1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn (Nghề Nghiệp vụ nhà hàng khách sạn Trung cấp)

156 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn (Nghề Nghiệp vụ nhà hàng khách sạn trung cấp)
Trường học Trường Cao đẳng Nghề Kỹ Thuật Công nghệ
Chuyên ngành Nghề nghiệp vụ nhà hàng khách sạn
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Một số khái niệm cơ bản (11)
    • 1.1 Khái niệm du lịch (11)
    • 1.2 Khái niệm khách du lịch (14)
    • 1.3 Khái niệm điểm đến du lịch (15)
    • 1.4. Khái niệm Khách sạn (16)
  • 2. Các loại hình du lịch (16)
    • 2.1. Căn cứ vào môi trường tài nguyên (16)
    • 2.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ (20)
    • 2.3. Căn cứ vào mục đích chuyến đi (21)
    • 2.4 Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch (25)
    • 2.5. Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến (26)
    • 2.6 Các cách phân loại khác (28)
    • 3.1. Nhu cầu du lịch (31)
    • 3.2. Sản phẩm du lịch (36)
  • 4. Thời vụ du lịch (37)
    • 4.1. Khái niệm và đặc điểm của thời vụ du lịch (37)
    • 4.2. Các nhân tố tác động đến thời vụ du lịch (39)
    • 4.3. Một số giải pháp khắc phục sự bất lợi của thời vụ du lịch (43)
  • 5. Một số loại hình cơ sở lu lịch tiêu biểu (45)
    • 5.1 Khách sạn (45)
    • 5.2 Nhà nghỉ du lịch (45)
    • 5.3 Motel (49)
    • 5.4 Bungalow (55)
    • 5.5 Làng du lịch (59)
  • CHƯƠNG 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA DU LỊCH VÀ MỘT SỐ LĨNH VỰC KHÁC, CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH (67)
    • 1.1. Mối quan hệ giữa du lịch và kinh tế (0)
    • 1.2 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa – xã hội (79)
    • 1.3 Tác động môi trường của du lịch (88)
    • 2.2. Điều kiện về khả năng cung ứng du lịch (101)
  • CHƯƠNG 3. KHÁCH SẠN (134)
    • 2.1 Phân loại (139)
    • 2.2. Xếp hạng khách sạn (145)

Nội dung

Trong chương 1, sẽ trang bị cho người học những kiến thức cơ bản như: Hiểu được về khái niệm về du lịch, du khách và các khái niệm liên quan, Phân tích được các điều kiện phát triển du l

Một số khái niệm cơ bản

Khái niệm du lịch

Con người luôn tò mò về thế giới xung quanh, mong muốn tìm hiểu về cảnh quan, địa hình, hệ động thực vật và nền văn hóa của những nơi khác Du lịch trở thành một hiện tượng quan trọng trong đời sống con người, không còn là sở thích riêng hay đặc quyền của nhóm người nào, mà đã trở thành nhu cầu xã hội phổ biến nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau do tiếp cận từ các góc độ khác nhau.

 Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người

Du lịch đã từng là một hiện tượng xã hội đặc quyền của giới giàu có và quý tộc trước thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, góp phần làm phong phú đời sống và nhận thức của con người Đây là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến những địa điểm xa lạ với nhiều mục đích khác nhau, ngoại trừ tìm kiếm việc làm, và trong quá trình này họ tiêu tiền từ nguồn thu nhập của mình Các giáo sư Thụy Sĩ Hunziker và Krapf đã xác định du lịch là tập hợp các hiện tượng và mối quan hệ phát sinh từ việc đi lại, lưu trú của những người không có ý định định cư và không liên quan đến hoạt động kiếm tiền Quan niệm này hiện cũng được tổ chức quốc tế AIEST công nhận, thể hiện tính toàn diện và chuẩn mực của khái niệm du lịch.

Theo quan niệm này, du lịch được hiểu là hoạt động đi lại để tham quan, nghỉ dưỡng, tuy nhiên đây còn là khái niệm nền tảng để xác định người đi du lịch Nó đóng vai trò như nền tảng hình thành nên cầu nối phát triển ngành du lịch trong tương lai.

Du lịch là hoạt động khi con người vượt qua biên giới để tham gia các hoạt động giải trí hoặc công việc, với thời gian lưu trú từ ít nhất 24 giờ đến tối đa 1 năm Theo Mill và Morrison, đây là hành động nhằm mục đích khám phá, trải nghiệm văn hóa hoặc thư giãn, phản ánh các hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong mỗi chuyến đi Du lịch không chỉ đơn thuần là hành trình mà còn liên quan đến các hoạt động liên quan đến khám phá và tận hưởng môi trường mới.

Chuyến đi của con người thường bắt nguồn từ nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình Đây là hoạt động thúc đẩy sự khám phá và trải nghiệm mới, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy ngành du lịch phát triển bền vững.

Từ các góc độ nói trên, bản chất của du lịch được chỉ rõ thông qua 5 đặc điểm chính như sau:

1 Du lịch nảy sinh từ sự di chuyển và lưu trú của con người từ các nơi đến khác nhau

2 Có hai yếu tố chính trong hoạt động du lịch: Hành trình tới nơi đến và lưu lại, trong đó bao gồm cả hoạt động ở nơi đến

3 Chuyến đi và lưu trú xảy ra bên ngoài nơi cư trú và làm việc thường xuyên, do đó du lịch làm nảy sinh những hoạt động của người đi du lịch ở nơi đến khác biệt với những hoạt động của cư dân sinh sống và làm việc ở đây

4 Sự di chuyển tới nơi đến mang tính tạm thời, thời gian ngắn và sau đó quay trở về trong khoảng vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng

5 Chuyến đi với nhiều mục đích song không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm tại nơi viếng thăm.

Các phương pháp tiếp cận hiện tại đều nhấn mạnh rằng bản chất của du lịch chủ yếu được xem là một hiện tượng và hoạt động phát sinh từ nhu cầu của khách du lịch Chính vì vậy, du lịch không chỉ đơn thuần là một trải nghiệm giải trí mà còn phản ánh các yếu tố nhu cầu cá nhân và xã hội Hiểu rõ góc độ này giúp nhận diện rõ hơn vai trò và bản chất của du lịch trong đời sống hàng ngày, từ đó điều chỉnh các chiến lược phát triển phù hợp.

Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế

Khi đi du lịch, con người thường phát sinh các nhu cầu về đi lại, ăn ở, giải trí và tự thỏa mãn các nhu cầu đó ban đầu Tuy nhiên, sau này những nhu cầu này trở thành cơ hội kinh doanh, dẫn đến sự hình thành ngành du lịch như một hoạt động kinh tế nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch Theo các học giả Mỹ McIntosh, Goeldner và Ritchie, du lịch là ngành tổng hợp của các lĩnh vực như lữ hành, khách sạn, vận chuyển và các yếu tố xúc tiến quảng bá, nhằm phục vụ các mong muốn đặc biệt của khách hàng Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng thống nhất nhìn nhận ngành du lịch một cách rộng rãi như một tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch trong và ngoài nước.

Khi xem du lịch như một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết cho các hành trình, du lịch được hiểu là ngành kinh tế cung cấp hàng hóa và dịch vụ dựa trên việc kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch Mục tiêu của ngành là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách, tạo ra trải nghiệm chuyến đi ý nghĩa và đáp ứng mong đợi của khách hàng.

Để hiểu rõ bản chất của du lịch một cách toàn diện, các tác giả McIntosh, Goelder và Ritchie nhấn mạnh việc tiếp cận du lịch một cách tổng hòa, xem xét tất cả các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch Việc cân nhắc đầy đủ các thành phần này giúp khái quát và phân tích sâu sắc hơn về lĩnh vực du lịch.

Khách du lịch là những người tìm kiếm trải nghiệm và sự thỏa mãn về vật chất hoặc tinh thần, ảnh hưởng đến lựa chọn điểm đến và hoạt động tham gia Bản chất của du khách quyết định các địa điểm du lịch phù hợp và các hoạt động thưởng thức để đáp ứng mong muốn của họ Hiểu rõ đặc điểm của khách du lịch giúp phát triển các dịch vụ và trải nghiệm phù hợp, nâng cao sự hài lòng và thu hút lượng khách lớn hơn.

Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch xem du lịch là cơ hội để kiếm lợi nhuận Họ tập trung vào việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Điều này giúp thúc đẩy ngành du lịch phát triển bền vững và mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.

Chính quyền địa phương xem du lịch là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế địa phương, nhờ vào nguồn thu từ hoạt động kinh doanh du lịch, thu ngoại tệ từ khách quốc tế và doanh thu thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước Du lịch góp phần tạo việc làm và phát triển các ngành liên quan, mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho cộng đồng địa phương Chính quyền nhận thức rõ vai trò của du lịch trong việc nâng cao thu nhập và thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực.

Dân cư địa phương xem du lịch là nguồn tạo ra việc làm và thúc đẩy giao lưu văn hóa Hiệu quả của sự tương tác giữa lượng lớn du khách quốc tế và cộng đồng địa phương đóng vai trò quan trọng, mang lại lợi ích to lớn nhưng cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực nếu không được quản lý hợp lý.

Du lịch được hiểu là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách Phương pháp này phản ánh đầy đủ và toàn diện các hoạt động cũng như mối quan hệ liên quan đến ngành du lịch, đảm bảo hiểu rõ các yếu tố tác động qua lại nhằm phát triển du lịch bền vững.

Khái niệm khách du lịch

Du khách (khách du lịch) là chủ thể chính trong hoạt động du lịch, đóng vai trò trung tâm trong hệ thống các hoạt động này Hiểu đơn giản, du khách là người đi du lịch, nhưng định nghĩa về du khách có sự khác biệt theo từng thời kỳ và quốc gia, phản ánh sự đa dạng trong các quan niệm về hành vi và vai trò của du khách trong ngành du lịch.

Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà (2004), khái niệm về du khách lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp, phản ánh các hành trình của du khách nước ngoài khi đến Pháp Các hành trình của người Đức, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh ở Pháp được chia thành hai loại chính: cuộc hành trình nhỏ “Le peptit tour” từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp và cuộc hành trình lớn “Le grand tour” theo bờ Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam Pháp và vùng Bourgogne Do đó, du khách được định nghĩa là người thực hiện cuộc hành trình lớn “Le grand tour”, góp phần làm rõ ý nghĩa của du lịch trong lịch sử phát triển.

Từ điển Oxford lần đầu tiên ghi nhận thuật ngữ “tourist” (khách du lịch) vào năm 1811, theo hai tác giả Trung Quốc Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2000) Thuật ngữ này mô tả người đến từ nơi khác để tham quan hoặc du ngoạn, thể hiện ý nghĩa hành trình khám phá và vui chơi của khách du lịch.

Vào đầu thế kỷ XX, Lozep Stander (Nhà kinh tế học người Áo) định nghĩa:

Khách du lịch là những hành khách xa hoa, thường ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn nhu cầu cao cấp, không chỉ đơn thuần nhằm mục đích kinh tế Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà (2004), những du khách này chú trọng vào trải nghiệm cá nhân và sự đa dạng trong hành trình du lịch Họ thường tìm kiếm các dịch vụ và địa điểm cao cấp, phù hợp với phong cách sống thượng lưu, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển theo hướng phục vụ phân khúc khách hàng cao cấp.

Theo nhà kinh tế học người Anh, Odgilvi, để trở thành khách du lịch, cần đáp ứng hai điều kiện chính: thứ nhất, phải đi xa nhà trong thời gian dưới một năm; thứ hai, phải chi tiêu tại địa điểm lưu trú bằng số tiền kiếm được từ nguồn khác (Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà, 2004).

Hội nghị của Tổ chức Du lịch quốc tế tổ chức tại Roma năm 1968 đã đưa ra định nghĩa về khách du lịch, khẳng định rằng “bất cứ ai ngủ một đêm tại nơi không phải nhà của mình và mục đích chính của chuyến đi không nhằm kiếm tiền đều được coi là khách du lịch” (theo Nguyễn Văn Lưu, 2005) Định nghĩa này làm rõ rằng khách du lịch không chỉ dựa trên thời gian lưu trú mà còn dựa trên mục đích chuyến đi, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của ngành du lịch trong nền kinh tế và xã hội.

Theo Luật du lịch Việt Nam (2005), khách du lịch được định nghĩa là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, nhằm mục đích tham quan, nghỉ dưỡng hoặc trải nghiệm văn hóa, ngoại trừ các trường hợp đi học, đi làm hoặc hành nghề để nhận thu nhập tại địa phương Điều này giúp xác định rõ đối tượng khách du lịch hợp pháp và phục vụ công tác quản lý, phát triển ngành du lịch của quốc gia.

Vào ngày 4/3/1993, theo đề nghị của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Ủy ban Thống kê Liên Hiệp Quốc chính thức công nhận các thuật ngữ nhằm thúc đẩy sự thống nhất trong phương pháp thống kê du lịch toàn cầu Sự kiện này đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa các khái niệm liên quan đến ngành du lịch, giúp nâng cao tính chính xác và hiệu quả của các số liệu thống kê Việc thống nhất thuật ngữ của UNWTO và Ủy ban Thống kê LHQ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch quốc tế.

Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm khách quốc tế đến du lịch (Inbound Tourist) và khách quốc tế đi du lịch ra nước ngoài (Outbound Tourist).

Khách du lịch trong nước bao gồm công dân của quốc gia đó và người nước ngoài đang sinh sống trên lãnh thổ, đều có hoạt động du lịch tại chính quốc gia mình sinh sống.

Khách du lịch nội địa (Domestic Tourist) bao gồm khách du lịch trong nước (Internal Tourist) và khách quốc tế đến du lịch (Inbound Tourist)

Khách du lịch quốc gia (National Tourist) bao gồm khách du lịch trong nước (Internal Tourist) và khách quốc tế đi du lịch ra nước ngoài (Outbound Tourist).

Tại Việt Nam, quan niệm về các loại khách du lịch khá đơn giản, theo Điều 34, Chương V của Luật Du lịch 2005, "Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế." Do đó, khách du lịch nội địa còn được gọi là khách du lịch trong nước, mang ý nghĩa rõ ràng trong quy định pháp luật.

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), khách du lịch quốc tế được định nghĩa là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đến Việt Nam để du lịch, cũng như công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài để du lịch.

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, khách du lịch nội địa được định nghĩa là công dân Việt Nam và người nước ngoài thường trú tại Việt Nam tham gia các hoạt động du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đây là nhóm khách hàng chủ yếu góp phần vào sự phát triển ngành du lịch trong nước Hiểu rõ về đối tượng khách du lịch nội địa giúp các doanh nghiệp du lịch xây dựng các chiến lược phù hợp để thu hút và phục vụ họ hiệu quả hơn.

Khái niệm điểm đến du lịch

Tài nguyên du lịch gồm có cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên và di tích lịch sử - văn hóa, cùng với các công trình sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn đặc biệt Những tài nguyên này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các khu, điểm, tuyến du lịch cũng như đô thị du lịch Chính các yếu tố này tạo nên những sản phẩm du lịch hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu khám phá và trải nghiệm của du khách. -**Sponsor**Bạn muốn tối ưu hóa bài viết du lịch của mình? [Soku AI](https://pollinations.ai/redirect-nexad/F2sV98hU?user_id=983577) có thể giúp bạn! Soku AI, được đào tạo bởi các chuyên gia Facebook và Meta, có thể tự động nghiên cứu, chọn lọc nội dung quan trọng, tối ưu hóa SEO và tạo ra đoạn văn mạch lạc từ tài nguyên du lịch của bạn, như cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, và công trình sáng tạo, để thu hút khách du lịch Với Soku AI, bạn sẽ có được nội dung hấp dẫn và hiệu quả mà không cần tốn nhiều công sức Hãy để Soku AI biến ý tưởng của bạn thành hiện thực!

16 Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Lữhành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộchương trình du lịch cho khách du lịch

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch

Sản phẩm du lịch gồm các dịch vụ, hàng hóa và tiện nghi phục vụ khách du lịch, phản ánh sự kết hợp của các yếu tố tự nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hoặc địa phương Đây là những yếu tố quan trọng tạo nên trải nghiệm du lịch đa dạng và hấp dẫn cho khách hàng Sản phẩm du lịch không chỉ đa dạng về hình thức mà còn phản ánh đặc trưng văn hóa và tự nhiên của địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch bền vững.

Khái niệm Khách sạn

Khách sạn là cơ sở kinh doanh lưu trú phổ biến toàn cầu, mang lại chất lượng dịch vụ và tiện nghi thiết yếu để phục vụ khách hàng Các khách sạn đảm bảo cung cấp các dịch vụ nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các tiện ích khác nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách trong suốt thời gian lưu trú Với kiến trúc đa dạng và dịch vụ chất lượng, khách sạn phù hợp với các mục đích và động cơ chuyến đi của từng khách hàng, từ du lịch, công tác đến nghỉ dưỡng.

Các loại hình du lịch

Căn cứ vào môi trường tài nguyên

Du lịch thiên nhiên (du lịch sinh thái) thu hút những người yêu thích tận hưởng không khí trong lành ngoài trời, thưởng ngoạn cảnh đẹp và khám phá đời sống động thực vật hoang dã phong phú.

Những người du lịch trong nhóm này thường tìm đến vẻ đẹp hoang sơ và cuộc sống tự nhiên của Vườn Quốc gia Xuân Thủy, nổi bật với hệ sinh thái phong phú và môi trường trong lành Đồng thời, họ không bỏ lỡ cơ hội thưởng ngoạn vẻ đẹp hùng vĩ của khu du lịch Bà Nà, nơi có cảnh quan núi non đẹp mê hoặc và khí hậu mát mẻ, mang đến trải nghiệm du lịch thực sự độc đáo.

Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Loại hình này gắn liền với bản sắc văn hoá địa phương, tạo cơ hội gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa bản địa Du lịch sinh thái khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương, giúp nâng cao ý thức cộng đồng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại khu vực Với mục tiêu thúc đẩy du lịch thân thiện với môi trường, du lịch sinh thái góp phần bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên và duy trì cân bằng môi trường.

EcoTourism là hình thức du lịch có trách nhiệm tại các điểm đến thiên nhiên, nhằm bảo tồn môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng địa phương Mặc dù ra đời muộn, nhưng du lịch sinh thái nhanh chóng phát triển và có tiềm năng lớn, đặc biệt trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia Phát triển du lịch sinh thái góp phần gắn kết du lịch với công tác bảo tồn và thúc đẩy phát triển kinh tế cộng đồng địa phương.

Minh họa 1: Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái xuất phát từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời, mặc dù đã tồn tại từ lâu nhưng ít được chú ý Các hoạt động này thực sự phát triển mạnh kể từ khi ngành hàng không phát triển và nhận thức về bảo vệ tài nguyên môi trường tăng cao, đặc biệt sau các hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Stockholm (1972) và Rio de Janeiro (1992) Du lịch sinh thái trở thành công cụ hiệu quả để thỏa mãn nhu cầu khám phá thiên nhiên của con người, đồng thời gắn kết bảo vệ tài nguyên môi trường với phát triển du lịch bền vững.

Du lịch sinh thái đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, góp phần tạo việc làm và thu ngoại tệ Tại Kenya, năm 1994, ngành du lịch sinh thái trở thành ngành xuất khẩu lớn nhất, đóng góp 35% thu nhập ngoại tệ và 11% tổng sản phẩm quốc gia Ở Mỹ, các hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn thu hút khoảng 270 triệu lượt khách mỗi năm, mang lại hàng chục tỷ đô la doanh thu Ngoài ra, các quốc gia như Mexico, Úc, Malaysia, Colombia, Brazil và Ethiopia cũng xem du lịch sinh thái là lĩnh vực then chốt trong việc thu ngoại tệ và thúc đẩy phát triển bền vững.

Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể nhưng theo nghiên cứu sơ bộ của

Fillion (1992), du lịch sinh thái đă đóng góp 223 tỷ đô la trong thu nhập của nhiều quốc gia

Du lịch sinh thái không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn đóng vai trò quan trọng trong bảo tồn thiên nhiên và phát triển cộng đồng địa phương Tại Costa Rica, Venezuela, một số chủ trang trại đã bảo vệ rừng nhiệt đới và biến chúng thành điểm du lịch sinh thái, tạo việc làm cho người dân địa phương Ecuador sử dụng nguồn thu từ du lịch sinh thái tại đảo Galápagos để duy trì mạng lưới vườn quốc gia, giúp người dân trong các khu bảo tồn phát triển nghề thủ công và tham gia hoạt động du lịch để đảm bảo sinh kế, đồng thời hạn chế tác động đến rừng Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển chậm nhưng sau năm 1990, nhờ chính sách mở cửa, lượng khách quốc tế và nội địa tăng mạnh, góp phần nâng cao thu nhập xã hội Các hoạt động du lịch sinh thái tại các khu bảo tồn và vườn quốc gia, cùng du lịch biển, đã đóng góp lớn trong sự tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam, như tại các vườn quốc gia Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo và Bạch Nam.

Các khu bảo tồn thiên nhiên như Phong Nha - Kẻ Bàng, Hồ Kẻ Gỗ ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể về lượng khách tham quan, với trung bình mỗi năm số khách nội địa tăng 50% và khách quốc tế tăng 30% Đây là xu hướng tích cực thể hiện sự ngày càng quan tâm của du khách đối với các điểm đến thiên nhiên tại Việt Nam Sự phát triển của các khu bảo tồn không chỉ góp phần thúc đẩy ngành du lịch bền vững mà còn nâng cao nhận thức cộng đồng về việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Các chiến lược quảng bá hiệu quả và hạ tầng ngày càng完善 giúp các địa điểm này thu hút đông đảo du khách cả trong nước lẫn quốc tế.

1995 – 1998 du lịch sinh thái đạt tăng trưởng 16,5%

Du lịch sinh thái tại Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự phát triển cộng đồng và bảo vệ tài nguyên môi trường Nhờ phát triển du lịch sinh thái, cư dân trong các vùng đệm của vườn quốc gia và khu bảo tồn có cơ hội việc làm, nâng cao mức sống và thúc đẩy bảo tồn các lễ hội, tập tục cũng như ngành nghề thủ công truyền thống.

(Nguồn: www.vietnamtourism.gov.vn)

Du lịch văn hóa hấp dẫn những du khách có sở thích khám phá truyền thống lịch sử, phong tục tập quán và nền văn hóa nghệ thuật của điểm đến Những khách du lịch này thường dành thời gian tham quan bảo tàng, tham dự các lễ hội truyền thống và trải nghiệm đặc trưng văn hóa địa phương Tiềm năng của du lịch văn hóa góp phần thúc đẩy quảng bá giá trị văn hóa đặc sắc của từng điểm đến, thu hút du khách yêu thích khám phá và tìm hiểu về quá khứ và nét đẹp văn hóa truyền thống.

Du lịch văn hóa dựa trên giá trị văn hóa truyền thống và sự tham gia cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc Đây là loại hình du lịch đặc thù của các quốc gia đang phát triển, thu hút khách quốc tế nhờ vào các sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thống và phong tục tín ngưỡng Đối tượng khách chủ yếu là những người yêu thích nghiên cứu, khám phá phong tục tập quán địa phương, giúp thúc đẩy phát triển địa phương và cải thiện đời sống cộng đồng Các quốc gia như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc và các nước Nam Mỹ nổi bật với du lịch văn hóa, tận dụng nguồn lực tự nhiên và đa dạng văn hóa để phát triển bền vững Tại Việt Nam, hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên đặc điểm vùng miền như Lễ hội Đất Phương Nam, du lịch Điện Biên, Con đường Di sản miền Trung, và nổi bật nhất là Festival Huế Mục tiêu của du lịch văn hóa là thúc đẩy xóa đói giảm nghèo và nâng cao hình ảnh đất nước, phù hợp với xu hướng toàn cầu và lợi thế của Việt Nam.

20 tổ chức thường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế

Năm 2004, Việt Nam lần thứ ba giới thiệu lễ hội dân gian của miền Trung đến du khách quốc tế, nhằm quảng bá nét văn hóa đặc sắc của khu vực Ngoài ra, lễ hội dân gian này còn thu hút sự tham gia của các nước Pháp, Trung Quốc, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa và tăng cường hợp tác quốc tế.

Hình 1 : Một số hình ảnh minh họa về loại hình du lịch văn hóa

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ

Các tác giả McIntosh, Goeldner và Ritchie đã sử dụng tiêu thức này để phân chia thành các loại hình du lịch sau:

Du lịch quốc tế là hành trình vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ của quốc gia, mang lại lợi ích lớn về ngoại tệ và thúc đẩy phát triển kinh tế Tuy nhiên, du khách thường gặp phải ba trở ngại chính gồm ngôn ngữ, tiền tệ và thủ tục đi lại phức tạp, ảnh hưởng đến trải nghiệm của họ Hoạt động du lịch quốc tế tạo ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia, góp phần vào cán cân thanh toán của nền kinh tế Loại hình du lịch này được phân chia thành hai loại chính: du lịch nghỉ dưỡng và du lịch kinh doanh, mỗi loại mang lại cơ hội và thách thức riêng cho du khách lẫn ngành du lịch.

+ Du lịch quốc tế đến là chuyến viếng thăm của những người từ các quốc gia khác

+ Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác.

- Du lịch trong nước là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ

+ Du lịch nội địa bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến.

+ Du lịch quốc gia bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài

Trong thực tế ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch nội địa đề cập đến các chuyến đi du lịch trong nước của người Việt Nam, tương đương với khái niệm du lịch nội bộ theo McIntosh, Goeldner và Ritchie Ngoài ra, du lịch nội địa còn bao gồm những trường hợp người nước ngoài tạm thời sinh sống hoặc làm việc tại Việt Nam khi họ tham gia hoạt động du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam du lịch được xem là khách du lịch quốc tế, thuộc loại hình du lịch quốc tế đến Trong khi đó, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam khi đi du lịch ra nước ngoài sẽ được coi là khách du lịch quốc tế và thuộc loại hình du lịch ra nước ngoài.

Căn cứ vào mục đích chuyến đi

Du lịch tham quan đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao kiến thức và hiểu biết cá nhân, giúp khám phá các di sản văn hóa, di tích lịch sử, công trình kiến trúc nghệ thuật, lễ hội đặc sắc, làng nghề truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số Loại hình du lịch này mang lại tác dụng nhận thức rất lớn, giúp con người hiểu rõ hơn về nền kinh tế, chế độ xã hội, chất lượng cuộc sống của mỗi địa phương và quốc gia, đồng thời có thể thưởng ngoạn các cảnh quan thiên nhiên kỳ quan Thời gian lưu lại của khách chủ yếu ngắn trong khoảng một vài phút đến một giờ, phù hợp với đối tượng là những người có trình độ văn hóa cao như nhà giáo, nhà khoa học, nhà sử học Ưu điểm lớn của du lịch tham quan là không bị ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, góp phần cân bằng sự phát triển của ngành du lịch.

Du lịch giải trí nhằm mục đích giúp du khách thư giãn, xả hơi và phục hồi sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần Trong chuyến đi, nhu cầu vui chơi, giải trí đóng vai trò không thể thiếu để nâng cao trải nghiệm của du khách Với sự phát triển của xã hội và tăng mức sống, số lượng người tham gia du lịch giải trí bằng các hoạt động giải trí, trò chơi cũng tăng đáng kể Để đáp ứng xu hướng này, cần mở rộng các loại hình dịch vụ giải trí như khu du lịch, công viên, làng du lịch, khu vui chơi giải trí, sòng bạc ở Việt Nam, mặc dù ngành này còn chưa phát triển hoàn toàn về mặt công nghệ do điều kiện kinh tế hạn chế, nhưng vẫn thu hút đông đảo khách nội địa và quốc tế, đặc biệt trong các dịp lễ, Tết Các địa điểm nổi bật như Đầm Sen, Suối Tiên tại TP.HCM là những ví dụ tiêu biểu Để thúc đẩy phát triển du lịch giải trí, việc đầu tư, quy hoạch và đào tạo nhân viên chuyên nghiệp là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút ngày càng nhiều du khách.

Du lịch nghỉ dưỡng thu hút du khách đến các bãi biển, suối nước khoáng, và nguồn nước nóng có giá trị y học cao để chữa bệnh, đồng thời giúp giảm căng thẳng sau những ngày làm việc căng thẳng trong đời sống công nghiệp Không gian du lịch phải đảm bảo thoáng mát, yên tĩnh và có đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp để mang lại trải nghiệm tốt nhất Thời gian lưu lại của khách trong loại hình này thường kéo dài và chủ yếu hướng tới công nhân lao động, người già Hiện nay, ở Việt Nam, các bộ ngành đang xây dựng nhiều nhà nghỉ tại các bãi biển đẹp, vừa để kinh doanh, vừa tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân đi nghỉ vào mùa hè Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết và khí hậu, hiệu quả khai thác loại hình du lịch này thường phụ thuộc vào mùa vụ, gây ra hạn chế trong sử dụng quanh năm.

Du lịch thể thao là hình thức du lịch gắn liền với sở thích và nhu cầu của khách hàng liên quan đến các môn thể thao Loại hình này bao gồm hai nhóm khách chính: vận động viên trực tiếp tham gia thi đấu tại các sự kiện như Olympic, World Cup hoặc khám phá các địa danh có tiềm năng thể thao như leo núi, trượt tuyết, săn bắn, bơi lội; và các cổ động viên theo dõi, cổ vũ các cuộc thi đấu Du lịch thể thao mang lại nguồn thu lớn cho địa phương nhờ lượng khách du lịch đông đảo và đa dạng Chính vì vậy, không ngẫu nhiên mà hình thức này trở thành một trong những ngành du lịch phát triển mạnh mẽ trên thế giới.

Các quốc gia trên thế giới ngày càng tích cực chạy đua để trở thành chủ nhà của các kỳ Thế vận hội và World Cup Việc đăng cai mang lại lợi nhuận lớn và góp phần quảng bá hình ảnh đất nước toàn cầu Điều này nhằm thúc đẩy phát triển du lịch và thu hút khách du lịch quốc tế, mang lại lợi ích kinh tế lâu dài cho quốc gia đăng cai.

Trong lĩnh vực tổ chức tour du lịch thể thao, các doanh nghiệp lữ hành có thể chủ động đón khách tham gia cuộc thi, nhưng lại không thể dự đoán chính xác số lượng khách sẽ đến xem, chỉ có thể ước lượng lượng khách đến xem Do đó, các công ty lữ hành cần đóng vai trò bị động và dựa vào dự báo chính xác để cung cấp dịch vụ phù hợp Trong bối cảnh khách du lịch thể thao có xu hướng tăng nhanh, các nhà kinh doanh du lịch phải xây dựng các dự báo đáng tin cậy để tránh cung cấp dịch vụ thừa hoặc thiếu, phù hợp với nhu cầu thực tế của du khách.

Hiệu quả du lịch từ khách du lịch bị động không thể phủ nhận, và một trong những mục tiêu quan trọng của việc đăng cai tổ chức các kỳ thể thao lớn là khai thác nguồn tài chính lớn từ lượng khách du lịch này.

Du lịch tôn giáo là hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các tôn giáo khác nhau như Hồi giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Nho giáo, Do Thái Loại hình này đã tồn tại lâu đời và phổ biến tại các quốc gia phát triển, phản ánh nhu cầu tinh thần và mong muốn tìm hiểu nguồn gốc tôn giáo của mỗi cá nhân Ngoài những người theo đạo, còn có những du khách hiếu kỳ tham gia các hoạt động tôn giáo, góp phần làm tăng số lượng du khách quốc tế Các trung tâm tôn giáo nổi bật thế giới như Vatican, Mecca, Gieluxalun thu hút hàng triệu tín đồ và du khách mỗi năm Tại Việt Nam, mùa xuân là dịp các tín đồ Phật giáo hành hương về Yêu Tử, đạo Trúc Lâm, Chùa Hương, hay thăm nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, thể hiện rõ nét hoạt động du lịch tôn giáo phong phú và đa dạng.

Hoạt động hướng dẫn tham quan trong loại hình du lịch này đòi hỏi quy trình khảo sát, chọn lọc địa điểm phù hợp và chuẩn bị kỹ lưỡng theo một chương trình chi tiết Việc giới thiệu các điểm tham quan phải rõ ràng, hấp dẫn và đáp ứng đúng yêu cầu của khách du lịch nhằm nâng cao trải nghiệm chuyến đi Chất lượng hướng dẫn viên đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt thông tin chính xác, sinh động và tạo sự hứng khởi cho du khách trong suốt hành trình.

24 cần phải định hướng cho khách về thông tin biểu hiện tính tích cực, tránh thần thánh hoá, tránh đưa con người vào bi quan, bi lụy

Du lịch thăm thân phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp xã hội, gặp mặt, chia sẻ niềm vui và nỗi buồn cùng bà con, họ hàng, bạn bè thân quen Đây là hình thức du lịch quan trọng đối với các quốc gia có nhiều người sống ở nước ngoài như Việt Nam, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Nam Tư, góp phần giữ gìn giá trị văn hóa và củng cố các mối quan hệ gia đình Thường diễn ra trong thời gian dài, vào các dịp đặc biệt như Tết, quốc khánh hay lễ hội, du khách thường chỉ mua dịch vụ không trọn gói từ các công ty lữ hành Mỗi lần về thăm quê, du khách mang về lượng ngoại tệ lớn, góp phần tích lũy nguồn ngoại tệ cho quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

Việt Nam là quốc gia có lượng Việt kiều đông đảo hàng năm đón hàng trăm nghìn người về thăm quê hương, trở thành thị trường khách tiềm năng cho các doanh nghiệp lữ hành quốc tế Ngoài ra, du lịch thăm thân nội địa cũng ngày càng phổ biến, phần lớn nhờ vào đặc điểm lịch sử để lại trong cộng đồng người Việt.

Du lịch MICE là hình thức du lịch kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm và các sự kiện đặc thù như du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên và đối tác MICE, viết tắt của Meeting (họp), Incentive (khen thưởng), Conference (hội nghị, hội thảo), và Exhibition (triển lãm), mang lại nguồn thu lớn cho ngành du lịch quốc tế Đoàn khách MICE thường rất đông, từ vài trăm người, và chi tiêu cao hơn so với khách du lịch thông thường do yêu cầu về dịch vụ cao cấp và các chương trình thiết kế riêng biệt sau hội nghị Tại Việt Nam, loại hình du lịch này đã được khai thác từ nhiều năm nay và mang lại kết quả khả quan, trở thành một trong những mục tiêu chiến lược phát triển ngành du lịch của quốc gia Theo đánh giá của các chuyên gia UNWTO, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển du lịch MICE và nếu thành công, sẽ trở thành đối thủ đáng gờm của Singapore trong lĩnh vực này.

Trung tâm MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay nổi bật nhờ cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển tuyệt đẹp và hệ thống khách sạn, resort phát triển đồng bộ Tuy nhiên, để thúc đẩy phát triển ngành MICE tại Việt Nam, UNWTO đề xuất thành lập MICE Bureau nhằm tổ chức xúc tiến, xây dựng chiến lược marketing hiệu quả, cải thiện hạ tầng như visa, sân bay, khách sạn để phục vụ khách MICE tốt hơn Việc xác định vị trí xây dựng trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế phải gần sân bay và khách sạn, thuận tiện đi lại, giao dịch nhằm thu hút khách quốc tế Ngoài ra, các giải pháp phát triển còn tập trung vào phân tích số liệu thị trường, xây dựng chiến lược quảng bá thương hiệu, phát triển website và thương mại điện tử, đồng thời mở các lớp đào tạo nguồn nhân lực trong và ngoài nước để nâng cao năng lực ngành MICE tại Việt Nam.

Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch

Valene Smith, nhà nhân chủng học, đã hợp tác với Đại học Pennsylvania để đề xuất một phương pháp phân nhóm du khách dựa trên tác động về kinh tế và xã hội của họ đến nước chủ nhà Phương pháp này xem xét các yếu tố quan trọng như phạm vi quan tâm của khách du lịch, ảnh hưởng đến môi trường, thời gian lưu trú và đối tượng dân cư mà du khách thường gặp gỡ cùng mục đích của các cuộc gặp gỡ đó Dựa trên các biến số này, các loại hình du lịch được phân loại rõ ràng, giúp hiểu rõ hơn về tác động của du khách đối với cộng đồng địa phương và môi trường.

Du lịch thám hiểm là hoạt động của các nhà nghiên cứu, học giả, người leo núi và nhà thám hiểm đi theo nhóm nhỏ, hoàn toàn thích nghi với điều kiện địa phương Họ sử dụng đồ dùng cá nhân, thức ăn chuẩn bị sẵn và hầu như không tiêu thụ các sản phẩm hay dịch vụ du lịch, do đó ít ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường của điểm đến Loại hình du lịch này góp phần bảo vệ đặc trưng địa phương và giữ gìn bền vững du lịch.

Du lịch thượng lưu là chuyến đi của tầng lớp thượng lưu đến những địa điểm độc đáo để giải trí và khám phá sự mới lạ Họ tận dụng các tiện nghi cao cấp dành cho khách du lịch, đồng thời dễ dàng thích nghi với điều kiện địa phương Nhóm khách này thường có số lượng ít, có nhu cầu về các sản phẩm du lịch chất lượng cao và ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá cả Chuyến du lịch của họ không chỉ mang lại trải nghiệm đẳng cấp mà còn có thể mở ra các cơ hội đầu tư có lợi cho điểm đến trong tương lai.

Du lịch khác thường thường dành cho những khách du lịch không thuộc tầng lớp thượng lưu, yêu thích khám phá những địa điểm xa xôi, hoang sơ và chưa bị thương mại hóa Họ quan tâm đến trải nghiệm văn hóa đặc sắc của các vùng đất mới, tìm kiếm những cuộc phiêu lưu độc đáo ngoài những hành trình phổ biến Loại hình du lịch này thúc đẩy sự khám phá chân thực, giúp du khách hòa mình vào cuộc sống địa phương và thưởng thức vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên.

Khách hàng thường bắt đầu với những trải nghiệm du lịch sơ khai hoặc tìm kiếm các phần bổ sung chưa có trong tour tiêu chuẩn Họ thể hiện khả năng thích nghi tốt và chấp nhận các điều kiện về sản phẩm, dịch vụ du lịch do địa phương cung cấp để có được trải nghiệm tối ưu.

Du lịch đại chúng tiền khởi là dòng khách ổn định, thường đi theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân đến các điểm đến an toàn, phổ biến và có khí hậu phù hợp Họ mong muốn các dịch vụ và tiện nghi tiêu chuẩn và sẵn sàng chấp nhận các điều kiện chưa đạt tiêu chuẩn của địa phương Nhu cầu của nhóm này ít bị ảnh hưởng bởi biến động giá, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch tại điểm đến Đây chính là bước mở đầu hình thành và phát triển của hình thức du lịch đại chúng.

- Du lịch đại chúng: Một số lượng lớn khách du lịch (thường từ Châu Âu hoặc Bắc

Dòng chảy khách du lịch từ Mỹ tạo ra làn sóng liên tục đến các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu Âu hoặc Hawaii trong mùa cao điểm du lịch Khách du lịch chủ yếu là tầng lớp trung lưu, mong muốn trải nghiệm các tiện nghi đạt tiêu chuẩn quốc tế, nhân viên phục vụ được đào tạo chuyên nghiệp và huyết dẫn viên ngoại ngữ phong phú để đáp ứng mọi nhu cầu Với số lượng lớn và phạm vi du lịch rộng, loại hình du lịch này đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành du lịch, thúc đẩy cả các quốc gia gửi khách lẫn điểm đến du lịch nâng cao uy tín và doanh thu.

Du lịch thuê bao là hình thức du lịch phát triển rộng rãi, nhắm vào các tầng lớp có thu nhập trung bình và thấp, tạo ra lượng khách lớn và thị trường sôi động Khách du lịch dạng này yêu cầu các tiện nghi tiêu chuẩn, đặc biệt về vận chuyển và lưu trú, với nhu cầu đàn hồi theo giá cả Dòng khách ồ ạt và chi tiêu của họ mang lại nguồn thu nhập lớn cho các doanh nghiệp và điểm đến, đồng thời thúc đẩy các khoản đầu tư đáng kể từ các quốc gia nguồn khách Tuy nhiên, loại hình này cũng tiềm ẩn nhiều tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội tại các điểm du lịch.

Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến

Du lịch bằng hàng không là hình thức phổ biến nhất mà phần lớn khách du lịch sử dụng để di chuyển Nhờ vào các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, ngành hàng không đã nâng cao hiệu quả và tiện ích cho hành khách Việc ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất và vận hành giúp đảm bảo an toàn, giảm thời gian di chuyển và nâng cao trải nghiệm du lịch cho khách hàng Với những tiến bộ vượt bậc, du lịch bằng hàng không ngày càng trở nên an toàn, nhanh chóng và thuận tiện hơn bao giờ hết, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch toàn cầu.

Các phương tiện vận chuyển hàng không ngày nay giúp con người có thể đi đến khắp mọi nơi trên trái đất Từ khinh khí cầu, các chuyến bay vượt đại dương, đến các dịch vụ Air Taxi không cần sân bay và tàu vũ trụ, tất cả đều góp phần mở rộng khả năng di chuyển Các hãng hàng không đóng vai trò then chốt trong việc vận chuyển khách du lịch, mang lại sự tiện lợi và kết nối toàn cầu.

Du lịch bằng đường bộ là hình thức phát triển mạnh nhờ hệ thống đường bộ ngày càng mở rộng, kết nối không chỉ các địa phương trong quốc gia mà còn liên kết với các quốc gia khác, thúc đẩy hoạt động du lịch liên tục tăng trưởng Khách du lịch có thể tự lái xe để khám phá trong nước hoặc du lịch nước ngoài, mang lại sự linh hoạt và tiện lợi Các quốc gia tại châu Âu và châu Mỹ đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của du lịch đường bộ, với lượng khách sử dụng phương tiện ô tô để khám phá các địa danh lớn và nhỏ.

- Du lịch bằng đường sắt: Đây là loại hình du lịch phát triển đầu tiên ở Anh do

Thomas Cook, được coi là cha đẻ của ngành đại lý du lịch trên thế giới, đã mở đường cho sự phát triển của ngành lữ hành toàn cầu Ngày nay, các phương tiện vận tải đường sắt được hiện đại hóa với tiện nghi sang trọng, tốc độ nhanh và đảm bảo an toàn, đang cạnh tranh với các hãng hàng không trong việc thu hút khách du lịch.

Du lịch bằng tàu biển là hình thức du lịch phát triển mạnh tại châu Âu và châu Mỹ, hiện đang mở rộng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương Đối tượng khách chủ yếu là những người giàu có, không chỉ về tài chính mà còn về thời gian, thường tham gia các chuyến hành trình kéo dài nhiều tháng qua nhiều quốc gia có cảng biển để tham quan Những chiếc tàu này hoạt động như khách sạn 5 sao nổi trên biển, cung cấp nhiều tiện ích như hồ bơi, sân thể thao, phòng chiếu phim, vũ trường để đáp ứng nhu cầu giải trí và nghỉ dưỡng của khách trong suốt hành trình.

Du lịch bằng tàu thuỷ phát triển mạnh ở những vùng có nhiều sông như sông Đanuyt ở Châu Âu và sông MêKông ở Châu Á, giúp khách du lịch tham quan nhiều quốc gia qua các dòng sông quốc tế Loại hình này thường kết hợp với du lịch tham quan văn hóa và lịch sử, mang lại trải nghiệm phong phú và hấp dẫn.

Dựa trên việc khách du lịch sử dụng các phương tiện vận chuyển tại điểm đến, các phương tiện này đóng vai trò quan trọng trong trải nghiệm du lịch Tại các khu du lịch và điểm du lịch nổi bật, hệ thống phương tiện vận chuyển đa dạng phong phú giúp khách dễ dàng di chuyển và khám phá các địa điểm hấp dẫn Việc cung cấp dịch vụ vận chuyển linh hoạt và tiện lợi góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, thu hút nhiều du khách hơn Các phương tiện vận chuyển phù hợp với nhu cầu của du khách không chỉ tăng cường sự tiện nghi mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch địa phương.

Du lịch đa dạng và phong phú với các phương tiện vận chuyển như ô tô, xe thô sơ (xích lô, ngựa kéo, trâu, bò kéo), thuyền, xe kéo bằng acquy, cáp treo, cùng những phương tiện độc đáo và hấp dẫn do ngành du lịch sáng tạo Động cơ du lịch, theo các nhà tâm lý, là nhân tố quan trọng thúc đẩy hành động, thể hiện qua nguyện vọng, sở thích và mong muốn khám phá cái mới Để kích thích động cơ này, ngành du lịch cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền và quảng cáo hiệu quả Xét về mặt khoa học, động cơ du lịch gồm hai nhân tố chủ yếu: nhân tố tâm lý — tìm kiếm trải nghiệm mới, thay đổi thói quen, mở rộng kiến thức, thể hiện bản thân và được ngưỡng mộ — và nhân tố thực tế, phản ánh các yếu tố khách quan thúc đẩy hành vi du lịch Vì vậy, du lịch thường được xem như một tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cuộc sống của mỗi người.

Các cách phân loại khác

Ngoài các cách phân loại phổ biến và có ý nghĩa nói trên còn có rất nhiều cách phân chia du lịch thành các loại hình khác Đó là:

Dựa trên đặc điểm địa lý của điểm đến du lịch, du khách có thể lựa chọn các loại hình phù hợp như du lịch biển để tận hưởng bãi cát và biển xanh mênh mông, du lịch núi để khám phá thiên nhiên và khí hậu mát mẻ, du lịch thành phố để trải nghiệm văn hóa, giải trí và mua sắm sầm uất, hoặc du lịch nông thôn như đồng quê, điền dã, trang trại, miệt vườn để thư thái, tìm hiểu cuộc sống giản dị và thưởng thức đặc sản địa phương Những yếu tố này giúp đa dạng hóa trải nghiệm du lịch, đồng thời thúc đẩy phát triển các loại hình du lịch phù hợp với đặc điểm tự nhiên và văn hóa của từng điểm đến.

- Căn cứ vào phương tiện lưu trú bao gồm du lịch ở khách sạn, motel, nhà trọ, bãi cắm trại và làng du lịch

Dựa trên thời gian du lịch, có thể phân loại thành du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày phù hợp với nhu cầu của từng khách hàng Đồng thời, theo lứa tuổi, các hình thức du lịch được thiết kế cho thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên, giúp đáp ứng các mục tiêu và sở thích riêng biệt của từng nhóm These classifications ensure that tourism experiences are tailored to diverse timeframes and age groups, enhancing satisfaction and engagement.

- Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch gia đình và du lịch cá nhân.

- Căn cứ vào phương thức hợp đồng bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng phần

Minh họa 2: Sự ra đời và phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới

Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành của ngành

Trong những năm đầu của thập niên 1980, du lịch nông thôn mới bắt đầu được xem như một hình thức du lịch phổ biến tại nhiều quốc gia châu Âu như Pháp, Hungary, Bungari, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Khái niệm này ban đầu được đồng nhất với các loại hình du lịch ở nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh và du lịch nhà nghỉ ở nông thôn, phản ánh sự đa dạng của các hoạt động du lịch tại các vùng quê Ở các quốc gia đang phát triển, du lịch nông thôn được xem là cách đa dạng hóa thu nhập từ nông nghiệp, chống đói nghèo, phát huy sức mạnh cộng đồng, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường, nên phát triển theo chiều rộng Ngược lại, tại các quốc gia phát triển, loại hình du lịch này lại phát triển theo chiều sâu, do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹp Tại Pháp, Bộ Du lịch đã đa dạng hóa các hoạt động như du lịch bãi biển và du lịch nông thôn, dự kiến xây dựng khoảng 300 điểm du lịch tại các vùng nông thôn với các dự án phát triển giao thông công cộng để thu hút du khách quốc tế Trung Quốc từ năm 1990 đã khởi động chương trình du lịch nông thôn nhằm chống đói nghèo ở các tỉnh như Vân Nam, Quảng Đông, với các điểm du lịch tại khu vực nông thôn đón khoảng 300 triệu khách mỗi năm, mang lại doanh thu hơn 5 tỉ USD Theo số liệu của Tổng cục Du lịch Trung Quốc, năm 2006, 30 điểm du lịch nông thôn quanh Thượng Hải đón gần 4 triệu khách, tăng 86% so với năm trước, đồng thời mỗi năm thu hút hàng chục triệu khách từ các thành phố lớn trong các kỳ nghỉ lễ lớn Tại Nhật Bản, kể từ năm 1995, Bộ Nông Lâm Thủy sản đã triển khai chương trình nhà nghỉ nông thôn do các hộ nông dân hoặc trang trại quản lý, phục vụ du khách với các dịch vụ lưu trú, góp phần thúc đẩy du lịch tại các vùng quê.

Du lịch nông thôn bắt đầu ở Hàn Quốc từ năm 1984 với một dự án của chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân, giúp nhiều làng quê nghèo nàn đổi thay rõ rệt nhờ chương trình này, thu nhập của nông dân được cải thiện đáng kể Người du khách có thể tham gia các hoạt động như trồng trọt, gặt hái, câu cá hoặc nghỉ tại các nhà nghỉ nông thôn để trải nghiệm cuộc sống người địa phương Ở Thái Lan, chính phủ đã thúc đẩy phát triển du lịch nông thôn từ lâu bằng cách khuyến khích đầu tư vào các mô hình trang trại và làng khép kín với đầy đủ dịch vụ, và từ năm 1997, ngành này đã phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều du khách nội địa và quốc tế.

Du lịch nông thôn hiện diện rộng khắp trên toàn thế giới, gồm Mỹ, Australia, Canada, Latvia, Tây Ban Nha, Indonesia, Nepal và Ấn Độ Trong đó, Anh, Pháp, Đức và Áo là những quốc gia dẫn đầu thị trường du lịch nông thôn toàn cầu, với hàng nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này tại mỗi quốc gia.

Do điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên khác nhau, hình thức du lịch nông thôn cũng đa dạng theo từng vùng, quốc gia, lãnh thổ Ở Australia, du lịch nông thôn chủ yếu dựa vào các trang trại lớn, trong khi Nhật Bản tập trung vào các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn, còn Hàn Quốc tổ chức theo các trang trại nhỏ Tại Đài Loan, hoạt động du lịch nông thôn được phát triển theo nhóm sở thích cộng đồng, còn Trung Quốc và Ấn Độ với nhiều làng truyền thống, tổ chức du lịch theo quy mô làng Phát triển du lịch nông thôn góp phần bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn Ngoài ra, du lịch còn giúp phát triển các ngành nghề, du lịch sinh thái, nâng cao kỹ năng cộng đồng, tạo việc làm cho phụ nữ và sử dụng hiệu quả các sản phẩm địa phương, qua đó thúc đẩy nền nông nghiệp sinh thái bền vững.

(Nguồn: www.vietnamtourism.gov.vn)

3.Nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch

Nhu cầu du lịch

Khi hỏi một người lý do đi du lịch, họ thường trả lời bởi nhiều động cơ khác nhau như khám phá những điều mới lạ, nghỉ ngơi thư giãn, học hỏi kiến thức mới hoặc trải nghiệm những điều mới mẻ Tất cả những lý do này đều được gọi là các động cơ du lịch, phản ánh nguyên nhân thúc đẩy hành vi du lịch của mỗi người Hiểu rõ các động cơ du lịch giúp chúng ta nắm bắt được nhu cầu và mong muốn của khách hàng trong ngành du lịch.

Phần nghiên cứu dưới đây sẽ nhằm chỉrõ sự khác biệt giữa lý do đi du lịch và động cơ du lịch

3.1.1 Lý do đi du lịch

Con người đi du lịch vì nhiều lý do khác nhau, từ việc tích lũy những kinh nghiệm hữu ích đến tham gia các hoạt động đặc sắc tại điểm đến Trong khi phần lớn người đi du lịch để nghỉ ngơi và thư giãn, có người chọn các hoạt động như câu cá hoặc chơi golf nhằm giảm căng thẳng công việc Học sinh, sinh viên thường tìm đến miền quê để tận hưởng những khoảnh khắc vui vẻ, vô tư và lưu giữ những ký ức đẹp Nhiều du khách mong muốn khám phá văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng địa phương, cũng như thưởng thức các cảnh quan nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, Vạn Lý Trường Thành hay Kim Tự Tháp Bên cạnh đó, họ còn mong muốn tham gia các sự kiện đặc sắc của địa phương để trải nghiệm trọn vẹn hơn về điểm đến du lịch.

Nhiều người trở về quê hương để thăm họ hàng, người thân hoặc bạn bè nhằm thỏa mãn nỗi lòng nhớ nhung và kết nối gia đình Tín đồ tôn giáo thường tham gia các chuyến hành hương đến những địa điểm linh thiêng của đạo mình, thể hiện lòng thành kính và sự tôn trọng tín ngưỡng Một số du khách chọn những chuyến đi xa để tìm kiếm ánh nắng mặt trời, khí hậu ấm áp hoặc tránh khỏi mùa đông khắc nghiệt tại nơi cư trú Trong các quốc gia phát triển, người dân có ý thức cao về việc bảo vệ sức khỏe, thu hút bởi các hoạt động thể thao như đua xe đạp, đua thuyền, lướt ván, leo núi, góp phần thúc đẩy ngành du lịch phát triển mạnh mẽ Các chương trình thể thao và kỳ nghỉ kết hợp hoạt động thể thao ngày càng phổ biến, góp phần nâng cao trải nghiệm du lịch và tạo ra xu hướng du lịch hoạt động ngày càng sôi động.

Sau mỗi chuyến du lịch, nhiều người thích kể lại những trải nghiệm để chia sẻ với người thân và bạn bè Khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, du lịch trở thành phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày Người dân quan tâm đến du lịch như một yếu tố quan trọng giống như nhà cửa, xe hơi hay thời trang Du lịch mang lại cơ hội để trải nghiệm cái đẹp, thư giãn sau những ngày làm việc căng thẳng và thoát khỏi những phiền toái, hạn chế xã hội thường gặp hàng ngày.

Lý do đi du lịch của mỗi người rất đa dạng và phản ánh nhận thức, động cơ của chuyến đi, nhưng không phải tất cả các lý do đều phản ánh đúng bản chất của động cơ du lịch Các nghiên cứu thường phát triển danh mục các lý do, nhưng theo Mill và Morrison, cách tiếp cận này chưa đầy đủ vì người du lịch có thể không nhận thức được những động cơ thực sự ẩn sau hành vi của họ Ví dụ, một người đi câu cá cuối tuần có thể nghĩ rằng lý do là để giải trí, nhưng thực tế có thể là để hồi phục sức khỏe hoặc để gây ấn tượng với bạn bè Thêm vào đó, nhiều lý do được đưa ra chỉ tập trung vào việc bán hàng hơn là thỏa mãn nhu cầu thực sự của thị trường du lịch, khiến cho hiểu biết về động cơ du lịch chưa thực sự toàn diện.

Theo TS Harssel (trường Đại học Niagara, NewYork), những lý do con người đi du lịch bộc lộ động cơ chuyến đi gồm 4 nhóm:

Du lịch giúp con người hiểu rõ hơn về bản thân thông qua việc khám phá thế giới xung quanh Tham gia các hoạt động du lịch kết nối du khách với những điều mới lạ, chưa từng biết đến và mở rộng tầm hiểu biết về thế giới một cách chân thực Trong khi nhận thức thế giới qua sách báo, phim ảnh và các phương tiện truyền thông, việc đi du lịch mang lại trải nghiệm trực tiếp, tạo điều kiện tự do khám phá và hiểu rõ hơn về các nền văn hóa, cảnh đẹp và con người của các địa phương khác nhau.

33 bất ngờ, thu nhận được ngay lập thức những kinh nghiệm "chưa bị biên tập bởi trí tuệ người khác"

Nhu cầu giao lưu xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch Khi đến điểm du lịch xa lạ, du khách thường đi cùng gia đình, bạn bè hoặc theo nhóm để tăng cường sự gắn bó và hiểu nhau hơn Thể thao không chỉ giúp phát triển thể lực mà còn thúc đẩy hoạt động giao lưu xã hội, giúp con người kết nối và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn trong kỳ nghỉ Ngoài ra, các hoạt động như xem biểu diễn nghệ thuật, mua sắm, đi du lịch hoặc chơi thể thao đều góp phần tăng cường sự gắn kết và mang lại trải nghiệm xã hội phong phú cho du khách.

Du khách thường tìm kiếm những trải nghiệm mới lạ hoặc độc đáo khi đi du lịch để khám phá điều khác biệt so với cuộc sống hàng ngày Du lịch giúp con người thoát khỏi thế giới thực tại trong một khoảng thời gian nhất định, mang lại cảm giác mới mẻ và tràn đầy hứng thú Nhờ đó, du lịch không chỉ làm phong phú thêm trải nghiệm cá nhân mà còn giúp tái tạo năng lượng để quay trở lại cuộc sống thường nhật với nhiều cảm xúc mới.

Tăng cường bản ngã thể hiện sự đề cao cái tôi, là một phạm trù triết học thể hiện mong muốn khẳng định cá nhân Chính vì lý do này, nhiều du khách chọn chuyến đi dựa trên ảnh hưởng của uy tín cá nhân, muốn thể hiện và khẳng định giá trị bản thân qua các trải nghiệm du lịch.

Việc lựa chọn đến những điểm du lịch nổi tiếng, kỳ lạ với tour trọn gói đắt đỏ thường quan trọng hơn so với các địa điểm bình thường có mức giá vừa phải, vì khách hàng muốn thể hiện sự kính trọng, thán phục hoặc ganh tỵ khi giới thiệu về chuyến đi của mình Động cơ du lịch được hiểu là sự thúc đẩy con người tham gia hoạt động du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn cá nhân, giúp hiểu rõ hơn về lý do họ chọn chuyến đi Một người đi du lịch không chỉ đơn thuần để trải nghiệm chuyến bay hoặc nghỉ ngơi trong khách sạn, mà còn mong muốn đạt được những nhu cầu hoặc mong muốn đặc trưng của riêng mình, điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Hoạt động marketing cần tập trung vào việc hiểu rõ động cơ khách hàng để tạo ra các chiến lược phù hợp, mang lại hiệu quả cao trong ngành du lịch.

Các đại lý du lịch có quan điểm khác nhau về vai trò của mình, một số cho rằng họ chỉ là người bán vé cho các hãng hàng không, trong khi những người khác xem họ là người chào bán “những giấc mơ” cho khách hàng Du lịch “ẩm thực” không chỉ đáp ứng nhu cầu ăn uống của du khách mà còn thỏa mãn các nhu cầu xã hội như giao tiếp, kết bạn hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh Động cơ du lịch phản ánh những mong muốn và nhu cầu của du khách, góp phần xác định lý do tại sao họ tham gia hoạt động này Nhu cầu cá nhân mạnh nhất trong một thời điểm nhất định sẽ thúc đẩy hành động du lịch, và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu cũng tác động đến động cơ Nhu cầu du lịch rất phức tạp, đa dạng, mang tính cá nhân và chủ quan, nhưng có thể phân loại thành ba nhóm chính.

- Nhóm nhu cầu đặc trưng: thỏa mãn sự hiếu kỳ, nâng cao hiểu biết, thu nhận kinh nghiệm, thưởng thức, giải trí… là động lực chính cho chuyến đi.

- Nhóm nhu cầu cơ bản: ăn uống, nghỉ ngơi, di chuyển… gắn liền với sự tồn tại của con người dù đang ở nơi cư trú hay đi du lịch

- Nhóm nhu cầu bổ sung: thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cá nhân khác ngoài hai nhóm trên trong chuyến đi

Trong các chuyến du lịch, sự đa dạng về loại hình và sở thích của khách du lịch là điều không thể tránh khỏi, vì mỗi người có động cơ và nhu cầu riêng biệt Việc hiểu rõ động cơ du lịch của khách là vô cùng quan trọng để các doanh nghiệp và điểm đến có thể dự đoán chính xác lượng khách, xác định loại hình du lịch phù hợp và cung cấp dịch vụ tối ưu Tuy nhiên, động cơ du lịch mang tính chủ quan và cá nhân, khiến việc nhận dạng trở nên khó khăn, vì nhiều khách hàng không muốn hoặc không thể nói ra lý do thực sự thúc đẩy họ tham gia chuyến đi Vì vậy, việc nhận diện và phân tích các động cơ du lịch của khách hàng có thể thuộc vào một trong ba trường hợp chính, giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về hành vi tiêu dùng của khách du lịch.

+ Trường hợp 1: Nhận thức được động cơ và sẵn sàng bộc lộ qua lý do thật sự của chuyến đi

+ Trường hợp 2: Nhận thức được động cơ nhưng không muốn bộc lộ hoặc bộc lộ qua những lý do không đúng

+ Trường hợp 3: Không nhận thức được động cơ, không bộc lộđược lý do thực sự của chuyến đi du lịch

Xuất phát từ nhu cầu, các học giả Mỹ McIntosh, Goeldner và Ritchie đã nhóm các động cơ du lịch thành bốn loại:

Các động cơ về thể chất nhằm giảm căng thẳng và phục hồi sức khỏe thông qua các hoạt động như nghỉ dưỡng, thể thao, nghỉ biển, tắm suối khoáng và các hoạt động giải trí thư giãn liên quan trực tiếp đến sức khỏe.

Con người là sinh vật có đam mê khám phá và sở hữu tri thức Sự khao khát hiểu biết, trải nghiệm và học hỏi những điều mới mẻ luôn cháy bỏng trong mỗi cá nhân Chính vì vậy, họ thường xuyên tìm đến các vùng đất, quốc gia và nền văn hóa khác nhau để thực hiện các hoạt động khám phá, học tập và nâng cao vốn sống cũng như tri thức của bản thân.

Các động cơ chính thúc đẩy việc giao lưu gồm sự khát khao gặp gỡ những con người mới, mở rộng mối quan hệ bạn bè, thăm lại thân nhân hoặc bạn bè cũ, đồng thời thoát khỏi cảm giác nhàm chán của công việc và cuộc sống hàng ngày.

Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch trong tiếng Anh được gọi là Tourism Product

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ du lịch, hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, được hình thành qua sự kết hợp của các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch địa phương Đây là yếu tố then chốt tạo nên trải nghiệm du lịch đa dạng và hấp dẫn tại mỗi vùng, góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch bền vững.

Sản phẩm du lịch gồm cả yếu tố hữu hình như hàng hóa và yếu tố vô hình như dịch vụ, nhằm cung cấp trải nghiệm đầy đủ cho khách du lịch Nó bao gồm các hàng hóa, dịch vụ và tiện nghi thiết yếu nhằm phục vụ nhu cầu của du khách một cách toàn diện.

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch

Mọi sản phẩm du lịch đều hướng đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giúp mang lại trải nghiệm hài lòng và trọn vẹn Các sản phẩm này có thể là các sản phẩm đơn lẻ hoặc các sản phẩm tổng hợp, được cung cấp bởi một đơn vị kinh doanh trọn gói hoặc thông qua sự hợp tác của nhiều đơn vị cùng tham gia cung ứng.

- Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một nhu cầu cụ thể của khách

Ví dụ, một khách sạn cung cấp dịch vụ cho khách du lịch thuê xe tự lái, giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng Các nhà cung ứng dịch vụ này có thể là khách sạn trực tiếp, hoặc các đối tác như nhà hàng và hãng vận chuyển, tạo ra hệ sinh thái đa dạng để phục vụ khách hàng tốt nhất Việc hợp tác giữa các đơn vị này không chỉ tăng tiện ích cho khách mà còn thúc đẩy doanh thu cho các doanh nghiệp liên quan Điều này giúp cải thiện sự linh hoạt và thuận tiện trong quá trình thuê xe, đồng thời tối ưu hóa khả năng cạnh tranh của khách sạn trên thị trường du lịch.

- Sản phẩm tổng hợp: Là sản phẩm phải thoả mãn đồng thời một nhóm nhu cầu mong muốn của khách du lịch

Chương trình du lịch trọn gói gồm nhiều dịch vụ như vận chuyển, lưu trú, ăn uống và vui chơi giải trí, mang lại sự tiện lợi và trải nghiệm trọn vẹn cho khách hàng Các dịch vụ này được tích hợp hợp lý để đảm bảo chuyến đi suôn sẻ, giúp du khách tiết kiệm thời gian và công sức trong việc sắp xếp lịch trình Với chương trình du lịch trọn gói, khách hàng có thể yên tâm tận hưởng kỳ nghỉ mà không lo lắng về các thủ tục nhỏ lẻ Đây là lựa chọn lý tưởng cho những ai muốn có một chuyến đi đầy đủ tiện nghi và trải nghiệm phong phú.

Sản phẩm du lịch có đầy đủ4 đặc điểm của dịch vụ, đó là:

Sản phẩm du lịch chủ yếu mang tính vô hình, không thể sờ thấy hay đong đếm bằng vật chất cụ thể, mà chủ yếu là trải nghiệm du lịch mà khách hàng nhận được Chính vì tính vô hình này, sản phẩm du lịch thể hiện giá trị qua cảm nhận và cảm xúc của khách hàng hơn là các mặt hàng hữu hình Mặc dù trong cấu thành của sản phẩm du lịch vẫn có các yếu tố hàng hoá vật chất, nhưng điểm nổi bật vẫn là trải nghiệm và cảm xúc mà khách hàng trải qua trong chuyến đi.

Tính không đồng nhất của sản phẩm du lịch là một thách thức lớn do chủ yếu là dịch vụ không thể kiểm tra trước khi mua Điều này khiến khách hàng gặp khó khăn trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm và lựa chọn phù hợp Sự không đồng nhất ảnh hưởng đáng kể đến trải nghiệm khách hàng và cần có các giải pháp nâng cao uy tín và kiểm soát chất lượng dịch vụ.

- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng

- Tính mau hỏng và không dự trữđược: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…

Thời vụ du lịch

Một số loại hình cơ sở lu lịch tiêu biểu

MỐI QUAN HỆ GIỮA DU LỊCH VÀ MỘT SỐ LĨNH VỰC KHÁC, CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

KHÁCH SẠN

Ngày đăng: 18/02/2023, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm