BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ Học phần Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam Giảng viên Th S Ngô Thị Thanh Tâm Người thực hiện Nhóm Xóm Văn Hóa 2022 2023 2 3[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
Học phần: Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam
Giảng viên: Th.S Ngô Thị Thanh Tâm Người thực hiện: Nhóm Xóm Văn Hóa
2022 - 2023
Trang 3NGƯỜI THỰC HIỆN
(1) Nguyễn Vũ Tường Vy (Nhóm trưởng) (2) Trần Nguyễn Quỳnh Phương
(3) Nguyễn Xuân Huy (4) Lềnh Phúc Nghĩa (5) Võ Minh Hùng (6) Nguyễn Thị Quỳnh Hương
TÓM TẮT NỘI DUNG
Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam được thể hiện qua các tính chất:
(1)Tính biểu trưng: thể hiện ở xu hướng khái quát, ước lệ với những cấu trúc cân đối và hài hòa
(2) Giàu chất biểu cảm: sản phầm tất yếu của nền văn hóa trọng tình
(3) Tính Linh Động trong nghệ thuật ngôn từ
Trang 5Tính biểu trưng cao
-Tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng ước lệ hóa
-Ước lệ là cách quy ước biểu trưng trong biểu hiện nghệ thuật Hiểu đơn giản, ước
lệ là quy ước về chuẩn mực so sánh giữa các sự vật hiện tượng nhằm tạo ra một cách hiểu chung nào đó trong văn học nghệ thuật và trong đời sống
-Xu hướng ước lệ được biểu hiện ở việc tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng
Nhà em cách bốn quả đồi, Cách ba ngọn suối, cách đôi cánh rừng, Nhà em xa cách quá chừng,
Em van anh đấy, anh đừng thương em! (Xa cách - Nguyễn Bính)
Chân dung nhà thơ Nguyễn Bính
+Thay vì diễn đạt một cách chặt chẽ, cụ thể thì người Việt dùng các từ chỉ số
lượng ước lệ: tam khoanh tứ đốm, trăm khôn ngàn khéo, tiền trăm bạc vạn, trăm
họ, vạn sự, ngàn thu…
+Bên cạnh đó, dân gian Việt Nam cũng rất thích dùng những cách nói với số lẻ: 5 lần 7 lượt, 3 hồn 7 vía, 3 vuông 7 tròn,
-Tính ước lệ cũng được thể hiện trong các thể loại văn học
+Thần thoại, truyền thuyết: ước lệ trong việc mô tả ngoại hình, khả năng, sức mạnh của các nhân vật
CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN
TỪ VIỆT NAM
Trang 6( Xây dựng nhân vật thần trụ trời với tầm vóc vũ trụ, )
+Trong các bài thơ có những miêu tả mang tính ước lệ
(Ví dụ: phân đoạn miêu tả Thúy Kiều, Thúy Vân trong Truyện Kiều)
Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Một người một vẻ, mười phân vẹn mười Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn
Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh Một, hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
-Xu hướng ước lệ hóa có tác dụng gợi nhiều hơn tả, ý tứ hàm xúc dư ba và rất phù hợp với kiểu “lời ít ý nhiều hay ý tại ngôn ngoại”
Tài liệu tham khảo:
Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội
Trần Ngọc Thêm,Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB Tp HCM
Đại thi hào Nguyễn Du
Trang 7Theo loại hình, Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn tiết, song nó chứa một khối lượng lớn các từ song tiết
Mỗi từ đơn đơn lại hầu như đều có những biến thể song tiết
Ví dụ: gấp mang nghĩa xếp, có thể là gấp quần áo hay gấp giấy
Khi đi kèm với các từ khác nhau thì “gấp” mang những nghĩa khác nhau như: gấp rút là vội vàng, gấp đôi là nhân hai, trong từ “ thở gấp” thì “gấp” mang nghĩa nhanh hơn bình thường
Cho nên trong thực tế ngôn từ Việt thì cấu trúc song tiết lại là chủ đạo
Ví dụ, ta có các từ như sau: táo, bàn, dù
Trong khi đó Tiếng Anh là Apple, table, umbrella
Nhưng ta hay gọi là trái táo hay quả táo, cái bàn, chiếc dù hay cây dù thay vì nói táo, bàn, dù
Các từ song tiết ấy tạo nên các thành ngữ, tục ngữ có cấu trúc 2 vế đối xứng:
Ba người đánh một, không chột cũng què
Chị ngã em nâng
Đầu xuôi đuôi lọt
Với xu hướng trọng sự cân đối hài hòa, Tiếng việt rất phát triển câu đối, thơ ca cả văn xuôi lẫn tiểu thuyết, văn chính luận đều có cấu trúc cân đối, nhịp nhàng Thậm chí ngay cả trong việc chửi nhau, Người Việt cũng chửi một cách bài bản, đầy chất thơ, có vần có điệu
Câu đối là sản phẩm văn chương đặc biệt, vừa công phu tỉ mỉ, vừa cô đúc ngắn
gọn
Sớm vọng mặt đất thương xanh núi Chiều lộng chân mây nhớ tím trời
(Khuyết danh) Ngọc bất trác bất thành khí Nhân bất học bất tri lý
Tính hài hòa cân đối
Trang 8Thơ ca Việt Nam gồm hai thể thơ lục bát và song thất lục bát, có cấu trúc chặt chẽ
và có vần điệu nghiêm ngặt
Bão rơi rồi lại mưa tuôn
Bể dâng nước mặn, lụt nguồn tràn sông Hai phen nước bạc ngập đồng
Hai phen nước mắt đầy lòng héo hon!
( Vỡ bờ - Tố Hữu )
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù? Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
( Việt Bắc – Tố Hữu )
Văn xuôi: ở Việt Nam, văn xuôi truyền thống cũng là văn xuôi thơ, tạo nên tiết
tấu, tính nhạc cho lời văn
Nay các ngươi nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn Làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức; nghe nhạc thái thường để đãi yến nguỵ sứ mà không biết căm Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển; hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến
vợ con; hoặc lo làm giàu mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh; hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát
( Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn )
Nhà thơ Tố Hữu
Trang 9Trong chửi nhau: không chỉ lời chửi mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi cũng
có vần có vè, có ve có vẩy, có bài có bản, tạo nên cấu trúc chặt chẽ, có vần điệu,
nhịp nhàng cân đối
Chém cha đứa bắt gà nhà bà, chiều hôm qua bà cho nó ăn nó vẫn còn Sáng hôm nay con bà gọi nó nó vẫn còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả nó ra cho nó về nhà bà, nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên
( Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan )
Trang 10Văn chính luận:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược
( Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh )
Trang 11-Trong hệ thống ngôn từ Việt Nam rất đa dạng và phong phú về từ ngữ, ngữ nghĩa
và cả về mặt sắc thái Từ ngữ không ngừng cô đọng ở một sắc thái nhất định mà dần dần trong quá trình sống con người sẽ càng tìm tòi và phát triển những từ ngữ cùng chung một nghĩa nhưng lại biểu hiện nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau, đó được gọi là biến thể của từ ngữ với nhiều sắc thái biểu cảm
Ví dụ như: từ xanh thì ngoài ra còn có những từ ngữ mang sắc thái để thể hiện góc
độ, cách nhìn của màu xanh như: xanh lè, xanh rì, xanh rờn, xanh ngắt, xanh
um,…
ð Các từ láy mang sắc thái nghĩa biểu cảm trong hệ thống từ ngữ tiếng Việt có lẽ rất nhiều Ta chỉ có thể thấy trong tiếng Việt, ngoài ra các ngôn ngữ khác thậm chí
kể cả tiếng Hán, đều hầu như không có
-Trong thơ ca Việt Nam cũng vậy, bản chất cơ bản của thơ ca là biểu cảm thế nhưng có những từ láy biểu cảm thì tính biểu cảm trong thơ ca lại bọc trực ra bên ngoài một cách tự nhiên hơn
Ví dụ
(1)
Cởi xiêm lột áo sỗ sàng, Trước thần sẽ nguyện mảnh hương lầm rầm
Đổi hoa lót xuống chiếu nằm,
Bướm hoa bay lại ầm ầm tứ vi!
Kiều còn ngơ ngẩn biết gì
-Trích từ câu 935 – 939 “Truyện Kiều” Nguyễn Du -
Những từ láy như “sỗ sàng, lầm rầm, ầm ầm, ngơ ngẩn” đã bộc lộ và thể hiện ra tất
cả những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm đến người đọc
Giàu tính biểu cảm
Trang 12
(2)
Trong làn nắng ửng: khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý Bóng xuân sang
Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
- Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi
“Mùa xuân chín” - Hàn Mặc Tử
“nắng ửng” bản chất của nó là nắng à nhà thơ viết nắng ửng nhằm muốn bộc
bộ cho đọc giả hiểu đó là nắng mới lên, là nắng sớm, nắng đẹp
“lấm tấm vàng” là màu vàng thế nhưng qua từ “lấm tấm vàng” mà nhà thơ Hàn Mặc Tử muốn cho ta biết đó là một màu vàng loang lổ chứ không phải là một màu vàng xuyên suốt
Xanh tươi là màu xanh, nhưng qua từ ngữ mang sắc thái biểu cảm “xanh tươi”: làm cho ta thấy đó là một màu xanh rất đẹp, rất tươi mát, trong lành và tinh khiết
-Về ngữ pháp, tiếng Việt dùng rất nhiều hư từ biểu cảm như à, ư, hả, hử, chứ,
chăng,… → Nó làm tăng sắc thái, và mức độ biểu cảm của từ ngữ qua từng mức
độ
-Trong văn chương Việt Nam tính biểu cảm sẽ được phổ biến trong thơ ca nhiều hơn văn xuôi → Thơ ca không chỉ là sản phẩm được hội tụ nhiều yếu tố của tính biểu trưng mà nó còn là sản phẩm của tình biểu cảm vì tính chất biểu cảm sẽ được thể hiện và bộc lộ một cách rõ nhất trong thơ, vì thơ ca chính là tiếng lòng của con người Nó không chỉ trong thơ ca hiện đại mà còn có từ văn chương truyền thống,
ta thấy sẽ không có bất kì một tác phẩm nào đề cao chiến tranh, đề cao anh hùng trong văn chương mà khi nhắc đến chiến tranh thì người ta sẽ nghĩ đến nỗi buồn, nỗi niềm vong uất, nỗi buồn chia cắt:
Trang 13Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ, Chua cay này, há có vì ai ?
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng,
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn
Duy còn hồn mộng được gần, Đêm đêm thường đến Giang Tân tìm người
“Chinh phụ ngâm”
Tác giả: Đặng Trần Côn Dịch giả: Đoàn Thị Điểm
Một nỗi buồn của người chinh phụ chịu cảnh cô đơn sớm tối nỗi buồn hiu quạnh
về cảnh gối chiếc, đơn chăn
Trang 14Tính động, linh hoạt này trước hết bộc lộ ở hệ thống ngữ pháp Trong khi ngữ pháp biến hình của các ngôn ngữ châu Âu là một thứ pháp chặt chẽ tới mức máy móc thì ngữ pháp tiếng Việt tổ chức chủ yếu theo lối dùng các từ hư để biểu hiện các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp, khiến cho người sử dụng được quyền linh hoạt tối đa Ngữ pháp của các ngôn ngữ phương Tây là ngữ pháp hình thức, còn ngữ pháp Việt Nam là ngữ pháp ngữ nghĩa
Nói bằng một ngôn ngữ châu Âu, ta bắt buộc phải chia động từ theo các thể, các ngôi…; phải đặt danh từ vào các giống, các số, các cách…; phải đặt tính từ vào những hình thái phù hợp với danh từ…; tóm lại là phải đáp ứng đầy đủ mọi đòi hỏi tai quái nhất mà hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ đó yêu cầu (ngay cả khi ý nghĩa ngữ pháp đó đã được thể hiện năm bảy lần trong câu bằng những hình thái khác rồi cũng vậy) Còn trong tiếng Việt thì tùy theo ý đồ của người nói mà anh ta
có thể diễn đạt, không diễn đạt hay diễn đạt nhiều lần một ý nghĩa ngữ pháp nào
đó Chẳng hạn, để diễn đạt ý nghĩa thời tương lai, tiếng Việt có thể có các cách nói: (Ngày mai) tôi đi Hà Nội; (Ngày mai) tôi sẽ đi Hà Nội, trong khi tiếng Anh chỉ có thể nói: I’ll go to Ha Noi (tomorrow) Để truyền đạt ý nghĩa giống cái, câu tiếng Việt “Cô giáo trẻ người Nga dạy tôi viết” chỉ cần thể hiện một lần; trong khi câu tiếng Nga tương ứng bắt buộc phải thể hiện tới bốn lần (hai lần bằng tính từ, một lần bằng danh từ và một lần bằng động từ) Tiếng phương Tây gán ghép giống cho
cả những danh từ biểu thị các sự vật không hề có “giống”, còn tiếng Việt thì cho phép diễn đạt cả những khái niệm có giống dưới dạng không giống chung chung (so sánh: giáo viên, giám đốc với thầy giáo - cô giáo, nữ giám đốc)
Chính vì linh hoạt như vậy mà tiếng Việt có khả năng diễn đạt khái quát rất cao: Chẳng hạn, trong khi người Việt có thể nói một câu không thời, không thể, không ngôi như Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng (tục ngữ), thì người Anh và Pháp bắt buộc phải nói: Near the ink, you are black; near the light, you will shine; Près de l’encre, on se tache; près de la lampe, on bénéficie de sa lumière Khả năng diễn đạt khái quát, mơ hồ của tiếng Việt chính là điều kiện rất quan trọng cho việc phát triển thơ ca đã nói đến ở trên
Tính động, linh hoạt của ngôn từ Việt Nam còn bộc lộ ở chỗ trong lời nói, người Việt rất thích dùng cấu trúc động từ: trong một câu có bao nhiêu hành động thì có bấy nhiêu động từ Trong khi đó thì các ngôn ngữ phương Tây có xu hướng ngược lại – rất thích dùng danh từ Trong khi người Việt nói: Cảm ơn anh đã tới chơi;
Tính động và linh hoạt
Trang 15Anh ta không bao giờ quên những chi tiết nhỏ nhặt cho nên đã trở thành một điệp viên tài giỏi thì người Anh nói: Thank you for your coming (Cảm ơn về sự đến chơi của anh); Never forgetting these small details made him a good secret agent (Sự không bao giờ quên những chi tiết nhỏ nhặt này làm anh ta trở thành một điệp viên giỏi)
Người phương Tây không chỉ danh hóa các động từ mà còn danh hóa cả các tính
từ, các cụm chủ vị: The brilliance of his satires was such as to make even his
victims laugh (Sự sắc sảo của những lời châm biếm của ông ấy làm cho đến cả các nạn nhân của ông ta cũng phải cười); Him being a Jesuit was a great surprise (Việc ông ta là một giáo sĩ dòng Tên làm nên một sự ngạc nhiên lớn) – trong những trường hợp như thế này, người Việt Nam sẽ nói đơn giản hơn rất nhiều: Những lời châm biếm của ông ta sắc sảo đến mức ngay cả các nạn nhân cũng phải bật cười; Mọi người rất ngạc nhiên khi biết ông ta là một giáo sĩ dòng Tên
Khuynh hướng thích dùng danh từ trong các ngôn ngữ châu Âu chính là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện lan tràn các từ dùng làm công cụ để danh từ hóa như sự, việc, cuộc, cái, thứ… trong các bài mà người Việt Nam dịch từ các tiếng phương Tây và hiện tượng dùng thừa danh từ ở những người phương Tây học tiếng Việt (kiểu như: Tôi nhớ ngày khi tôi đến Việt Nam)
Tính linh hoạt, năng động còn là nguyên nhân khiến cho tiếng Việt ưa dùng cấu trúc chủ động mà ít dùng cấu trúc bị động Người Việt thậm chí dùng cấu trúc chủ động ngay cả trong câu bị động: Những câu tiếng Anh như Linda was punished by the teacher; These chairs were made by Jhon mà dịch thành “Lin-đa bị phạt bởi thầy giáo”, “Những cái ghế này được làm bởi Giôn” như ta thường gặp là rất dở Người Việt Nam không bao giờ nói thế, họ nói một cách đơn giản hơn: Lin-đa bị thầy giáo phạt; Những cái ghế này do Giôn đóng – “thầy giáo phạt”, “Giôn đóng” chính là những cấu trúc chủ động Cấu trúc bị động thích hợp cho việc diễn đạt lối
tư duy hướng ngoại, khách quan (tách rời khỏi người nói) của người Phương Tây, còn cấu trúc chủ động thì thích hợp cho việc diễn đạt lối tư duy hướng nội, chủ quan (gắn bó mật thiết với người nói) của văn hóa nông nghiệp phương Đông Như vậy, có thể nói rằng trong giao tiếp, người Việt Nam có thiên hướng nói đến những nội dung tĩnh (tâm lý, tình cảm, dẫn đến nghệ thuật thơ ca và phương pháp biểu trưng) bằng hình thức động (cấu trúc động từ, ngữ pháp ngữ nghĩa linh hoạt) Trong khi đó người phương Tây nói riêng và truyền thống văn hóa trọng dương nói chung lại có thiên hướng nói đến những nội dung động (hành động, sự việc, dẫn
Trang 16đến nghệ thuật văn xuôi và phương pháp tả thực) bằng hình thức tĩnh (cấu trúc danh từ, ngữ pháp hình thức chặt chẽ)
Mới hay, ngôn ngữ thực sự là tấm gương phản chiếu văn hóa dân tộc và tác động của luật âm dương (trong âm có dương, trong dương có âm; âm sinh dương, dương sinh âm) thật là rộng lớn và sâu xa!
GS.TSKH Trần Ngọc Thêm
Trích từ: Trần Ngọc Thêm Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam – NXB Tp HCM, 1996/2006