1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình Văn hóa Đông Nam Á (Nghề Hướng dẫn du lịch Cao đẳng)

245 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Văn hóa Đông Nam Á (Nghề Hướng dẫn du lịch Cao đẳng)
Tác giả ThS Nguyễn Thị Hồng Nhâm
Người hướng dẫn Ban Giám hiệu và các phòng, ban trong nhà trường, Các thầy cô trong khoa, Đồng nghiệp trong trường
Trường học Trường Cao đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn
Chuyên ngành Hướng dẫn du lịch
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 245
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lời giới thiệu (0)
  • 2. BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á (0)
  • 2. Cư dân (10)
  • 3. Tôn giáo, tín ngưỡng (16)
  • 3. BÀI 2: VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG (0)
  • 1. Con người - chủ thể văn hóa (34)
  • 2. Địa lý cảnh quan (35)
  • 3. Lịch sử (38)
  • 4. Tiếp thu văn hóa, văn minh thế giới (48)
  • 5. Phân loại văn hóa (các thành tố văn hóa đông nam á) (52)
  • 6. Tham gia khối asean (106)
  • 4. BÀI 3: CÁC QUỐC GIA Ở ĐÔNG NAM Á (0)
  • 1. Indonesia và Đông Timo (110)
  • 2. Malaysia (126)
  • 4. Singapore (146)
  • 5. Philipines (156)
  • 6. Campuchia - Lào – Việt Nam (CLV) (168)
  • 7. Myanmar (0)
  • 8. Brunei (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

Tuy nhiên, do cùng sinh ra và lớn lên trong khu vực có chung một cơ tầng văn hóa nông nghiệp lúa nước, cho nên, cư dân Đông Nam Á đều có chung một yếu tố tín ngưỡng bản địa như nhau, chẳ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÁCH KHOA NAM SÀI GÒN

Trang 2

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình và được lưu hành nội bộ tại khoa

Du lịch Khách sạn - trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho mục đích đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Giáo trình Văn hóa Đông Nam Á được biên soạn để đáp ứng nhu

cầu về tài liệu giảng dạy và học tập cho sinh viên chuyên ngành Hướng dẫn

Du lịch trình độ Cao đẳng của khoa Du Lịch-Khách Sạn trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn

Giáo trình Văn hóa Đông Nam Á được biên soạn dựa theo đề cương

chi tiết học phần Văn hóa Đông Nam Á và tham khảo các tài liệu, giáo trình chính của các tác giả như:

1 Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, Hà Nội,

Giáo trình Văn hóa Đông Nam Á là môn học bổ trợ kiến thức trong

chương trình đào tạo ngành Hướng dẫn Du lịch trình độ Cao đẳng của khoa

Du Lịch-Khách Sạn trường Cao đẳng Bách khoa Nam Sài Gòn

Nội dung của giáo trình bao gồm 03 bài:

Bài 1: Những vấn đề chung về các nước Đông Nam Á

Bài 2: Văn hóa Đông Nam Á thống nhất trong đa dạng

Bài 3: Các quốc gia ở Đông Nam Á

Trong quá trình biên soạn, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các phòng, ban trong nhà trường đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện viết giáo trình này Đồng thời cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô trong khoa,

Trang 4

đồng nghiệp trong trường đã đóng góp ý kiến xây dựng, giúp tôi hoàn thiện giáo trình Tuy nhiên thực tiễn các hoạt động về văn hóa lại diễn ra rất phong phú và

đa dạng Do đó, chắc chắn không tránh khỏi hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong tiếp tục nhận được sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp và toàn thể người đọc để tài liệu được hoàn thiện hơn

Trân trọng!

1 Chủ biên: ThS Nguyễn Thị Hồng Nhâm

Trang 5

MỤC LỤC

1 Lời giới thiệu ii

2 BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á 1

1.Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 1

2 Cư dân 3

3 Tôn giáo, tín ngưỡng 9

3 BÀI 2: VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG 27

1 Con người - chủ thể văn hóa 27

2 Địa lý cảnh quan 28

3 Lịch sử 31

4 Tiếp thu văn hóa, văn minh thế giới 41

5 Phân loại văn hóa (các thành tố văn hóa đông nam á) 45

6 Tham gia khối asean 99

4 BÀI 3: CÁC QUỐC GIA Ở ĐÔNG NAM Á 103

1 Indonesia và Đông Timo 103

2 Malaysia 119

3.Thai land 130

4 Singapore 139

5 Philipines 149

6 Campuchia - Lào – Việt Nam (CLV) 161

7 Myanmar 216

8 Brunei 228

TÀI LIỆU THAM KHẢO 237

Trang 6

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á

Tên môn học: Văn hóa Đông Nam Á

Mã số môn học : MH10

Thời gian mônhọc : 45 giờ; ( Lý thuyết: 43 giờ, Thực hành, thí nghiệm, bài tập,

thảo luận : 0 giờ, Kiểm tra: 2 giờ)

I.VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC:

- Vị trí: Là môn học trong phần mô đun cơ sở, nó bổ trợ kiến thức trong khung chương trình đào tạo hệ Cao đẳng nghề Hướng dẫn Du lịch

- Tính chất: Là môn học kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thảo luận, kết thúc bằng việc thi kết thúc môn học

II MỤC TIÊU MÔN HỌC: (Kiến thức, kỹ năng, năng lực tự chủ và trách

- Hiểu được tính đa dạng thống nhất về văn hóa trong cộng đồng các quốc gia ASEAN

Trang 7

ASEAN

3 Về năng lực tự chủ và trách nhiệm:

- Trân trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là thống nhất trong

da dạng văn hóa trong cộng đồng ASEAN

- Tôn trọng sự khác biệt và đa dạng văn hóa của các dân tộc, các quốc gia Đông Nam Á

III NỘI DUNG MÔN HỌC

Trang 8

BÀI 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Như vậy là từ xa xưa, thế giới đã biết đến khu vực văn hóa Đông Nam Á

Sở dĩ như vậy là vì tầm quan trọng về mặt vị trí địa lý của khu vực Đông Nam

Á, vốn đã được chú ý đến từ rất lâu Đông Nam Á thường được gọi là “ngã tư đường”, “hành lang” hay “cầu nối” giữa thế giới Đông Á với Tây Á và Địa Trung Hải

Tuy vậy, từ trước thế kỷ XIX Đông Nam Á vẫn chưa được nhìn nhận rõ rệt và đầy đủ như một khu vực địa lí – lịch sử – văn hóa – chính trị riêng biệt Bởi nó đã bị lu mờ giữa hai nền văn minh phát triển rất rực rở là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ Nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II đến nay, khu vực văn hóa Đông Nam Á ngày càng được công nhận rộng rãi

Trang 9

trong khoa học.[GS-TS Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ phương đông,

2009, trang 105-107]

Trên bản đồ thế giới, Đông Nam Á nằm trong phạm vi từ khoảng 920 đến

1400 kinh đông và khoảng 280 vĩ bắc chạy qua xích đạo đến khoảng 150 vĩ nam

Tổng diện tích của Đông Nam Á khoảng trên 4 triệu km2

Khu vực Đông Nam Á nằm ở phía đông nam châu Á, nơi tiếp giáp giữa Thái Bình Dương và Ân Độ Dương, có vị trí cầu nối giữa lục địa Á - Âu với lục địa Ô-xtrây-li-a Đông Nam Á bao gồm một hệ thống các bán đảo, đảo và quần đảo đan xen giữa các biển và vịnh biển rất phức tạp Đông Nam Á có vị trí địa - chính trị quan trọng, đây là nơi giao thoa giữa các nền văn hóa lớn và cũng là nơi các cường quốc thường cạnh tranh ảnh hưởng Nó “nằm trọn” giữa hai đại dương lớn: Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Eo malacca, có vị trí như kênh đào Su-ê, nối biển Đông với biển Andaman thuộc Ấn Độ Dương, trở thành cửa ngõ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, nối liền Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) với Tây Âu và châu Phi Đông Nam Á nằm gần hai quốc gia

lớn nhất Phương Đông: Trung Quốc và Ấn Độ Qua đường biển, các nước Đông Nam Á còn nằm gần siêu cường quốc kinh tế Nhật Bản “Chỗ đứng” như vậy làm cho Đông Nam Á từ xa xưa đã trở thành một khu vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế lẫn quân sự Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người đã coi Đông Nam Á như là một “hành lang” hay một “chiếc cầu nối Đông

- Tây”

Xét về mặt địa lí- hành chính, Đông Nam Á bao gồm 11 quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Singapo, Thái Lan, Mianma, Malaysia, Indonexia, Philippin, Brunay, Đông timo Trong đó có 6 nước nằm trên quần đảo Mã Lai

và 5 nước nằm trên bán đảo Trung Ấn Phạm vi lãnh thổ bao gồm 2 phần là:

- Đông Nam Á lục địa: Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma, Thái Lan

- Đông Nam Á hải đảo: Indonexia, Malaysia, Singapo, Philippin, Brunây

và Đôngkimo

Trang 10

Hình 1: Lược đồ các nước Đông Nam Á

Nguồn:http://community.middlebury.edu/~scs/maps/Southeast%20Asia- Political%20Map-CIA-2003.jpg

2 Cư dân

2.1 Đôi nét về sự hình thành các dân tộc Đông Nam Á

Châu Á, Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng, có vị trí quan

trọng trên bản đồ nhân chủng học thế giới Đây là địa bàn phân bố của đại

chủng Môngôlôit với các tiểu chủng: Bắc Á, Đại Dương, Viễn Đông, Nam Á và

một số nhóm trung gian Theo một cách phân loại khác, châu Á có hai tiểu

Trang 11

chủng là Bắc Môngôlôit (hay Lục địa) và Nam Môngôlôit, với nhiều nhóm loại hình Những nghiên cứu của Đông Nam Á học cho biết, loại hình nhân chủng

chủ yếu ở Đông Nam Á và bán đảo Đông Dương là loại hình Nam Á và Anhđônêdiêng, có nguồn gốc từ tiểu chủng Môngôlôit phương Nam Các dân

tộc ở Việt Nam đều nằm trong hai nhóm loại hình này của Đông Nam Á

Hiện nay, các nước Đông Nam Á đều là những quốc gia đa thành phần dân tộc, trong đó ở mỗi nước thường có một thành phần dân tộc chiếm chủ thể

về số lượng cư dân và trình độ phát triển xã hội Ngoài ra, còn có nhiều thành phần tộc người khác vốn bản địa của khu vực có từ lâu đời với số lượng thay đổi từng nơi

Phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ, cả về chủng tộc, ngữ hệ và bức tranh văn hóa tộc người Lịch sử, văn hóa các dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với nguồn gốc

lịch sử, văn hóa các tộc người ở Đông Nam Á

Một trong những bằng chứng nổi bật nhất chứng minh các dân tộc Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, có chung một nguồn gốc, là việc các nhà khảo

cổ học đã phát hiện ra rất nhiều điểm tương đồng về một nền văn hóa rất phát triển gọi là Văn hóa Hòa Bình ở rải rác các nơi ở Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Những phát hiện mới nêu trên đã làm thay đổi cách suy nghĩ của các nhà khảo cổ học về sự tiến triển của các nền văn minh trên trái đất Thành

tựu này cũng làm thay đổi suy nghĩ về nguồn gốc tộc người và văn hóa của khu

vực Đông Nam Á nói chung, của Việt Nam nói riêng Có những giả thuyết cho

rằng có thể người Việt Nam có nguồn gốc bản địa, hoặc người Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Hoa Nhưng phần lớn các nghiên cứu đều khẳng định, Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ, cả về chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa

Hiện nay, Đông Nam Á là khu vực có dân số đông, mật độ cao Tỉ suất gia tăng tự nhiên còn cao nhưng đang suy giảm Dân số trẻ, nguồn lao động tuy

dồi dào nhưng trình độ còn hạn chế Chính vì vậy ảnh hưởng tới vấn đề việc làm và nâng cao chất lượng cuộc sống Bên cạnh đó, Phân bố dân cư không

đều: tập trung đông ở đồng bằng, ven biển, vùng đất đỏ

Trang 12

Từ nhóm nhân chủng Môngôlôit phương Nam (tiểu chủng Đông Nam Á)

có thể chia ra 4 nhóm nhỏ như sau:

Người Anhđônêdiên là cư dân cổ có mặt ở hầu khắp các nơi trong khu vực Đông Nam Á, gồm những tộc ít người sinh sống chủ yếu là sâu trong các hải đảo như như người Batắc ở Xumatơra; người Đaiắc, Kênya, Kayan, Punan ở Calimantan; Alphuru ở Xulavêxi thuộc Inđônêxia; nhóm Bontok, Nabaloi, Iphugao, Kankanai, Pagobo, Ghianga thuộc Philippin Còn ở các miền rừng núi, người Anhđônêdiên có mặt khắp trên bán đảo Đông Dương: các tộc người ở Tây Nguyên, ở dãy Trường Sơn (Việt Nam): Bru - Vân Kiều, Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, M’nông, Khơ Mú; tập trung chủ yếu ở Lào: Thượng Lào (Khơ Mú),

Hạ Lào (Hin, Bôlôven) và miền Trung Lào ít hơn; ngoài ra còn ở Cămpuchia và Thái Lan

2.1.3 Nhóm Vêđôit

Trang 13

Theo một giả thuyết, từ hai chủng Nam Á và Anhđônêdiên đã có một tác động nhất định đến loại hình nhân chủng khác ở Đông Nam Á là Vêđôit, phần lớn là Anhđônêdiên Trong một giai đoạn lịch sử khá dài, nhóm loại hình nhân chủng Vêđôit và Anhđônêdiên đã là thành phần chủ thể của cả khu vực Đông Nam Á với tỷ trọng có thể khác nhau giữa phần lục địa (chủ yếu Anhđônêdiên)

và phần hải đảo (ở thời kỳ đầu chủ yếu Vêđôit) Tiếp đến, đó là sự tác động mạnh mẽ của dòng người Nam Á, điều này, càng làm cho bức tranh nhân gian các nhóm nhân chủng Đông Nam Á đang biến đổi lại càng thêm thấm đượm sắc thái mới

Nhóm Vêđôit cư trú khá phổ biến trong cư dân bản địa ở Inđônêxia và một số ít hơn ở phía nam bán đảo Trung - Ấn với độ biến dị khá rộng rãi trên đặc điểm hình thái, như người Tokea, Toala, Loinanga ở Xulavêxi; người Manga, Kayan ở Calimantan; Orang Batin ở Xumatơra; người Xênôi ở Malacca

2.1.4 Nhóm Nêgritô

Nhóm loại hình nhân chủng Nêgritô được coi là một loại hình của chủng Mêlanêdiên (thuộc đại chủng Ôxtralôit), và phát sinh không sớm hơn loại hình nhân

Nhóm Nêgritô phân bổ nhiều nơi ở Đông Nam Á, điển hình như người Tapiro ở sườn nam các dãy núi ở trung tâm Tân Ghinê, hoặc ở Philippin, Malaixia, đảo Irian của Inđônêxia và cực nam bán đảo Trung - Ấn, ở các cụm đảo Anđaman, Nicobar

Như vậy, qua một quá trình lịch sử lâu dài, từ tiểu chủng Đông Nam Á đã tiếp tục phân hóa thành những tộc người khác nhau Vì vậy, khi xem xét về Đông Nam Á ở góc độ dân tộc học, ta dễ dàng nhận thấy tính đa dạng và phong phú trong các thành phần tộc người và sự phân bố dân cư nơi đây, thể hiện ở mỗi quốc gia có thể có hàng chục, hàng trăm dân tộc khác nhau

Chính bức tranh phong phú về các tộc người ở Đông Nam Á, xét cho cùng, đều có nguồn gốc chung xuất phát từ chủng người Môngôlôit phương

Trang 14

Nam, do đó, đã tạo nên điểm tương đồng trong khu vực - một sự “thống nhất trong đa dạng” về con người và văn hóa Đông Nam Á [Mai Ngọc Chừ, 2009]

2.2.2.1 Nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me

Ngữ hệ Môn - Khơ Me có hơn 100 ngôn ngữ, chia thành hai nhóm: Môn - Khơ Me Bắc và Môn - Khơ Me Đông

Môn - Khơ Me Bắc gồm có các tiếng nói chủ yếu: Bắc Thái Lan, Bắc Lào, Đông Mianma

Trang 15

Môn - Khơ Me Đông gồm các ngôn ngữ tập trung: Cămpuchia, miền Trung Việt Nam, Trung Lào, Bắc Thái

Các ngôn ngữ của những tộc người Môn - Khơ Me ở Việt Nam sống rải rác ở vùng Tây Nguyên, Trường Sơn và Tây Bắc, gồm: Ba Na, Xơ Đăng, Cơ

Ho, H’rê, M’nông, Stiêng, Bru - Vân Kiều, Ka Tu, Khơ Mú, Tà Ôi, Mạ, Gié Triêng, Chơ Ro, Mảng, Kháng, Rơ Năm, Ơ Đu và Brâu

2.2.2.2 Nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao

Nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao được phân bố ở phía Bắc của Việt Nam, Lào và Thái Lan, còn Mianma thì ở gần biên giới Trung Quốc Nhóm ngôn ngữ H’mông - Dao, bao gồm các ngôn ngữ: H’mông (Mèo, Miao, Mông), Dao (Man, Yao), Pàthẻn, Sơ, Klao

2.2.2.3 Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường

Nhóm ngôn ngữ Việt - Mường gồm bốn ngôn ngữ: Việt (Kinh), Mường, Thổ, Chứt Nhóm ngôn ngữ này chỉ có ở Việt Nam và một số nước Đông Nam

Á có người Việt sinh sống

Trang 16

Malaysia, Inđônêxia, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Philippin Thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngoài tiếng Hán còn có Sán Dìu, Ngái…

Ngoài bốn họ ngôn ngữ chính nêu trên, ở một số khu vực Đông Nam Á còn có một vài ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác theo dòng người nước ngoài đến Đông Nam Á như tiếng Tamin (thuộc Đraviđa) của người Ấn Độ ở Malaixia, Inđônêxia; tiếng Aryen (thuộc Ấn - Âu) của một số người Ấn Độ và Pakixtan ở Mianma

Những đặc điểm về hệ ngôn ngữ cũng như sự phân bố tộc người trên lãnh thổ Đông Nam Á cho thấy một sự thật là: không phải giữa các quốc gia Đông Nam Á từ trước đến nay không tồn tại một mối quan hệ nào, và nếu chúng ta biết khai thác những mối quan hệ, liên hệ ẩn náu trong quá khứ ấy thì sự hợp tác khu vực không thể không

Theo Mai Ngọc Chừ: “Sự đa dạng không hề thủ tiêu tính thống nhất của chúng Nếu như nói rằng văn hóa Đông Nam Á là sự thống nhất trong đa dạng thì nhận định đó cũng hoàn toàn chính xác đối với ngôn ngữ - một nhân tố quan trọng của văn hóa và các ngôn ngữ Đông Nam Á là bức tranh đa dạng trong sự

thống nhất cao độ từ trong cội nguồn của chúng” [Mai Ngọc Chừ, 1999: 112]

3 T ôn giáo, tín ngưỡng

Với quan niệm vạn vật hữu linh, thực hành tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên

và các nghi lễ nông nghiệp…Đông Nam Á truyền thống đã có một nền tảng hết sức đa dạng Các thời kỳ tiếp theo, các tôn giáo, tín ngưỡng từ Ấn Độ, Trung Hoa, Ả Rập, Âu, Mỹ…bành trướng tới, cấy lên trên nền tảng các tín ngưỡng bản địa làm cho bức tranh tín ngưỡng, tôn giáo ở Đông Nam Á vốn đã đa dạng

Trang 17

càng đa dạng hơn Ngày nay, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng dân cư trong khu vực nổi bật với các yếu tố sau đây

3.1 Tín ngưỡng

3.1.1 Tín ngưỡng bản địa

Ngày nay, tín ngưỡng bản địa dựa trên tín ngưỡng vạn vật hữu linh vẫn phổ biến ở Đông Nam Á Được hình thành từ rất sớm, mặc dù trong mỗi cộng đồng dân tộc có quá trình hình thành và tồn tại của những tín ngưỡng khác nhau Tuy nhiên, do cùng sinh ra và lớn lên trong khu vực có chung một cơ tầng văn hóa nông nghiệp lúa nước, cho nên, cư dân Đông Nam Á đều có chung một yếu tố tín ngưỡng bản địa như nhau, chẳng hạn, tín ngưỡng sùng bái tự nhiện, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái linh hồn người đã mất… Cái chung nhất của tất cả các tín ngưỡng này, theo như nhiều nhà nghiên cứu khẳng định,

là xuất phát từ học thuyết vạn vật hữu linh, nghĩa là mọi vật đều có linh hồn Linh hồn biết tất cả những gì mà con người đang làm và linh hồn có thể giúp đỡ mọi việc ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là những lúc con người ở vào tình thể nguy

nan Vì vậy, thờ cúng các linh hồn được coi là bổn phận của con người

3.1.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Cuộc sống hàng ngày của con người nói chung và đặc biệt là việc sản xuất nông nghiệp nói riêng phụ thuộc vào rất nhiều các điều kiện tự nhiên, do đó

sùng bái tự nhiên là điều tất yếu đối với tất cả cư dân Đông Nam Á Từ lâu, người Đông Nam Á đã có niềm tin vào sức mạnh của thế giới tự nhiên, do vậy, đối tượng sùng bái của con người là những sự vật, hiện tượng tự nhiên gắn với cuộc sống lao động sản xuất Không phải bây giờ, con người hiện đại mới phát hiện ra tầm quan trọng của năng lượng mặt trời đối với cuộc sống nhân loại, mà ngay từ thời xa xưa, cư dân Đông Nam Á đã cảm nhận được điều đó, vì vậy, ở tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều có tục thờ thần Mặt trời Dấu tích của việc thờ thần Mặt trời là thể hiện trên rất nhiều đồ vật: đồ trang sức, đồ thờ cúng, đặc biệt là khắc hình mặt trời lên các trống đồng, thạp đồng cũng như trên các công trình điêu khắc cổ xưa ở Đông Nam Á [Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ

Trang 18

Phương Đông, 2009, tr 195-199]

Gắn liền trực tiếp với công việc đồng áng của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á là đất và nước Chính vì thế, hai vị thần này được coi là tối cao và được thờ cúng ở mọi nơi Người ta thờ cúng thần Đất và thần Nước, để cầu mong hai thần ban phát nước, mưa thuận gió hòa, không lũ lụt hay hạn hán, đồng ruộng

và cỏ cây được tươi tốt, được mùa Ở Thái Lan có lễ tạ ơn Mẹ Nước vào buổi tối trăng tròn tháng 10 âm lịch hàng năm Ở Campuchia và Lào đều có Hội nước Ngay ở một số xã thuộc Hà Nội hiện vẫn còn lễ hội rước nước linh đình Việc thờ cúng thần Đất vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay với nhiều hình thức khác nhau như Lễ động thổ, tục thờ Địa Mẫu, v.v…

Ở các quốc gia Inđônêxia, Mianma, Lào, Cămpuchia… đồng thời với việc thờ thần Nước và thần Đất, người ta còn thờ cả vị thần Sông - thần giữ vai trò chính trong việc cung cấp nước cho đồng ruộng Ngoài ra, các hiện tượng như mây, mưa, sấm, chớp cũng đóng một vai trò đáng kể trong đời sống của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á, do vậy, các vị thần như thần Mưa, thần Mây, thần Sấm, thần Chớp, thần Gió cũng được tôn thờ ở mọi nơi, từ vùng lục địa, rừng núi của Mianma, Lào… đến các vùng hải đảo như Inđônêxia, Malaixia, Philippin… Không chỉ quan tâm đến việc thờ cúng, liên quan đến việc đồng áng

mà cư dân bản địa Đông Nam Á còn thờ cả những vị thần có vai trò quyết định đến cuộc sống của cư dân miền rừng núi như thần Núi, thần Rừng, thần Đá, thần Lửa, thần Suối

Ngoài ra, các dân tộc ở Đông Nam Á còn thờ các vật khác có liên quan và ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ, tạo nên nét đa dạng trong tín ngưỡng sùng bái tự nhiên Ở nhiều dân tộc Philippin, các “đối tượng” thờ cúng còn nhiều hơn nữa, người ta còn thờ cả mặt trăng, các ngôi sao, cầu vồng Mỗi khi có các hiện tượng tự nhiên bất thường diễn ra như mưa to, gió lớn, động đất, lốc cuốn, cư dân địa phương tiến hành các nghi lễ cầu khấn, dâng lễ vật Người

ta còn quan niệm mỗi vị thần đảm nhiệm một công việc nhất định, chẳng hạn, đối với người Bontok, thần Lamauiga bảo trợ cho công việc ngoài đồng; đối với

Trang 19

các dân tộc ở Minđanao, thần Cabiga tạo ra cuộc sống; còn thần

Đối với cư dân Đông Nam Á đặc biệt quan tâm đến cây lúa vì đây là tất cả cuộc sống của họ, chính vì thế, họ có một niềm tin mãnh liệt vào thần Lúa - coi thần Lúa là vị thần thiêng liêng nhất Họ còn quan điểm rằng, đây là vị thần mang lại no ấm, đầy đủ và rất gần gũi với con người, được thể hiện trong những truyền thuyết dân gian về cây lúa, hay việc thờ cúng thần Lúa trong các nghi lễ Người ta luôn luôn cầu khấn để hồn lúa ở lại với cây lúa, ở lại với xóm làng của

họ để cho mùa màng được bội thu, tươi tốt Các lễ rước thần Lúa, cúng cơm mới, lễ hội xuống đồng mừng trồng lúa (sẽ đề cập trong phần lễ hội) được các thế hệ cư dân Đông Nam Á tổ chức rất long trọng, có thể nói, không có một quốc gia nào ở Đông Nam Á không có tục thờ thần Lúa Trong con mắt của cư dân Đông Nam Á thì hồn lúa rất đẹp Ở bắc Lào, một học giả Thuỵ Điển, K.G.Izikowitz viết: Lúa có linh hồn, giống như con người… Nếu hồn lúa bỏ đi… sẽ dẫn đến đói kém, nó là một vật rất nhẹ rất dễ lạc đi nơi khác… và hồn chỉ dành cho con người và lúa mà thôi (Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam

Á, 2003) Với người Malaixia, cây lúa được đối xử tử tế vì nó nuôi sống con người, hồn lúa được gọi một cách âu yếm là “chú bé chín tháng” hoặc “công chúa pha lê”, “công chúa mặt trời” [Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.197] Thậm chí, người Malaixia còn có tục cấm không được gõ, đập, đá vào bồ lúa, kho lúa, nếu làm như vậy thì hồn lúa sợ bỏ đi và mùa sau sẽ bị mất mùa Còn ở Giava (Inđônêxia) thì cây lúa được coi là hiện thân của nữ thần Devi Sri, nên có nhiều điều cấm kỵ đối với đàn ông khi tiếp xúc cây lúa, không được gần nữ thần Lúa, ngoại trừ làm công việc cày bừa, chuẩn bị đất [Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam Á, 2003,] Ở Thái Lan, thần Lúa được rước vào các nhà kho và giữ “ngài” ở đó đến tận mùa sau

Xung quanh tín ngưỡng về hồn lúa, có nhiều truyền thuyết rất hay ở Đông Nam Á Xin đơn cử hai ví dụ :

Truyện thứ nhất được lưu truyền ở bán đảo Maxlai Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, những người nông dân không phải gặt lúa ở ngoài đồng Hàng

Trang 20

ngày, vào buổi sáng, một hạt lúa tự lăn vào nhà, chui vào nồi và người ta chỉ việc nấu thành cơm

Theo nguyên tắc, người chồng không được nấu cơm (vì lúa gạo là con gái, cấm kị với đàn ông) Việc nấu cơm chỉ dành cho vợ, mẹ hoặc con gái Khi nấu cơm không được mở vung Mở vung là điều cấm kị Cứ để nguyên thì đến trưa cơm sẽ chín

Một hôm, người mẹ phải đi làm, dặn con ở nhà không được mở vung Khi

mẹ đi rồi, cô bé tò mò mở vung ra xem Thật kỳ lạ, trong nồi có một cô bé xinh đẹp, tự nhiên biến mất, để lại một hạt gạo nhỏ Khi mẹ về, thấy trong nồi không

có cơm, biết là con gái đã phạm vào điều cấm kỵ

Từ ngày hôm đó, tất cả mọi người phải làm những công việc đồng áng vất

vả, nặng nhọc: cày cấy, gặt hái, đập lúa, phơi thóc, quạt sạch và mang vào nhà Truyện thứ hai của người Khmer kể rằng: Ngày xưa, khi lúa chín, thóc tự bay về kho Người dân không phải mất công gặt hái

Một hôm, có hai vợ chồng nhà nọ, sống cạnh kho thóc, cãi nhau, gây ra tiếng ồn ào khó chịu, làm phiền thần lúa Thần lúa bỏ đi ẩn náu ở khe núi Thế

là nạn đói xảy ra ở vùng đó Người ta tìm mọi cách tìm thần lúa về nhưng đều bị thần từ chối Cuối cùng, một người có tín nhiệm (có lẽ là thầy cúng) được cử đến mời mọc mãi, Thần mới chịu trở về Nhưng từ đó trở đi, thóc không tự bay

về kho như trước nữa mà người dân phải mất công gặt hái để mang thóc lúa về nhà [Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.197-198]

Ở Việt Nam, khi nói về tín ngưỡng hồn lúa của người Ê Đê thì họ quan điểm: cột trụ của cuộc sống ở Đắc Lắc là một thứ lúa tuyệt vời… Lúa là thức ăn chủ yếu Lúa do thần linh ban cho, lúa là thần linh Còn người Khơ Me xem Mẹ lúa là một người đàn bà cưỡi trên mình cá, tay cầm bông lúa Người Mảng, Khơ

Mú hình dung Mẹ lúa là cô gái trong trắng xinh đẹp, trú ngụ trên vạt nương Nhiều dân tộc miền núi có tập quán thờ ông bà lúa, dân tộc Cơ Tu ở Trường Sơn, Thừa Thiên dành chỗ đẹp nhất trong bếp và làm cây Tơru để thờ lúa Còn đối với một số dân tộc ở Tây Nguyên, khi phát nương làm rẫy, họ cũng tuân thủ

Trang 21

những điều cấm kỵ, già làng làm lễ cúng Yàng rồi mới chỉ nương cho dân làng phát Nếu thấy hiện tượng dây leo không bình thường là điềm ông lúa bà lúa không cho ăn, thì tìm nương khác [Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Đông Nam Á, 2003] Còn đối với dân tộc Dao, quan niệm, mỗi bông lúa và mỗi hạt thóc đều

là sự sống và đều có hồn, ở trên nương, chúng được gần nhau, nhưng khi thu hái hồn lúa có

Ngoài ra, còn có một số quốc gia như Inđônêxia, Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Mianma còn có tục thờ một số con vật gắn liền với cuộc sống của

cư dân Đông Nam Á Người dân ở miền đông Xumatơra, ngay cả khi đã theo đạo Hồi mà vẫn còn thờ hổ và cá sấu và coi đó là những vị thần có vai trò không nhỏ trong đời sống của họ Ở các đền, chùa Việt Nam, Cămpuchia, Lào, Mianma, người ta còn thờ cả hạc, rùa, rắn, voi… những con vật này có sức mạnh hay được tôn xưng là biểu tượng của sự tinh khôn, cần cù Trong đó, có thể nói, con rồng là con vật tiêu biểu, đã trở thành biểu tượng đặc sắc của vùng văn hóa Đông Nam Á Những con vật thiêng này thường được chạm khắc trên

đá, trên đồ đồng, trên gỗ và được thờ cúng trong các đền, miếu ở rất nhiều nơi (Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.198]

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, coi những sự vật hiện tượng trong thiên nhiên có sức mạnh linh thiêng ở cư dân Đông Nam Á, gắn liền với khát vọng biến sức mạnh của tự nhiên thành những điều tốt đẹp, may mắn, hạnh phúc… Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên ở Đông Nam Á còn góp phần tạo nên lòng khoan dung, ôn hòa, chia sẻ và gắn kết cộng đồng dân tộc, và sẵn sàng tiếp thu các giá trị văn hóa, văn minh từ bên ngoài, bản địa hóa hoặc để tạo nên các giá trị văn minh đa thanh, đa diện rất riêng ở Đông Nam Á

Như vậy, ở Đông Nam Á có những biểu tượng chung mà con người cùng hướng tới như thờ thần Mặt trời, thần Đất, thần Nước, thần Lửa… trong đó, thần Lúa là vị thần mà hầu hết các nước đều hướng tới Ngoài ra, còn có các vị thần khác mà tùy thuộc vào từng dân tộc, từng quốc gia mà con người có cách giải thích hợp lí, làm cho tín ngưỡng tự nhiên ở Đông Nam Á trở nên đa dạng,

Trang 22

phong phú

3.1.3 Tín ngường phồn thực

Tín ngưỡng phồn thực (phồn = nhiều, thực = nảy nở) là biểu hiện của niềm mơ ước về sự sinh sôi nảy nở của con người, gia súc và mùa màng Phồn thực là một yêu cầu tối cần thiết để duy trì và phát triển loài người

Xuất phát từ cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, để duy trì cuộc sống, con người nông nghiệp Đông Nam Á cần mùa màng tươi tốt và gia súc phát triển bởi đó là nguồn thức ăn chính nuôi sống con người Hơn nữa để duy trì nòi giống và phát triển xã hội, bản thân con người cũng phải sinh sôi nảy nở Chính những yêu cầu khách quan trên, là tiền đề quan trọng để tín ngưỡng phồn thực

ra đời và phát triển ở khu vực Đông Nam Á

Tín ngưỡng phồn thực vốn rất đa dạng, thể hiện trong nhiều hình thức và

có thể thấy ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, từ Mianma, Thái Lan, Việt Nam cho tới Inđônêxia, Philippin… Ngay trong một quốc gia, tín ngưỡng này cũng biểu hiện hoàn toàn khác nhau Thật ra, tục cầu mưa, lễ cầu mẹ nước, tục

té nước, tục lấy nước thờ… của người Thái, người Lào và của một số dân tộc Cămpuchia, Việt Nam, Mianma, Philippin… cũng là tín ngưỡng phồn thực, vì mục đích là cầu xin nước cho mùa màng, cây cối phát triển tươi tốt Thêm nữa, tục vũ hội dưới trăng; múa khèn của người Li, người Dao, người H’mông, người Bui; tục thi đánh trống cho đến khi thủng trống gẫy dùi (sau đó là cảnh quan hệ tình dục đêm khuya tự do của cả người già lẫn người trẻ) của người Thái, người Mường, người Việt; tục nhảy múa tập thể của người Khơ Me, người Lào; tục đánh đu, tục hát đối nam nữ của nhiều dân tộc và hàng loạt những hình thức cúng bái, tế lễ cầu trời khác của cư dân Đông Nam Á… mục đích cho mùa màng tươi tốt, vụ mùa bội thu, các giống cây trồng sinh sôi nảy

nở Những hình thức đó phần nào nhằm phản ánh nghi thức phồn thực của cư dân nông nghiệp Đông Nam Á (Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.199]

Tuy nhiên, tục thờ sinh thực khí là cách thể hiện rõ nhất, đặc sắc nhất của

Trang 23

tín ngưỡng phồn thực, xuất phát từ trong cơ tầng văn hóa nguyên thủy Đông Nam Á (không chỉ có riêng ở khu vực Đông Nam Á) Điều này thể hiện rất rõ trên các công trình điêu khắc của cư dân nguyên thủy, ở Việt Nam, người ta tìm thấy ở thạp đồng Đào Thịnh, có một số cặp tượng nam và nữ, nam nằm úp ở trên, nữ nằm ngửa ở phía dưới, cả hai đang giao hợp với nhau; hay người ta còn thấy trên các tảng đá ở Sapa (Lào Cai) những bộ phận sinh dục phóng đại cũng được khắc trên đó Bên cạnh đó, tượng nam và nữ với các bộ phận sinh dục được phóng to còn được tìm thấy trong các nhà mồ Tây Nguyên Ngoài ra, trong nhiều địa phương ở Việt Nam còn có tục thờ nõ nường, trong đó nõ (tượng trưng cho sinh thực khí nam), nường (tượng trưng cho sinh thực khí nữ) Một số nơi ở Đông Nam Á, tục thờ sinh thực khí còn tồn tại đến ngày hôm nay như ở Thái Lan, người ta có tục nặn người bằng đất sét để cầu nguyện cho mùa màng được tươi tốt, trong đó tượng là một cặp nam nữ ôm nhau, hoặc nằm hoặc ngồi nhưng trong tư thế giao hợp Hay có những lúc người ta mang hình âm vật

và con mèo cái ra để kích thích Bố Trời giao hợp với Mẹ Đất Để kích thích Bố Trời hưng phấn, người ta còn có tục thăng thiên pháo Trong dịp thăng thiên pháo, nam nữ thanh niên tha hồ chọc ghẹo, tán tỉnh nhau, còn trẻ con đua nhau nặn hình các dương vật đủ cỡ và cầm chúng múa hát và “bắn” vào các cô gái Ở Lào, cũng có tục đốt pháo thăng thiên, trong đêm đốt pháo, người ta cầm hình dương vật, âm vật đi diễu hành, và mô phỏng động tác giao phối, biểu hiện ý niệm tạo ra sự phồn thực cho mùa màng, hoa lá, gia súc và con người.[Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.200]

Từ khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, các dân tộc Đông Nam Á tiếp thu tục thờ cúng Linga (giới vật nam), Yoni (giới vật nữ) và được coi là thờ năng lực sáng tạo, biểu tượng của thần Siva trong Ấn Độ giáo Tục này đã có sự kết hợp chặt chẽ, giao thoa với tín ngưỡng phồn thực bản địa và được phổ biến trong nhiều thế kỷ ở các dân tộc Đông Nam Á: Inđônêxia, Malaixia, Mianma, Thái Lan, Cămpuchia… Việc thờ các hình sinh thực khí của người Chăm, người Thái, người Mường và nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á rất gần với tục thờ Linga Siva giáo Song, người Chăm, hình tượng linga lại hết sức độc đáo: một

Trang 24

dãy 7 Linga trên cùng một bộ, 1 Linga ngất ngưỡng trên Yoni làm bệ, Linga mặt người, Linga có vỏ bọc Tục thờ sinh thực khí còn biểu hiện rõ nét ở một số dân tộc ít người trong các tượng nhà mồ, trong các hang động ở các vùng núi, hải đảo, thể hiện bằng các hình tượng bằng đất sét để nung, trong các lễ vật mà những phụ nữ mang theo có hình giới vật nam được gọt đẽo bằng gỗ, bằng xương thú

Ngày nay, trong các di tích lịch sử - văn hóa ở một số quốc gia Đông Nam

Á, người ta vẫn còn thấy các sinh thực khí bằng đá, hoặc một số dân tộc vẫn còn trang trí trong các ngôi đền, bảo tàng, vườn hoa, cửa khách sạn… một số lễ hội liên quan đến tín ngưỡng phồn thực vẫn được thể hiện khá sinh động

3.1.4 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (sùng bái người đã mất)

Xuất phát từ quan niệm vạn vật hữu linh, cư dân Đông Nam Á cho rằng mỗi người sinh ra đều có một nhóm hồn, ma nhất định Số lượng hồn của một con người tùy thuộc vào cách quan niệm của từng dân tộc Theo quan niệm cảu người Thái, mỗi người có 120 hồn và sau khi con người qua đời, các hồn đó điều biến thành Phỉ (ma) Người Mường nghĩ rằng họ có 90 hồn, còn ở người Khmer thì chỉ có 9 hồn chính Các dân tộc miền núi Mindanao (Philippines) thì cho rằng mỗi người đều có 2 hồn: hồn trái và hồn phải Hồn trái có thể tự do

“lìa” khỏi xác còn hồn phải thì không Sau khi con người qua đời, hồn trái trở thành ma ác, hồn phải trở thành ma lành Trong quan niệm của người Dyak ở Indonesia, thế giới không gian được chia thành 5 tầng trời, trong đó tầng thứ 3

là linh hồn của người đã mất.[Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.201]

Hồn theo cư dân Đông Nam Á, có quan hệ mật thiết với cuộc đời mỗi người Nếu hồn thoát khỏi xác thì con người sẽ chết Nhưng chết không có nghĩa là chết Người chết là người trở về với tổ tiên, ông bà nơi chín suối Do có hồn, người chết vẫn có thể thường xuyên đi về phù hộ độ trì cho con cháu ở dương gian Quan niệm này là cơ sở ra đời tín ngưỡng thờ cúng người đã mất,

mà trước hết và quan trọng nhất là thờ cúng ông bà tổ tiên của gia đình, dòng

Trang 25

họ Việc thờ cúng tổ tiên vừa có ý nghĩa nhớ về cội nguồn, biết ơn cội nguồn vừa thể hiện lòng ước muốn sự phù hộ độ trì của tổ tiên cho người còn sống Thờ cúng tổ tiên, vì vậy cũng là một nét văn hóa đặc trưng trong tín ngưỡng nhiều dân tộc Đông Nam Á Ở nhiều gia đình Đông Nam Á, trong đó có gia đình Việt Nam, bàn thờ tổ tiên thường đặt ở gian giữa nhà và ở nơi cao ráo, sạch

sẽ, sang trọng nhất

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên luôn được ăn sâu trong tiềm thức của người dân Đông Nam Á, cho dù sau đó, các tôn giáo ngoại lai có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tâm linh của đông đảo cư dân nơi đây như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo và cả Thiên Chúa giáo đi nữa thì nhiều dân tộc vẫn duy trì việc thờ cúng tổ tiên, ông bà Qua nhiều thế kỷ, ở các quốc gia Đông Nam Á, vẫn còn hiện tượng người dân vừa thờ cúng các vị thần trong tôn giáo mình, vừa tiếp tục thờ cúng tổ tiên mà không hề bị phủ nhận hay triệt tiêu lẫn nhau Ở đảo Bali (Inđônêxia), chẳng hạn, mặc dù Ấn Độ giáo cực kỳ phát triển, người dân địa phương vẫn vừa cúng thần Siva vừa thờ cúng tổ tiên, ông bà Ở Philippin, những người Katigan, người Visaya, người Ilocano, người Apuyo cũng vẫn có điện thờ cúng tổ tiên trong nhà, mặc dù họ là những người công giáo thực thụ Hay người Môrô - dân tộc sùng bái Hồi giáo, cũng rất tôn trọng việc thờ cúng tổ tiên Riêng ở Việt Nam, dù theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào thì trong nhà người Việt luôn có bàn thờ tổ tiên, ông bà ở nơi trang trọng nhất

Ngoài ra, người dân Đông Nam Á còn có tục thờ các Thần, các vị anh hùng dân tộc đã được thần thánh hóa theo trí tưởng tượng của thần thoại, cổ tích; hay những con người thật bình thường khi sinh ra lại khoác lên mình sự linh thiêng Trong tín ngưỡng thờ Thần của các dân tộc Đông Nam Á, phổ biến nhất là thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước, thường được tôn xưng là thần thánh và được lập đền thờ Tục này không chỉ có ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan, Mianma, Inđônêxia, Cămpuchia, Lào, Philippin…

3.2 Tôn giáo

Trang 26

Những tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo đều có mặt ở khắp các nơi trên khu vực Đông Nam Á, và thường hòa lẫn vào nhau để cùng tồn tại và phát triển Dù cho bất cứ tôn giáo nào đi nữa khi đã thâm nhập vào Đông Nam Á thì cũng không còn giữ nguyên vẹn hình thức về mặt thần học mà lại bị ảnh hưởng của truyền thống bản địa cũng như những tôn giáo khác, đây chính là đặc trưng trong đời sống tôn giáo ở Đông Nam Á Bức tranh tôn giáo ở Đông Nam Á cực kỳ đa dạng, bởi vì trong quá trình phát triển lịch sử, nơi đây đã hội tụ đủ các hệ ý thức tư tưởng cả phương Đông lẫn phương Tây Ở Đông Nam Á, thường là những quốc gia với nhiều tôn giáo khác nhau, tuy nhiên sẽ có một tôn giáo được xem là chính (chiếm đa số trong các tôn giáo), thậm chí tôn giáo đó được coi là quốc giáo (3) Một đặc điểm khá tiêu biểu của các tôn giáo ở Đông Nam Á, như đã nói, mà những nhà nghiên cứu thường nhấn mạnh, là khi thâm nhập vào Đông Nam Á, các ý thức hệ khác nhau (các tôn giáo khác nhau) nhưng không hề xảy ra xung đột, mà luôn hòa đồng vào nhau để cùng tồn tại và phát triển Chẳng hạn, nhà thờ Thiên Chúa giáo, thánh đường Hồi giáo có thể nằm gần kề ngôi chùa Phật giáo Ở Cămpuchia, sau khi đạo Phật được phát triển thì vai trò của Bà La Môn giáo vẫn được coi trọng, các lễ thức của Bà La Môn giáo vẫn tiếp tục tồn tại và được pha trộn với các nghi thức Phật giáo Ở Thái Lan, Phật giáo và Ấn Độ giáo ủng hộ lẫn nhau, còn ở Việt Nam thì thời Lý xuất hiện hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”, tức là đạo Nho, Đạo, Phật cùng được thờ cúng, hành lễ một nơi

và các yếu tố giáo lý pha trộn khá rõ nét Trong các tôn giáo được truyền bá như

Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Nho giáo, Đạo giáo… đều

có mặt ở hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, tuy nhiên tỷ lệ tín đồ khác nhau do điều kiện lịch sử của quá trình truyền bá và tồn tại Trong số ngôi chùa ở Đông Nam Á, tượng Đức Phật ngồi trên tòa sen có rắn thần Naga làm lọng che mưa nắng, điều đó cho thấy, sự hòa đồng pha trộn các tôn giáo ở Đông Nam Á với nhau Có lẽ, bắt nguồn từ tính dễ thích nghi, tính cởi mở và uyển chuyển của bản thân con người ở Đông Nam Á Cũng cần phải lưu ý một điều, trước khi các tôn giáo du nhập vào Đông Nam Á thì cư dân ở đây đã có một nền văn hóa bản

Trang 27

địa độc đáo, bền vững và ăn sâu vào trong tiềm thức của họ Khi các tôn giáo mới xuất hiện, các dân tộc ở Đông Nam Á vẫn bảo tồn các tín ngưỡng bản địa

cổ truyền, chính vì vậy, ở Đông Nam Á không chỉ có sự hòa đồng, pha trộn giữa các tôn giáo với nhau mà còn có sự giao thoa và “đồng lưu” với tín ngưỡng bản địa (như đã nói) Hiện tượng này xảy ra ở hầu khắp các nước Đông Nam Á mà Việt Nam là một quốc gia điển hình, không một gia đình người Việt nào lại không thờ cúng tổ tiên, thần linh, bất kể họ theo tôn giáo nào

Nhìn chung, các tôn giáo như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo là những tôn giáo phát triển khá mạnh và có mặt ở khắp các nước Đông Nam Á Trong đó, Hồi giáo phát triển mạnh ở các quốc gia hải đảo như Inđônêxia, Brunây, Malaixia, còn Phật giáo phát huy ảnh hưởng ở các quốc gia lục địa như Mianma, Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Việt Nam; còn Thiên Chúa giáo phát triển cực thịnh ở Philippin

3.2.1 Hindu giáo

Trong bốn tôn giáo: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo hiện diện ở Đông Nam Á, thì có lẽ, Hindu giá có mặt sớm nhất (theo bước chân của những thương gia và những nhà truyền giáo người Ấn Độ)

Hindu giáo hình thành ở Ấn Độ khoảng 800 năm trước công nguyên, trên

cơ sở đạo Bàlamôn và tín ngưỡng bản địa Tôn giáo này du nhập vào Đông Nam Á từ đầu công nguyên với các mức độ khác nhau và đến nay còn tồn tại ở nhiều nơi

Ở Indonesia, vào khoảng thế kỷ VII đạo này được truyền vào Java sang đảo Bali Đầu thế kỷ XVI, vương triều Hindu giáo Majajapahit ở Java dời tới Pali Cư dân Hindu giáo ở Bali tin vào sự luân hồi theo tục hỏa táng Trong các đền, bên cạnh 3 vị thần chính là Brahma- thần sáng tạo, Vishu - thần bảo vệ, Shiva - thần hủy diệt, các vị thần trong tín ngưỡng bản địa như thần núi lửa, thần biển, đặc biệt là nữ thần lúa cũng được thờ cúng Mỗi gia đình còn có một khu vực riêng để thờ cúng tổ tiên và thần linh Mặc dù cũng theo Bàlamôn, nhưng ở Bali, Indonesia, trong xã hội, hệ thống đẳng cấp không khắt khe như ở

Trang 28

kỷ X trở đi, Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn trong đời sống văn hóa tinh thần của

cư dân Đông Nam Á, đặc biệt là ở các quốc gia lục địa như Mianma, Lào, Cămpuchia, Thái Lan Phật giáo ngày càng dần thay thế những tôn giáo trước

đó và trở thành tôn giáo chính chi phối đến mọi mặt của đời sống các tộc người nơi đây Còn một số nước thuộc Đông Nam Á hải đảo như Malaixia, Inđônêxia, Philippin, Phật giáo cũng du nhập khá sớm, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã không xác lập được vị trí vững chắc và dần dần bị đạo Hồi và đạo Thiên Chúa du nhập vào khu vực thay thế

Ở Inđônêxia, trong vương triều Xri Vigiaya, Phật giáo phát triển rực rỡ, công trình Bôrôbuđua là một chứng tích đánh dấu sự hưng thịnh của Phật giáo trong thời kỳ này Đây là công trình vĩ đại đã trở thành một biểu tượng kiến trúc Phật giáo tiêu biểu nổi tiếng trong khu vực từ xưa cho đến nay Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, Phật giáo mất dần ảnh hưởng ở Xumatơra, một thế kỷ sau đó, tôn giáo này cũng chịu chung số phận như thế ở Giava Ngày nay,

Trang 29

ở Inđônêxia, vẫn tồn tại khá nhiều chùa chiền và các tổ chức Phật giáo vẫn còn hoạt động, chiếm 1% dân số, phần lớn là người Hoa và một số người Ấn Độ Cũng như ở Inđônêxia, số lượng các Phật tử ở Malaixia không nhiều, chiếm 6.4

% dân số, chủ yếu là người Hoa và người Ấn Độ Trong số chùa chiền còn lại ở đất nước này, phải kể đến một ngôi chùa khá to và nổi tiếng ở trung tâm thủ đô Kuala Lămpơ: chùa Phật giáo Quốc tế Tại đây, hàng năm thường diễn ra các lễ hội lớn với hàng vạn người khắp nơi trên thế giới đến tham dự

Trong số các quốc gia Đông Nam Á thì Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhất ở Thái Lan, được chính phủ coi là quốc giáo Các quốc gia Cămpuchia, Mianma rồi đến Việt Nam cũng sùng bái đạo Phật Phật giáo Đại thừa vào miền Nam rồi đến miền Trung và miền Bắc Thái Lan, bởi vì lúc đó các khu vực này thuộc quyền thống trị của đế quốc Ăngco, cho nên người Thái tiếp thu Phật giáo Đại thừa qua người Khơ Me Còn Phật giáo Tiểu thừa ở Mianma thì gắn liền với tên tuổi nhà sư Sin Arahan Những buổi thuyết pháp của ông tại Pagan đã chinh phục được vua Anarat, và cũng từ đó, Phật giáo Tiểu thừa được chính thức được đưa vào Mianma Cũng lúc ấy, vương triều Anarat lớn mạnh, thực hiện chính sách mở mang bờ cõi, bành trướng thế lực sang các nước láng giềng, từ đó, Phật giáo Tiểu thừa từ Pagan lan truyền sang Bắc Thái Lan

Như vậy, Phật giáo vào Đông Nam Á từ rất sớm và có ảnh hưởng cực kỳ

to lớn đến đời sống tinh thần của cư dân nơi đây Tuy mức độ ảnh hưởng đậm nhạt khác nhau, các quốc gia Thái Lan, Việt Nam, Cămpuchia, Mianma thì vai trò Phật giáo ảnh hưởng và tác động sâu rộng, còn các quốc gia khác như Inđônêxia, Malaixia, Brunây thì Phật giáo nhường chỗ cho Hồi giáo, trong đó Philippin chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo

3.2.3 Hồi giáo

Hồi giáo là tôn giáo tương đối khắt khe về mặt giáo luật Hồi giáo du nhập vào các nước trong khu vực Đông Nam Á hải đảo từ thế kỷ X - XI, theo bước chân của những thương gia Ấn Độ và Ả Rập Ở giai đoạn đầu, do có sự chống đối quyết liệt của những tôn giáo trước đó, cho nên ảnh hưởng của Hồi giáo vào

Trang 30

các quốc gia này là chưa đáng kể Mãi đến thế kỷ XIII, đạo Hồi mới bắt đầu lan toả và ảnh hưởng sâu rộng vào các quốc gia Đông Nam Á, mạnh mẽ nhất là vào khoảng thế kỷ XIV - XV Từ bán đảo Ả Rập và Ấn Độ, đạo Hồi được truyền bá vào Inđônêxia, Malaixia, rồi từ Malaixia, Hồi giáo mới truyền sang các đảo miền Nam Philippin (Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009; tr206-208] Cũng như đạo Phật, đạo Hồi đến Đông Nam Á không phải bằng con đường gươm giáo, những cuộc chiến tranh “thần thánh”, mà bằng con đường hòa bình thông qua các thương gia Hồi giáo, do vậy, tôn giáo này dần dần dễ dàng được cư dân bản địa tiếp nhận Từ đó, Hồi giáo càng ngày lớn mạnh và ảnh hưởng nhiều đến việc hình thành những đặc trưng văn hóa không chỉ đối với một quốc gia, một tộc người, mà cho nhiều quốc gia, nhiều tộc người trong khu vực Đông Nam Á hải đảo

Ở Đông Nam Á lục địa, đạo Hồi cũng du nhập vào vùng cư trú của người Chăm vào khoảng thế kỷ X - XI, lúc bấy giờ cũng được một bộ phận cư dân ở đây tiếp nhận, mặc dù, ảnh hưởng của Ấn Độ giáo đối với quốc gia này là không nhỏ Tuy nhiên, có nhiều nguyên nhân khác nhau, có lẽ, do chưa đủ mạnh để làm thay đổi những truyền thống tôn giáo có trước nên đã dẫn đến sự

ra đời của một tôn giáo mới (tôn giáo này không giữ lại hoàn toàn những nét căn bản của Ấn Độ giáo mà cũng không tiếp nhận hoàn toàn các nét căn bản của Hồi giáo), điều này đã dẫn đến việc hình thành cộng đồng Chăm Bà Ni Từ sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945) đến nay, Hồi giáo có một vai trò lớn và có những cơ sở vững chắc ở Inđônêxia, Malaixia, Brunây và một phần Philippin, đó là hàng loạt trường đại học Hồi giáo, viện nghiên cứu Hồi giáo ra đời

Ngày nay, ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Malaixia và Brunây, nơi Hồi giáo được xem là quốc giáo, và ở Inđônêxia, gần 90% dân số là tín đồ Hồi giáo (cộng đồng Hồi giáo lớn nhất thế giới), Hồi giáo đang ngày càng có sức sống mãnh liệt, ảnh hưởng rộng lớn và là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tín đồ Hồi giáo ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và trên toàn thế giới nói chung

Trang 31

Vào khoảng thế kỷ XVI, Kitô giáo du nhập vào các nước Đông Nam Á trong một bối cảnh khác Khi mà sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đang lên, đòi hỏi cần phải có thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp nguyên liệu rộng lớn,

do vậy, gắn với nó là công cuộc xâm chiếm thuộc địa của các nước tư bản châu

Âu vào vùng Đông Nam Á Việc truyền bá Kitô giáo vào Đông Nam Á gắn liền với hoạt động thương mại, cùng với các nhà truyền giáo phương Tây, vậy nên, trên các chuyến thuyền buôn, các thương gia chở các giáo sĩ đi cùng để họ vừa truyền đạo vừa tìm nguồn cung cấp hàng hóa cho các thương gia

Khi vào Đông Nam Á, Kitô giáo đã không được sự đón nhận hồ hởi và cởi mở, bởi vì hình thức truyền bá của đạo này vừa tự nguyện, vừa cưỡng bức mặc dù các quốc gia đã khoan dung, mở rộng, cùng với sự hòa nhập của tôn giáo bản địa Mặt khác, những xung đột ban đầu này xuất phát từ hai nền văn hóa khác nhau Một phần là do bản chất cứng rắn, không khoan nhượng về giáo

lý, hành vi và đức tin của tín đồ, một phần khác, với một bên là dân tộc, bên kia

là kẻ xâm lược, chính vì thế, Kitô giáo đã không nhận được sự quan tâm nồng nhiệt của cư dân Đông Nam Á trong giai đoạn đầu cũng là điều dễ hiểu Việc truyền bá Kitô giáo vào các quốc gia Đông Nam Á về phương cách, ảnh hưởng

và đặc điểm không đồng thời giống nhau Cho đến ngày nay, Philippin là quốc gia duy nhất trong khu vực mà Kitô giáo chiếm được đức tin của đại đa số trong

cư dân, còn các quốc gia khác, Kitô giáo chỉ tác động giới hạn trong một bộ phận dân cư nhất định Như đã nói, Philippin là quốc gia duy nhất trong khu vực Đông Nam Á mà Kitô giáo xâm nhập thành công nhất, có mặt từ năm 1521

Trang 32

cùng với đội quân xâm lược Tây Ban Nha Nói theo cách nói của Mai Ngọc Chừ (2009), thì: Nếu như Phật giáo, Bà La Môn giáo từ Ấn Độ đến Đông Nam

Á bằng phương pháp hòa bình, bằng sự thuyết phục và gây nhiều niềm tin ở lòng người dân, tức là bằng phương pháp mềm dẻo, thì Kitô giáo được đưa vào Philippin không chỉ bằng việc truyền đạo mà còn bằng hình thức cưỡng bức, bắt buộc cứng rắn Hiện nay, theo thống kê bước đầu [Ngô Văn Lệ, 2003], số lượng tín đồ Thiên Chúa giáo ở Philippin chiếm khoảng 84.1% dân số Theo sau Thiên Chúa giáo ba thế kỷ, đạo Tin Lành được người Mỹ đưa đến Philippin từ cuối thế kỷ XIX, đối tượng truyền đạo là giới thượng lưu và các tộc người thiểu số,

và có ảnh hưởng nhất định đối với cư dân nơi đây

Ở Inđônêxia, đạo Kitô giáo mà cụ thể là Thiên Chúa giáo đến cùng với thực dân Bồ Đào Nha vào đầu thế kỷ XVI, tập trung chủ yếu ở Xumatơra, sau

đó đến Giava và các đảo khác (đến những nơi mà Hồi giáo chưa kịp đến) Những năm sau đó, khi đạo Tin Lành được đưa vào thì vai trò của Thiên Chúa giáo bị giảm sút hẳn, trong suốt ba thế kỷ (XVII - XIX), các nhà thờ Thiên Chúa giáo chỉ tồn tại trên hình thức Đến thế kỷ XX, ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo

là khá lớn do có sự hỗ trợ của các nhà truyền giáo Hà Lan Đến nay, số lượng tín đồ Thiên Chúa chiếm không nhiều, nhưng các tổ chức Thiên Chúa giáo cũng đóng một vai trò nhất định trong đời sống của cư dân Inđônêxia Đạo Tin Lành

có ảnh hưởng sâu rộng hơn đối với đạo Thiên Chúa, chiếm 4.8% dân số cả nước với hàng chục nhà thờ, giáo phái, hội truyền giáo… khác nhau Đạo Tin Lành đóng một vai trò đáng kể trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Inđônêxia, và

Tất cả các quốc gia Đông Nam Á đều xuất phát từ nền nông nghiệp sơ khai lúa nước, cho nên, tín ngưỡng bản địa của họ cũng khá tương đồng nhau như sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, thờ cúng tổ tiên… Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác nhau thì hình thức tín ngưỡng này cũng hoàn toàn khác nhau, thậm chí là khác nhau trong cùng một nước, vì vậy, tạo nên bức tranh tín ngưỡng bản địa với những sắc thái đa dạng Còn tôn giáo của các quốc gia trong khu vực cũng có những nét riêng của nó, Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều có

Trang 33

mặt ở hầu khắp các quốc gia, tuy nhiên, mức độ đậm nhạt là hoàn toàn khác nhau Các quốc gia Đông Nam Á lục địa như Mianma, Cămpuchia, Lào, Thái Lan chịu ảnh hưởng Phật giáo, còn Hồi giáo thì chủ yếu là các nước như Malaixia, Inđônêxia, Brunây, trong đó, Philippin là quốc gia duy nhất trong khu vực có tín đồ Kitô giáo chiếm đa số trong dân cư Ở khu vực này, ngoài ba tôn giáo kể trên thì có những tôn giáo không còn tồn tại (Nho giáo, Đạo giáo) hoặc vẫn còn tồn tại nhưng phạm vi ảnh hưởng lại không lớn lắm (Ấn Độ giáo) Hay ngoài những tôn giáo như đã nêu, trong khu vực lại xuất hiện những tôn giáo

mà ảnh hưởng của nó chỉ giới hạn ở khu vực hạn hẹp, như Cao Đài, Bửu Sơn

Kỳ Hương, Tứ Ấn Hiếu Nghĩa, Phật giáo Hòa Hảo (Việt Nam) làm cho bức tranh tôn giáo trong khu vực thêm phong phú và đa dạng

Yêu cầu về đánh giá kết quả học tập

- Người học phải nắm được vị trí điạ lý của ĐNÁ trên bản đồ thế giới, đặc điểm về lãnh thổ, cư dân, tín ngưỡng, tôn giáo của khu vực ĐNÁ

Ghi nhớ:

- Vị trí, lãnh thổ, cư dân và tôn giáo, tín ngưỡng các nước Đông Nam Á - ASEAN

Trang 34

BÀI 2 VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á THỐNG NHẤT TRONG ĐA DẠNG Giới thiệu:

Bài học này cung cấp các kiến thức về sự đa dạng trong văn hóa của cộng đồng khu vực ĐNÁ do lịch sử, địa lý, tộc người tạo nên Văn hóa ĐNÁ là đa dạng trong sự thống nhất

Mục tiêu:

Á do lịch sử, địa lý, tộc người tạo nên

hóa vật chất đến văn hóa tinh thần

Nội dung chính:

1 Con người - chủ thể văn hóa

Tính thống nhất, tính khu vực của Đông Nam Á trước hết được thể hiện

ở chủ thể của văn hóa Đông Nam Á Ngay từ buổi bình minh của lịch sử _ Đông Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người, đây là địa bàn hình thành của đại chủng phương Nam (Australoid) Vào khoảng 10.000 năm trước (thời đại đồ đá giữa), có một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid

từ phía dãy Himalaya thiên di về hướng Đông Nam, tới vùng Đông Nam Á thì dừng lại và hợp chủng với cư dân Melanesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid), dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã Lai _ Đông Nam

Á tiền sử)

Với nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, nhỏ, thấp Từ đây chủng này lan tỏa, họ có mặt trên toàn bộ Đông Nam Á cổ đại Đó là một vùng rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử, phía tây tới bang Assam của Ấn Độ, phía đông tới vùng quần đảo Philippin và phía nam tới các hải đảo Indonesia

Chủng Indonesien chính là những người Tiền Đông Nam Á Từ chủng này trải qua hàng nghìn năm lịch sử, lại được phân thành 2 chủng mới là Austroasiatique và Austronesien Chủng Austroasiatique được hình thành vào

Trang 35

cuối thời kỳ đá mới, đầu thời đại đồ đồng Khu vực cư trú của họ là vùng Nam Trung Hoa và bán đảo Trung Ấn ( Từ Nam Sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng Hà) Chủng Austroasiatique là kết quả của sự hợp chủng giữa Indonesien (Tiền Đông Nam Á) với Mongoloid Với chủng Austroasiatique, các nét đặc trưng Mongoloid lại càng nổi trội, vì vậy nó được coi là người Mogoloid phương nam Về sau Bách Việt được sinh ra từ chủng này

Chủng Austronesien được hình thành ở phía nam, dọc theo dải Trường Sơn và tiếp về phía hải đảo Đó là những tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo hiện nay Đây cũng chính là “tổ tiên” của các dân tộc Chăm (Chàm), Raglai, Êđê, Giarai, Churu, v.v…Ở Việt Nam

Bức tranh về các dân tộc ở Đông Nam Á ngày nay cực kỳ đa dạng Song, xét về nguồn gốc, hầu hết chúng đều bắt nguồn từ một gốc chung, đó là chủng Indonesien Chính điều đó đã tạo nên tính thống nhất - một tính thống nhất trong sự đa dạng của con người và Văn hóa Đông Nam Á

Tính thống nhất về mặt văn hóa của khu vực và tính đa dạng của các tộc người lại làm nên những đặc trưng bản sắc riêng của từng vùng văn hóa được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, bao hàm trong nó rất nhiều thành tố cả về vật chất lẩn tinh thần của văn hóa Đông Nam Á Đương nhiên, trong quá trình phát triển, văn hóa Đông Nam Á đã tiếp thu nhiều yếu tố mới từ bên ngoài mà tiêu biểu nhất là từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ả Rập và phương Tây Nhờ sự giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ trong quá trình phát triển của mình

2 Địa lý cảnh quan

 Khí hậu:

Đặc điểm nổi bật nhất của khí hậu Đông Nam Á là tính chất gió mùa nóng

và ẩm Khu vực được mệnh danh là “châu Á gió mùa’ này mỗi năm thường có 2 mùa tương đối rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Có thể nói Đông Nam Á là nơi có

độ ẩm cao nhất trên thế giới Khí hậu biển cũng là một đặc điểm quan trọng đối

với tuyệt đại đa số các quốc gia Đông Nam Á Trên quả địa cầu, đường xích đạo

Trang 36

chạy qua 3 nơi: khu vực sông Amazon, khu vực sông Congo và Đông Nam Á Đường bờ biển của Đông Nam Á rất dài, nguyên nhân gây ra mưa nhiều Biển

và gió mùa, khí hậu nóng và ẩm đã biến Đông Nam Á thành thiên đường của thế

giới thực vật (GS-TS Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ phương đông, 2009, trang 108-109)

 Địa Hình:

- Đông Nam Á bao gồm một quần thể các đảo, bán đảo và quần đảo, các vịnh, biển :hạy dài từ Thái Bình Dương đến Ân Độ Dương Mười một quốc gia Đông Nam được chia thành 2 khu vực: Đông Nam Á lục địa (gồm các nước Việt Nam, Cambodia, Lào, Thái Lan, Myanmar) và Đông Nam Á hải đảo (gồm các nước Philipines, Malaysia, Singapore và Brunei, Indonesia, Đông Timor)

Đông Nam Á là khu vực có địa hình phong phú, với núi rừng, đồng bằng

và biển cả, được nối với nhau bằng hệ thống sông ngòi chằng chịt đầy nước, cho nên văn hóa Đông Nam Á là một chỉnh thể thống nhất của ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển Ở mỗi yếu tố văn hóa tự mang trong mình những đặc trưng riêng của chủ nhân nó Những yếu tố: núi, biển và đồng bằng được tạo nên và chi phối chặt chẽ bởi những đặc điểm địa hình vô cùng độc đáo nơi đây, bởi, Đông Nam Á hải đảo hay lục địa đều có sự đan xen mang tính hệ thống giữa đồi núi, đồng bằng và sông biển, mà

Ở khu vực thuộc bán đảo Trung - Ấn, có các cao nguyên rộng lớn, từ cao nguyên Shan (Mianma), Khorat (Thái Lan), Bôlôven, Khăm Muộn (Lào) đến Tây Nguyên (Việt Nam), rồi vươn ra biển làm cho các dòng sông lớn cũng bắt nguồn từ các núi rừng rộng lớn Với hệ thống sông ngòi dày đặc, cũng bắt nguồn từ bán đảo Trung - Ấn: sông Mê Kông dài 4.500km (đoạn chảy vào khu vực Đông Nam Á dài 2.600km), sông Xaluen dài 3.200km, Iraoađi dài 2.150km, sông Mê Nam dài 1.200km, sông Hồng dài 1.126km Còn ngược lại, các con sông trên quần đảo Mã Lai như ở Inđônêxia, Philippin, thậm chí cả Malaixia đều ngắn và dốc, có giá trị khai thác thủy điện cao Sông ngòi ở Đông Nam Á không chỉ có giá trị về mặt giao thông mà chủ yếu là tạo nên các vùng

Trang 37

châu thổ màu mỡ phù sa Thông thường, tương ứng với các con sông lớn là các vùng châu thổ rộng lớn, như vùng Hạ Mianma; châu thổ Mê Nam (Thái Lan); châu thổ Mê Kông (Cămpuchia, Việt Nam…); châu thổ sông Hồng (Việt Nam)

Từ bán đảo Đông Dương qua Thái Lan đến Mianma, cảnh quan tự nhiên của vùng là những châu thổ xen kẽ với đồi núi, rừng rậm kéo dài từ phía bắc xuống phía nam ra biển, núi rừng và bình nguyên ở Đông Nam Á bao phủ các đảo, quần đảo ở phía đông, đông nam với trữ lượng lớn về tài nguyên

Sang quần đảo Mã Lai, các quốc gia Inđônêxia và Philippin có các dãy núi uốn nếp xen các núi lửa với cao nguyên núi lửa, còn các đồng bằng thường phân bố dọc theo các miền duyên hải hoặc trong các thung lũng giữa núi Đồng bằng ở hải đảo thường nhỏ hẹp hơn so với khu vực lục địa, tuy nhiên, so với khu vực Đông Nam Á lục địa, địa hình đồi núi ở các nước hải đảo lại có phần quy mô hơn, trong đó địa hình núi lửa trở thành một yếu tố nổi bật trong cảnh quang thiên nhiên của khu vực này Hầu hết các đỉnh núi cao nhất ở Inđônêxia

và Philippin đều là những núi lửa đang hoạt động hoặc đã tắt, như núi Kerinsi ở Xumatơra, Semera ở Giava, Rantemario ở Xulavêxi, Anpô trên đảo Minđanao Đông Nam Á là khu vực có nhiều quần đảo vào bậc nhất thế giới, tập trung chủ yếu ở hai quốc gia: Inđônêxia (17.508 hòn đảo) và Philippin (7.107 hòn đảo) Biển và vịnh ở Đông Nam Á kéo dài từ vùng biển Đông, bán đảo Đông Dương hướng ra Thái Bình Dương đến vịnh Inđônêxia của Ấn Độ Dương Đảo và quần đảo với những vịnh lớn, nhỏ, cùng với những eo biển nổi tiếng lâu đời đã tạo nên bức tranh thiên nhiên đa sắc và hùng vĩ của Đông Nam Á

Đó chính là những nét chung, thống nhất về mặt địa hình các quốc gia Đông Nam Á Bên cạnh những nét chung đó, ở mỗi quốc gia lại chứa đựng những nét riêng, khác biệt tạo nên cảnh sắc đa dạng, muôn màu muôn vẻ trong toàn khu vực

Với điều kiện khí hậu như đã nói trên sẽ gắn chặt với sự sinh tồn và phát triển của giới động, thực vật ở khu vực Đông Nam Á Thật vậy, với rừng tự nhiên đa dạng, mang nhiều màu sắc, cho nên thành phần trong giới động vật ở

Trang 38

khu vực Đông Nam Á cũng rất phong phú và đa dạng về chủng loài Trong rừng nhiệt đới ẩm thường xanh có khỉ, đười ươi, vượn, heo vòi, nhiều loài chim và bò sát… Trong rừng gió mùa, rừng thưa và xavan cây bụi tập trung nhiều động vật

ăn cỏ, ăn lá cây và động vật ăn thịt Đáng chú ý là có trâu rừng, linh dương, nai,

bò tót, bò xám, tê giác một sừng, voi, hổ, báo… Tất cả các loài này phân bố rộng, có ở cả bán đảo Trung - Ấn và vùng đảo Mã Lai Ngày nay, nhiều loài động vật quý như hổ, báo, bò rừng, tê giác… bị suy giảm nhanh và có nguy cơ

bị tuyệt chủng vì con người săn bắn bừa bãi và diện tích rừng bị thu hẹp Ngoài

ra, Đông Nam Á còn được coi là một “viện bảo tàng chim thú” - thiên đường của các nhà động vật học, với những loài chim ở đây có giá trị lớn về nhiều mặt

như kinh tế, khoa học, sản xuất, văn hóa - xã hội

 Các thuỷ lộ :

- Đông Nam Á lục địa có mạng lưới sông ngòi dày đặc, do đó giao thông đường thủy rất phát triển Các sông lớn có giá trị kinh tế cao ảnh hưởng đến toàn khu vực là: Sông Mêkông bắt nguồn từ Đông Trung Quốc qua nhiều quốc gia và chảy suốt đến biển Đông, sông Hồng ở Bắc Việt Nam, sông Salween và sông Irrawaddy ở Myanmar, sông Chaophraya ở Thái Lan Đây là những giao thông đường thuỷ chính của Đông Nam Á lục địa

 Biển

- Tất cả các nước Đông Nam Á đều có biển bao quanh (trừ Lào) Điều

kiện để phát triển các ngành kinh tế biển như khai thác dầu mỏ, đánh bắt, nuôi

trồng thuỷ sản, giao thông biển và du lịch biển

 Tài nguyên thiên nhiên

- Hệ sinh vật phong phú, với nhiều loại động thực vật quý hiếm Tài nguyên khoáng sản phong phú, số lượng lớn Thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp và công nghiệp

3 Lịch sử

Từ xa xưa, Đông Nam Á đã được coi như một khu vực địa lý quan trọng

Trang 39

Với lịch sử đã từng tồn tại qua nhiều thế kỷ, quá trình phát triển của khu vực này từ thời nguyên thủy cho đến nay, có thể chia thành 4 giai đoạn nhỏ:

3.1 Từ nguyên thủy đến thế kỷ X

Trong giai đoạn này có thể được tính từ khi con người bắt đầu hình thành cho đến thế kỷ X Được coi là giai đoạn hình thành, phát triển và định vị của văn hóa Đông Nam Á và cũng là thời gian các vương quốc cổ được hình thành Đây là giai đoạn có ý nghĩa lớn cả về lịch sử và văn hóa của toàn khu vực Đông Nam Á

Từ thời kỳ đồ đá cũ, người nguyên thủy Đông Nam Á bước vào thời kì đồ

đá giữa cách đây khoảng 10.000 năm, với những thay đổi vô cùng quan trọng

Đó là kỹ thuật chế tác đá được hoàn thiện và đạt đến đỉnh cao Tiêu biểu nhất đặc trưng nhất cho văn hóa đồ đá giữa ở Đông Nam Á là Văn hóa Hòa Bình (Việt Nam) Kĩ thuật đá Hòa Bình có mặt ở nhiều nơi ở khắp vùng Đông Nam Á: Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, v.v…do đó Văn hóa Hòa Bình là văn hóa chung của Đông Nam Á

Sau thời đại đồ đá giữa, người tiền sử Đông Nam Á bước vào thời đại đồ

đá mới, cách đây khoảng 5000 năm Điểm nổi bật là con người đã biết làm đồ gốm Ở Việt Nam, văn hóa đặc trưng cho thời kỳ này là Văn hóa Bắc Sơn Với việc làm đồ gốm, cư dân Đông Nam Á đã chuyển sang kinh tế sản xuất chứ không chỉ kinh tế khai thác thiên nhiên như trước đây Đây là bước chuyển rất

có ý nghĩa trong cuộc sống của họ

Vào thời kỳ sơ sử, cách đây khoảng 4000 năm, cư dân Đông Nam Á bước vào một thời kỳ mới mà các nhà khoa học thường gọi là thời kỳ kim khí Thời

kỳ đã có sự xuất hiện của dụng cụ bằng đồng Chính vì thế thời kỳ này còn được gọi là thời đại đồ đồng Nền văn hóa tiêu biểu nhất của thời kỳ này là Văn hóa Đông Sơn (Việt Nam) với hàng loạt trống đồng, thạp đồng đủ các kích cỡ với một nghệ thuật trang trí tuyệt tác [Mai Ngọc Chừ, Văn hóa & ngôn ngữ Phương Đông, 2009, tr.114-122]

Từ khoảng đầu thiên niên kỷ II T.CN, cư dân Đông Nam Á, mà trước hết

Trang 40

là cư dân ở vùng đồng bằng sông Hồng (Việt Nam) và Thái Lan đã biết đến những công cụ bằng đồng thau Trên cơ sở của nền văn hóa Đồng thau, các tộc người ở Đông Nam Á lục địa đang đứng trước thềm của thời đại mới, đó là thời đại văn minh có giai cấp và nhà nước Thật vậy, quốc gia hình thành sớm nhất ở Đông Nam Á được xác định là nhà nước Văn Lang, thời kỳ văn hóa Đông Sơn, trên lưu vực sông Hồng (Việt Nam) Từ các điều kiện lịch sử đã chín muồi, nhà nước Văn Lang ra đời trên cơ sở của nhu cầu sản xuất, tự vệ, chống ngoại xâm trong điều kiện phân hóa giai cấp chưa thật sâu sắc

Quá trình hình thành các nhà nước ở Đông Nam Á do ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực Thông qua việc trao đổi sản phẩm cùng với quá trình tiếp thu văn hóa từ hai quốc gia này, trên

cơ sở bảo tồn nền văn hóa bản địa của mỗi tộc người, đã góp phần không nhỏ đến việc hình thành các nhà nước đầu tiên ở khu vực Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên cùng với ảnh hưởng của Trung Quốc, Ấn Độ chẳng những không làm lu mờ sự phát triển tự thân của các bộ tộc trong xã hội nguyên thủy, mà còn làm cho các nhà nước, quốc gia ở Đông Nam Á ra đời trên

cơ sở tiếp thu những tinh hoa từ hai nhà nước này

Ở phía nam Đông Nam Á lục địa, từ khoảng thiên niên kỷ đầu CN cho đến thế kỷ VII, đã có nhiều quốc gia sơ kỳ hình thành, tuy nhiên, thường là những tiểu quốc với thiết chế đơn giản, quy mô chưa rộng và được biết đến tên gọi của vương quốc này thông qua tên gọi của kinh đô hay vùng trung tâm của khu vực Theo các tài liệu có được, có khoảng 30 tiểu quốc được hình thành rãi rác ở Đông Nam Á, trước tiên là Phù Nam trên đồng bằng sông Cửu Long (Mê Kông), chủ yếu ở khu vực miền Tây sông Hậu, từ thế kỷ I Tiếp theo là nước Lâm Ấp, từ thế kỷ II, sau là Chăm Pa từ sông Gianh đến sông Dinh ở cực nam miền Trung Việt Nam ngày nay, tiếp giáp nước Phù Nam, Bơhavapura ở Nam Khorat (Thái Lan)… Vào thời kỳ này, các quốc gia sơ kỳ ở khu vực Đông Nam

Á được hình thành và phát triển, trong đó, vai trò nổi bật nhất là Phù Nam và ít nhiều là nước Lâm Ấp, chủ yếu với các hoạt động giao lưu, thương mại Đông -

Ngày đăng: 18/02/2023, 18:54

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w