1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài giảng Thể dục và phương pháp dạy học thể dục 2 (ĐH Phạm Văn Đồng)

48 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng Thể dục và phương pháp dạy học thể dục 2
Tác giả ThS. Nguyễn Xuân Thưởng
Trường học Trường Đại học Phạm Văn Đồng
Chuyên ngành Thể dục và phương pháp dạy học thể dục
Thể loại Bài giảng
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 373,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG KHOA GDTC QP, AN BÀI GIẢNG THỂ DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ DỤC 2 ThS Nguyễn Xuân Thưởng 2 LỜI NÓI ĐẦU Thể dục và phương pháp dạy học thể dục là môn học nghiê[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA GDTC - QP, AN

BÀI GIẢNG

THỂ DỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THỂ DỤC 2

ThS Nguyễn Xuân Thưởng

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Thể dục và phương pháp dạy học thể dục là môn học nghiên cứu những quy luật

và những cơ sở chung nhất về phương pháp trong lĩnh vực thể dục thể thao (TDTT) Nhiệm vụ giảng dạy chủ yếu của môn Thể dục và phương pháp dạy học thể dục là:

1 Giúp cho sinh viên nắm được những cơ sở chung nhất về lý luận và phương pháp Giáo dục thể chất (GDTC), chủ yếu là dạy học động tác, rèn luyện thể lực và công tác GDTC trong nhà trường phổ thông

2 Trên cơ sở đó, từng bước bồi dưỡng cho sinh viên năng lực vận dụng những kiến thức học được để phân tích, thực hiện những nhiệm vụ cụ thể có liên quan trong thực tiễn TDTT

Bài giảng Thể dục và phương pháp dạy học thể dục 2 có thể được sử dụng cho

cả người dạy và người học Khi biên soạn bài giảng này chúng tôi bám sát đề cương chi tiết môn học, mục tiêu đào tạo giáo viên, đồng thời căn cứ vào nội dung chương trình thể dục và phương pháp dạy học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

Nội dung bài giảng gồm các phần chính: Các phương tiện, nguyên tắc và phương pháp giảng dạy thể dục cũng như đặc điểm hình thức tổ chức giờ GDTC

Nhận thức về nội dung và phương pháp giảng dạy cũng không ngừng biến đổi ngày một hoàn thiện hơn theo sự phát triển của xã hội, do đó sẽ được bổ sung dần trong quá trình sử dụng và phát triển Mong quý đồng nghiệp góp ý bổ sung bài giảng để hoàn thiện hơn

TÁC GIẢ

Trang 3

Chương 1 CÁC PHƯƠNG TIỆN GDTC

và tinh thần của con người

Dấu hiệu bản chất nhất của BTTC là sự lặp lại, chỉ có thông qua lặp lại nhiều lần một hành động vận động nào đó mới có thể hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động KNKXVĐ và làm phát triển các tố chất thể lực (TCTL)

1.1.1.2 Nguồn gốc của BTTC

BTTC ra đời từ cổ xưa, nó gắn liền với lao động, nhân tố quan trọng nhất làm nẩy sinh BTTC là điều kiện sống vật chất và hoạt động của con người mà trước hết là lao động, hầu hết các BTTC có liên quan trực tiếp đến các tác động của lao động; ngoài

ra các hoạt động quân sự, nghệ thuật, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển BTTC

Trong xã hội nguyên thủy các bài tập mang tính thực dụng trực tiếp Các bài tập nẩy sinh và đáp ứng nhu cầu của lao động gọi là bài tập tự nhiên (đi, chạy, nhảy, leo trèo, mang vác ) Cùng với sự phát triển của xã hội thì bài tập tự nhiên mất dần tính phụ thuộc trực tiếp và nó dần dần được thay thế bằng các bài tập phân tích Bài tập phân tích là các bài tập được sáng tạo ra để giải quyết nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng

và chữa bệnh

1.1.1.3 Bài tập thể chất là phương tiện chuyên môn cơ bản nhất của GDTC Mặc dù BTTC được hình thành trên cơ sở tác động của lao động và có những điểm đồng nhất với lao động về những biến đổi sinh lý, sinh hóa diễn ra trong cơ thể, nhưng hai hiện tượng này không cùng bản chất

- Các bài tập thể chất khác với các hoạt động bình thường của con người, trong

Trang 4

đó có hoạt động lao động Khác nhau ở đối tượng tác động, ở tính mục đích, tính qui luật và khác nhau ở sự tác động lên cơ thể con người

+ Đối tượng tác động: Bài tập thể chất đối tượng là con người, còn lao động đối tượng tác động là tự nhiên ( cây, cỏ, đất )

+ Mục đích: Bài tập thể chất giải quyết các nhiệm vụ sư phạm và phục vụ lao động (Sức khỏe và phát triển con người toàn diện), còn lao động giải quyết các nhiệm

vụ của lao động với mục đích là đem lại hiệu quả kinh tế, vật chất

+ Qui luật: Bài tập thể chất thực hiện theo qui luật của giáo dục thể chất, còn lao động thực hiện theo qui luật của lao động (giá cả, cung cầu, cạnh tranh )

+ Sự tác động: Lao động tác động chủ yếu phiến diện dễ gây bệnh nghề nghiệp, còn bài tập thể chất giải quyết được nhiệm vụ hoàn thiện thể chất cho con người, sửa chữa được các bệnh nghề nghiệp do lao động gây ra và còn là phương tiện nghỉ ngơi tích cực

- Các yếu tố môi trường (nước, không khí, ánh sáng) và các điều kiện vệ sinh tự

nó không thể giải quyết được các nhiệm vụ của giáo dục thể chất mà nó chỉ có thể hỗ trợ cho các BTTC để đạt được hiệu quả cao hơn

- Chỉ có bài tập thể chất mới có thể giải quyết độc lập các nhiệm vụ của TDTT, điều này được thể hiện rõ, nếu ta đem so sánh với các phương tiện khác thì:

+ Bài tập thể chất không những ảnh hưởng đến trạng thái chức năng của cơ thể

mà còn ảnh hưởng đến nhân cách của con người

+ Các bài tập thể chất nhằm hình thành một hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong cuộc sống lao động, sinh hoạt, chiến đấu, thể thao Đồng thời trang bị những tri thức cần thiết với mục đích để con người sử dụng có hiệu quả các phương tiện của giáo dục thể chất

+ Các bài tập thể chất là đối tượng để giảng dạy nhằm mục đích hoàn thiện thể chất, giữ gìn và nâng cao sức khoẻ của con người một cách tích cực nhất, chủ động nhất

+ Nó có thể thoả mãn được nhu cầu tự nhiên và nhu cầu có tính xã hội của con

Trang 5

người nhờ sự phong phú về loại hình hoạt động và phù hợp với mọi lứa tuổi, giới tính

Như vậy nếu việc thực hiên các bài tập thể chất được tiến hành một cách khoa học thì sẽ cho phép giải quyết một cách đầy đủ các nhiệm vụ của giáo dục thể chất

1.1.2 Nội dung và hình thức của bài tập thể chất

1.1.2.1 Nội dung

Nội dung của BTTC bao gồm những động tác tạo nên bài tập đó và các quá trình cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo nên Các quá trình này diễn ra trong cơ thể rất phức tạp, đa dạng và có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Tâm lý, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, sư phạm

- Về mặt tâm lý: BTTC được xây dựng trên cơ sở những hoạt động vận động có

ý thức Đó là những hành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý như biểu tượng vận động, hoạt động tư duy, xúc cảm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biểu hiện ý chí, tình cảm, tính cách

- Về mặt sinh lý học: Nội dung của BTTC là những biến đổi các chức năng sinh

lý của cơ thể khi thực hiện các bài tập, làm cho cơ thể chuyển sang hoạt động ở mức cao hơn so với yên tĩnh Vì vậy mà thông qua sự tác động của BTTC sẽ hoàn thiện được chức năng cơ thể người tập Những biến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục và thích nghi của cơ thể trong và sau lúc thực hiện bài tập Nhờ vậy BTTC đã trở thành một nhân tố có tác dụng mạnh mẽ tăng cường khả năng chức phận và hoàn thiện cấu trúc cơ thể

- Về mặt sư phạm: Điều quan trọng không chỉ là những biến đổi sinh lý, sinh hóa diễn ra trong cơ thể mà là xem xét tác dụng tổng hợp của các bài tập đó đối với việc phát triển các năng lực vận động của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng kỹ xảo vận động (KNKX VĐ) cũng như tác dụng đến hành vi, nhân cách người tập Điều chủ yếu nữa là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việc thực hiện nhiệm

vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra

1.1.2.2 Hình thức

Hình thức của BTTC là cấu trúc bên trong và bên ngoài của nó Hình thức của

Trang 6

bài tập phụ thuộc vào đặc điểm của nội dung

- Cấu trúc bên trong của BTTC là mối liên hệ tác động giữa các quá trình sinh

lý, sinh hóa, là sự phối hợp lẫn nhau giữa các quá trình đó khi thực hiện bài tập

- Cấu trúc bên ngoài của bài tập là hình dạng có thể nhìn thấy được, biểu hiện đặc trưng ở mối quan hệ giữa các thông số không gian, thời gian và lực của động tác thực hiện bài tập

Hình thức và nội dung của BTTC có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó nội dung là mặt quyết định, nó đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ với hình thức Nội dung thay đổi thì hình thức cũng thay đổi theo Ví dụ: Tốc độ thay đổi thì biên độ và tần số động tác có thể thay đổi theo

Hình thức cũng có ảnh hưởng đến nội dung, hình thức chưa hoàn thiện sẽ cản trở khả năng tối đa của cơ thể Ngược lại, hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện khả năng sử dụng có hiệu quả hơn các năng lực thể chất Ví dụ: Hai người có tốc độ chạy như nhau, người có kỹ thuật hoàn thiện hơn sẽ tiêu hao năng lượng ít hơn

Ý nghĩa tương đối độc lập của hình thức biểu hiện: Các bài tập có nội dung khác nhau nhưng hình thức bên ngoài lại tương tự nhau như chạy và đi bộ thể thao Ngược lại, các bài tập có hình thức khác nhau nhưng có nội dung tương tự như nhau Ví dụ: Chạy, bơi, đua xe đạp có cùng cường độ sinh lý (công suất)

Như vậy, tác động của BTTC đối với cơ thể mang tính chất cụ thể trong từng trường hợp Tùy thuộc vào nội dung và hình thức của mỗi BTTC mà tác động đến con người ít hay nhiều Mặt khác, BTTC cũng có thể dẫn đến tiêu cực cho sức khỏe con người nếu sử dụng chúng không đúng quy luật

1.1.3 Kỹ thuật của bài tập thể chất

Kỹ thuật của BTTC là cách thức thực hiện động tác mà nhờ đó nhiệm vụ vận động được giải quyết với hiệu quả tương đối cao hơn

Kỹ thuật của BTTC không phải là bất biến, nó luôn được bổ sung và hoàn thiện

do ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về những quy luật chuyển động, hoàn thiện phương pháp huấn luyện, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, ở một chuẩn mực nào đó

Trang 7

còn được quy định bởi sự hoàn thiện dụng cụ tập luyện

Khi phân tích BTTC, thường chia thành:

- Nguyên lý kỹ thuật: Là tổng hòa những khâu, những điểm trong cấu trúc động tác, động lực học và nhịp điệu cần thiết để giải quyết nhiệm vụ vận động Nếu thiếu một khâu nào đó thì nhiệm vụ vận động không được giải quyết

- Khâu chính (then chốt) của kỹ thuật: Là phần quan trọng nhất, quyết định cách thức thực hiện nhiệm vụ vận động, nếu thay đổi nó thì tác dụng của bài tập cũng thay đổi theo Việc thực hiện khâu chính của bài tập diễn ra trong thời gian ngắn kết hợp với tập trung sức Khâu chính của bài tập là bắt buộc

- Khâu chi tiết của kỹ thuật: Là khâu thứ yếu của động tác, không gây nên phá

vỡ cơ chế cơ bản của động tác Các chi tiết của kỹ thuật ở các vận động viên có thể khác nhau tùy theo đặc điểm cấu trúc cơ thể Việc sử dụng đúng đắn đặc điểm cá nhân

là thể hiện kỹ thuật cá nhân Bắt chước kỹ thuật cá nhân của các VĐV ưu tú một cách thiếu suy nghĩ, không phù hợp với đặc điểm cá nhân có thể ảnh hưởng xấu tới thành tích thể thao

1.2 Các nhân tố môi trường tự nhiên và vệ sinh

1.2 1 Môi trường (Nước, không khí, ánh sáng)

Nước, không khí và ánh sáng cũng là những phương tiện không kém phần quan trọng để củng cố, tôi luyện cơ thể và nâng cao khả năng hoạt động thể lực của con người trong quá trình GDTC

Các nhân tố môi trường được sử dụng theo nhiều phương hướng như:

- Bổ sung, tăng cường và hợp lý hóa tác dụng của BTTC

- Sử dụng như là một phương tiện độc lập để tôi luyện cơ thể và củng cố sức khỏe

1.2 2 Yếu tố vệ sinh

Yếu tố vệ sinh cũng được xem như là một phương tiện bổ sung của GDTC Việc tuân thủ theo các quy tắc vệ sinh trong các quá trình GDTC ở mức đáng kể quyết định hiệu quả của GDTC Điều quan trọng là đảm bảo yêu cầu vệ sinh của chế độ lượng vận

Trang 8

động và nghỉ ngơi, vệ sinh dinh dưỡng cũng như thúc đẩy quá trình hồi phục sau buổi tập, ngoài ra nó còn có tác dụng phòng bệnh và củng cố sức khỏe

Câu hỏi ôn tập và thảo luận

Câu 1 Chứng minh rằng BTTC là phương tiện chuyên môn cơ bản của GDTC Câu 2 Nguồn gốc của BTTC? Sự khác nhau giữa BTTC và lao động?

Câu 3 Trình bày hình thức và nội dung của BTTC

Câu 4 Thế nào là kỹ thuật của BTTC ? Hãy phân tích cấu trúc kỹ thuật của BTTC

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TDTT

2.1 Cơ sở cấu trúc của phương pháp giáo dục thể chất

2.1.1 Lượng vận động và quãng nghỉ là các thành tố cơ bản của phương pháp GDTC

Một trong những cơ sở quan trọng nhất của tất cả các phương pháp giáo dục thể chất là điều chỉnh lượng vận động (LVĐ) kết hợp với quãng nghỉ

Phương pháp giáo dục thể chất: Là cách thức sử dụng bài tập thể chất hợp lý

nhằm tạo nên sự thích ứng của cơ thể với tập luyện, phát triển và hoàn thiện khả năng vận động và tố chất thể lực

Lượng vận động: Là chỉ sự định lượng (mức độ) tác động của bài tập thể chất

lên cơ thể làm thay đổi trạng thái chức năng của các hệ cơ quan trong cơ thể người tập

Sự tác động của LVĐ dẫn đến những biến đổi chức năng trong cơ thể như trạng thái trước, trong vận động và dẫn đến mệt mỏi Mệt mỏi sau vận động không mất đi hoàn toàn mà để lại những dấu vết và diễn ra quá trình hồi phục và thích nghi Quá trình tích lũy những dấu vết, những biến đổi thích nghi đó sẽ làm phát triển thể chất người tập

Lượng vận động bao gồm LVĐ bên trong và LVĐ bên ngoài:

- Lượng vận động bên trong: Là mức độ biến đổi sinh lý, sinh hóa trong cơ thể

người tập khi thực hiện bài tập

- Lượng vận động bên ngoài: Là những thông số bên ngoài, là những chỉ số về

Trang 9

mặt số lượng bài tập LVĐ bên ngoài bao gồm 2 thành phần cơ bản:

+ Khối lương vận động: Là độ dài thời gian tác động, là tổng số lần vận động thể

lực hay thực hiện động tác và nhiều thông số khác nữa

+ Cường độ vận động: Là sự tác động của bài tập lên cơ thể trong một đơn vị

thời gian nào đó, ở một thời điểm cụ thể tạo ra mức độ căng thẳng về trạng thái chức năng các hệ cơ quan trong cơ thể

Các chỉ số tối đa của khối lượng và cường độ có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau LVĐ có cường độ tối đa chỉ kéo dài trong một số ít giây Ngược lại, LVĐ có khối lượng tối đa chỉ có thể được thực hiện với cường độ thấp

Hiệu quả của LVĐ tỉ lệ thuận với khối lượng và cường độ của nó, khối lượng vận động và cường độ vận động càng tăng thì mức độ biến đổi sinh lý, sinh hóa trong

cơ thể càng mạnh và ngược lại, nghĩa là thích nghi của cơ thể càng lớn và ngược lại Nhưng nếu sử dụng một LVĐ lâu dài có hệ thống thì cơ thể có những biến đổi thích nghi và sẽ không gây nên những thay đổi mạnh mẽ như trước nữa, vì vậy để tạo nên sư biến đổi thường xuyên trạng thái chức năng của cơ thể thì phải thay đổi điều chỉnh LVĐ LVĐ ổn định hoặc biến đổi tạo ra sự thích ứng của cơ thể là cơ sở của phương pháp GDTC

Vậy LVĐ chính là thành tố cơ bản của phương pháp GDTC

Quãng Nghỉ: Là thời gian nghỉ giữa các lần thực hiện bài tập

LVĐ trong buổi tập có thể liên tục hay ngắt quãng vì vậy quãng nghỉ ngắn hay dài khi kết hợp với LVĐ cũng là thành tố cơ bản của phương pháp GDTC, vì nó cũng tạo nên những biến đổi khác nhau về trạng thái chức năng của cơ thể (Quãng nghỉ cũng có thể thụ động hay tích cực)

Thời gian quãng nghỉ khác nhau được xác định theo mục đích buổi tập và các qui luật của quá trình hồi phục cơ thể Có 3 loại quãng nghỉ:

- Quãng nghỉ đầy đủ:

Là quãng nghỉ đảm bảo cho LVĐ tiếp theo được thực hiện vào thời điểm mà khả năng vận động thể lực được hồi phục về mức ban đầu Thường được sử dụng trong

Trang 10

huấn luyện kỹ thuật động tác

Trang 11

Hiệu quả sử dụng một loại quãng nghỉ nào đó không cố định, mà tùy theo quãng nghỉ và trình độ tập luyện thì hiệu quả của LVĐ cũng thay đổi Từ quãng nghỉ vượt mức có thể trở thành quãng nghỉ đầy đủ hoặc quãng nghỉ ngắn

Như vậy, do quãng nghỉ khác nhau cũng tạo nên hiệu quả tác động khác nhau,

do đó quãng nghỉ cũng là thành tố cơ bản của phương pháp GDTC

2.1 2 Cách tiếp thu và định mức lượng vận động

Ngoài vấn đề điều chỉnh lượng vận động và quãng nghỉ, cơ sở của các phương pháp GDTC còn là những cách thức hợp lý trong tiếp thu hành động vận động và hình thức định mức chúng (tổ chức và điều chỉnh)

Nhìn chung, có hai cách thức tiếp thu động tác: Tiếp thu từng phần và tiếp thu toàn thể Tùy theo đặc điểm động tác, trình độ chuẩn bị thể lực hiện tại của người tập

và những điều kiện khác mà mỗi cách tiếp cận động tác đều là hợp lý Trong giáo dục TCVĐ cũng tồn tại hai cách tác động - tác động chọn lọc và tác động tổng hợp tới các chức năng khác nhau của cơ thể

Căn cứ vào đặc điểm định mức hoạt động của người tập, thực tế các phương pháp GDTC chỉ gồm hai loại: Phương pháp bài tập định mức và các phương pháp trò chơi, thi đấu

Trang 12

Mỗi phương pháp đều có giá trị riêng, nhưng không có ý nghĩa duy nhất Chỉ đạt được hiệu quả tập luyện khi biết khéo léo sử dụng tất cả các phương pháp kể trên phù hợp đặc điểm phương tiện, đặc điểm người tập và điều kiện buổi tập

2.2 Phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ

Đặc điểm của phương pháp này là hoạt động của người tập được tổ chức, quản

lý và điều hành một cách chi tiết Sự định mức thể hiện ở những điểm sau:

- Định mức trước chương trình động tác (quy định trước thành phần các động tác, thứ tự lặp lại )

- Việc thực hiện lượng vận động và quãng nghỉ cũng được định trước

- Sử dụng các điều kiện bên ngoài, các dụng cụ tập luyện cũng được định trước (

kế hoạch, phương tiện, sân bãi, dụng cụ tập luyện )

Ý nghĩa của việc định mức là ở chỗ đảm bảo điều kiện tối ưu cho tiếp thu kỹ năng, kỹ xảo vận động mới và phát triển các tố chất thể lực

2.2.1 Phương pháp tập luyện trong quá trình học động tác

2.2.1.1 Phương pháp phân đoạn (Phân chia hợp nhất)

Thường được sử dụng trong trường hợp đối với động tác hoặc tổ hợp những động tác cần học có thể phân chia thành các phần tương đối độc lập mà không ảnh hưởng đến cấu trúc động tác và các bài tập có kỹ thuật khó, phức tạp

2.2.1.2 Phương pháp tập luyện hoàn chỉnh (Nguyên vẹn)

Trong trường hợp việc phân chia nhỏ động tác mà gây nên những tác động lớn đến cấu trúc động tác và các bài tập dễ đơn giản thường sử dụng phương pháp tập luyện hoàn chỉnh Tuy nhiên đối với những động tác phức tạp vẫn có thể sử dụng phương pháp tập luyện nguyện vẹn, nhưng thường phải kết hợp với việc sử dụng các bài tập bổ trợ, dẫn dắt

2.2.2 Các phương pháp tập luyện định mức lượng vận động và quãng nghỉ

Các phương pháp này nhằm hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động và phát triển các tố chất vận động Căn cứ vào mục đích sử dụng và phụ thuộc vào đặc điểm định hướng và biến thiên các thông số bên ngoài của lượng vận động mà sử dụng cho hợp lý

Trang 13

2.2.2.1 Phương pháp tập luyện lặp lại ổn định theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng

Trong quá trình tập luyện lặp lại ổn định, động tác được lặp lại không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc và các thông số bên ngoài của lượng vận động

Phương pháp này được sử dụng trong giáo dục tất cả các tố chất vận động

a Phương pháp tập luyện ổn định liên tục

Đặc điểm của phương pháp này là không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc

động tác, về lượng vận động và về các điều kiện để tiến hành tập luyện

Phương pháp này thường được sử dụng trong giáo dục sức bền Một trong

những phương pháp điển hình là phương pháp đồng đều (Ví dụ chạy Việt dã)

b Phương pháp tập luyện ổn định ngắt quãng

Là phương pháp tập luyện lặp lại động tác với quãng nghỉ tương đối ổn định Thời gian quãng nghỉ tùy thuộc vào mục đích tập luyện mà ta có thể chọn quãng nghỉ đầy đủ, quãng nghỉ ngắn hay quãng nghỉ vượt mức Ví dụ: Trong giáo dục sức bền thường chú trọng quãng nghỉ ngắn

2.2.2.2 Phương pháp tập luyện biến đổi theo chế độ lượng vận động liên tục và ngắt quãng

Tùy từng trường hợp mà thay đổi các thông số vận động, thay đổi cách thức

thực hiện động tác, thay đổi quãng nghỉ và các điều kiện bên ngoài

Bản chất của vấn đề là đặt ra những yêu cầu mới cao hơn để kích thích sự phát triển các chức năng cơ thể, đồng thời mở rộng tính linh hoạt của kỹ xảo vận động và

hoàn thiện kỹ xảo vận động

a Phương pháp tập luyện biến đổi liên tục

Chủ yếu áp dụng cho các bài tập có chu kỳ Phương pháp điển hình của nhóm

phương pháp này là bài tập biến tốc

b Phương pháp tập luyện biến đổi ngắt quãng

- Có thời gian nghỉ ngắn hay dài tùy theo bài tập

- Đặc điểm tiêu biểu của phương pháp này là luân phiên có hệ thống giữa lượng

Trang 14

vận động và nghỉ ngơi Trong đó lượng vận động và quãng nghỉ đều có thể thay đổi

2.2.2.3 Phương pháp tập luyện tổng hợp

Trên thực tế các phương pháp thường được kết hợp với nhau trong quá trình

giáo dục thể chất thành phương pháp tổng hợp

Ví dụ: Chạy 100m lần 1 nghỉ 10 phút, lần 2 nghỉ 8 phút, lần 3 nghỉ 6 phút Có

nhiều phương án để kết hợp; một số phương pháp điển hình sau:

a Phương pháp tập luyện lặp lại tăng tiến

Có đặc điểm lặp lại lượng vận động trong mỗi lần tập nhưng lại tăng lượng vận

động đó ở những lần tập sau

Ví dụ: Trọng lượng tạ không thay đổi trong một tổ nhưng lại được tăng lên ở tổ tập sau ( lần 1 cho gánh tạ 50kg trong 02 phút, lần hai 60kg trong 3 phút, lần ba 70kg

4 phút

b Phương pháp tập luyện lặp lại với quãng nghỉ giảm dần

Có đặc điểm lượng vận động ổn định nhưng quãng nghỉ giảm dần làm biến đổi mạnh mẽ trong cơ thể khi thực hiện bài tập

Ví dụ: Chạy 4x100m; lần 1 nghỉ 12p, lần 2 -10p, lần 3- 8p, lần 4- 6p

c Phương pháp tập luyện vòng tròn

Quá trình thực hiện các bài tập theo thứ tự từng nhóm với những bài tập đã được lựa chọn và hợp nhất lại thành bài tập liên hợp Các bài tập được thực hiện theo từng trạm kế tiếp nhau theo dạng vòng tròn Tại mỗi trạm, người tập thực hiện một loạt các bài tập nhất định Số lần lặp lại ở mỗi trạm được xác định theo đặt điểm người tập,

thông thường được lặp lại bằng 1/2 hay 1/3 đến 2/3 số lần lặp lại tối đa

Phương pháp này nhằm giáo dục các tố chất thể lực, thường sử dụng các bài tập

có kỹ thuật đơn giản và người tập đã nắm vững kỹ thuật bài tập trước đó

- Các dạng cơ bản của phương pháp tập luyện vòng tròn:

+ Theo phương pháp tập kéo dài liên tục: Phát triển sức bền chung

+ Theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ ngắn: Phát triển sức bền tốc độ

và sức mạnh bền

Trang 15

+ Theo phương pháp giãn cách với quãng nghỉ đầy đủ: Phát triển sức mạnh và

chúng phải được tổ chức phù hợp với đặc điểm của phương pháp trò chơi

2.3.1.1.Đặc điểm của phương pháp trò chơi

- Tổ chức theo chủ đề: Hoạt động của người chơi được tổ chức tương ứng với chủ đề giả định hoặc có tính chất hình ảnh

- Phong phú về phương thức để đạt được mục đích: Hầu như bao giờ cũng có nhiều cách để chiến thắng được luật chơi cho phép

- Là một hoạt động độc lập, sáng tạo, có yêu cầu cao về sự nhanh trí, khéo léo của người chơi

- Tạo nên sự đua tranh căng thẳng giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm người

và tạo nên cảm xúc mạnh mẽ (thể hiện rõ các phẩm chất cá nhân)

Nhược điểm: Khả năng điều chỉnh lượng vận động bị hạn chế và việc chương trình hóa

ở mức tương đối

2.3.1.2.Ý nghĩa tác dụng

Củng cố và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, giáo dục tính kỷ luật, tính đồng đội và những phẩm chất khác

2.3.2 Phương pháp thi đấu

Trong giáo dục thể chất, phương pháp thi đấu được sử dụng dưới hai hình thức:

- Hình thức tương đối đơn giản: Được sử dụng các dạng như đấu tập, thi thử (có thể sử dụng thi đấu ngay cả những bài tập riêng lẻ) nhằm kích thích hứng thú và tính tích cực của người tập

- Hình thức phát triển phức tạp: Được sử dụng như một hình thức tương đối độc

Trang 16

lập như thi kiểm tra, các cuộc thi đấu thể thao chính thức

2.3.2.1 Đặc điểm cơ bản của phương pháp thi đấu

- So sánh sức lực trong điều kiện đua tranh thứ bậc, vị trí để đạt được thành tích cao nhất Yếu tố đua tranh trong thi đấu cũng như điều kiện tiến hành tổ chức cuộc thi

sẽ tạo nên cảm xúc sinh lý đặc biệt làm tăng thêm tác dụng bài tập Sự đua tranh giữa các cá nhân hoặc giữa tập thể diễn ra một cách gay gắt, vì vậy nó đòi hỏi phát huy tính

- Có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục các phẩm chất đạo đức, ý chí, tinh thần trách nhiệm, đồng thời có sự ganh đua trong thi đấu dễ hình thành nên những nét tính cách ích kỷ, háo danh, hiếu thắng vì vậy phải có phương pháp giáo dục đúng đắn

2.4 Phương pháp sử dụng lời nói và trực quan

2.4.1 Ph ương pháp sử dụng lời nói

Bằng lời nói để truyền thụ kiến thức cho người học, kích thích tư duy và điều khiển việc thực hiện chúng Phương pháp lời nói còn được sử dụng để phân tích, đánh giá kết quả và điều chỉnh hành vi người học

Phương pháp lời nói cũng rất cần thiết trong quá trình nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành động

Do có chức năng đa dạng mà lời nói được sử dụng trong nhiều phương pháp khác nhau: Phân tích, giảng giải, chỉ thị, mệnh lệnh, đàm thoại

2.4.1.1 Đặc trưng của nhóm phương pháp này là phương pháp giảng giải

Trang 17

Giảng giải là dùng lời nói để phân tích về nội dung cơ bản, trọng tâm, phương hướng chuyển động, phân tích các mấu chốt kỹ thuật, các mối quan hệ bên ngoài, các

cử động liên tục qua đó hình thành biểu tượng chung về động tác, đi đến việc thực hiện hoàn chỉnh kỹ thuật TDTT

2.4.1.2 Yêu cầu khi giảng giải

Giảng giải là giúp học sinh quan sát một cách có mục đích, hiểu và nắm được từng phần kỹ thuật động tác, cho nên lời nói giảng giải phải ngắn gọn dễ hiểu, chuẩn xác về nội dung, chính xác về thuật ngữ, nhấn mạnh được điểm chủ yếu, khâu then chốt của kỹ thuật động tác và phải sinh động giàu hình tượng

2.4.2 Phương pháp trực quan

Quá trình nhận thức của con người = trực quan - tư duy - thực tiễn

Trực quan có hai loại: Trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp Tùy từng trường hợp cụ thể trong GDTC mà sử dụng trực quan trực tiếp hoặc trực quan gián tiếp cho phù hợp

Đặc trưng của nhóm phương pháp này là phương pháp làm mẫu

Làm mẫu là giáo viên thực hiện động tác để học sinh quan sát, giúp các em thấy được kết cấu, hình dáng, đường đi và thứ tự các cử động của động tác

Phương pháp này giúp học sinh vừa quan sát vừa tư duy nhằm đạt được hiệu quả cao trong quá trình thực hiện động tác

Yêu cầu khi làm mẫu:

- Động tác làm mẫu phải hoàn chỉnh, đẹp, chính xác vì mục đích làm mẫu là để học sinh xem rồi bắt chước làm theo

- Những động tác mới, phức tạp phải làm mẫu từ 2-3 lần:

+ Lần 1: Làm hoàn chỉnh toàn vẹn động tác để học sinh có biểu tượng chung về động tác đó

+ Lần 2: Làm chậm, có thể kết hợp với giảng giải

+ Lần 3: Thực hiện như lần 1

- Khi làm mẫu phải chọn vị trí thích hợp sao cho tất cả học sinh đều nhìn thấy

Trang 18

các chi tiết của động tác

- Tùy theo động tác và đối tượng cụ thể mà chọn phương hướng làm mẫu cho phù hợp.(làm mẫu chếch, nghiêng, soi gương… )

- Làm mẫu có thể kết hợp với giảng giải để nhắc nhở học sinh quan sát những khâu chủ yếu của động tác

- Khi làm mẫu không để học sinh quay mặt ngược hướng gió, hướng mặt trời

hoặc hướng có những hoạt động khác

- Khi hướng dẫn thực hiện, giáo viên có thể dùng tín hiệu như vỗ tay, lời hô, còi… để giúp học sinh hình thành cảm giác, nhịp điệu đúng

Câu hỏi ôn tập và thảo luận

Câu 1 Chứng minh rằng lượng vận động và quãng nghỉ là các thành tố cơ bản của phương pháp GDTC

Câu 2 Trình bày các phương pháp tập luyện có định mức chặt chẽ? Hãy thiết kế một bài tập liên hợp trong phương pháp tập luyện vòng tròn

Câu 3 Thế nào là phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu? Đặc điểm và ý nghĩa tác dụng của chúng trong giảng dạy TDTT?

Câu 4 Phương pháp sử dụng lời nói và trực quan trong giáo dục thể chất? Các phương pháp đặc trưng của chúng?

Cau 5 Thiết kế sơ đồ các phương pháp GDTC

Chương 3 NGUYÊN TẮC GIẢNG DẠY TDTT

3.1 Nguyên tắc phát huy tính tích cực tự giác tập luyện

đó người học tập trung cao độ sức lực và ý chí để hoàn thành tốt nhiệm vụ

3.1 2 Những yêu cầu để đảm bảo tính tự giác tích cực

Trang 19

3.1.2.1 Giáo dục thái độ tự giác và hứng thú bền vững đối với mục đích tập luyện chung cũng như các nhiệm vụ cụ thể của buổi tâp

Động cơ tham gia tập luyện là tiền đề cần thiết để đảm bảo thái độ tự giác Động

cơ tập luyện rất đa dạng, ở mỗi lứa tuổi, mỗi người khác nhau và mỗi giai đoạn khác nhau thì cũng khác nhau, vì vậy phải xây dựng động cơ đúng đắn cho người học

Do đó giáo viên TDTT phải biết hình thành cho học sinh hiểu được ý nghĩa chân chính của hoạt động TDTT, hiểu được bản chất xã hội của TDTT và TDTT như một phương tiện để phát triển cân đối toàn diện cơ thể, củng cố và nâng cao sức khỏe của chính mình và của xã hội

Hứng thú là hình thức biểu hiện của động cơ, đó là sự tập trung tích cực sự chú

ý và ý nghĩ về một đối tượng, một hoạt động nhất định Chính vì vậy, hứng thú giữ một vai trò quan trọng trong tích cực, tự giác học tập của học sinh Nên việc xây dựng hứng thú tập luyện cho học sinh là cơ sở vững chắc phát huy tính tự giác tích cực Hứng thú biểu hiện dưới hai hình thức:

- Hứng thú nhất thời: Biểu hiện thái độ tự giác tích cực trong buổi tập khi có các hình thức tập luyện hợp lý hấp dẫn Xây dựng hứng thú nhất thời bằng các biện pháp sau:

+ Tiến hành buổi tập sinh động, có sức lôi cuốn bằng các hình thức tổ chức buổi tập hợp lý

+ Tăng cường các cuộc thi đấu nhỏ và sử dụng phương pháp trò chơi + Sử dụng các hình mẫu trực quan, hợp lý, đẹp để tăng tính nghệ thuật của kỹ thuật động tác

- Hứng thú bền vững: Biểu hiện trong suốt quá trình học tập Vì vậy, trong quá trình GDTC phải xây dựng hứng thú bền vững cho học sinh, tức là làm cho học sinh hiểu được ý nghĩa, tác dụng của luyện tập TDTT Điều đó sẽ tạo cho họ có thái độ tự giác tích cực trong suốt quá trình tập luyện

3.1.2.2 Kích thích việc phân tích một cách có ý thức, việc kiểm tra và dùng sức hợp lý khi thực hiện các bài tập thể chất

Trang 20

- Ý thức về sự thực hiện của người tập phải được quan tâm thường xuyên trong quá trình giảng dạy, có thể tiến hành các cuộc kiểm tra, đánh giá nhận xét kịp thời về ý thức của người tập, tạo cho người tập có sự động não trong quá trình tập luyện, suy nghĩ về nguyên nhân của những lần thực hiện tốt và những lần thực hiện chưa tốt Khi động tác đã trở thành kỹ xảo thì vẫn không quên vai trò của ý thức người tập với sự thực hiện để tiếp tục nâng cao chất lượng bài tập

- Kết quả của tập luyện còn phụ thuộc vào sự tự đánh giá của người tập về những chỉ số không gian, thời gian, dùng sức khi thực hiện động tác Vì vậy người dạy phải luôn luôn giáo dục người học năng lực tự đánh giá, kiểm tra, thông báo cho họ biết những thông số khách quan để họ so sánh và tự điều chỉnh hành vi vận động của mình

3.1.2.3 Giáo dục tính tự chủ, sáng tạo cho học sinh

- Tính tự chủ, sáng tạo là cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động vận động, vì vậy phải giáo dục cho học sinh những kỹ năng tự giải quyết các nhiệm vụ vận động và sử dụng một cách hợp lý các phương tiện, phương pháp GDTC

- Trong quá trình giảng dạy không chỉ dừng lại ở sự hoàn thành nhiệm vụ vận động mà phải hình thành cho học sinh phong cách thực hiện riêng tương xứng với khả năng của chính mình, hình thành động tác tốt nhất, đúng nhất nhưng ít tốn sức nhất

- Phải xây dựng mỗi giáo án TDTT là một giáo án hợp lý nhất về nội dung, hình thức, cách thức tiến hành nhằm tạo ra sự hứng thú cao cho học sinh

- Ngoài nhiệm vụ trên, thì GDTC còn được hiểu là một quá trình lao động căng thẳng và mệt mỏi diễn ra liên tục trong một thời gian dài, vì vậy đòi hỏi người học phải hình thành và nâng cao tinh thần bền bỉ, khắc phục khó khăn và tìm thấy niềm vui, niềm tin trong hoạt động, nhất là các bài tập phức tạp, đơn điệu

- Sự tự giác tích cực được nâng cao hơn nếu người dạy đánh giá đúng thành tích người học đạt được, có khen thưởng, động viên đúng lúc, phải xây dựng thành hệ thống tiêu chuẩn chuyên môn để đánh giá người tập

3.2 Nguyên tắc trực quan trong tập luyện

Trang 21

3.2 1 Khái niệm

Trực quan là sự tác động trực tiếp của thế giới khách quan vào các giác quan của con người

Trực quan có hai loại: Trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp

- Trực quan trực tiếp là những tác động vào các giác quan làm cho ta có hình ảnh sống của hoạt động đó

Ví dụ: Làm mẫu động tác (thị phạm)

- Trực quan gián tiếp là những tác động vào những giác quan không phải là những hình ảnh sống

Ví vụ: Quan sát tranh, ảnh, phim, mô hình

Lời nói với ý nghĩa đầy đủ và phù hợp với kinh nghiệm của người tập cũng thuộc về trực quan gián tiếp

Mối quan hệ giữa trực quan trực tiếp và trực quan gián tiếp: Mỗi loại trực quan trong quá trình GDTC đều có tầm quan trọng đặc biệt Trực quan trực tiếp là cơ sở cho trức quan gián tiếp, trực quan gián tiếp bổ sung cho trực quan trực tiếp chính xác hơn,

dễ hiểu hơn khi chi tiết và cấu trúc động tác mà thông qua trực quan trực tiếp hoàn toàn không nhìn thấy Ví dụ phim quay chậm để nhìn thấy những chi tiết kỹ thuật mà bình thường nhìn bằng mắt không thể thấy được

3.2 2 Bản chất của nguyên tắc

Muốn đảm bảo hiệu quả của GDTC thì nhất thiết phải sử dụng hai loại trực quan

để người tập có biểu tượng vận động đúng

3.2 3 Cơ sở của nguyên tắc

- Căn cứ vào quy luật quá trình nhận thức (Trực quan - tư duy - thực tiễn)

- Xuất phát từ nhiệm vụ của quá trình GDTC là cần phải phát triển tất cả các giác quan

3.2 4 Trực quan là tiền đề để tiếp thu động tác

Muốn tiếp thu động tác phải xây dựng đúng về biểu tượng động tác đó và biểu tượng động tác chỉ xuất hiện khi người tập được quan sát động tác

Trang 22

Để các loại trực quan tạo ra được tiền đề tiếp thu động tác, thường tiến hành theo hai cách:

- Học các loại động tác mới trên cơ sở tiếp thu tốt động tác cũ và tuân thủ trình

tự giảng dạy hợp lý

- Sử dụng tổng hợp các loại trực quan khác nhau

3.2 5 Trực quan là điều kiện để hoàn thiện động tác

Giai đoạn đầu cần phải sử dụng trực quan để xây dựng kỹ thuật động tác nhưng sang giai đoạn sau vẫn phải sử dụng trực quan để hoàn thiện chi tiết kỹ thuật động tác

và xây dựng cảm giác chuyên môn của động tác

Ví dụ: Đối với những động tác khó, khi người học được quan sát các hình ảnh thông qua phim quay chậm sẽ nhìn được các chi tiết kỹ thuật động tác, trên cơ sở đó sẽ hoàn thiện được động tác một cách dễ dàng, đặc biệt xây dựng nhanh được cảm giác chuyên môn trong quá trình hoàn thiện động tác

Trong giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật động tác thì trực quan gián tiếp nổi lên hàng đầu, vì trong giai đoạn này vai trò của cơ quan phân tích vận động và các cách thức đảm bảo trực quan tăng lên đáng kể Các cơ quan cảm giác ngày càng phối hợp với nhau chặt chẽ để điều khiển hoàn chỉnh động tác Song sự tác động lên nhiều giác quan cùng một lúc trong điều kiện vận động phức tạp không phải lúc nào cũng tốt, có khi sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau Vì vậy, trong thức tế phải hạn chế sự tác động vào nhiều giác quan cùng một lúc

3.2 6 Những yêu cầu đảm bảo tính trực quan

- Sử dụng phương tiện trực quan phù hợp với lứa tuổi

- Phải xác định rõ mục đích trực quan cho người học

- Bảo đảm tính tích cực, tự giác, tư duy của người học

- Tỉ lệ giữa trực quan trực tiếp với trực quan gián tiếp phải phù hợp với từng giai đoạn giảng dạy

- Hình ảnh trực quan phải tác động tốt vào tất cả các giác quan

3.3 Nguyên tắc vừa sức và cá biệt hóa

Trang 23

3.3.1 Cơ sở để đề ra nguyên tắc

- Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích cơ bản của giáo dục thể chất là bảo vệ

và nâng cao sức khoẻ con người, nó còn xuất phát từ yêu cầu giáo dục theo đặc điểm

lứa tuổi, giới tính, đặc điểm phát triển cá nhân về thể chất cũng như tinh thần

- Về bản chất: Nguyên tắc này thể hiện yêu cầu là phải tổ chức dạy học sao cho tương ứng với khả năng của người tập

3.3 2 Ý nghĩa

- Dự tính những khó khăn, những trở ngại mà người tập có thể vượt qua bằng

sự huy động sức lực của chính mình mà có ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ

- Chỉ đạo quá trình giáo dục thể chất phù hợp với đối tượng, phù hợp với trình

độ tập luyện đảm bảo cho sự phát triển tối ưu so với khả năng của mình

- Phát huy vai trò tự giác, tích cực của người học

3.3 3 Bản chất của nguyên tắc

3.3.3.1.Xác định mức độ vừa sức

- Vừa sức không có nghĩa là không có khó khăn, trở ngại, không có sự phấn đấu

mà ngược lại người tập phải huy động được tất cả sức lực và tinh thần của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ tập luyện

- Tính vừa sức thường được xác định phụ thuộc vào hai yếu tố:

+ Khả năng của người tập

+ Những khó khăn khách quan luôn luôn xuất hiện khi thực hiện bài tập như độ phức tạp của động tác, cường độ vận động

3.3.3.2 Những điều kiện về mặt phương pháp đối với tính vừa sức

- Một trong những điều kiện cơ bản của tính vừa sức là sự liên tục và phức tạp hóa dần các động tác, đảm bảo tính kế thừa của các bài tập thể chất, vì vậy phải xác định hợp lý các phương pháp dạy học và cấu trúc các buổi tập cả về mặt hình thức và

nội dung

- Phải thực hiện theo nguyên tắc từ dễ đến khó, từ nhẹ đến nặng, từ biết đến chưa biết

Trang 24

* Những điểm cần chú ý khi thực hiện nguyên tắc:

- Nắm rõ nội dung, chương trình, các yêu cầu và tiêu chuẩn đã được qui định cho từng đối tượng

- Nắm rõ đối tượng về tình hình sức khỏe, trình độ kỹ thuật, khả năng tiếp thu

- Theo dõi, quan sát những biểu hiện trong tập luyện như động tác, nét mặt, hơi thở của học sinh để kịp thời bổ sung, điều chỉnh LVĐ cho hợp lý

- Khi tăng LVĐ phải tăng từ từ, luân phiên luyện tập - nghỉ ngơi hợp lý, tránh tập quá sức

- Đảm bảo tính kế thừa của các bài tập thể chất, đảm bảo tính tuần tự trong việc chuyển từ nhiệm vụ tương đối dễ sang nhiệm vụ khác khó khăn hơn

- Chú ý đến sức khỏe của từng học sinh, từng loại hình thần kinh, các khuyết tật

và các mối quan hệ của LVĐ với các điều kiện đảm bảo cho việc tập luyện như sân bãi, dụng cụ, thời tiết, khí hậu

3.3 4 Cá biệt hoá

Cá biệt hoá trong GDTC được xem là một cách xây dựng toàn bộ quá trình GDTC và là một cách sử dụng các phương tiện, phương pháp và hình thức riêng của

buổi tập, tạo nên sự phát triển cao nhất năng lực của họ

Cá biệt hóa được giải quyết trên 2 cơ sở:

3.3.4.1 Chuẩn bị thể lực chung

Nhằm tạo điều kiện cho tất cả học sinh nắm vững một số tối thiểu bắt buộc các kỹ năng, kỹ xảo vận động quan trọng trong cuộc sống và các tri thức có liên quan, phát triển toàn diện các phẩm chất thể lực đến một trình độ nhất định

Việc chuẩn bị thể lực chung chủ yếu thông qua các phương pháp giảng dạy và các phương tiện phụ như: Bài tập bổ trợ, dẫn dắt, tăng cường bảo hiểm, động viên giúp đỡ

3.3.4.2 Chuyên môn hóa

Nhằm hoàn thiện sâu hơn về một môn thể thao mà học sinh có thiên hướng và có năng khiếu Tuy nhiên, cần phải phối hợp chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ là bảo vệ sức khoẻ và phát hiện, bồi dưỡng tài năng thể thao

Ngày đăng: 18/02/2023, 18:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Trịnh Trung Hiếu (2001), Lý luận và phương pháp TDTT trong nhà trường , NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT trong nhà trường
Tác giả: Trịnh Trung Hiếu
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2001
[2] Lưu Quang Hiệp (2006), Sinh lý họ c TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý họ c TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2006
[3] Lưu Quang Hiệp, Vũ Chung Thủy (2000), Y học TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Y học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Vũ Chung Thủy
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2000
[5] Nguyễn Mậu Loan, Lý luận và phương pháp TDTT, ĐHSP TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Mậu Loan
Nhà XB: ĐHSP TDTT Hà Nội
[6] Nguyễn Toán (2006), Lý luận và phương pháp TDTT, NXB TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp TDTT
Tác giả: Nguyễn Toán
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2006

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm