ pháthuy tốt và nhờ nó mà việc thiết lập, củng cố vững chắc nềntảng chính trị - xã hội của đảng chính trị Điều này hoàntoàn từ xuất phát điểm, cũng nh là hệ quả của sự nỗ lực, tr-ởng thành nhân tố chủ quan của đảng chính trị mà có
+ Sự tơng đồng về t tởng của các đảng chính trị: nếuviệc tìm kiếm và tạo dựng sự tơng đồng về t tởng, quan
điểm của các đảng chính trị càng lớn thì dễ dàng chấpnhận nhau, cùng chia sẽ quyền lực chính trị Ngợc lại, nếu các
đảng chính trị đối chọi nhau về hệ t tởng chính trị,về lậptrờng giai cấp thì dễ dẫn đến xung đột về chính trị,khủng hoảng chính trị có thể diễn ra Những đảng chính
Trang 22trị nh thế trong tình huống có lợi cho mình, thờng sẵn sàng
độc chiếm nhà nớc mà không chấp nhận chia sẻ quyền lực và
đặt các lực lợng đối lập ngoài vòng pháp luật
Có thể nói, các nhân tố khách quan và chủ quan thờngxuyên tác động đến quá trình hình thành và biến đổi củaHTCT trong mỗi thời kỳ, cũng nh quyết định hình thái tồn tạiHTCT Việc nghiên cứu kỹ lỡng các nhân tố tác động đếnHTCT nh đã nêu trên đặt trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nóbao giờ cũng mang giá trị thực tiễn sâu sắc trong quá trìnhxây dựng HTCT nói chung và cấp cơ sở nói riêng
Nh vậy, theo lôgíc của t duy có thể thấy hệ thốngchính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể bao gồm Nhà n-
ớc chuyên chính vô sản, Đảng Cộng sản cùng các tổ chứcchính trị xã hội hợp pháp ở các cấp độ và mối quan hệ qua lạigiữa các yếu tố đó theo chức năng nhiệm vụ nhằm đảm bảoquyền lực của nhân dân lao động
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là hệ thốngcác tổ chức chính trị-xã hội mà nhờ đó, nhân dân lao độngthực thi quyền lực của mình trong xã hội
Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện naybao gồm các tổ chức Đảng, Nhà nớc, Mặt trận và các tổ chức
đoàn thể chính trị-xã hội của quần chúng tham gia vào Mặttrận với t cách là những thành viên nh Công đoàn, ĐoànThanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…
Về mặt tổ chức đợc xác định nh vậy cho thấy nhiều tổchức quần chúng, tổ chức xã hội có vai trò chính trị đáng kể
và thậm chí thờng xuyên có đại biểu trong Quốc hội, Hội
Trang 23đồng nhân dân các cấp, nhng không phải là thành viên độclập của hệ thống chính trị, mà chỉ tham gia hệ thốngchính trị với t cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam (một liên minh chính trị rộng rãi, thống nhất của dântộc tập hợp lực lợng thực hiện đại đoàn kết dân tộc, hiệp th-
Thứ nhất, một đặc điểm nổi bật của hệ thống chính
trị ở nớc ta là tính nhất nguyên chính trị và một đảng duynhất cầm quyền lãnh đạo, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam
Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ nền tảng t tởng của cả
hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ ChíMinh Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhậncác khuynh hớng chính trị trái với chủ nghĩa Mác-Lênin và chủnghĩa xã hội Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất vàthống nhất trong cả nớc mà Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh
đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với sự vững vàng về chính trị,
t tởng và tổ chức, trong suốt lịch sử của mình, Đảng Cộngsản Việt Nam đã thể hiện là một Đảng mác-xít thực sự, chânchính lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác
Trang 24Việc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội là sự
đảm bảo sự chắc chắn nhất để nhân dân bảo vệ và pháthuy quyền làm chủ xã hội của mình, chống lại mọi biểu hiện
đi ngợc lại nguyện vọng, quyền lợi của nhân dân
Hệ thống chính trị nớc ta do duy nhất một Đảng Cộngsản Việt Nam lãnh đạo là một đặc điểm vừa mang tínhphổ biến đối với hệ thống chính trị các nớc xã hội chủnghĩa, vừa mang tính đặc thù Việt Nam Tính đặc thù đó
do vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam quy
định
Thứ hai, hệ thống chính trị mang tính nhân dân rộng
rãi
Tính nhân dân rộng rãi của hệ thống chính trị thểhiện chủ yếu ở mục tiêu, phơng thức, nguyên tắc tổ chức vàhoạt động của hệ thống chính trị:
- Nhân dân là gốc của quyền lực, là chủ của xã hội Tổchức của Nhà nớc do nhân dân lập ra, hoạt động của các cơquan và công chức nhà nớc là đầy tớ của dân chịu sự giámsát tối cao và thờng xuyên của dân
- Hệ thống chính trị bằng mọi hình thức khác nhau đểtập hợp, tổ chức mọi ngời dân thuộc các dân tộc, tôn giáo,giai cấp, nghề nghiệp, chính kiến…ở trong và ngoài nớc đểthực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh
Thứ ba, tính quá độ của hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị hiện nay ở nớc ta đã và đangchuyển sang phạm trù hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩanhng đang ở bớc đầu xây dựng Nó là bớc phát triển nối tiếp
Trang 25tự nhiên và liên tục từ hệ thống chính trị dân chủ nhân dântrớc đây, đó cũng là sự chuyển biến từ cách mạng dân tộcdân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Nh trên đã phântích, trung tâm của hệ thống chính trị là Nhà nớc Nhà nớcthể hiện bản chất chính trị của hệ thống chính trị và chế
độ xã hội Các Đảng chính trị cũng phải giành lấy quyền lựcNhà nớc, thông qua Nhà nớc và bằng Nhà nớc để thực hiện cácmục tiêu chính trị của mình Nhà nớc mà một bộ phận quantrọng là nền hành chính nớc ta còn rất non trẻ nhng ảnh hởngcủa chế độ tập trung quan liêu, bao cấp còn khá nặng nề.Tính chất quá độ đan xen giữa cái cũ và cái mới còn khá đậmnét trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở nớc ta
Thứ t, hệ thống chính trị nớc ta đợc tổ chức chặt chẽ,
có sự phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mỗi
tổ chức và cơ chế hoạt động của từng tổ chức cũng nh củacả hệ thống Hệ thống chính trị ở Việt Nam đợc tổ chức hếtsức rộng rãi, chặt chẽ, các mối quan hệ trong đó ngày càng
đợc xác định rõ ràng hơn Trong phạm vi hoạt động củamình, cùng một lúc mỗi một thành viên phải thực hiện cácquan hệ có tính chất khác nhau với các đối tợng khác nhaucủa hệ thống chính trị: quan hệ lãnh đạo; quan hệ chỉ đạo,hớng dẫn; quan hệ phối hợp, cộng tác, liên kết Tất cả tạothành một mạng lới chằng chịt, gắn kết chặt chẽ
Thứ năm, hệ thống chính trị nớc ta có thuộc tính bản
chất là sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc
ở nớc ta, vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc luôn gắn
bó, quyện chặt lẫn nhau Nghiên cứu quá trình dân tộc vàquá trình chính trị của nớc ta sẽ đi tới khẳng định sự nổi
Trang 26trội của tính dân tộc trong suốt lịch sử hàng nghìn nămdựng nớc và gĩ nớc Nhận rõ đặc trng về sự nổi trội của tínhdân tộc không phải là coi nhẹ tính giai cấp, mà là khắcphục quan niệm tuyệt đối hoá giai cấp để thấy rõ sự thốngnhất giữa tính dân tộc và tính giai cấp trong hoàn cảnh
đặc thù của nớc ta
Những đặc điểm trên vừa quy định kết cấu, tổ chức,vận hành và các mối quan hệ vừa quy định tính thống nhấtcủa hệ thống chính trị duy nhất trong cả nớc Các khái niệm
trung ơng - địa phơng - cơ sở chỉ là những cấp độ khác
nhau của hệ thống chính trị nói chung chứ không phải là có
ba hệ thống chính trị: hệ thống chính trị trung ơng, hệthống chính trị địa phơng và hệ thống chính trị cơ sở.Khẳng định điều này có ý nghĩa rất quan trọng cả về lýluận và thực tiễn Với cách hiểu hệ thống chính trị nói chung
có tính toàn vẹn, duy nhất, thống nhất nh vậy sẽ là tiền đề,cơ sở để hiểu đúng vai trò, vị trí của hệ thống chính trị ởcơ sở - cấp cơ sở của hệ thống chính trị nói chung
Tóm lại, xuất phát từ mục tiêu, lý tởng của chủ nghĩa xãhội, từ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, hệ thốngchính trị ở nớc ta nhằm xây dựng và phát triển nền dân chủxã hội chủ nghĩa Để thực hiện mục tiêu đó, tính đồng bộtrong hoạt động và tính thống nhất về mục tiêu, tính chủ
động sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị vàviệc giải quyết tốt các mối quan hệ ngang dọc trong toàn bộ
hệ thống là những điều kiện căn bản đảm bảo cho hệthống chính trị hoạt động có hiệu quả Hay nói cách khác, sựhoàn thiện của hệ thống chính trị sẽ là phơng thức và động
Trang 27lực để hoàn thành mục tiêu, lý tởng của chủ nghĩa xã hội ởnớc ta Tính nhất nguyên và duy nhất Đảng cộng sản lãnh đạo;tính giai cấp, tính dân tộc và tính nhân dân là những tínhchất căn bản của hệ thống chính trị nớc ta hiện nay Nguyêntắc tập trung dân chủ là nguyên tắc chính trị cho tất cảcác tổ chức bộ phận trong hệ thống và toàn bộ hệ thốngchính trị ở tất cả mọi cấp độ Hệ thống chính trị ở nớc tahiện nay vừa đang ở trong thời kỳ quá độ lại vừa đang đổimới tiến tới hoàn thiện với các tác nhân quan trọng là kinh tếthị trờng, quá trình dân chủ hoá (quá trình đa các giá trịdân chủ vào đời sống xã hội), công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Quá trình đó sẽ dẫn đến xu hớng đô thị hoá nông thôn vàlàm thay đổi nông thôn, nông nghiệp và nông dân Hơnnữa, xu hớng vận động của xã hội hiện đại mà chúng ta
đang xây dựng sẽ dựa vào ba trụ cột chính yếu: kinh tế thịtrờng định hớng xã hội chủ nghĩa, nhà nớc pháp quyền xã hộichủ nghĩa và xã hội công dân Tất cả những yếu tố đó đalại một cách nhìn tổng hợp, khách quan khoa học về sự đổimới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn theo
xu hớng hiện đại Vì vậy việc nhận thức đúng đắn về vịtrí, vai trò của cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở đặcbiệt là ở nông thôn, khắc phục những sai lầm trong nhậnthức và hoạt động thực tiễn về vấn đề này có ý nghĩa quantrọng, bức xúc
1.2 Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
1.2.1 Khái niệm hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Trang 28Muốn đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ
sở, đặc biệt là ở cơ sở nông thôn nớc ta nói chung, nôngthôn miền trung Tây Nguyên nói riêng, vấn đề rất quantrọng và cần thiết trớc tiên là phải nhận thức đúng về cơ sở
và vị trí, vai trò của cơ sở, đặc biệt là cơ sở nông thôn Lớp
đối tợng (ngoại diên) mà khái niệm cơ sở nông thôn phản ánh
đó chính là toàn bộ những xã, thị trấn đang tồn tại thực trên
đất nớc ta với những tên gọi, địa d hành chính, pháp lýchính trị đầy đủ của nó Mặt khác, về mặt nội hàm tơngứng của khái niệm này phải đợc hiểu các xã, thị trấn ở nôngthôn là cơ sở xã hội của chính trị, của chế độ chính trị, làcơ sở của thể chế chính trị, của thể chế nhà nớc Cơ sởnông thôn: xã, thị trấn đợc xét ở đây tồn tại với t cách là mộtcấp quản lý trong hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhànớc hiện hành ở nớc ta- cấp cơ sở Nh vậy, cơ sở nông thôngồm xã, thị trấn là thuộc về cấp cơ sở của hệ thống quản lýhành chính bốn cấp Khi xét hệ thống chính trị ở phần trênvới t cách là một chỉnh thể thống nhất, duy nhất có bốn cấp
độ thì cấp cơ sở là một cấp của hệ thống chính trị hay cấp
độ của hệ thống chính trị Tuy nhiên cấp độ cơ sở của hệthống chính trị còn bao gồm cả phờng Nhng ở đây, luậnvăn chỉ đề cập đối tợng là: xã, thị trấn, tức là cơ sở nôngthôn nớc ta hiện nay Trong đó, đặc biệt khảo sát cơ sởnông thôn ở tỉnh KonTum từ năm 1992 đến nay
Dựa vào những nét khái quát chung nhất về hệ thống
chính trị nh đã nêu trên theo quan điểm chủ nghĩa
Mác-Lênin, có thể hiểu Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là
Trang 29toàn bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở- xã, thị trấn (tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân của xã, thị trấn và mối quan hệ giữa chúng) đợc tổ chức và hoạt
động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nớc
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở nông thôn.
1.2.2 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn
Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn là một bộ phậncấu thành của hệ thống chính trị Việt Nam xã hội chủnghĩa, nên nó cũng mang những đặc điểm chung của toàn
Đảng và Nhà nớc cuối cùng có thực hiện đựơc hay không lại là
ở cơ sở
Trang 30Thứ hai, hệ thống chính trị ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế đợc hởng sinh hoạt phí thấp nhất.
Theo các quy định hiện hành thì hệ thống chính trị ởcơ sở xã, thị trấn đợc biên chế và hởng sinh hoạt phí khôngquá 25 ngời Bộ máy đơn giản nhất nhng không phải là đơngiản nhất trong vận hành bộ máy Các mối quan hệ ở đâykhông phải là không phức tạp Tính phức tạp ở đây đợc quy
định bởi các yếu tố tông tộc, gia tộc, dòng họ, tôn giáo, vănhoá, truyền thống…
Thứ ba, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít chuyên nghiệp nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn thấp nhất.
Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở biến
động nhất là vì do cơ chế họ không đợc biên chế cố định
mà chủ yếu lệ thuộc vào lá phiếu bầu chọn trong các cuộcbầu cử nên thời gian này làm cán bộ, thời gian sau làm dânthờng Tâm lý không ổn định, số phận bấp bênh chi phốirất lớn đến từng ngời ở từng thời kỳ khác nhau Cái nọ lànguyên nhân của cái kia Chúng là nhân quả của nhau dẫn
đến việc họ ít đợc chuyên môn hoá, ít đợc đào tạo cơ bản
và họ cũng còn nặng tâm lý ngại học tập lý luận và chuyênmôn nghiệp vụ theo xu hớng tâm lý “quan nhất thời, dân vạn
đại” Phần lớn những ngời đợc đào tạo cơ bản cả về lý luận
và chuyên môn nghiệp vụ thì họ tìm cách thoát ly khỏi xã,thị trấn để lại hệ thống chính trị ở cơ sở với đội ngũ cán bộnổi bật đặc điểm này
Trang 31Thứ t, hệ thống chính trị ở cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối của nhân dân.
Mọi đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc quán triệt,triển khai đến dân đều qua cấp cơ sở Vì vậy, nó là cấpgần dân nhất và thể hiện tính nhân dân một cách rõ ràng,trực tiếp nhất Song đây là cấp đầu tiên đối mặt với nhữngyêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậmchí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống dân c Vìvậy, tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sởmang tính tự quản cao
Thứ năm, hệ thống chính trị ở cơ sở nhất là ở cơ sở nông thôn là cấp mà quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã, quan
hệ dân tộc, tôn giáo tác động mạnh nhất.
Hê thống chính trị ở cơ sở là cấp mà quan hệ dòng họ,văn hoá làng xã có thể tác động mạnh nhất có ảnh hởng đáng
kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt
động của HTCT ở cơ sở nông thôn Trong quan hệ với dân,cán bộ ở cơ sở nông thôn có thể bị chi phối, ràng buộc rất lớnbởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phongtục, tập quán, lối sống làng xã Do đó, phải hết sức chú ýkhắc phục t tởng dòng họ, bè phái, lợi dụng chức quyền theokiểu “một ngời làm quan cả họ đợc nhờ” hoặc “chi bộ ta”…
Những đặc điểm trên của hệ thống chính trị ở cơ sở,phản ánh, một mặt ở sự thống nhất, duy nhất của cả hệthống chính trị đợc tổ chức và hoạt động theo tính thốngnhất về mục tiêu và nguyên tắc Mặt khác nó cũng phản ánhnhiều mâu thuẫn, có loại mâu thuẫn biện chứng của sự pháttriển, có loại mâu thuẫn hình thức triệt tiêu sự phát triển
Trang 32Vấn đề là phát hiện mâu thuẫn và phải có những giải pháp
cụ thể xử lý những mâu thuẫn một cách cụ thể để đổi mới
và hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở đáp ứng vị trí, vaitrò quan trọng cần phải có của nó trong giai đoạn cách mạngmới hiện nay
1.3 Vai trò của cơ sở nông thôn và hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nớc ta hiện nay
1.3.1 Vị trí, vai trò của cơ sở nông thôn (xã, thị trấn)
Trớc đổi mới, trong nền kinh tế hiện vật và kinh tế kếhoạch hóa với phơng thức quản lý hành chính mệnh lệnhtheo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chúng ta chỉ nhìnnhận cơ sở nh một cấp quản lý hành chính thấp nhất, cuốicùng trong hệ thống 4 cấp Theo cách nhìn này, cơ sở khôngchỉ thấp nhất mà còn là nhỏ nhất, nên nói tới cơ sở thờngchỉ thấy đó là một vi mô, trong khi cấp Trung ơng, toànquốc mới là cái vĩ mô
Nếu xét theo cấp độ quản lý và nhìn về lợng (quy môdiện tích, quy mô dân số và dân c, mức độ làm ra của cảivật chất, tính chất và lĩnh vực hoạt động) thì cách hiểu vềcơ sở nh đã nêu trên là không có gì sai Song đó mới chỉ làmột phơng diện của vấn đề cần bàn nhng cha đầy đủ
Hơn nữa, cách nhìn từ trên xuống, lâu dần theo thóiquen, tiền lệ khó thay đổi hình thành trong t duy quản lý làtính chất hành chính quan liêu, nh: quen dùng chỉ thị, mệnhlệnh từ trên đã áp đặt xuống cơ sở, biến cơ sở trở thành thụ
động, trì trệ làm mất đi tính năng động, sinh động và đa
Trang 33dạng phong phú ở cơ sở, Vì cơ sở vốn là nơi diễn ra mọi hoạt
động đời sống của dân, việc làm của dân, là thái độ vàhành vi ứng xử của dân chúng đối với cấp chính quyền, mọiquan hệ xã hội Cách nhìn từ trên xuống một cách quan liêu -hành chính nh vậy, đã tạo ra khoảng cách biệt rất lớn giữaTrung ơng với cơ sở, nếu có đi cơ sở cũng chỉ mang hìnhthức và chiếu lệ, tuỳ thuộc vào trách nhiệm công việc hayphong cách dân chủ, thái độ và tình cảm đạo đức với dâncủa cán bộ cấp trên chứ không mang tính pháp lý bắt buộc
đợc bảo đảm bởi chế tài, bởi kiểm tra và giám sát
Cách bức với cơ sở lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi
hệ thống thể chế hành chính quan liêu bị xơ cứng bởi cáctầng nấc, giấy tờ, công văn, chỉ thị của các cấp trên; bởi cảnhững khó khăn, trở ngại về giao thông đi lại do hạ tầng cơ
sở kém phát triển, bởi thiếu thông tin, không có thói quencập nhật thông tin từ cơ sở của đội ngũ công chức, viên chứcquan liêu Cơ sở nông thôn miền núi, với những làng bản xaxôi gần nh cách biệt, thậm chí không ít nơi bị bỏ quên, bịlãng quên, không đợc đầu t, chăm sóc, không đợc quan tâm
để nó diễn ra một cách tự phát Những cơ sở loại đó vốn đãlạc hậu, khó khăn, chậm phát triển lại càng trở nên khu vực
đặc biệt khó khăn hơn
Cái thấp nhất, nhỏ nhất trong quản lý không bao giờ đợc
đồng nhất với tính chất kém quan trọng hơn, ít quan trọnghơn so với những cái cao hơn, lớn hơn T duy so sánh hìnhthức ở đây đem áp dụng cho vị trí, vị thế của cơ sở là mộtsai lầm đã từng xảy ra khi nhận thức về cơ sở và ứng xử với
Trang 34cơ sở Do đó, nhận thức trớc đây về cơ sở còn nhiều điểmcha đúng và cha chính xác về đặc điểm, vai trò của cơ sởtrong đời sống xã hội cũng nh trong hoạt động lãnh đạo vàquản lý ở cơ sở Tồn tại này cần sớm đợc khắc phục để vịtrí và tầm quan trọng của cơ sở đợc khẳng định trong thực
tế đúng nh bản thân nó vốn có Chính thực tiễn đổi mới,nhất là khi đi vào kinh tế thị trờng và vận động dân chủhoá ngày nay đã mở ra nhiều vấn đề về cơ sở, đòi hỏi phải
đổi mới nhận thức về nó
Về phơng diện nhận thức quản lý, không phải vì cơ sở
là cấp thấp nhất nên đội ngũ cán bộ cơ sở bố trí thế nàocũng đợc Hiện trạng đội ngũ cán bộ cơ sở nông thôn (xã)hiện nay, đang yếu kém, bất cập, phần lớn không đợc đàotạo, không có chính sách, chế độ ổn định, hợp lý là hậu quảcủa nhận thức không đúng vì cách tổ chức, bố trí cán bộnêu trên Mỗi cấp trong hệ thống quản lý có vị trí, vai trò,chức năng riêng của nó Nhận thức và giải quyết không đúngvấn đề này chẳng những gây trở ngại tới hoạt động và hiệuquả của cả hệ thống mà còn làm tổn hại trực tiếp tới cơ sở
và cả nớc vì mấu chốt của vấn đề là dân và tổ chức cuộcsống của dân sao cho phát triển sức dân, có lực lợng củadân, tài trí của dân góp sức vào thì mới thực hiện đợcnhững kế hoạch, mục tiêu phát triển xã hội, mới có động lực
và nội lực để xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, đảmbảo sự bền vững của chế độ
Cấp vĩ mô - toàn quốc và Trung ơng lẽ dĩ nhiên là hếtsức quan trọng, bởi đó là cấp hoạch định đờng lối, chiến lợc
Trang 35phát triển quốc gia, ảnh hởng tới toàn bộ sự phát triển củadân tộc và xã hội Nhng cấp cơ sở nông thôn cũng có tầmquan trọng của riêng nó Mỗi làng, xã nh là mỗi tế bào gópthành cái vĩ mô của toàn xã hội, nh Hồ Chí Minh nói: Kết cấunhà - làng - nớc là một kết cấu bền vững, định hình từ lâutrong lịch sử tạo thành sức sống của dân tộc, truyền thống,bản sắc của một nền văn hoá Hơn nữa, mỗi một làng xã làmột hình ảnh thu nhỏ của xã hội, ở đó diễn ra toàn bộ hoạt
động của đời sống xã hội, liên quan hàng ngày, hàng giờ tớicuộc sống của ngời dân Theo đó, làng xã thực sự là mộtthực thể kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa đóng vai trònền tảng của cả xã hội, là động lực trực tiếp của phát triển xãhội Nếu quan tâm tới đời sống của dân, nếu thấm nhuần
và nhất quán quan điểm dân là gốc của nớc thì cơ sở thực
sự mang nội dung và tính chất vĩ mô Thể chế quan liêutrong khi cách biệt với cơ sở thì nó dẫn đến xa dân nênkhông thấu hiểu cuộc sống của dân, tâm t, nguyện vọngcủa dân với biết bao lợi ích và nhu cầu chính đáng hàngngày của họ Chỉ có thể xây dựng thể chế dân chủ thì cán
bộ, công chức mới trở thành “công bộc của dân”, gần dân,hiểu dân, học dân, hỏi dân, lãnh đạo và tận tuỵ phục vụdân trong sự giúp đỡ, ủng hộ của dân, trong sự kiểm tragiám sát của dân, dân chủ mới không biến thành “quan chủ”,
“quan cách mạng” theo cách nói của Hồ Chí Minh
Trọng dân, tín dân và vì dân đã làm thay đổi cáchnhìn nhận, đánh giá về vị trí, vai trò của cơ sở khi mà dân
và cuộc sống của dân vừa là điểm xuất phát, vừa là mục tiêu
Trang 36của mọi hoạt động lãnh đạo và quản lý, của việc đổi mới tổchức và hoạt động của HTCT Do đó, đổi mới nhận thức vềvai trò của cơ sở, chúng ta đặc biệt lu ý tới những điểm dới
đây:
- Cơ sở nông thôn không chỉ là địa bàn c trú của dân,
mà còn là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn củanhân dân lao động của đời sống xã hội Đó vừa là địa bàndiễn ra các hoạt động sản xuất - kinh doanh của ngời lao
động, của các cơ sở doanh nghiệp theo các thành phần kinhtế vừa là nơi diễn ra trao đổi, lu thông hàng hoá, là đầumối của thị trờng, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữacác chủ thể sản xuất và tiêu dùng Do đó, nói tới cơ sở là nóitới ngời dân (các chủ thể) và hình thức tổ chức các hoạt
động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội Mỗi cơ sở
là một cộng đồng xã hội, ở đó có hoạt động kinh tế, có giao
lu văn hoá và đồng thời tất yếu phải hình thành nên cộng
đồng xã hội - chính trị, bởi có vai trò của quản lý hành chínhcủa Nhà nớc theo pháp luật, nhằm đảm bảo an ninh, trật tự xãhội và tổ chức đời sống chính trị của các công dân
- Cấp cơ sở nông thôn, không chỉ là cấp thực hiện chứcnăng quản lý của nhà nớc mà còn là nơi diễn ra các hoạt
động tự quản của cộng đồng xã hội Đây là nét đặc trngcủa nớc ta, do đặc điểm và truyền thống lịch sử nên tính
cố kết cộng đồng đặc biệt nổi bật ở cơ sở Tính chất vừaquản lý, vừa tự quản ở cơ sở thể hiện trong mối quan hệgiữa xã và thôn Đây là mối quan hệ tác động qua lại, phâncông, phối hợp chứ không phải là sự tách bạch cứng nhắc, siêu
Trang 37hình Về nguyên tắc, cấp cơ sở có chức năng quản lý hànhchính nhà nớc Nhng để quản lý trên địa bàn xã thì phảixuống tận thôn làng - đơn vị tự quản cộng đồng Trởngthôn có thể đợc UBND xã uỷ nhiệm cho một số công việc củaxã đợc tổ chức thực hiện trong cộng đồng dân c ở thôn.Song điều chủ yếu của thôn là tự quản Việc tự quản cáchoạt động cũng không khép kín, biệt lập trong từng thôn,càng không đợc đối lập với quản lý Có những công việc vàhoạt động tự quản diễn ra trên quy mô xã Do đó, quản lý và
tự quản, xã và thôn không đợc cản trở nhau mà phải phối hợpnhịp nhàng, với một chuẩn mực là tuân thủ đúng pháp luật
Đây chính là điểm đặc trng về sự kết hợp và đan xen giữaquản lý với tự quản, nên cơ sở tuy là một cấp quản lý hànhchính nhà nớc nhng lại là một cấp không hoàn chỉnh, rõ nhất
là ở chỗ, cán bộ cơ sở không phải tất cả đều là công chứcnhà nớc, theo đúng thể thức bổ nhiệm, điều động, thuyênchuyển của Nhà nớc ở nông thôn làng xã, chỉ một số ít chứcdanh gắn trực tiếp với chuyên môn nh tài chính, địa chính,thống kê, văn phòng trong UBND xã là cơ quan hành chínhcủa cơ sở mới xếp theo ngạch công chức, còn đa số là cán bộdân cử, dân bầu Cán bộ ở cơ sở là ngời sở tại, làm việc tạicơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp vớidân Trong quan hệ với dân, họ có bị chi phối, ràng buộc rấtmạnh mẽ bởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyềnthống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã
- Cơ sở nông thôn vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xéttheo chức năng và thẩm quyền, nhng nó lại vừa là cấp đầutiên và trực tiếp nhất, là nền tảng xây dựng chế độ dân
Trang 38chủ của toàn bộ hệ thống chính trị ở nớc ta trong thời kỳ quá
độ lên CNXH Vì cơ sở là nơi diễn ra mọi hoạt động củaquần chúng, nơi tổ chức các phong trào xã hội của quầnchúng để triển khai thực hiện đờng lối, chủ trơng, nghịquyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nớc, nhằm
đa đờng lối, chính sách vào cuộc sống Đặc điểm này nóilên vai trò quan trọng đặc biệt của cơ sở Mọi đờng lối, chủtrơng chính sách của Đảng và Nhà nớc có trở thành hiện thựchay không đều tuỳ thuộc vào việc tổ chức triển khai thựchiện ở cơ sở có chu đáo, cụ thể, có tập hợp đợc lực lợng dânchúng hay không Nó liên quan trực tiếp tới HTCT ở cơ sở, tớichất lợng đội ngũ cán bộ ở cơ sở Có cán bộ tốt thì mới cóphong trào mạnh mẽ, sôi nổi Từ các phong trào của quầnchúng ở cơ sở mà nảy sinh rất nhiều sáng kiến của dân,xuất hiện những điển hình tiên tiến của xã hội ở ngay cơ
sở, làm cho cán bộ trởng thành, phát huy đợc phẩm chất vànăng lực trong công tác thực tế, nhờ đó làm tăng uy tín, ảnhhởng của Đảng, Nhà nớc trong quần chúng Cơ sở nông thônchẳng những cung cấp cán bộ cho phong trào, cho cơ sở vàcấp trên, mà còn là nơi quần chúng chứng thực tính đúng
đắn của đờng lối, chủ trơng, chính sách hoặc từ thực tiễncơ sở mà kiểm nghiệm, phát hiện, điều chỉnh, sửa chữa,làm cho đờng lối, chính sách ngày càng phù hợp với thực tiễn,càng hợp với lòng dân và đợc lòng dân hơn
- Cơ sở nông thôn là tầng sâu nhất mà sự vận hành củathể chế chính trị từ vĩ mô phải tác động tới Vì Cơ sở gắnliền với dân, có quy mô dân số và diện tích Do đó, cơ sở
Trang 39tuy là cấp thấp nhất trong cấp quản lý nhng lại là tầng sâunhất trong quản lý và lãnh đạo, là địa chỉ quan trọng nhất
mà mọi chỉ thị, nghị quyết, chủ trơng, đờng lối, chínhsách của Đảng, Nhà nớc phải tìm đến, phải bằng mọi cách tổchức, tuyên truyền, vận động làm cho dân hiểu, dân tin vàdân làm
- Cơ sở nông thôn là cấp hành động và tổ chức hành
động, nghĩa là cấp tổ chức triển khai thực hiện đờng lối,chính sách của Đảng và Nhà nớc Do đó, bố trí tổ chức bộmáy và đội ngũ cán bộ ở cơ sở phải rất chú trọng tới tínhthiết thực, hiệu quả, cán bộ phải giỏi thực hành, biết thựchành lý luận một cách sáng tạo, muốn vậy phải đợc trang bịtri thức và lý luận khoa học, có kinh nghiệm thực tiễn, đồngthời lại phải có phơng pháp, đặc biệt là làm công tác dânvận, biết vận động thuyết phục quần chúng, miệng nói taylàm tai lắng nghe
- Cơ sở nông thôn là nơi chính quyền trong lòng dân,cán bộ cơ sở từ dân mà ra Đặc biệt, cơ sở nông thôn là nơitrực tiếp nhất của thực tiển, thể hiện ý thức và năng lực dânchủ của dân bằng cả phơng thức dân chủ đại diện và dânchủ trực tiếp Do đó, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cơ sở
là cấp có nhiều lợi thế và khả năng nhất để giảm thiểuxuống mức thấp nhất những thói tật quan liêu, hành chính,mệnh lệnh, tệ hại tham ô, tham nhũng Vì nhờ dân chúngthờng xuyên kiểm tra, giám sát hành vi cán bộ
- Tại cơ sở xã hiện nay tồn tại song hành các thể chếquản lý, pháp luật nhà nớc, quy chế dân chủ và các bản hơng
Trang 40ớc của thôn, làng Phải tổ chức thực hiện và tăng cờng kiểmtra, giám sát sao cho không thể xảy ra các hiện tợng tuỳ tiện,cục bộ địa phơng, coi thờng pháp luật Phải khắc phục từtâm lý, ý thức đến hành vi, hoạt động một nhợc điểm thâmcăn cố đế là “lệ làng cao hơn phép nớc”, là t tởng dòng họ,
bè phái, lợi dụng chức quyền theo kiểu “một ngời làm quan cả
họ đợc nhờ” Đó là những nét chung về đặc điểm, vai tròcơ sở ở nông thôn
- Ngoài ra, cần phải chú ý tới một thực tế: cùng là cấp xã,cấp cơ sở nhng xã - thôn, làng - xã ở nớc ta rất đa dạng, nóthống nhất trong khác biệt Xã đồng bằng khác xã trung du,miền núi, Tây Nguyên Xã ở miền Bắc rất khác xã ở miềnTrung và miền Nam Xã có độ chênh lệch rất lớn về diện tích
và dân số, về số thôn, làng, ấp, bản Xã lại thờng là cộng
đồng đa tộc ngời, đa tôn giáo Điển hình, đơn cử nh: xã
Ch Môray diện tích bằng cả tỉnh Thái Bình Do vậy, cầnphải chú ý đến nét đặc thù này trong quá trình xây dựngHTCT ở cơ sở nông thôn
Tóm lại, cơ cấu kinh tế của xã đang chuyển đổi Cơ
cấu xã hội ở xã đang ngày một đa dạng hơn Đời sống chínhtrị trong làng xã đang đan xen cả những biến đổi tích cực,
ổn định, phát triển lẫn những suy thoái, biến dạng, nhữngtiêu cực và tệ nạn xã hội Có những xã nổi trội, xuất sắc, lànhững xã anh hùng trong đổi mới; nhng cũng còn một phần
đông các xã đang phải nỗ lực vợt lên, ra khỏi tình trạng nghèonàn, lạc hậu, trì trệ; và cũng không ít các xã đang quá yếukém, đang xuất hiện các điểm nóng phải giải quyết Đây là