BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐÀ NẴNG KHOA ĐIỆN ֎ BÀI BÁO CÁO GIỮA KỲ ĐỀ TÀI Sinh viên tìm hiểu về quy chế, quy định đào tạo; quyền lợi và nghĩa vụ của s[.]
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ĐÀ NẴNG KHOA ĐIỆN
֎ BÀI BÁO CÁO GIỮA KỲ
ĐỀ TÀI : Sinh viên tìm hiểu về quy chế, quy định đào tạo;
quyền lợi và nghĩa vụ của sinh viên
Giáo viên hướng dẫn : Trần Thị Minh Dung
Sinh viên thực hiện : Cao Văn Duy
Lớp: 22TDH4
ĐÀ NẴNG
Trang 2MỤC LỤC
Tín chỉ là gì? 1.1 Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên 1.2 Một năm học có bao nhiêu tín chỉ? 1.3 Đăng ký khối lượng học tập như thế nào? Có những hạn chế nào 2 Đăng ký khối lượng học tập như thế nào 2.1
Có những hạn chế nào? 2.2 Đăng ký học lại như thế nào? Rút học phần đăng ký được hay không? 3 Đăng ký học lại như thế nào? 3.1 Rút học phần đã đăng ký là 3.2 Làm thế nào để đánh giá kết quả học tập? Công thức như thế nào? 4 Làm thế nào để đánh giá kết quả học tập? 4.1 Công thức tính kết quả đánh giá học tập 4.2
Có thể học vượt hay không? Làm thế nào để xếp năm đào tạo và học lực 5
Có thể học vượt hay không? 5.1 Làm thế nào để xếp năm đào tạo và học lực? 5.2 Cảnh báo học vụ như thế nào? 6 Điều kiện để nhận đồ án tốt nghiệp? Điều kiện xét tốt nghiệp? 7 Điều kiện để nhận đồ án tốt nghiệp? 7.1 Điều kiện xét tốt nghiệp? 7.2
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4Câu 1: Tín chỉ là gì? Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên?
1.1 Tín chỉ là gì?
Tín chỉ được coi là đơn vị dung để đo lường mức độ học tập của một hệ thống ECTS Theo đó, 01 tín chỉ sẽ tương đương:
- 15 tiết học lý thuyết
- 30 tiết thực hành và thí nghiệm hoặc thảoluận
- 60 giờ thực tập tại các cơ sở hoặc bằng 45 giờ sinh viên làm tiểu luận, làm bài tập lớn, đồ án hay khoá luận tốt nghiệp
Đồng nghĩa với việc sinh viên tiếp thu được một tín chỉ thì phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị ngoài giờ lên lớp
1.2 Lợi ích của việc học theo tín chỉ.
1.2.1 Ưu điểm:
- Học tín chỉ lấy sinh viên làm trung tâm:
Dạy học theo học chế tín chỉ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và tư duy sáng tạo của học sinh Đối với hình thức này, người học tự học, giảm việc người dạy học thuộc lòng kiến thức, từ đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học
- Sinh viên được linh hoạt về thời gian tốt nghiệp:
Khác với phương thức đào tạo truyền thống, sinh viên có thể tốt nghiệp đúng hạn Nhưng đối với hình thức đào tạo tín chỉ, thời gian tốt nghiệp phụ thuộc vào số lượng tín chỉ mà sinh viên đăng ký Bạn càng tích lũy được nhiều tín chỉ, bạn sẽ tốt nghiệp càng sớm Tùy thuộc vào mong muốn và nhu cầu của bạn, bạn có thể tốt nghiệp trong 3,5 năm, 4 hoặc 5 năm, tùy thuộc vào bản thân sinh viên
- Thời gian học tập linh hoạt:
Đối với hình thức đào tạo theo tín chỉ, sinh viên sẽ có thể tự chọn môn học, thời gian
và giáo viên cho mình Bạn có thể sắp xếp các lớp học để có thể hoàn thành các công việc khác cùng lúc Điều này đặc biệt hữu ích cho những sinh viên xa nhà và cần đi làm thêm Lựa chọn theo sở thích của bạn
Trang 5- Tạo sự linh hoạt trong các môn học:
Đối với chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ sẽ linh hoạt hơn, bao gồm cả khối kiến thức chung và khối kiến thức chuyên môn Môn kiến thức chung: đây là môn học bắt buộc áp dụng cho học sinh toàn trường và có sự giám sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo Về kiến thức chuyên môn: được áp dụng cho nhiều ngành học và kiến thức chuyên sâu Sinh viên có thể tham khảo ý kiến của giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn môn học phù hợp
- Giảm thiểu chi phí trong giảng dạy:
Ở phương thức đào tạo này, chi phí sẽ tiết kiệm hơn do sinh viên chỉ cần đóng theo số tín chỉ đăng ký thay vì theo năm học Vì vậy, việc bỏ sót hay bỏ sót một vài khóa học không quan trọng và bạn vẫn có thể tiếp tục quá trình học của mình mà không cần phải bắt đầu lại từ đầu Không chỉ hữu ích cho sinh viên, mà đào tạo theo tín chỉ còn giúp các trường dễ dàng hơn trong việc lập ngân sách cho các khóa học
1.2.2 Nhược điểm:
- Kiến thức không đầy đủ:
Hầu hết các trường đại học và cao đẳng đều đào tạo theo tín chỉ, và các môn học thường được chia thành: 2, 3 hoặc 4 tín chỉ Vì vậy, giáo viên không thể truyền tải hết kiến thức cho học sinh Đây cũng là một thiệt thòi rất lớn, nhất là đối với những người lười học tập và nghiên cứu
- Sinh viên khó gắn kết:
Khi học theo tín chỉ, sự liên kết giữa các sinh viên sẽ khó hơn, vì mỗi người sẽ chọn cho mình những môn học, thời gian và lớp học khác nhau Vì vậy, dù học cùng lớp nhưng không nhất thiết phải gặp nhau Vì vậy, các lớp khó đoàn kết và hoạt động nhóm cũng khó Đa số học sinh chỉ chơi theo nhóm nhỏ nên chủ nghĩa cá nhân không được đề cao trong cộng đồng
1.3 Đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên?
Đơn vị đo lường khối lượng học tập của sinh viên gọi là tín chỉ
Trang 61.3 Một năm học có bao nhiêu tín chỉ?
- Hiện nay Thông tư 08/2021/TT-BGDĐT không có quy định về số tín chỉ trong một năm sinh viên đăng ký mà các trường sẽ đặt ra quy định về số tín chỉ căn cứ vào khối lượng kiến thức và chương trình học của mỗi trường Tuy nhiên, trung bình mỗi kỳ sinh viên đăng ký khoản 30 tín chỉ
- Ngoài ra, trong mỗi năm học, các trường có thể sẽ tổ chức thêm kỳ học hè để sinh viên học vượt tín chỉ hoặc học cải thiện lại các môn chưa đạt kết quả tốt căn cứ danh sách học phần được mở và điều kiện đăng ký của mỗi học phần
- Theo Điều 7 Thông tư 08/221/TT-BGDĐT thì trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, cơ sở đào tạo hướng dẫn cho sinh viên đăng ký học tập trên hệ thống đăng ký học tập của cơ
sở đào tạo Sinh viên học theo tín chỉ phải đăng ký lớp của các học phần dự định sẽ học trong học kỳ
Câu 2: Đăng ký khối lượng học tập như thế nào? Có những hạn chế nào?
2.1 Đăng ký khối lượng học tập như thế nào?
- Ở học kỳ đầu tiên của khóa học, sinh viên học theo thời khóa biểu do Trường định sẵn Từ học kỳ thứ hai trở đi, mỗi sinh viên phải tự xác định và đăng ký khối lượng học tập trong mỗi học kỳ phù hợp với điều kiện, năng lực của bản thân
- Mỗi học kỳ chính, sinh viên phải đăng ký ít nhất đủ khối lượng học tập tối thiểu + Khối lượng học tập tối thiểu là 14 tín chỉ đối với sinh viên có điểm trung bình chung học kỳ ở học kỳ liền trước từ 2,00 trở lên, trừ các trường hợp: các học kỳ từ học kỳ cuối khóa học trở đi, những sinh viên học vượt ở kỳ trước nhưng kỳ này không có lớp học phần cần học, các ngành đào tạo có tổng số tín chỉ trong học kỳ ít hơn mức này; + Khối lượng học tập tối thiểu là 10 tín chỉ đối với sinh viên có điểm trung bình chung học kỳ ở học kỳ liền trước dưới 2,00, trừ các học kỳ từ học kỳ cuối khóa học trở đi; + Đến khi kết thúc đăng ký học, sinh viên có học phần cần học và trong học kỳ có lớp nhưng không chịu đăng ký đủ số tín chỉ tối thiểu sẽ bị Trường xem xét hủy tất cả đăng
ký học trong học kỳ và ban hành quyết định buộc ngừng học tạm thời
Trang 7- Không quy định khối lượng học tập tối thiểu đối với sinh viên ở học kỳ phụ
- Việc đăng ký học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện tiên quyết, học trước, học song hành của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể
- Sau mỗi năm học, sinh viên nào không đạt năng lực ngoại ngữ với lộ trình yêu cầu theo quy định hiện hành của Trường thì sẽ bị giới hạn số tín chỉ tối đa được phép đăng
ký học ở mỗi học kỳ, để tăng thời gian học ngoại ngữ nhằm kịp đạt chuẩn đầu ra quy định
-Số tín chỉ tối đa được đăng ký tại các trường học không được Bộ GD&ĐT nêu rõ Nhưng dựa theo khối lượng chương trình học Thì trung bình sinh viên sẽ đăng ký tối
đa là 30 tín chỉ cho một kỳ học
2.2 Có những hạn chế nào?
- Chương trình đào tạo được xây dựng theo đơn vị tín chỉ, cấu trúc từ các môn học hoặc học phần (sau đây gọi chung là học phần), trong đó phải có đủ các học phần bắt buộc và đáp ứng chuẩn chương trình đào tạo theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục
và Đào tạo Trong trường hợp đào tạo song ngành hoặc ngành chính – ngành phụ, chương trình đào tạo phải thể hiện rõ khối lượng học tập chung và riêng theo từng ngành
- Khối lượng tối thiểu không ít hơn 2/3 khối lượng trung bình một học kỳ theo kế hoạch học tập chuẩn;
- Khối lượng tối đa không vượt quá 3/2 khối lượng trung bình một học kỳ theo kế hoạch học tập chuẩn
3 Đăng ký học lại như thế nào? Rút học phần đã đăng ký được hay không? 3.1 Đăng ký học lại như thế nào?
- Đăng ký học lại áp dụng với các trường hợp đạt điểm F
- Đăng ký học cải thiện áp dụng với các trường hợp đạt điểm D
Trang 8- Sinh viên các chương trình đào tạo thông thường sẽ đăng ký học lại hoặc học cải thiện như đăng ký các học phần học lần 1, trong cùng thời gian đăng ký đã được phân bổ
- Phòng Quản lý đào tạo không tổ chức 1 kỳ đăng ký riêng cho các học phần loại này
- Sinh viên thuộc chương trình tiên tiến đăng ký học lại hoặc học cải thiện học phần 1 tuần trước khi lớp học bắt đầu và đăng ký bằng Phiếu đăng ký học
- Sinh viên đăng ký học lại hoặc học cải thiện thành công sẽ tham gia lớp học bình thường, từ đầu, không phân biệt đó là học phần học lại/cải thiện hay học phần học lần 1
- Điểm của học phần học lại/cải thiện sẽ tính vào kỳ học lần thứ nhất, theo đó, hồ sơ của sinh viên sẽ được ghi nhận điểm của toàn bộ các lần học và điểm trung bình chung học tập/ trung bình chung tích lũy sẽ sử dụng điểm cao nhất trong tất cả các lần học của sinh viên
Ví dụ:
- Trong học kỳ 2 năm học 2020-2021, sinh viên bị điểm F học phần A
- Trong học kỳ 1 năm học 2021-2022, sinh viên đăng ký học lại học phần A này và đạt điểm D (*)
-Trong học kỳ 2 năm học 2021-2022, sinh viên đăng ký học cải thiện học phần A này
và đạt điểm F (**) Như vậy, điểm của học phần A tại (*) sẽ được công nhận vào học kỳ 2 năm học 2020-2021
- Tại (**) điểm F vẫn được ghi nhận vào Bảng điểm cá nhân của sinh viên, tuy nhiên
do có điểm D tại (*) là điểm cao nhất trong tất cả các lần học, nên điểm D vẫn được công nhận vào Bảng điểm Trong trường hợp này, nếu sinh viên lại tiếp tục đăng ký học phần A ở các kỳ tiếp theo thì được coi là đăng ký học cải thiện điểm D nói trên
- Đến khi sinh viên đạt được điểm từ C trở lên thì sẽ không được đăng ký học học phần này nữa
Trang 93.2 Rút học phần đã đăng ký là?
- Rút học phần đã đăng ký là: trong thời gian quy định (trong vòng 2 ngày đầu của tuần thứ 3 kể từ đầu học kỳ chính hoặc 2 ngày đầu của tuần thứ 2 của kỳ hè), thông qua mạng Internet sinh viên thực hiện bỏ một hoặc nhiều lớp học phần đã đăng ký, do bản thân bị quá sức học hoặc không đủ năng lực tài chính
- Trong khoảng thời gian rút học phần, ngoài những sinh viên rút học phần thì cũng có thể có sinh viên đăng ký thêm các lớp khác
- Tuy nhiên, có những lớp học phần chỉ cho rút mà không cho đăng ký thêm Việc rút học phần phải đảm bảo quy định về số tín chỉ tối thiểu đăng ký học
- Sau thời gian “rút học phần”, Nhà trường thu học phí Đến đây thì sinh viên không được rút học phần nữa Sinh viên không chú ý đến quy định, hướng dẫn của Nhà trường dẫn đến tình trạng bị trùng lớp học ở kỳ sau hoặc thực tập thì có thể được giải quyết hủy lớp đã đăng ký nhưng phải đóng học phí
4 Làm thế nào để đánh giá kết quả học tập? Công thức tính như thế nào?
4.1 Làm thế nào để đánh giá kết quả học tập?
- Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ và cuối khóa qua các tiêu chí sau:
+ Khối lượng học tập đăng ký: là số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong mỗi học kỳ, gồm cả học phần học lần đầu và học từ lần thứ 2 trở đi; + Khối lượng kiến thức tích lũy: là tổng số tín chỉ của các học phần đã tích lũy được (có điểm chữ là A+, A, B+, B, C+, C, D+ hoặc D) tính từ đầu khóa học; +Điểm trung bình chung học kỳ: là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng
ký học trong học kỳ đó, gồm cả học phần học lần đầu và học từ lần thứ 2 trở đi Nếu
có học phần học nhiều lần thì lấy điểm cao nhất trong các lần học để tính Trọng số của các học phần là số tín chỉ tương ứng của các học phần đó; + Điểm trung bình chung tích lũy: là điểm trung bình của các học phần mà sinh viên
Trang 10học cho tới thời điểm được xem xét Trọng số của các học phần là số tín chỉ tương ứng của các học phần đó
4.2 Công thức như thế nào?
- Điểm đánh giá bộ phận (điểm kiểm tra giữa kỳ, bài tập, tiểu luận, ) và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10, làm tròn đến một số lẻ thập phân
- Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận, điểm thi cuối kỳ của học phần nhân với trọng số tương ứng Điểm học phần được làm tròn đến một chữ
số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
XẾP HẠNG ĐIỂM THEO THANG
- Có Thực hành:
[Điểm TB] = [Điểm chuyên cần + Bài tập]*20% + [Điểm Giữa kỳ]*20% + [Điểm Thực hành]*20% + [Điểm Cuối kỳ]*40%
Không có Thực hành:
[Điểm TB] = [Điểm chuyên cần + Bài tập]*20% + [Điểm Giữa kỳ]*20% + [Điểm Cuối kỳ]*60%
Câu 5 Có thể học vượt hay không? Làm thế nào để xếp năm đào tạo và học lực?
5.2 Có thể học vượt hay không?
Trang 11- Học vượt là việc sinh viên học nhiều môn hơn trong mỗi học kỳ, nhằm giúp hoàn thành chương trình học sớm hơn và tốt nghiệp sớm hơn
- Sinh viên hoàn toàn có thể học vượt nếu đủ khả năng và điều kiện.
- Những lợi ích và khó khăn của học vượt:
+ Lợi ích: Lợi ích đầu tiên và hầu như ai cũng thấy được, đó chính là học vượt sẽ giúp mình tốt nghiệp sớm, ra trường, bắt đầu đi làm để tích luỹ kinh nghiệm trước các bạn khác.
Lợi ích tiếp theo của học vượt chính là giúp mình chứng minh với nhà tuyển dụng rằng mình có năng lực học hỏi tốt, mình vững kiến thức chuyên ngành
+ Khó khăn: Áp lực học tập, thi cử lớn, đối mặt với rủi ro rớt môn vì phải học nhiều môn hơn các bạn khác
Phải dành nhiều thời gian hơn cho việc học, không có nhiều thời gian để đi làm thêm,
đi chơi với bạn bè, tự rèn luyện kỹ năng mềm, tham gia CLB, học Tiếng Anh,…
5.2 Làm thế nào để xếp năm đào tạo và học lực?
- Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo: sinh viên năm thứ nhất, sinh viên năm thứ hai, sinh viên năm thứ ba, sinh viên năm thứ tư, sinh viên năm thứ năm, sinh viên năm thứ sáu Tuỳ thuộc khối lượng của từng chương trình quy định, Hiệu trưởng quy định cụ thể giới hạn khối lượng kiến thức để chuyển xếp hạng năm đào tạo.
- Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích lũy, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau: + Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên; + Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00, nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học
- Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ để xếp hạng sinh viên về học lực.
6 Cảnh báo học vụ như thế nào?
- Cuối mỗi học kỳ, sinh viên học yếu kém sẽ bị cảnh báo kết quả học tập hoặc
Trang 12- Cảnh báo kết quả học tập để sinh viên có kết quả học tập kém biết và lập phương án học tập thích hợp để có thể tốt nghiệp trong thời hạn tối đa được phép theo học chương trình
- Cuối mỗi học kỳ, sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập nếu rơi vào ít nhất một trong hai trường hợp sau: + Có điểm trung bình chung tích lũy dưới ngưỡng quy định, là: 1,20; 1,40; 1,60
và 1,80 tương ứng với sinh viên có hạng năm đào tạo là: năm 1; năm 2; năm 3
và từ năm 4 trở lên Ngưỡng điểm trung bình chung tích lũy quy định đối với sinh viên liên thông là 1,80; + Có điểm trung bình chung học kỳ dưới ngưỡng quy định, là: 0,80 đối với học
kỳ đầu của khóa học; 1,00 đối với học kỳ thứ 2 trở đi Ngưỡng điểm trung bình chung học kỳ quy định đối với sinh viên liên thông là 1,00;
- Số lần cảnh báo kết quả học tập cho phép đối với sinh viên cử tuyển và sinh viên nước ngoài nhiều hơn sinh viên diện bình thường một lần, nhưng không được quá 2 lần liên tiếp;
7 Điều kiện để nhận đồ án tốt nghiệp? Điều kiện để xét tốt nghiệp?
7.1 Điều kiện để nhận đồ án tốt nghiệp?
Cho đến thời điểm xét, những SV có đủ các điều kiện sau thì được xem xét cho nhận
đồ án tốt nghiệp (ĐATN):
- Không bị kỷ luật từ mức đình chỉ học tập, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Đã học tất cả các học phần của chươnh trình đào tạo (không bao gồm Học phần ĐATN, các học phần GDQP và GDTC);
- Có điểm TBCTL đạt từ 1.95 trởlên;
- Còn nợ không quá 2 học phần (không bao gồm Học phần ĐATN, các học phần GDQP và GDTC) Trong trường hợp này, SV phải làm đơn xin nhận làm đồ án tốt nghiệp và phải cam kết hoàn thành tất cả các môn học trong Chương trình đào tạo, ĐATN;