PHẦN MỞ ĐẦU PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài * Về mặt lý luận Dưới góc độ triết học, phân hóa giáo dục là sự thể hiện của phạm trù cái chung và cái riêng trong các hoạt động giáo dục Nó biểu hiện tính[.]
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
* Về mặt lý luận
Dưới góc độ triết học, phân hóa giáo dục là sự thể hiện của phạm trù
cái chung và cái riêng trong các hoạt động giáo dục Nó biểu hiện tính chấtphổ biến và cá biệt vốn được coi như hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong
sự vận động của chỉnh thể giáo dục
Xét từ luận điểm của các nhà duy vật biện chứng về con người - Mộtvấn đề cơ bản của triết học Macxit thì con người vừa là một thực thể tự nhiênvừa là một thực thể xã hội Mặt tự nhiên được quy định bởi các yếu tố sinhhọc, tạo nên các yếu tố sinh thể đa dạng, không đồng nhất cho các cá thểngười Theo đó, mỗi người là một thế giới tự nhiên khác biệt nhau về tố chất:thể lực, khí chất, năng khiếu Mặt xã hội làm nên chất người, được tạo thànhbởi một hệ thống các quan hệ xã hội, các quan hệ đó được chế ước bởi nhữnghoàn cảnh xã hội cụ thể Mỗi cá nhân là chủ thể của một hệ thống các mốiquan hệ xã hội phong phú và đa dạng, do đó có bộ mặt nhân cách riêng, cómột thế giới tinh thần mang tính riêng độc đáo, không ai giống ai Vì vậy, yêucầu khách quan được đặt ra không nên và không thể đồng nhất cá nhân vớicộng đồng xã hội Con người là đối tượng giáo hóa của giáo dục, rất cần đượcphân hóa theo các hệ tiêu chí khác nhau để từ đó có cách tác động để giáo hóa
có hiệu quả
Phân hóa giáo dục còn là sự thể hiện công bằng xã hội trong giáo dục.Bởi lẽ ở đó, người học được chia thành các nhóm khác nhau về: Hoàn cảnh,thể lực, khả năng, nhu cầu để cung ứng những dịch vụ giáo dục phù hợpnhằm phát triển cao nhất những năng lực bản thân Phân hóa giáo dục là hoàntoàn phù hợp với những quy luật xã hội học giáo dục
Dưới góc độ tâm lý học, tâm lý người là sự phản ánh hiện thực kháchquan vào não thông qua chủ thể Vì vậy, tâm lý người luôn mang tính xã hội,
Trang 2lịch sử và tính chủ thể Cùng một hiện tượng khách quan tác động vào các chủthể khác nhau sẽ cho ta hình ảnh tâm lý khác nhau và cùng một hiện tượngkhách quan tác động vào cùng một chủ thể trong những điều kiện hoàn cảnhkhác nhau cũng cho ta hình ảnh tâm lý khác nhau Do vậy, không có cá nhânnào đồng nhất với nhau hoàn toàn về mặt tâm lý và trình độ phát triển tâm lýcủa mỗi cá nhân là khác nhau nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố: Di truyền,hoàn cảnh sống, giáo dục và hoạt động của chính chủ thể tâm lý đó
Dưới góc độ giáo dục học, xuất phát từ chức năng của giáo dục
xét đến cùng là chức năng phát triển Cứu cánh của giáo dục là giúp mỗi
cá nhân phát triển và trên cơ sở đó tạo ra động lực thúc đẩy xã hội pháttriển Theo đó, cá nhân chỉ có thể có sự phát triển tối đa khi nhà giáo dục và hệthống giáo dục đáp ứng những khả năng, những nhu cầu, nguyện vọng bằngmột chương trình, nội dung và một cách thức phù hợp Lý luận giáo dục học dù
ở phương đông hay phương tây, dù ở thời đại nào cũng đều nhất quán nguyêntắc “tính phù hợp” cho các hoạt động dạy học và giáo dục Nguyên tắc này thểhiện rõ tư tưởng về dạy học phân hóa và được phát biểu khá nhất quán “Đảmbảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học”
* Về mặt thực tiễn
Dạy học phân hoá đã có ở Việt nam từ thời pháp thuộc với cải cách củatoàn quyền Pôn Pô (1906) Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, chúng ta tiếp quảnnền giáo dục của Pháp và có sửa đổi theo hình thức phân ban Trải qua rấtnhiều thăng trầm phân ban rồi lại không phân ban hiện nay nền giáo dục nước tavẫn đang đứng trước những thực trạng khó khăn cả về lý luận lẫn thực tiễn
Chúng ta phải thừa nhận rằng, phân hoá trong dạy học là một bước đi
và chủ trương đúng, nó đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, phù hợp vớinăng lực và sở trường của người học, tạo ra được không khí học tập, đáp ứngđược yêu cầu của giáo dục trong giai đoạn mới là đào tạo ra nguồn nhân lực
có chất lượng cao phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Trang 3Song dạy học phân hoá hiện nay ở nước ta vẫn không tính được khảnăng, nguyện vọng cũng như sự định hướng cho người học còn kém Vì vậy,
đã tạo ra hiện tượng học lệch, dạy thêm, học thêm tràn lan, nặng về trang bịkiến thức, ít chú ý rèn kỹ năng, thiên về học để đối phó với khoa cử, phân hoádạy học ở Việt Nam hiện nay đã trở thành “nơi luyện gà chọi” hơn là hướngvào phát triển toàn diện, phát triển tối đa năng lực người học Hơn nữa, việc
tổ chức dạy học phân hoá còn thiếu các điều kiện đáp ứng như: Cơ sở vậtchất, đội ngũ giáo viên, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhất là những vùngđặc biệt khó khăn như vùng sâu, vùng xa
Việc tổ chức dạy học phân hoá trên lớp qua từng bài học, môn họccũng còn nhiều bất cập Giáo viên có chú ý đến trình độ người học, nhu cầu
và năng lực của người học song vẫn chỉ dừng lại ở những em có trình độ cao
“ngôi sao” với mục đích là để các em đi thi học sinh giỏi ở các cấp, ít chú ýđến các em học lực còn yếu kém và cũng chưa thật sự tạo điều kiện để các emvươn lên trong học tập và rèn luyện
Ở các trường cao đẳng và đại học sư phạm việc tổ chức quá trình dạyhọc theo tiếp cận phân hóa cũng chưa được chú ý đầy đủ, chưa đáp ứng đượcnhu cầu, nguyện vọng, khả năng và trình độ của từng giáo sinh Do đó chấtlượng giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xã hội.Đặc biệt là bộ môn giáo dục học, chưa tạo điều kiện để tất cả giáo sinh có cơhội rèn luyện tay nghề, năng lực nghiệp vụ sư phạm của bản thân để các em
có thể ra nghề và hành nghề có chất lượng và hiệu quả
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã đi vào nghiên cứu đề tài
“Tổ chức quá trình dạy học môn giáo dục học theo tiếp cận phân hoá ở trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn”
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm ra cách thức và quy trình tổ chức quá trình dạyhọc môn giáo dục học theo tiếp cận phân hóa góp phần nâng cao chất lượngdạy và học môn giáo dục học ở trường cao đẳng sư phạm
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phân hóa trong dạy học 3.2 Nghiên cứu thực trạng tổ chức dạy học phân hóa môn giáo dục học
ở trường cao đẳng sư phạm Nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn, nhữngthành công và hạn chế của tổ chức dạy học phân hóa môn giáo dục học ởtrường cao đẳng sư phạm
3.3 Thực nghiệm sư phạm tổ chức quá trình dạy học môn giáo dục họctheo tiếp cận phân hóa và đo kết quả thực nghiệm từ đó đưa ra đề xuất kiếnnghị nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn giáo dục học trong nhàtrường cao đẳng sư phạm
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
* Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn giáo dục học.
* Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức quá trình dạy học môn giáo dục học
theo tiếp cận phân hóa ở trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
5 Giả thuyết khoa học
Tổ chức quá trình dạy học môn giáo dục học theo tiếp cận phân hóakhoa học, đảm bảo tính sư phạm, hệ thống, logic chặt chẽ sẽ nâng cao chấtlượng dạy và học bộ môn Tạo điều kiện để sinh viên học tập và rèn luyện taynghề ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường
6 Giới hạn đề tài nghiên cứu
Do thời gian còn hạn chế nên trong đề tài này chúng tôi chỉ đi sâunghiên cứu phân hóa về trình độ và năng lực nhận thức của sinh viên trong
Trang 5quá trình học tập môn giáo dục học Đồng thời chỉ nghiên cứu quy trình tổchức quá trình dạy học học phần những vấn đề chung của giáo dục học theotiếp cận phân hoá.
7 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã sử dụng và phối hợp một
số phương pháp sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu các vấn đề lý luận
Khai thác, tìm tòi tư liệu về mặt lý luận có liên quan đến đề tài đang nghiêncứu, từ đó tổng hợp và khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản cho đề tài
7.2 Phương pháp điều tra Ankét
Sử dụng mẫu phiếu điều tra bằng Ankét cho giáo viên, sinh viên nhằm thuđược những thông tin về kết quả của việc dạy học theo tiếp cận phân hoá môngiáo dục học, tìm hiểu thực trạng và năng lực học tập bộ môn của sinh viên
7.3 Phương pháp quan sát
Để thu được kết quả chúng tôi quan sát việc tổ chức dạy học môn giáodục học của giáo viên, thái dộ và năng lực học tập của sinh viên trong quátrình tiếp thu bài học và sự phản hồi từ phía sinh viên khi giáo viên tổ chứcquá trình dạy học môn giáo dục học theo tiếp cận phân hoá
7.4 Phương pháp thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệm ở hai chương trong giáo trình
“Những vấn đề chung của giáo dục học” cho sinh viên hai lớp thuộc khoa:Khoa tự nhiên và khoa xã hội hệ cao đẳng trung học cơ sở theo tiếp cận phânhoá nhóm năng lực học tập của sinh viên
7.5 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tổ chức trao đổi với các chuyên gia về việc dạy học theo tiếp cận phânhoá nhóm năng lực học tập của sinh viên khi giảng dạy học phần “Những vấn
đề chung của giáo dục học”, từ đó tổng kết và rút ra kết luận cần thiết
7.6 Phương pháp thống kê toán học
Trang 6Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lý kết quả thu được từ phiếuđiều tra và kết quả học tập của sinh viên Đặc biệt để phân tích kết quả mangtính chính xác và khách quan, phản ánh đúng đắn và khoa học trong sử lý sốliệu nghiên cứu
Trong tất cả các phương pháp trên, chúng tôi sử dụng phương phápthực nghiệm làm chính Lấy đó làm căn cứ xác đáng cho những kết luận và đềxuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn GDHtheo tiếp cận phân hoá trong nhà trường CĐSP
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, nội dung chính của luận văngồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Chương 2 Thực trạng tổ chức quá trình dạy học môn giáo dục học
theo tiếp cận phân hóa ở trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm.
Trang 7- Tác giả đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận của dạy học phân hoá, tuynhiên các khía cạnh như cơ sở khoa học, bản chất, nguyên tắc, các cấp độ vàcách tiếp cận trong dạy học phân hoá chưa được làm sáng tỏ
- Tác giả coi dạy học phân hoá là một xu hướng đổi mới phương pháp dạyhọc, đưa ra mối quan hệ giữa dạy học phân hoá với các phương pháp dạy học khác
và đi vào tổ chức dạy học phân số lớp 4 theo tiếp cận phân hoá trong dạy học
Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa tìm ra cách thức và quy trình trong việc tổchức dạy học phân hoá, chưa xây dựng nội dung bài dạy phân số lớp 4 theocác nhóm phân hoá
* Tác giả Nguyễn Anh Tuấn nghiên cứu: Dạy học phân hoá trong giờhọc luyện tập phương trình lượng giác lớp 11
- Tác giả cũng đã tìm hiểu một số vấn đề lý luận của dạy học phân hoá
- Tìm kiếm quy trình tổ chức dạy học phân hoá theo nhóm năng lực họctập của học sinh
- Xây dựng nội dung bài học theo nhóm phân hoá
* Tác giả Nguyễn Thị Hạnh làm chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước:
Trang 8“Dạy học tự chọn môn tiếng Việt ở tiểu học nhằm đáp ứng nhu cầu dạyhọc phân hoá” Trong đề tài này nhóm tác giả tập chung nghiên cứu vào cácnội dung
- Cơ sở lý luận của dạy học phân hoá và dạy học tự chọn Cơ sở lý luậncủa dạy học tự chọn môn học ngôn ngữ quốc gia
- Kinh nghiệm dạy học tự chọn môn ngôn ngữ quốc gia ở trường tiểuhọc của một số nước trong khu vực Châu á và trên thế giới Kinh nghiệm bồidưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt ở cấp tiểu học ở nước ta
- Thực trạng và nhu cầu dạy học tự chọn môn tiếng Việt tiểu học ởnước ta trong bối cảnh thực hiện chương trình tiểu học mới
- Những cơ sở của việc lựa chọn nội dung, kế hoạch dạy học, phươngpháp dạy học, phương tiện dạy học, cách đánh giá kết quả học tập
- Khung nội dung và khung kế hoạch dạy học tự chọn môn tiếng Việt,nhóm tác giả đưa ra một số phương pháp và hình thứuc tổ chức dạy học, một
số chỉ dẫn về đánh giá kết quả học tập của học sinh, thử nghiệm dạy học tổnghợp theo chủ điểm
Từ những nghiên cứu trên nhóm tác giả đi đến kết luận:
+ Dạy học tự chọn góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáo dục vì đã pháthuy được khả năng và sở trường của mỗi học sinh
+ Hiện thực hoá quan điểm quản lý chất lượng giáo dục theo năng lựchoạt động
+ Hiện thực hoá quan điểm chỉ đạo dạy học linh hoạt phù hợp với đặcđiểm của từng đối tượng học sinh và đặc điểm của địa phương
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Tổ chức, quá trình và tổ chức quá trình dạy học
- Tổ chức theo từ điển tiếng Việt bao hàm hai nghĩa
Với tư cách là danh từ: Tổ chức là chỉ một đơn vị, một cơ quan nhất định
Trang 9Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu: Quá trình dạy học về bản chất là quá trìnhthực hiện một cách có tổ chức các hoạt động sư phạm cụ thể theo các quy địnhcủa chương trình dạy học, nhằm đạt được các mục tiêu dạy học và phát triển toàndiện người học về các mặt: Kiến thức, kỹ năng và các giá trị.[7 - Tr 35]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy – Nguyễn Văn Lê: Quá trình dạy học làquá trình hoạt động thống nhất giữa người dạy và người học Trong đó ngườidạy giữ vai trò định hướng, tổ chức thực hiện việc truyền thu tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo cho người học Còn người học tự ý thức, tự tổ chức quá trình tiếp thumột cách độc lập, sáng tạo hình thành nhân cách của bản thân.[16 - Tr 27]
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: Quá trình dạy học là một bộ phận củaquá trình giáo dục (nghĩa rộng), là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên vàhọc sinh nhằm truyền thu và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sư xã hội loàingười để phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mụcđích giáo dục.[32 - Tr 31]
Theo tác giả Carl Rogers: Quá trình dạy học là quá trình tác động củangười dạy và làm thay đổi ở người học trong hành vi, thái độ và cả trong nhân
Trang 10cách Đó là quá trình có tính chất dấn thân, nhập cuộc của người học và đượcđáng giá bởi chính người học.[29 - Tr 13]
Theo tác giả Hà thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt: Quá trình dạy học là quátrình có mục đích, có kế hoạch được diễn ra trong mối quan hệ thống nhấtbiện chứng giữa người dạy và người học Trong đó người dạy đóng vai tròchủ đạo còn người học giữ vai trò tích cực, chủ động nhằm thực hiện cácnhiệm vụ dạy học.[14 - Tr 29]
Như vậy, tuy mỗi tác giả có cách trình bày khác nhau song tựu chunglại khi nói đến quá trình dạy học đều khẳng định
- Quá trình dạy học là một quá trình có mục đích, có có kế hoạch
- Quá trình dạy học luôn diễn ra trong sự thống nhất giữa người dạy vàngười học
- Người dạy giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển
- Người học giữ vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tổ chức hoạtđộng học của bản thân
- Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đáp ứng yêu cầu xã hội
1.2.3 Phân hóa và phân hóa trong dạy học Phân biệt phân hóa, phân ban, phân luồng và cá biệt hóa trong dạy học
1.2.3.1.Khái niệm phân hoá và phân hoá dạy học
Trang 11Đáp ứng yêu cầu và khả năng của mọi người luôn là một yêu cầu vàthách thức đối với giáo viên và nhà trường, bởi vì đáp ứng sự đa dạng không
có nghĩa là cung cấp một sự giảng dạy giống nhau, với cùng lượng thời gian,cùng thách thức giảng dạy Thực tiễn cũng cho thấy không có một chươngtrình, một cách giảng dạy và đánh giá nào phù hợp với sự đa dạng của tất cảhọc sinh
Cách tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau là phân phốichương trình theo nhiều cách khác nhau, là đa dạng hoá các cách thức,phương tiện giúp cho học sinh nắm được các kiến thức, kỹ năng và khái niệm
Đó chính là sự “phân hoá” trong dạy học
Có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học phân hoá như:
Phân hoá dạy học là sự điều chỉnh quá trình giảng dạy cho phù hợp vớinhu cầu học tập của người học
Phân hoá dạy học là sự thừa nhận và cam kết trong việc lập kế hoạch đápứng sự đa dạng của học sinh Một lớp học phân hoá tạo ra các cách thức khácnhau để người học chiếm lĩnh nội dung … Mục đích của lớp học phân hoá là tối
đa hoá sự phát triển của người học và thúc đẩy sự thành công của từng cá nhân
Theo tác giả Carol Ann Tomlinson: “phân hoá là một cách dạy học màtheo đó, giáo viên tích cực thay đổi hoặc điều chỉnh chương trình, phương phápgiảng dạy, các nguồn lực, hoạt động học và những sản phẩm của học sinh đểđáp ứng nhu cầu của cá nhân học sinh.” Phân hoá không phải là một phươngpháp hay một kế hoạch mà hơn thế, nó là một sự cam kết với một triết lý dạyhọc, khuyến khích học sinh bằng cách gặp chúng ở chính nơi chúng đang cómặt và đưa chúng đến nơi chúng cần đến Dù chúng là học sinh giỏi hay yếukém hoặc chúng là những học sinh xuất thân từ các gia đình và các nền văn hoákhác nhau Phân hoá là chìa khoá đáp ứng những nhu cầu đa dạng của học sinh
mà chúng ta phát hiện được trong các lớp học hiện nay.[19 - Tr 47]
Trang 12Theo tác giả Tracey Hall cho rằng: “Dạy học phân hoá là lý thuyếtgiảng dạy dựa trên mệnh đề là các cách tiếp cận giảng dạy cần phải đa dạng
và thích nghi với sự đa dạng của học sinh trong lớp học” Mô hình dạy họcphân hoá đòi hỏi giáo viên linh hoạt trong cách tiếp cận của mình đối với việcgiảng dạy, điều chỉnh chương trình và truyền đạt thông tin cho người học hơn
là trông chờ học sinh tự sửa đổi chương trình Mục đích của dạy học phân hoá
là tối ưu hoá sự trưởng thành của từng học sinh và giúp cho từng cá nhânngười học thành công trong suốt quá trình học.[19 - Tr 47]
Từ những định nghĩa khác nhau trên ta thấy những nét chung là:
- Thừa nhận sự đa dạng về khả năng, nhu cầu, sự phát triển ngôn ngữ,
sở thích, cách thức học … như là cơ sở quan trọng cho sự cần thiết phải dạyhọc phân hoá
- Nhấn mạnh nhu cầu của từng cá nhân người học
- Dạy học phân hoá là một triết lý, một lý thuyết về dạy học tập trungvào việc thiết kế giảng dạy theo những cách thức đa dạng giúp cho từng cánhân người học trên cơ sở mức độ hiện có của mình có thể thành công
Vì vậy, phân hoá trong dạy học có thể hiểu là sự phân chia đối tượng học thành các bộ phận khác biệt để tiến hành dạy học phù hợp Mục đích là tối đa hoá sự phát triển của người học và thúc đẩy sự thành công của từng cá nhân đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội.
Như vậy, dạy học phân hoá là một quan điểm dạy học đòi hỏi phải tổchức tiến hành các hoạt động dạy học dựa trên những khác biệt của người họcvề: Năng lực, sở thích, nhu cầu, các điều kiện học tập nhằm tạo ra kết quả họctập tốt nhất và sự phát triển tốt nhất cho từng người học, đảm bảo công bằngtrong giáo dục, tức là quyền bình đẳng về cơ hội học tập cho người học
1.2.3.1.2 Bản chất của phân hoá trong dạy học
Là tạo ra những khác biệt nhất định trong nội dung và phương thức hoạtđộng của học trình ở cấp độ tổng thể hoặc ở từng cấp học, môn học, bài học
Trang 13bằng cách thiết kế và thực hiện học trình theo hướng khác nhau dựa vào nănglực, hứng thú, nhu cầu học tập của người học và mục tiêu giáo dục của xã hội.Phương thức hoạt động ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả mục tiêu,nội dung, phưong pháp, phương tiện, môi trường, kết quả, thời gian và nhịp độ.
1.2.3.1.3 Chức năng cơ bản của dạy học phân hoá
Là làm cho quá trình và hệ thống dạy học thích ứng cao hơn với cánhân người học, với những đặc điểm của nhóm xã hội, nhóm tuổi, với bảnchất tự nhiên và xã hội của việc học tập và với điều kiện khác nhau để đảmbảo chất lượng học tập, đồng thời đáp ứng hiệu quả hơn mục tiêu giáo dụcquốc gia, nhu cầu và lợi ích xã hội
Khi phân chia đối tượng giáo dục theo các nguyên tắc sư phạm để làmgiáo dục, sẽ kéo theo sự phân hoá về kết cấu hệ thống nhà trường, kết cấu hệthống chương trình cho các loại đối tượng, phân hoá cơ cấu đội ngũ giáo viên,phân hoá cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, phương tiện kỹ thuật dạy học, phânhoá về thể chế quản lý trong các loại trường Nói cách khác, phân hoá đốitượng giáo dục kéo theo sự phân hoá toàn bộ các điều kiện đảm bảo chấtlượng, các mối quan hệ trong hoạt động giáo dục, các phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học, nghĩa là làm thay đổi phương thức giáo dục
1.2.3.2 Phân biệt phân hoá, phân ban, phân luồng và cá biệt hoá trong dạy học
* Như đã trình bày phân hoá dạy học là sự phân chia đối tượng họcthành các bộ phận khác biệt để tiến hành dạy học phù hợp Mục đích là tối đahoá sự phát triển của người học và thúc đẩy sự thành công của từng cá nhânđáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội
Phân hoá trong dạy học có các cấp độ vĩ mô và vi mô
Cấp độ vĩ mô: Là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chứccác loại trường, lớp khác nhau cho các đối tượng học sinh khác nhau, xâydựng các chương trình giáo dục khác nhau
Trang 14Cấp độ vi mô: Là tổ chức quá trình dạy học trong một tiết học, một lớphọc có tính đến đặc điểm cá nhân học sinh Là việc sử dụng những biện phápphân hoá thích hợp trong một lớp học thống nhất cùng với một kế hoạch học tập,cùng một chương trình, sách giáo khoa Đó là sự cá nhân hoá trong dạy học
* Phân ban là một hình thức phân hoá dạy học ở cấp độ vĩ mô đượcthực hiện trong quá trình dạy học ở cấp THPT Trong chương trình phân bannhững học sinh có năng lực, sở thích, nhu cầu, điều kiện học tập tương đốigiống nhau được tổ chức thành nhóm học theo cùng một chương trình Mỗinhóm học sinh như vậy được gọi là một ban
* Phân luồng là một hình thức của phân hoá dạy học ở cấp độ vĩ môđược thực hiện sau cấp THCS và THPT, nhằm tạo cơ hội cho học sinh tiếptục học tập hoặc làm việc sau khi đã hoàn thành một cấp học Mỗi cơ hội làmột “luồng” Ví dụ sau cấp THCS có những luồng như: Tiếp tục học THPT,học trung cấp chuyên nghiệp, học nghề, tham gia làm việc tại các cơ sở laođộng, sản xuất
* Dạy học tự chọn là một hình thức phân hoá ở cấp độ vi mô được thựchiện trong quá trình dạy học ở các cấp học Nếu phân ban hướng đến nhómhọc sinh vớ khả năng, nhu cầu, sở thích, điều kiện học tập tương đối giốngnhau thì dạy học tự chọn hướng đến từng cá nhân người học Dạy học tự chọncho phép mỗi người học ngoài việc học theo một chương trình chung còn cóthể học một chương trình với các môn học khác nhau, hoặc có thể học các chủ
đề khác nhau trong một môn học
* Cá biệt hoá trong dạy học
Theo từ điển tiếng Việt: Cá biệt hoá là làm cho nổi bật, nổi trội nhữngnét cá biệt.[35- Tr 189]
Cá biệt hoá trong dạy học cũng là một hình thức phân hoá dạy học ởcấo độ vi mô, thường là sự chú ý đến những nét cá biệt của học sinh ở hai cấp
Trang 15độ tích cực và tiêu cực Ví dụ: Học sinh giỏi, xuất sắc hay yếu kém hoặc đạođức tốt hay yếu kém.
1.3 Vị trí, vai trò môn giáo dục học trong các trường sư phạm
Trong các trường sư phạm, bên cạnh nhiều môn học chuyên ngànhkhác nhau, thì môn giáo dục học vẫn được xem là môn học đặc thù của ngành
sư phạm Môn học này cung cấp cho sinh viên những cơ sở lý luận giáo dục,những quy luật, những kinh nghiệm và biện pháp đã được khái quát hoá từthực tiễn giáo dục Giúp cho người học hình thành và phát triển các kỹ năngnghề nghiệp Ngoài ra môn GDH còn cung cấp cho sinh viên một hệ thốngnhững tri thức lýa luận và thực hành hoạt động dạy học trên lớp, các quy tắc,phương pháp dạy của giáo viên, phương pháp học của học sinh và mối quan
hệ hữu cơ giữa chúng Vì thế, kiến thức GDH được xem là cơ sở cho mônphương pháp giảng dạy các khoa học cơ bản mà bất cứ sinh viên thuộcchuyên ngành đào tạo nào trong trường sư phạm cũng cần phải lĩnh hội
Chỉ thị 15/1999 CT-Bộ GD&ĐT ra ngày 20/04/1999 cũng nhấn mạnh:
“Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập là nhiệm vụ quan trọng của từngtrường (khoa) sư phạm, từng bộ môn, của mỗi giảng viên và của mỗi sinhviên Trong đó đi đầu phải là giảng viên các bộ môn phương pháp dạy học,
bộ môn Tâm lý - Giáo dục ”
Chính vì vậy mà bộ môn GDH giữ một vị trí rất quan trọng trong nhàtrường sư phạm Nó vừa là điều kiện, là cơ sở giúp cho hoạt động đổi mớiphương pháp giảng dạy và học tập của giáo viên cũng như sinh viên phát triểnnhanh hơn, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các trường sưphạm đáp ứng được yêu cầu đổi mới của sự phát triển kinh tế - xã hội nướcnhà trong giai đoạn hiện nay và tương lai
Đối với các trường CĐSP theo phân phối chương trình của BộGD&ĐT, môn học GDH gồm IV học phần:
Học phần I: Những vấn đề chung của giáo dục học.
Trang 16Học phần này gồm 3 đơn vị học trình (34 lý thuyết và 11 thực hành).Học phần này cung cấp cho sinh viên hệ thống các kiến thức cơ bản về GDH.Làm cơ sở để sinh viên tiếp tục nghiên cứu, học tập các học phần tiếp theo.Giúp người học tiếp cận với xu thế mới trong công tác giáo dục và nhữngnghiên cứu giáo dục trong và ngoài nước Đồng thời rèn luyện cho sinh viên
kỹ năng nghiên cứu, nắm bắt các vấn đề lý luận giáo dục, biết ghi nhận cáckinh nghiệm giáo dục, học tập của bản thân để rèn luyện tu dưỡng về nghề
Học phần II: Tổ chức hoạt động dạy học ở trường THCS.
Học phần này gồm 3 đơn vị học trình (32 lý thuyết và 13 thực hành).Học phần này cung cấp cho sinh viên những tri thức cơ bản có hệ thống về lýluận dạy học, làm cơ sở choviệc rèn luyện hình thành các kỹ năng dạy học.Bên cạnh học lý thuyết, thông qua hoạt động thực hành sư phạm, hình thành ởsinh viên kỹ năng dạy học theo hướng chủ động, tích cực, sáng tạo đáp ứngyêu cầu của dạy học ngày nay
Học phần III: Tổ chức hoạt động giáo dục ở trường THCS.
Học phần này gồm 3 đơn vị học trình (32 lý thuyết và 13 thực hành).Học phần này cung cấp cho sinh viên những vấn đề cơ bản trong lý luận giáodục Trên cơ sở đó hình thành các kỹ năng hoạt động giáo dục theo đúng yêucầu đặt ra Có thái độ đúng đắn, nghiêm túc trong học tập và rèn luyện nghề.Biết cách tổ chức, kết hợp với các lực lượng giáo dục khác trong việc giáodục nhân cách học sinh
Học phần IV: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục.
Học phần này gồm 2 đơn vị học trình (15 tiết lý thuyết và 15 tiết thựchành) Học phần này cung cấp cho sinh viên những kiến thức chung vềphương pháp luận, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và cấu trúccông trình nghiên cứu khoa học Từ đó sinh viên bước đầu có kỹ năng xâydựng đề cương nghiên cứu khoa học giáo dục, đồng thời giúp sinh viên hìnhthành thái độ đúng đắn, trung thực và cầu thị trong nghiên cứu khoa học
Trang 17Do thời gian và khuôn khổ luận văn có giới hạn, nên chúng tôi chỉ nghiêncứu ở hai chương của học phần I: Những vấn đề chung của giáo dục học.
Chương I: Giáo dục học là một khoa học
Chương II: Giáo dục và sự phát triển nhân cách
Chúng tôi hy vọng rằng qua sự nghiên cứu trên sẽ là cơ sở cho nhữngnghiên cứu tiếp theo của các chương, các học phần kế tiếp và đóng góp mộtphần vào sự đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học môn GDH ở các trường
sư phạm trong giai đoạn hiện nay và sau này
1.4 Cơ sở khoa học của phân hoá trong dạy học
1.4.1 Cơ sở triết học
Phân hóa giáo dục là sự thể hiện của phạm trù cái chung và cái riêngtrong các hoạt động giáo dục, nó biểu hiện tính chất phổ biến và cá biệt vốnđược coi như hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong sự vận động của chỉnhthể giáo dục
Xét từ các luận điểm của các nhà duy vật biện chứng về con người một vấn đề cơ bản của triết học Macxit thì con người vừa là một thực thể tựnhiên vừa là một thực thể xã hội Mặt tự nhiên được quy định bởi các yếu tốsinh học, tạo nên các yếu tố sinh thể đa dạng, không đồng nhất cho các cá thểngười Theo đó, mỗi người là một thế giới tự nhiên khác biệt nhau về tố chất:thể lực, tính cách Mặt xã hội làm nên chất người, được tạo thành bởi một hệthống các quan hệ xã hội, các quan hệ đó được chế ước bởi những hoàn cảnh
-xã hội cụ thể Mỗi cá nhân là chủ thể của một hệ thống các mối quan hệ -xãhội phong phú và đa dạng, do đó có bộ mặt nhân cách riêng, có một thế giớitinh thần mang tính riêng độc đáo, không ai giống ai
Đi từ luận điểm cơ bản ấy, triết lý phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa vàcộng sản chủ nghĩa đã được những nhà sáng lập chủ nghĩa Marx nhấn mạnhtrong “Tuyên ngôn của đảng cộng sản”(1848): Phát huy cao nhất năng lực của
Trang 18mỗi cá nhân, rằng sự phát triển của từng người là điều kiện cho sự phát triểncho mọi người
Tư tưởng nhân văn trong luận điểm triết học trên được phản ánh rõ nétvào trong giáo dục đào tạo Một nền giáo dục nhân văn đòi hỏi mục tiêu giáodục phải toàn diện, nội dung giáo dục phải thiết thực, đa dạng và tương thíchvới từng loại đối tượng, cấu trúc của nó phải mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp vớiyêu cầu và điều kiện của người học Nhân văn hoá giáo dục được thực hiệnbằng cách cá nhân hoá nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục, làm chochúng có cấu trúc phù hợp với trình độ và kinh nghiệm, hứng thú và khuynhhướng nhân cách của mỗi các nhân người học, từ đó tạo điều kiện để họ pháttriển một cách tốt nhất
Vì vậy, yêu cầu khách quan được đặt ra không nên và không thể đồngnhất cá nhân với cộng đồng xã hội Con người là đối tượng giáo hóa của giáodục, rất cần được phân hóa theo các hệ tiêu chí khác nhau để từ đó có cách tácđộng để giáo hóa có hiệu quả
1.4.2 Cơ sở xã hội học và xã hội học giáo dục
Trong quá trình tồn tại và phát triển của bất cứ xã hội nào, con người baogiờ cũng sống thành nhóm, đây là một hiện tượng mang tính quy luật của xã hội.Một xã hội hiện đại là một xã hội phân hoá cao và chuyên môn hoá cao.Chuyên môn hoá cao đồng nghĩa với việc đào tạo nghề chuyên môn, nghề hẹp
ở trình độ tiên tiến
Nét đặc trưng của giáo dục hiện đại là phân hoá cao trong sự thống nhấtcủa một chỉnh thể giáo dục Sự thống nhất được thể hiện ở chỗ mọi hoạt độngđều phải hướng tới mục đích cuối cùng của giáo dục đó là: Tạo cơ hội chomọi người có trình độ xuất phát, có năng lực, hoàn cảnh, điều kiện khác nhauđều được tiếp cận giáo dục, là tạo cơ hội cho mọi cá nhân phát triển cao nhấtcác năng lực trội của mình để thành đạt trong học đường và cuộc sống, là tạonguồn lao động chất lượng cao, nhanh chóng thích ứng được với sự phân
Trang 19công lao động trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế Đây cũng chính
là lý do chính để xã hội làm giáo dục và cần phân hoá giáo dục để nâng caochất lượng hiệu qủa trong đào tạo Đó cũng là lý do để mỗi cá nhân vượt khó,
tự giác, tích cực học tập trong các điều kiện hoàn cảnh khi thuận lợi cũng nhưlúc khó khăn
Đối tượng của các hoạt động, các quá trình giáo dục là người và tập thểcon người Tập thể học sinh thực chất là một loại nhóm xã hội, lại được phânhóa thành nhiều nhóm nhỏ với các kích cỡ khác nhau, với những dấu hiệu xãhội khác nhau về: Khả năng, năng lực, nhu cầu và hứng thú, sở thích vànguyện vọng Phân hóa giáo dục là sự thể hiện công bằng xã hội trong giáodục Bởi lẽ ở đó, người học được chia thành các nhóm khác nhau về: Hoàncảnh, thể lực, khả năng, nhu cầu … để cung ứng những dịch vụ giáo dục phùhợp nhằm phát triển cao nhất những năng lực bản thân Phân hóa giáo dục làhoàn toàn phù hợp với những quy luật xã hội học giáo dục
1.4.3 Cơ sở tâm lý học
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não thông quachủ thể Vì vậy, tâm lý người luôn mang tính xã hội, lịch sử và tính chủ thể.Cùng một hiện tượng khách quan tác động vào các chủ thể khác nhau sẽ cho
ta hình ảnh tâm lý khác nhau và cùng một hiện tượng khách quan tác độngvào cùng một chủ thể trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau cũng cho tahình ảnh tâm lý khác nhau Do vậy, không có cá nhân nào đồng nhất với nhauhoàn toàn về mặt tâm lý và trình độ phát triển tâm lý của mỗi cá nhân là khácnhau nó phụ thuộc vào nhiều nhân tố
Từ góc độ sinh lý thần kinh, các nhà tâm lý học đã chia thần kinh ngườilàm 4 loại cơ bản: Bình thản, ưu tư, hoạt bát và nóng nảy Eysenok cho rằng:Nhân cách con người phụ thuộc vào các loại thần kinh và được bộc lộ qua cácđặc điểm tính cách, thể hiện qua các xúc cảm qua cường độ, tốc độ của thái
độ hành vi Dựa trên các đặc điểm tính cách, ông phân chia nhân cách thành
Trang 20loại hướng nội và hướng ngoại Sự phân chia này chỉ mang tíng tương đối bởi
vì thông qua giáo dục và tự giáo dục sẽ dẫn đến sự điều chỉnh thái độ hành vitrong quá trình tiếp nhận giáo dục và tự giáo dục của cá nhân Sự phân hoá giáodục dựa trên những đặc điểm tính cách có ý nghĩa quan trọng đối với sự pháttriển mục đích, động cơ, hứng thú và định hướng nghề nghiệp của học sinh
Các thành tựu nghiên cứu mới về não người đã xác định được chứcnăng tâm lý của các bán cầu não trái và phải, các thuỳ trong bộ não có liênquan đến thị giác, ngôn ngữ, các phẩm chất tư duy logic, tư duy không gian.Đây là cơ sở để H.Gardner xây dựng lý thuyết về “Nhiều dạng trí khôn” Tưtưởng cốt lõi của lý thuyết này là thừa nhận năng lực người có các dạng tríkhôn khác nhau Các dạng trí khôn không nhất thiết bộc lộ tất cả ở một conngười Ở mỗi người có thể có các loại trí khôn bộc lộ nổi trội, có loại mờ nhạthơn Thiếu đi một số dạng trí khôn, cá nhân vẫn có thể thành đạt nhờ các dạngtrí khôn nổi trội của mình Ví dụ: Nếu có trí khôn logic, cá nhân có thể vượt
xa trong lĩnh vực tư duy logic toán mà không nhất thiết phải cần đến loại tríkhôn âm nhạc hay trí khôn tri giác vận động … Từ đây có thể rút ra kết luận:Các loại đối tượng học sinh đều có thể thành đạt trong học đường và cuộcsống nếu các nhà giáo dục sớm phát hiện và tạo cơ hội cho cá nhân phát triểncác loại trí khôn vượt trội của mình Điều quan trọng hơn là các nhà giáo dụccần thấy được thế mạnh của các dạng trí khôn ở mỗi cá nhân để không đặt racác đòi hỏi nhiều hơn cái mà cá nhân có thể có Đây là cơ sở khoa học cho sựphân hoá cá nhân, đồng thời là cơ sở để tư vấn cho học sinh khi phân luồng,hướng nghiệp và tự chọn trong phân hoá giáo dục
1.4.4 Cơ sở giáo dục học
Xuất phát từ chức năng của giáo dục xét đến cùng là chức năng pháttriển Cứu cánh của giáo dục là giúp mỗi cá nhân phát triển và trên cơ sở đótạo ra động lực thúc đẩy xã hội phát triển Mục tiêu mà sự nghiệp giáo dụcđào tạo hướng tới là: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 21trên nền tảng xây dựng nhân cách Theo đó, cá nhân chỉ có thể có sự phát triểntối đa khi nhà giáo dục và hệ thống giáo dục đáp ứng những khả năng, nhữngnhu cầu, nguyện vọng bằng một chương trình, nội dung và một cách thức phùhợp Tương tự như thế, xã hội sẽ có điều kiện phát triển tốt hơn nếu nguồnnhân lực được đào tạo theo định hướng phân hóa, phù hợp với cơ cấu lao động
xã hội và định hướng phát triển của từng loại ngành nghề khác nhau, từ đó đápứng những nhu cầu phát triển của thời kỳ CNH - HĐH và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ bản chất và mục tiêu giáo dục, lý luận giáo dục học dù ởphương đông hay phương tây, dù ở thời đại nào cũng đều nhất quán nguyêntắc “tính phù hợp” cho các hoạt động dạy học và giáo dục Nguyên tắc nàythể hiện rõ tư tưởng về dạy học phân hóa và được phát biểu khá nhất quán
“đảm bảo tính vừa sức chung và vừa sức riêng trong dạy học”
Tinh thần phân hóa giáo dục đã được chuyển thành tư tưởng chỉ đạocủa Đảng và Nhà nước, thể hiện trong các chủ trương, chính sách quốc gia.Chiến lược giáo dục đào tạo đến năm 2010 của Chính phủ đã xác định mộttrong những mục tiêu của giáo dục đào tạo là: “Mở rộng quy mô đi đôi vớicoi trọng chất lượng giáo dục đào tạo và hiệu quả sử dụng, đáp ứng nhu cầunhân lực trước mắt và lâu dài của sự nghiệp CNH - HĐH, nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi tầnglớp nhân dân, tiến tới một xã hội học tập”
1.5 Sự khác biệt giữa dạy học phân hoá và không phân hoá
Để có cái nhìn rõ hơn, C.A.Tomlinson đã đưa ra bảng so sánh nhữngbiểu hiện thể hiện sự phân hoá trong dạy học với những biểu hiện thể hiện sựkhông phân hoá.[19 - Tr 38]
- Liên kết và xây dựng mối quan hệ
với học sinh
- Xây dựng mục tiêu học tập như là
- Dạy học sinh và giáo viên thống trịlớp
- Sử dụng tập hợp tài liệu đã ấn định
Trang 22kết quả của sự phối hợp giữa GV-HS
- Tạo ra chương trình học tập có ý
nghĩa và thách thức
- Sử dụng sự khác nhau của học sinh
như là cơ sở cho việc lập kế hoạch
- Tạo ra sự tiếp cận chương trình cho
mọi học sinh
- Tích cực hoá và đáp ứng được nhu
cầu của người học
- Sử dụng đánh giá liên tục để làm
căn cứ cho giảng dạy
- Lôi cuốn học sinh vào quá trình
đánh giá
- Sử dụng thời gian, khoảng không,
các chiến thuật giảng dạy và tài liệu
làm việc trong các nhóm linh hoạt,
tôn trong toàn bộ người học, tính đến
đầu vào của người học
- Tập chung vào nắm các sự kiện
- Lập kế hoạch vì định lượng hơn làđịnh tính
- Dạy cùng một cách cho mọi họcsinh
- Đáp ứng nhu cầu người học chỉ khivấn đề nổi lên
- Đánh giá vào cuối từng phần, từngchương
- Việc đánh giá của học sinh ít, giáoviên là người thống trị
- Sử dụng một cách hiểu duy nhất vềhọc giỏi từ việc đo thành công củangười học
- Tạo ra những bài kiểm tra chỉ mộtlựa chọn
- Bài dạy ít ý tưởng
- Dạy học đơn điệu, ít linh hoạt vàkhông tính đến đầu vào của ngườihọc
Như vậy, sự đa dạng của người học là một tồn tại khách quan mà bất cứgiáo viên nào cũng đều gặp phải trong lớp học của mình Cách tốt nhất để đápứng sự đa dạng đó là phải phân hoá Mục đích cơ bản của phân hoá trong dạyhọc là tối ưu hoá sự phát triển của người học và giúp cho mọi người đềuthành công với một chương trình học tập có ý nghĩa và thách thức ở mức độ
Trang 23phù hợp với từng người học Phân hoá được thể hiện ở nhiều khía cạnh từ nộidung, đến quá trình, sản phẩm và cả môi trường học tập Dạy học phân hoá cónhiều những ưu điểm và sự khác biệt lớn so với không phân hoá Vì vậy, dạyhọc phân hoá đang là một xu hướng của giáo dục hiện nay, một trong nhữngphương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao của sự phát triển xã hội.
1.6 Các cách tiếp cận và cấp độ của dạy hoc phân hoá
1.6.1 Những cách tiếp cận trong dạy học phân hoá
Tổng quan lại trên thế giới hiện nay có 3 cách tiếp cận cơ bản trong dạyhọc phân hoá
1.6.1.1 Xây dựng và thực hiện các phương án chương trình giáo dục khác nhau
và tổ chức các kiểu trường hay học trường khác nhau trong hệ thống giáo dục.
Cách này tạo ra những diện hay những ban đào tạo khác nhau đượcphân biệt khá rõ về mục tiêu, nội dung, cấu trúc, học chế, hoạt động, phươngpháp, phương tiện và cơ cấu tổ chức quản lý, hệ thống và có thể cả chấtlượng, tay nghề của người học sau khi tốt nghiệp
Ngoài ra còn có cách phân hoá cổ điển đến nay không còn dùng nữa,
đó là việc thành lập các kiểu trường khác nhau riêng biệt, phân chia đẳng cấp
và chất lượng văn bằng, áp dụng những học phần khác biệt nhau hoàn toàn
1.6.1.2 Xây dựng học trình tổng thể với cùng một mục tiêu tổng quát gồm hai khối: Nội dung và hoạt động chủ yếu
Cách này tạo ra những phương án dạy học khác nhau Những khác biệtgiữa những phương án được bù lẫn nhau do sự đa dạng của các học trình, củanội dung học tập Do đó, tuy mục tiêu đạt được khác nhau về hình thức họcvấn, còn trình độ chất lượng của mục tiêu vẫn như nhau
1.6.1.3 Thực hiện cách tiếp cận riêng biệt trên lớp để tăng hiệu quả học nhóm và cá nhân, gắn liền với cá nhân hoá dạy học
Trang 24Các học trình và quá trình dạy học tổng thể được hoạch định và tổ chứcthực hiện cho tất cả học sinh trong phạm vi nhóm tuổi nào đó, bản thân giáoviên cũng là nguồn lực cho học sinh thuộc nhóm tuổi nhất định, nhưng việchọc lại là trách nhiệm, công việc và lợi ích của từng cá nhân học sinh không ỷlại vào người khác Vì vậy cá nhân hoá dạy học nhằm biến học trình chung đóthành các quá trình học tập diễn ra ở cấp độ cá nhân, bằng phương thức cánhân để đạt hiệu quả cao nhất
Do đó, chương trình có thể được cấu trúc và tổ chức đa dạng hơn, giãnrộng hơn ranh giới giữa học vấn tối thiểu và học vấn tối đa Mở rộng hơn cáclĩnh vực học tập
Biểu hiện của cách tiếp cận này là:
- Thể hiện tài liệu thành nhiều phương án, chỉnh lý những nội dung bổtrợ thích hợp với năng lực hay đặc điểm cá nhân người học
- Gợi ý những hoạt động hay quy trình làm việc thích hợp với từngngười, thực hiện chế độ kiểm tra đánh giá riêng cho mỗi cá nhân
- Tài liệu giảng dạy được phân thành các giáo án khác nhau để áp dụngcho những mô hình học tập cá nhân, cung cấp và hỗ trợ các phương tiện cầnthiết cho hoạt động cá nhân, áp dụng các biện pháp chuyên biệt cần thiết chotừng trường hợp
- Giám sát và điều chỉnh nhịp độ học tập thích hợp của từng người, tổchức và thay đổi kịp thời điều kiện học tập phù hợp với trạng thái và mức độphát triển của cá nhân
- Đặt yêu cầu riêng cho từng nhóm hay cá nhân, ra những bài tập vàyêu cầu luyện tập, ôn tập khác nhau, cung cấp các tài liệu bổ trợ khác nhau,hướng dẫn riêng cho cá nhân hay từng nhóm khi cần thiết, chia lớp thànhnhững trình độ sức học khác nhau để tổ chức các hình thức học tập thích hợp
1.6.2 Các cấp độ của dạy học phân hoá
Từ sự phân tích 3 cách tiếp cận trong dạy học phân hoá có thể nhận thấy:
Trang 25- Kết quả của cách tiếp cận thứ nhất là cấp độ phân hoá vĩ mô, hoặcphân hoá ở cấp độ xã hội, liên quan nhiều đến công bằng giáo dục.
- Kết quả của cách tiếp cận thứ hai là phân hoá ở cấp hệ thống vàchương trình Nếu cả hai phương diện đều được thiết kế tốt thì cách tiếp cậnnày cho phép phân hoá dạy học triệt để vừa ở quy mô hệ thống, vừa ở các đơn
vị môn học, lớp học, bài học
- Kết quả của cách tiếp cận thứ ba là cấp độ phân hoá vi mô, trong nội bộmôn học, lớp học, bài học tương ứng với hoạt động điều hành chuyên môn củanhà trường và giáo viên Đây luôn là yêu cầu đối với mọi hệ thống dạy học
Khái quát lại có thể thấy dạy học phân hoá có thể được thực hiện ở 2cấp độ: Vĩ mô và vi mô
1.6.2.1 Dạy học phân hoá ở cấp vĩ mô (phân hoá ngoài)
Là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chức các loại trường,lớp khác nhau cho các đối tượng học sinh khác nhau, xây dựng các chươngtrình giáo dục khác nhau
1.6.2.2 Dạy học phân hoá ở cấp độ vi mô (phân hoá trong)
Là tổ chức quá trình dạy học trong một tiết học, một lớp học có tínhđến đặc điểm cá nhân học sinh Là việc sử dụng những biện pháp phân hoáthích hợp trong một lớp học thống nhất cùng với một kế hoạch học tập, cùngmột chương trình, sách giáo khoa Đó là sự cá nhân hoá trong dạy học
1.6.2.3 Sự khác biệt giữa hai cấp độ phân hoá
Sự khác biệt giữa phân hoá trong và phân hoá ngoài thể hiện ở:
- Phân hoá ngoài dẫn dắt học sinh đạt được những mục tiêu đào tạokhác nhau
Các mô hình phân hoá ngoài:
+ Mô hình phân hoá thứ nhất: Ở giai đoạn đầu của quá trình giáo dục vàđào tạo, thường là sau giáo dục phổ thông, hoặc là sau 2,3 năm đối với đại học,sinh viên học chương trình tri thức tổng quát mang tính bắt buộc Chương trình
Trang 26này bao gồm các môn học độc lập, hoặc tích hợp, hoặc được cấu tạo theo cácchủ đề của cuộc sống Sau khi hoàn thành chương trình phát triển tổng quát bắtbuộc học sinh, sinh viên sẽ tiếp tục học theo các môn tự chọn
+ Mô hình phân hoá thứ hai: Đòi hỏi chương trình phát triển tri thứctổng quát theo suốt cả giai đoạn giáo dục và mỗi học sinh được quyền lựachọn ngay từ khi phát triển chương trình tri thức tổng quát bắt buộc Đối vớimỗi môn học tích hợp hoặc đối với mỗi chủ đề, học sinh được chọn theochương trình chuẩn hoặc chương trình nâng cao, ngoài ra mỗi học sinh chọnhọc thêm một số môn học tự chọn tuỳ theo năng lực, nguyện vọng người học
+ Mô hình phân hoá thứ ba: Cũng đòi hỏi chương trình phát triển trithức tổng quát theo sát toàn bộ quá trình học tập ở phổ thông hoặc đại học vàngười học có thể lựa chọn nội dung học ngay khi học chương trình phát triểntri thức tổng quát mang tính bắt buộc này Khác với mô hình thứ hai, ở đâymỗi môn học được cấu tạo thành các module và mỗi người học sẽ lựa chọncho mình các module thích hợp, đồng thời lựa chọn học thêm một số môn học
tự chọn khác
- Phân hoá trong - cá nhân hoá quá trình dạy học là sự tìm kiếm nhữngcon đường khác nhau để học sinh cùng một lớp với đặc điểm cá nhân khácnhau đều đạt được mục tiêu đào tạo
Các mức độ của sự phân hoá cá nhân trong dạy học: Phân hoá về sựhăng hái, phân hoá về sự quan tâm mong muốn, phân hoá về mức độ khóhoặc kỹ năng, phân hoá về giảng dạy, phân hoá về tiểu sử học tập
1.7 Các xu hướng phân hóa trong dạy học hiện nay
Khi bàn về các xu hướng phân hoá dạy học trên thế giới hiện nay có bahướng chính
1.7.1 Phân hoá hướng vào đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phân công lao động xã hội
Xu hướng này dẫn đến sự phân luồng, phân ban, tự chọn để hướng nghiệp
Trang 27sau phổ thông Xu hướng này có ở các nước Pháp, Cộng hoà liên bang Nga,Singapo, Tây Ban Nha đã kết hợp phân ban với tự chọn; các nước Hàn Quốc,Trung Quốc, Đức, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Hà Lan, Italia, Malayxia đã phânluồng bằng các môn tự chọn; các nước chỉ phân ban không có môn tự chọnnhư: Ghinê, mali, Angiêri, Campuchia; các nước sử dụng hình thức tự chọncác môn học bắt buộc và các môn học tự chọn tuỳ ý như: Mỹ, Anh, Nhật,Canađa, Niuzilân, Hungari
1.7.2 Phân hoá hướng vào phát triển các tiềm năng trí tuệ cá nhân
Theo hướng này các nhà sư phạm đã xây dựng các mô hình dạy học và
đề xuất các quan điểm dạy học như: Hướng vào người học, dạy học tích cực,dạy học thực dụng hay dạy học thích ứng làm xuất hiện nhiều nhómphương pháp dạy học như: Dạy học phức hợp, kiến tạo, đề án, phương pháphành động, thử và sai, chiếc hộp đen, chương trình hoá Gần đây xuất hiệnhàng loạt các phương pháp mới như: Công não, bể cá, bức tường, kim tự tháp,trò chơi, sắm vai, thảo luận nhóm, nghiên cứu trường hợp điển hình Nhìnchung các phương pháp này đều có điểm chung là hướng vào tổ chức cho họcsinh tham gia hoạt động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành trên
cơ sở chú ý đến năng lực, sở trường, hứng thú học tập của học sinh
Các hình thức phân hoá cá nhân
+ Phân hoá trình độ học sinh trong lớp theo tổ, nhóm, cá nhân
+ Dạy học kèm cặp (gia sư, phụ đạo, bồi dưỡng) theo nội dung đã chọn.+ Dạy học chương trình hoá, trong đó chương trình hoá chương trìnhdạy và chương trình hoá chương trình học để tạo điều kiện cho mỗi cá nhân
có thể học theo năng lực và tiến độ của riêng mình
+ Dạy học tự chọn các chuyên ngành, môn học, chuyên đề, hình thứchọc, thời gian học phù hợp với trình độ xuất phát, với năng lực, nhu cầu, vớiđiều kiện, hoàn cảnh của từng cá nhân một cách linh hoạt
Trang 281.7.3 Phân hoá theo hướng tạo cơ hội học tập cho mọi người được tiếp cận giáo dục, thành đạt trong học đường và cuộc sống
Trong giáo dục có nhiều trẻ em thiệt thòi, học sinh ở các vùng xa xôihẻo lánh đi lại khó khăn Có trẻ em ở thành phố nhưng để tránh các tệ nạn xãhội, bạo lực học đường, ở các nước phát triển, nhiều cha mẹ đã chọn cho conhọc ở các trường tự chọn, học gia sư, học từ xa Trẻ em học hết một môn cóthể đăng ký để thi lấy chứng chỉ, khi học hết các môn, có đủ chứng chỉ cácmôn theo quy định, học sinh được cấp bằng tốt nghiệp cấp học hoặc bằng tốtnghiệp một nghề
Trong thời kỳ công nghiệp phát triển, một số nghề mất đi, một số nghềmới ra đời Để đổi nghề, nâng cao tay nghề, người học phải tự chọn ngành,nghề, môn học, hình thức, thời gian học phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện củamình Quá trình học giúp họ tích cóp dần các chứng chỉ để cuối cùng có đượcbằng tốt nghiệp một nghề
Như vậy, phân hoá theo hình thức tự chọn đã tạo cơ hội cho mọi người
có trình độ, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau có cơ hội được đi học để đạt đượcmục đích của mình, tạo cơ hội cho mọi người học thường xuyên, học suốt đời
Đó cũng là tiền đề cho xây dựng xã hội học tập
1.8 Những đặc điểm cơ bản của một lớp học phân hoá theo trình độ nhận thức
Phân hoá dạy học theo trình độ nhận thức là phương thức phân hoá nộitại (hay còn gọi là phân hoá trong) được thực hiện nhằm mục tiêu phát triểnnăng lực của cá nhân người học Sự phân hoá nội tại được thực hiện trong quátrình tổ chức thực hiện quá trình dạy học cụ thể theo từng đơn vị bài học, mônhọc, tại một không gian lớp học xác định
Phương thức này đòi hỏi nhà sư phạm sử dụng những biện pháp phân chiamột cách thích hợp các đối tượng người học thành những nhóm khác biệt nhau,
từ đó có những tác động sư phạm phù hợp với từng loại đối tượng nhằm giúp
Trang 29người học phát triển năng lực, sở trường, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của họ.
Lớp học phân hoá theo trình độ nhận thức có hiệu quả có bốn đặc điểmchủ yếu sau đây chi phối việc dạy và học
1.8.1 Dạy học tập trung vào khái niệm và được tăng cường bởi các nguyên
lý nhất định
Tất cả người học đều có cơ hội khám phá và vận dụng những khái niệm
cơ bản của bộ môn đang học Tất cả học sinh cuối cùng đều hiểu được nhữngnguyên lý cơ bản này, làm chỗ dựa cho việc học của họ Kiểu giảng dạy đólàm cho những học sinh yếu kém nắm vững và sử dụng được những ý tưởng
có tác động mạnh, đồng thời khuyến khích học sinh giỏi mở rộng sự hiểu biếtcủa mình và vận dụng có hiệu quả những khía niệm và nguyên tắc cơ bản.Kiểu giảng dạy đó đề cao việc hiểu biết và nắm bắt ý nghĩa chứ không phải làlưu giữ và nhắc đi nhắc lại những thông tin manh mún, vụn vặt Kiểu giảngdạy dựa vào khái niệm và được tăng cường bởi các nguyên lý đòi hỏi giáoviên cho học sinh nhiều lựa chọn cách học khác nhau Một chương trình họcdựa vào sự bao quát có thể khiến giáo viên nhận ra rằng tất cả học sinh cùnglàm một việc giống nhau Dạy học phân hoá theo trình độ nhận thức giúp họcsinh có cơ hội khai thác những ý tưởng có ý nghĩa thông qua nhiều con đường
và cách tiếp cận khác nhau
1.8.2 Việc đánh giá thường xuyên
Việc đánh giá thường xuyên tâm thế sẵn sàng và sự trưởng thành củahọc sinh được xây dựng thành chương trình học Giáo viên không cho rằng tất
cả học sinh đều cần thực hiện một nhiệm vụ nào đó, nhưng họ thường xuyênphải đánh giá tâm thế sẵn sàng và hứng thú của học sinh và hỗ trợ chúng khichúng cần được giảng hoặc hướng dẫn thêm Giáo viên phải giúp học sinhkhám phá khi thấy rằng một cá nhân hay nhóm học sinh sẵn sàng tiến bước
1.8.3 Việc hình thành nhóm một cách linh hoạt
Việc hình thành nhóm một cách linh hoạt cần được sử dụng một cách nhất
Trang 30quán Trong một lớp phân hoá, học sinh làm việc theo nhiều mô hình khácnhau Đôi khi chúng làm việc độc lập, đôi khi theo cặp, đôi khi theo nhóm.Đôi khi nhiệm vụ được giao dựa trên tâm thế sẵn sàng, đôi khi dựa trên hứngthú, đôi khi xây dựng để thích ứng với cách học của học sinh và đôi khi là sựkết hợp tất cả những kiểu đó Việc dạy học phân hoá theo trình độ học tập còn
có thể được xây dựng dựa vào quá trình học tập, khả năng và kết quả học tậpcủa người học Trong một lớp phân hoá, kiểu dạy học cho toàn nhóm cũng cóthể được sử dụng để giới thiệu những ý tưởng mới hoặc để chia sẻ, trao đổikết quả học tập Việc đáng giá thường xuyên sẽ là căn cứ giúp giáo viên luânchuyển nhóm trình độ học tập của học sinh và tạo ra không khí học tập, sự nỗlực và kích thích tính tích cực, chủ động của người học
1.8.4 Học sinh là những người khám phá tích cực còn giáo viên là người hướng dẫn
Học sinh là những người khám phá tích cực và chủ động, giáo viên làngười hướng dẫn hoạt động khám phá đó Do nhiều hoạt động khác nhauthường diễn ra đồng thời trong một lớp phân hoá, nên giáo viên phải làm việcnhiều hơn với tư cách là người hướng dần học hơn là một “nhà bào chế thôngtin” Như trong một gia đình, học sinh phải học cách có trách nhiệm với côngviệc của mình Không chỉ có cách tiếp cận lấy học sinh làm trung tâm chophép học sinh có thể làm chủ việc học của mình nhiều hơn mà nó còn tạo điềukiện thuận lợi cho việc thực hiện mục tiêu học tập quan trọng của học sinhcùng như của giáo viên
1.9 Mục tiêu của dạy học phân hoá hướng tới cá nhân theo trình độ năng lực học tập
Phân hoá trong giáo dục là một đòi hỏi khách quan, việc tiến hành dạyhọc phân hoá trong các giờ học hướng tới phát triển năng lực mỗi cá nhânngười học cần dựa trên những tư tưởng chủ đạo sau:
- Lấy trình độ phát triển chung trong lớp làm nền tảng
Trang 31- Tìm cách đưa diện yếu kém lên trình độ chung.
- Tìm cách đưa diện khá, giỏi đạt những yêu cầu nâng cao trên cơ sởđạt được những yêu cầu cơ bản
Trong giờ giảng dạy bộ môn có thể sử dụng một số biện pháp sau:
- Đối sử cá biệt ngay trong những giờ dạy học đồng loạt dựa trên trình
độ phát triển chung như: Giao nhiệm vụ học tập phù hợp với từng loại đốitượng, khuyến khích diện yếu kém khi các em có ý trả lời câu hỏi, phân hoágiúp đỡ, kiểm tra và đánh giá kết quả ở người học
- Ra bài tập có phân bậc hoặc ra thêm bài tập để đào sâu, nâng cao chocác em có học lực khá, giỏi
- Phân hoá sự giúp đỡ của giáo viên, những em yếu kém được giúp đỡnhiều hơn diện khá, giỏi
- Tác động qua lại giữa các học sinh, lấy chỗ mạnh của học sinh nàyđiều chỉnh nhận thức học sinh khác
- Phân hoá nhiệm vụ học tập về nhà theo số lượng, nội dung, yêu cầu
về tính độc lập Có những bài tập riêng cho các đối tượng nhằm củng cố vànâng cao trình độ người học
Mục tiêu của dạy học phân hoá theo trình độ năng lực học tập là bồidưỡng học sinh khá giỏi và bồi dưỡng học sinh yếu kém
* Bồi dưỡng học sinh giỏi
Trong quá trình học tập một bộ môn, có những học sinh trình độ kiếnthức, kỹ năng và tư duy vượt trội lên các em khác, có khả năng hoàn thànhnhiệm vụ môn học một cách có hiệu quả Đó là những em học giỏi bộ môn đó
Việc bồi dường học sinh này một mặt được tiến hành trong những giờhọc bằng những biện pháp phân hoá, mặt khác được thực hiện bằng cách bồidưỡng riêng trên nguyên tắc tự nguyện
Nội dung bồi dưỡng gồm
- Nghe thuyết trình về những tri thức bộ môn bổ sung cho chương trình
Trang 32đã được học
- Thực hiện những nhiệm vụ học tập nâng cao
- Học chuyên đề (bổ sung cho chương trình học chính khoá, nâng caotầm hiểu biết)
- Tham quan, thực hành và ứng dụng môn học vào thực tiễn
* Giúp đỡ học sinh yếu kém
Đứng trước yêu cầu dạy học đồng loạt ở một môn học, một số học sinhgặp khó khăn, kết quả học tập ở mức dưới trung bình, đó là những học sinhyếu kém môn học đó Sự yếu kém học tập bộ môn có nhiều biểu hiện, nhưngnhìn chung lại thì có ba điểm cơ bản
- Nhiều “lỗ hổng” về kiến thức và kỹ năng
- Tiếp thu chậm
- Phương pháp học tập bộ môn chưa tốt
Tương tự như việc bồi dường học sinh diện khá giỏi, việc giúp đỡ học sinh yếu kém bộ môn được tiến hành bên cạnh những giờ học đồng loạt,bằng các biện pháp phân hoá, là cần có sự giúp đỡ riêng
Nội dung bồi dưỡng gồm
- Lấp “lỗ hổng” về kiến thức và kỹ năng
- Đảm bảo những tiền đề về kiến thức, kỹ năng cho những tiết học
- Bồi dường phương pháp học tập bộ môn
1.10 Quy trình tổ chức dạy học theo tiếp cận phân hoá nhóm năng lực học tập
Dạy học phân hoá theo nhóm năng lực học tập là một sự phân hoá diễn
ra một cách có chủ định do giáo viên tiến hành quá trình dạy học và giáo dục.Trên bối cảnh cùng một lớp học, cùng một chương trình và một kế hoạch giáodục thống nhất Sự phân hoá đối tượng người học thành các nhóm đối tượng
có cùng đặc điểm về trình độ nhận thức, khả năng học tập và quá trình họctập, suy cho cùng là con đường để xác định mục tiêu, lựa chọn phương pháp,
Trang 33Phân hoá năng lực người họcXây dựng mục tiêu dạy học tương ứngThiết kế nội dung dạy học phân hoá
Sử dụng nhiều phương ánhoạt động dạy học khác nhauĐánh giá thường xuyên trình độ người học
biện pháp tác động dạy học có hiệu quả nhất, giúp học sinh phát triển tốt nhấtvới khả năng sẵn có của mình
Việc tổ chức quá trình dạy học phân hoá theo nhóm năng lực, trình độhọc tập của người học phải tuân theo một quy trình cụ thể với những bước đi
cụ thể Quy trình này được thể hiện qua sơ đồ sau
Sơ đồ: Quy trình tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực học tập
* Phân hoá năng lực người học
Để có thể phân hoá trình độ người học, người giáo viên phải nắm đượcnhững đặc điểm về tâm sinh lý, nhu cầu, hứng thú và đặc biêt là trình độnhận thức của học sinh
Xác định được mức độ năng lực của học sinh mình đang dạy Việc này
có thể thực hiện nhờ việc khảo sát hồ sơ kết quả học tập của học sinh, quátrình và khả năng học tập, nhờ quan sát trực tiếp hay sử dụng các phươngpháp khác Việc xác định đúng năng lực học tập của người học giáo viên mới
có thể phân nhóm năng lực học tập, tạo ra sự tin tưởng, đáp ứng được nhu cầuhọc tập, phát huy được tích cực vương lên của người học
* Xác định các mục tiêu dạy học tương ứng
Khi phân hoá trình độ người học và tổ chức quá trình dạy học cho các đốitượng khác nhau thì mục tiêu dạy học cho các đối tượng là khác nhau song tất cảcác mục tiêu đó đều hướng vào thực hiện mục tiêu chung trong dạy học
Trang 34Về mục tiêu cho các đối tượng phân hoá phải đảm bảo hai yêu cầu:
- Một mặt phải đảm bảo cho học sinh phải đạt được những yêu cầu cơbản của chương trình giáo dục
- Mặt khác có những tác động sư phạm cá biệt phù hợp với từng đối tượngnhằm phát huy khả năng, sở trường, năng khiếu, hứng thú của người học
Trong loại tác động cá biệt này cần chú trọng cả hai hướng:
+ Một là: Giúp những học sinh yếu kém lên mặt bằng trình độ chung,đạt được chuẩn cơ bản
+ Hai là: Giúp những học sinh khá giỏi đạt được những yêu cầu nângcao, trên chuẩn cơ bản
Như vậy, mục tiêu của dạy học phân hoá theo trình độ học tập của
người học là nhằm giải quyết mối quan hệ giữa đại trà và mũi nhọn, giữa phổ cập và nâng cao, giữa nền và đỉnh vốn là những cặp phạm trù rất cơ bản của
hoạt động giáo dục
* Thiết kế nội dung dạy học phân hoá
Chúng ta thừa nhận sự khác biệt về trình độ nhận thức của người học, chính
vì vậy khi tiến hành dạy học phân hoá theo trình độ năng lực của người học thìphải đám bảo tính vừa sức cho các đối tượng Nội dung môn học trong dạy họcphân hoá phải được xây dựng tương xứng với năng lực nhận thức của họ
Trong dạy học phân hoá phải tạo ra nhiều sự tiếp cận nội dung khácnhau cho các đối tượng nhận thức khác nhau Không có cách tiếp cận nào làchung cho mọi đối tượng Nội dung dạy học cần phải được phân hoá và được
cụ thể bằng những nhiệm vụ học tập cho các đối tượng Khi phân hoá đượcnội dung tương xứng với các đối tượng người học, thì người học mới có khảnăng tiếp cận và giải quyết nhiệm vụ có hiệu quả
* Sử dụng nhiều phương án, hoạt động dạy học khác nhau
Do sự tồn tại khách quan trong lớp học nhiều nhóm đối tượng khácnhau nên không thể có một phương pháp chung, hoạt động chung với tất cả
Trang 35các đối tượng được phân hoá Trong một lớp phân hoá cần phải sử dụng nhiềuphương pháp, phương án dạy học khác nhau hoặc cùng một phương pháp hayphương án dạy học thì phải được sử dụng với những mức độ, tính chất khácnhau với từng đối tượng, có như vậy dạy học mới phù hợp và đạt hiệu quả.
Tương tự như vậy, mỗi người học có cách học và cách tiếp cận nộidung dạy học khác nhau, vì vậy trong lớp học phân hoá, các hoạt động phảiphù hợp với nhu cầu của học sinh Những hoạt động tốt đòi hỏi người họcphải phát triển và vận dụng được kiến thức đã học bằng nhiều cách khác nhausao cho có ý nghĩa và thích hợp đối với họ
* Đánh giá thường xuyên trình độ, năng lực của người học
Dạy học phân hoá theo nhóm năng lực học tập của học sinh có sự khácbiệt từ xây dưng nội dung, lựa chọn phương pháp và các hoạt động Do vậy,phải dùng nhiều phương tiện khác nhau để đánh giá người học nếu họ đượctạo cơ hội thể hiện được việc học của mình Việc đánh giá đáng tin cậy đãđược sử dụng từ lâu và nay lại được chú ý khi chúng ta cố gắng đo sự tiến bộcủa người học một cách công bằng và đáng tin cậy Những kỹ thuật đo có thểbao gồm nghiên cứu hồ sơ, đánh giá dựa trên hoạt động học của học sinh, quátrình học tập hay xếp loại kiến thức của người học
Việc đánh giá thường xuyên sẽ là căn cứ xác đáng để kiểm nghiệm hiệuquả học tập và bước tiến của từng cá nhân học sinh Là tiêu chí xác đáng đểphân nhóm linh hoạt người học và cũng là sự tiếp diễn cho những quá trình tổchức dạy học phân hoá tiếp theo
Các bước trong quy trình trên có quan hệ mật thiết và tác động tương
hỗ qua lại với nhau Bước trước là điểm khởi đầu và là cơ sở cho việc thựchiện các bước tiếp theo, các bước tiếp theo vừa là hệ quả, lại vừa là căn cứxác định tính đúng đắn và khoa học của bước trước Trong đó việc biết vàphân loại trình độ người học là điểm khởi đầu nhưng cũng là điểm kết thúccủa quy trình dạy học phân hoá
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
MÔN GIÁO DỤC HỌC THEO TIẾP CẬN PHÂN HÓA
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN 2.1 Khái quát về giáo dục Lạng Sơn
2.1.1 Khái quát về giáo dục Lạng Sơn trong những năm gần đây
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, Lạng Sơn cũng luôn chútrọng đẩy mạnh phát triển văn hoá xã hội Quy mô giáo dục ngày càng được
mở rộng và phát triển Số lượng học sinh tiếp tục tăng ở các ngành học:Ngành Mầm non là 15.401 em tăng 1.923 em, học sinh bậc THCS là 44.021
em tăng 7.625 em, học sinh THPT là 8.503 em tăng 979 em.(so với nhữngnăm học trước)
Nguyên nhân: Những năm gần đây, ngành giáo dục của tỉnh đã làm tốtcông tác huy động trẻ em đến lớp đúng độ tuổi, làm tốt công tác duy trì sĩ sốchống bỏ học, thực hiện phong trào kế hoạch hoá gia đình góp phần làm chodân số phát triển ổn định
Thực hiện NĐ 09 CP ngành giáo dục của tỉnh đã tổ chức nhiều lớp báncông, tư thục, phát triển ngành học giáo dục thường xuyên thu hút hàng ngànhoc sinh và thoả mãn nhu cầu học tập của các em
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới có 2/3 số huyện thuộc vùngcao, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn Nhưng được sự quan tâm chỉ đạochặt chẽ của các cấp Đảng uỷ, chính quyền, sự hỗ trợ của nhân dân, các đơn
vị đặc biệt là bộ đội biên phòng, tỉnh Đoàn TNCS HCM và sự nỗ lực của độingũ giáo viên tỉnh Lạng Sơn đã đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu họcnăm 1998, được Bộ giáo dục và Thủ tướng chính phủ tặng bằng khen
Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục của Đảng và nhà nước đã tạo
ra những chuyển biến lớn trong việc huy động toàn đảng, toàn dân tham giaphát triển giáo dục và đang làm thay đổi diện mạo hệ thống giáo dục của tỉnh
Trang 37Lạng Sơn Nhân dân đã đóng góp hàng vạn ngày công xây dựng lớp học, các
tổ chức kinh tế xã hội, chính quyền các cấp huyện, xã cam kết cùng ngànhgiáo dục xoá bỏ hết tình trạng học ba ca, ngói hoá các trường học ở thôn bản,cao tầng hoá các trường THPT và THCS Kinh phí đóng góp của nhân dân lêntới hơn 4 tỷ đồng, các kinh phí hỗ trợ của huyện, quỹ hỗ trợ tài năng cho họcsinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia, những học sinh có hoàn cảnh khó khănvươn lên trong học tập, các thầy cô tâm huyết với nghề được nhiều đoànthể, các tổ chức kinh tế - xã hội quan tâm đầu tư và khuyến khích
Công tác thanh tra, kiểm tra giáo viên, công tác quản lý thi cử được chỉđạo sát sao, ngoài ra thanh tra cũng là một trong 5 tiêu chí được Bộ khen vàUBND tỉnh tặng bằng khen
2.1.2 Vài nét về trường cao đẳng sư phạm Lạng Sơn
Trường CĐSP Lạng Sơn tiền thân là trường sư phạm Mần non, trường
sư phạm cấp I, trường sư phạm cấp II và trường bồi dưỡng cán bộ quản lý hợpthành Những ngày đầu thành lập là 4 trường nhỏ bé phân tán, cơ sở vật chất
và trang thiết bị hết sức nghèo nàn, lạc hậu Sau khi hợp nhất trường đượcnâng cấp từ trường trung học sư phạm thành trường CĐSP theo quyết định số374/TTg ngày 2/6/1997 của Thủ tướng chính phủ Đến nay, Nhà trường đã cómột quy mô bề thế, với trang thiết bị hiện đại hơn, bước đầu đáp ứng đượcnhiệm vụ đào tạo những thế hệ nhà giáo có trình độ học vấn, kiến thứcchuyên môn và nghiệp vụ sư phạm vững vàng ngang tầm với các trường sưphạm trong cả nước Là đơn vị chủ yếu đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáodục cho trường Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở cho tỉnh Lạng Sơn
Hiện tại trường có 6 khoa: Khoa tự nhiên, khoa xã hội, khoa tiểu học,khoa Ngoại ngữ, khoa Bồi dưỡng và khoa Mầm non Có các tổ: Tổ tâm lý -Giáo dục, tổ Chính trị, tổ Thể dục - Đoàn đội
Nhà trường có 198 cán bộ công nhân viên (trong đó khối giáo viên là
133, khối hành chính là 65)
Trang 38Tính từ năm 1961, là thời điểm khởi đầu cho sự nghiệp đào tạo giáoviên của tỉnh Lạng Sơn Sự nghiệp đào tạo giáo viên của tỉnh do trường CĐSPđảm nhiệm và suốt hơn 45 năm bền bỉ phấn đấu phát triển không ngừng nhàtrường đã đạt được nhiều thành tích
* Về đào tạo: Nhà trường có trên 20.000 HS - SV tốt nghiệp trong đó
- Bỗi dưỡng cán bộ quản lý trên 1000 người
- Đào tạo giáo viên tiểu học khoảng 10.000 giáo viên
- Đào tạo giáo viên THCS trên 7.000 giáo viên
- Đào tạo giáo viên mầm non, nhạc, hoạ, thể dục khoảng 2.500 giáo viên
Từ khi nâng cấp lên thành trường CĐSP Nhà trường đã đào tạo đượchơn 6.000 sinh viên có trình độ CĐSP hệ chính quy Bên cạnh đó, Nhà trường
đã phối hợp với trường ĐHSP Hà Nội, ĐHSP Thái Nguyên đào tạo đại học tạichức cho hơn 500 giáo viên
* Về xây dựng đội ngũ: Trước năm 1995 Nhà trường chỉ có 6 giảng viênđạt trình độ sau đại học, nhưng đến nay trường đã có 2 tiến sĩ, 45 thạc sĩ và hàngchục cán bộ giảng viên đang học sau đại học để dành học vị thạc sĩ, tiến sĩ
Chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh hàng năm trên 30 lượt người.Chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở hàng năm trên 40 lượt người.Danh hiệu năm năm liền là trường tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh
Đảng bộ trường CĐSP Lạng Sơn liên tục được công nhận là Đảng bộtrong sạch vững mạnh
Công đoàn, đoàn thanh niên, hội sinh viên đã phát huy tác dụng vàhoàn thành tốt nhiệm vụ liện tục được công nhận là đơn vị vững mạnh vànhận được bằng khen của tỉnh cũng như trung ương
Các phòng, khoa, tổ đều được công nhận là tập thể lao động tiên tiến,lao động xuất sắc
Bằng khen của Bộ công an về thành tích xuất sắc trong phong trào quầnchúng bảo vệ an ninh tổ quốc
Trang 39Năm học 2001 - 2002 được nhà nước tặng thưởng huân chương laođộng hạng hai Được Bộ giáo dục và đào tạo tặng bằng khen về hoàn thànhxuất sắc nhiệm vụ năm học 2005 - 2006.
* Phương hướng cho những năm học tới của Nhà trường
- Coi trọng chất lượng giáo dục và đào tạo cho HS - SV
- Không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập theo chỉ thị15/1999 của Bộ giáo dục và đào tạo
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
- Xác định nghiên cứu khoa học là động lực thúc đẩy chất lượng dạyhọc của Nhà trường
- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức lành mạnh về lối sống, thôngthao về chuyên môn, chú trọng đạo đức nhà giáo, trách nhiệm nghề nghiệp,luôn trau dồi học tập nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của
2.1.3 Một số đặc điểm về HS - SV trường CĐSP Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi biên giới nên HS-SV dân tộc Tày, Nùngchiếm số đông trên 90% Phần lớn các em từ vùng sâu, vùng xa đến học, điềukiện kinh tế, văn hoá, khoa học, giao thông còn kém phát triển nên nhận thứccủa các em cũng gặp những hạn chế nhất định như: Khả năng biểu đạt ngônngữ kém, nhận thức chậm, ngại giáo tiếp, e dè trong phát biểu ý kiến xâydựng bài Mắt khác, vì Lạng Sơn một tỉnh biên giới, việc giao lưu buôn bánvới Trung Quốc diễn ra rất nhộn nhịp nên không tránh khỏi các tệ nạn xã hội
Trang 40như: Cờ bạc, rượu chè, chộm cắp điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tớihọc đường, gây tác động xấu tới một bộ phận HS - SV Hiện tượng ăn chơiđua đòi, rượu chè thậm chí cả ma tuý xuất hiện làm ảnh hưởng không ít tớiđời sống và học tập của sinh viên
2.1.4 Thực trạng về hoạt động dạy và học môn GDH ở trường CĐSP Lạng Sơn
Trước năm 2000, việc giảng dạy và học tập môn GDH của cả thầy vàtrò trường CĐSP Lạng Sơn tuy đã đạt được kết quả khả quan, song so với yêucầu đào tạo thì thành tích đó vẫn còn khiêm tốn Chỉ tính kết quả thi học phầnnhững vấn đề chung của giáo dục học của sinh viên khối cao đẳng THCS thì:
Năm học 1998 - 1999 (khoá 3) tổng số sinh viên dự thi là 213 sinh viênkết quả đạt như sau
+ Điểm giỏi, khá là: 38 sinh viên chiếm 17,85%
+ Điểm trung bình là: 124 sinh viên chiếm 58,2%
+ Điểm yếu kém là: 51 sinh viên chiếm 24%
Năm học 1999 - 2000 (khoá 4) tổng số sinh viên dự thi là 319 sinh viênkết quả đạt
+ Điểm giỏi, khá là: 87 sinh viên chiếm 22,2%
+ Điểm trung bình là: 218 sinh viên chiếm 55,8%
+ Điểm yếu kém là: 86 sinh viên chiếm 22%
Qua đây cho thấy, kết quả học tập của sinh viên là chưa cao Qua thực
tế giảng dạy và theo dõi tình hình học tập môn GDH của sinh viên, chúng tôinhận thấy sở dĩ có kết quả học tập như vậy là do một số nguyên nhân sau
Một là: Chương trình giảng dạy môn GDH vẫn còn nặng về lý thuyết,
thiếu phần thực hành
Hai là: Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo môn GDH còn thiếu, giáo
trình, nội dung chưa thống nhất gây khó khăn cho giảng viên và sinh viêntrong việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu