1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn (Nghề Kỹ thuật chế biến món ăn)

153 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn (Nghề Kỹ thuật chế biến món ăn)
Trường học Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ - [Link homepage](https://www.tdtu.edu.vn/)
Chuyên ngành Du lịch và Khách sạn
Thể loại giáo trình
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

7 Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN Mã chương: CBMA 07.01 Giới thiệu: Trong chương 1, sẽ trang bị cho người học những kiến thức cơ bản như: Hiểu được về khái niệm về du lịch,

Trang 1

1

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Trang 2

2

LỜI GIỚI THIỆU

Trong những năm gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế dịch vụ quan trọng của đất nước do những đóng góp to lớn của nó Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đang tập trung đầu tư thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển nhằm đem lại lợi nhuận cho quốc gia Đáp lại sự quan tâm đó, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng mở rộng thị trường, tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ du lịch hấp dẫn đối với du khách Đặc biệt, ngành còn đẩy mạnh hoạt động đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực

có trình độ và kỹ năng đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới Trong sự nghiệp đào tạo nhân lực du lịch, các trường đã đưa ra chương trình đào tạo nhằm cung cấp cho người học hệ thống kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành cũng như kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu của ngành Trong hệ thống kiến thức về du lịch, môn Tổng quan du lịch và khách sạn được coi là môn học cung cấp kiến thức cơ sở về du lịch và khách sạn làm tiền đề để nghiên cứu các môn chuyên ngành

Vì vậy, trong chương trình khung nghề KTCBMA, môn Tổng quan du lịch và khách sạn

đã được đưa vào giảng dạy cho học sinh Để nâng cao hiệu quả dạy và học, Nhà trường đồng thời cho biên soạn giáo trình môn học này Giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn được biên soạn nhằm trang bị cho người học những vấn đề cơ bản về du lịch, khách sạn và những kỹ năng cần thiết để ứng dựng và phát triển các kiến thức của môn học vào trong kinh doanh du lịch Với mục tiêu trên, giáo trình Tổng quan du lịch và khách sạn được biên soạn làm 3 chương với các nội dung chính sau:

Chương 1 Khái quát chung về du lich và khách sạn

Chương 2 Mối quan hệ giữa du lịch và các lĩnh vực khác, các điều kiện phát triển du lịch

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

3

MỤC LỤC

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN 7

1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1 Khái niệm du lịch 7

1.2 Khái niệm khách du lịch 10

1.3 Khái niệm điểm đến du lịch 12

1.4 Khái niệm Khách sạn 13

2 Các loại hình du lịch 13

2.1 Căn cứ vào môi trường tài nguyên 13

2.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ 17

2.3 Căn cứ vào mục đích chuyến đi 18

2.4 Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch 22

2.5 Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến du lịch 23

2.6 Các cách phân loại khác 25

3.Nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch 27

3.1 Nhu cầu du lịch 27

3.2 Sản phẩm du lịch 33

Phân loại 33

Đặc điểm 33

4 Thời vụ du lịch 34

4.1 Khái niệm và đặc điểm của thời vụ du lịch 34

4.2 Các nhân tố tác động đến thời vụ du lịch 36

4.3 Một số giải pháp khắc phục sự bất lợi của thời vụ du lịch 40

5 Một số loại hình cơ sở lu lịch tiêu biểu 42

5.1 Khách sạn 42

5.2 Nhà nghỉ du lịch 42

5.3 Motel 46

5.4 Bungalow 52

5.5 Làng du lịch 56

CHƯƠNG 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA DU LỊCH VÀ MỘT SỐ LĨNH VỰC KHÁC, CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH……… 78

1.1 Mối quan hệ giữa du lịch và kinh tế ……… 78

1.2 Mối quan hệ giữa du lịch và văn hóa – xã hội ……….76

1.3 Tác động môi trường của du lịch … 85

Tác động của du lịch đến môi trường thành thị 86

Tác động của du lịch đến môi trường nông thôn 87

2.1 Điều kiện chung 90

2.1.4 Điều kiện nảy sinh nhu cầu du lịch 96

2.2 Điều kiện về khả năng cung ứng du lịch 98

CHƯƠNG 3 KHÁCH SẠN

Trang 4

4

1 Giới thiệu chung 131

2.Phân loại khách sạn 136

2.1 Phân loại 136

2.2 Xếp hạng khách sạn …142

2.2.1 Ý nghĩa của việc xếp hạng khách sạn 142

2.2.2 Các tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn 143

Trang 5

5

CHƯƠNG TRèNH MễN HỌC Tờn mụn học: Tổng quan du lịch và khỏch sạn

II Mục tiêu môn học:

Môn học nhằm cung cấp cho người học những kiến thức khái quát về hoạt động du lịch và khách sạn Trang bị cho người học những kiến thức có liên quan đến phục vụ du lịch khách sạn nói chung và liên hệ với nghề nghiệp kỹ thuật chế biến món ănnói riêng

III Nội dung môn học:

1 Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:

Kiểm tra *

(LT hoặc TH)

I Khái quát về hoạt động

Trang 7

7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN

Mã chương: CBMA 07.01 Giới thiệu:

Trong chương 1, sẽ trang bị cho người học những kiến thức cơ bản như: Hiểu được về khái niệm về du lịch, du khách và các khái niệm liên quan, Phân tích được các điều kiện phát triển du lịch và liên hệ thực tế tại Việt Nam

Mục tiêu của chương:

Sau khi học xong chương này người học cần:

- Trình bày được khái niệm về du lịch, du khách và các khái niệm liên quan

- Hệ thống được các thời kỳ hình thành và phát triển của du lịch thế giới và Việt Nam

- Nắm được nguyên tắc hoạt động của một số tổ chức du lịch trên thế giới và Việt Nam

- Đưa ra được các lý do con người đi du lịch và cơ sở hình thành các loại hình du lịch

- Phân tích được các điều kiện phát triển du lịch và liên hệ thực tế tại Việt Nam

- Có thái độ hứng thú nghiên cứu về du lịch thế giới và Việt Nam

du lịch không còn là hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của cá nhân hay của nhóm người nào

đó, mà du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của con người Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Sau đây là một số quan niệm du lịch theo các cách phổ biến:

 Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người

Trang 8

8

- Du lịch là một hiện tượng: Trước thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX du lịch hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ coi đây là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội Trong thời kỳ này, người ta coi du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được Các giáo sư Thụy Sĩ là Hunziker và Krapf

đã khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc đi lại và lưu trú của những người ngoài địa phương – những người không có mục đích định

cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào Quan niệm này được hiệp hội quốc tế các chuyên gia khoa học về du lịch (AIEST) thừa nhận

Với quan niệm này, du lịch mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch, tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu về du lịch sau này

- Du lịch là một hoạt động: Theo Mill và Morrison, du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới (một nước, hai ranh giới một vùng, một khu vực) để nhằm mục đích giải trí hoặc đi công việc và lưu trú tại đó ít nhất 24h nhưng không quá 1 năm Như vậy, có thể xem xét du lịch thông qua những hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi Du lịch có thể được hiểu “là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Từ các góc độ nói trên, bản chất của du lịch được chỉ rõ thông qua 5 đặc điểm chính như sau:

1 Du lịch nảy sinh từ sự di chuyển và lưu trú của con người từ các nơi đến khác nhau

2 Có hai yếu tố chính trong hoạt động du lịch: Hành trình tới nơi đến và lưu lại, trong đó bao gồm cả hoạt động ở nơi đến

3 Chuyến đi và lưu trú xảy ra bên ngoài nơi cư trú và làm việc thường xuyên, do

đó du lịch làm nảy sinh những hoạt động của người đi du lịch ở nơi đến khác biệt với những hoạt động của cư dân sinh sống và làm việc ở đây

Trang 9

9

4 Sự di chuyển tới nơi đến mang tính tạm thời, thời gian ngắn và sau đó quay trở

về trong khoảng vài ngày, vài tuần hoặc vài tháng

5 Chuyến đi với nhiều mục đích song không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm tại nơi viếng thăm

Với các cách tiếp cận nói trên, bản chất của du lịch chủ yếu mới chỉ được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch

 Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế

Khi đi du lịch, con người thường nảy sinh nhiều nhu cầu trong chuyến đi của mình như nhu cầu đi lại, ăn ở, giải trí Lúc đầu, họ tự thỏa mãn các nhu cầu đó Về sau, nó trở thành cơ hội kinh doanh Du lịch bắt đầu được quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách Một ngành kinh tế được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong chuyến đi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên được gọi là ngành du lịch Theo các học giả Mỹ McIntosh, Goeldner và Ritchie, du lịch là một ngành tổng hợp của các lĩnh vực lữ hành, khách sạn, vận chuyển và tất cả các yếu tố cấu thành khác kể cả xúc tiến quảng bá nhằm phục vụ các nhu cầu và mong muốn đặc biệt của khách du lịch Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần phải quan niệm rộng rãi ngành du lịch như là người đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hóa và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội địa

Như vậy, khi tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách

 Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp

Để xem xét du lịch một cách toàn diện hơn, các tác giả McIntosh, Goelder và Ritchie cho rằng cần phải cân nhắc tất cả các chủ thể (thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái quát và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ Các chủ thể (thành phần) đó bao gồm:

Trang 10

10

- Khách du lịch: Đây là những người tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thỏa mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau Bản chất của du khách sẽ xác định các nơi đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia, thưởng thức

- Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch: Các nhà kinh doanh coi

du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch

- Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn nhận du lịch như là một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập

từ các hoạt động kinh doanh cho dân địa phương, ngoại tệ thu được từ khách quốc tế và tiền thuế thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

- Dân cư địa phương: Dân cư địa phương thường coi du lịch là một nhân tố tạo ra việc làm và giao lưu văn hóa Một điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là hiệu quả của

sự giao lưu giữa số lượng lớn du khách quốc tế và dân cư địa phương Hiệu quả này có thể vừa có lợi và vừa có hại

Như vậy, để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động các mối quan hệ của du lịch, theo cách tiếp cận này, du lịch được hiểu là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách

du lịch

Với cách tiếp cận này, khách du lịch là nhân vật trung tâm làm nảy sinh các hoạt động và các mối quan hệ để trên cơ sở đó thỏa mãn mục đích của các chủ thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó

Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng các quan niệm đó một cách phù hợp

1.2 Khái niệm khách du lịch

Du khách (khách du lịch) là chủ thể thực hiện hoạt động du lịch và được coi là yếu

tố trung tâm trong hệ thống các hoạt động du lịch Du khách có thể hiểu một cách đơn giản là người đi du lịch Tuy nhiên, định nghĩa về du khách được đưa ra lại rất khác nhau giữa các thời kỳ và các quốc gia

Trang 11

11

Theo các tác giả Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà (2004), định nghĩa về

du khách lần đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII tại Pháp Thời bấy giờ các hành trình của người Đức, người Đan Mạch, người Bồ Đào Nha, người Hà Lan và người Anh trên đất Pháp được chia thành hai loại Cuộc hành trình nhỏ (vòng đi nhỏ “Le peptit tour")

là cuộc hành trình từ Paris đến miền Đông Nam nước Pháp Cuộc hành trình lớn (vòng đi lớn“Le grand tour") là cuộc hành trình theo bờ Địa Trung Hải, xuống phía Tây Nam nước Pháp và vùng Bourgone Khách du lịch được định nghĩa là người thực hiện một cuộc hành trình lớn “Fair le grand tour„

Theo hai tác giả Trung Quốc là Đổng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình (2000), thuật ngữ “tourist" (khách du lịch) trong tiếng Anh xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn Từ điển Oxford vào năm 1811 Thuật ngữ này có nghĩa là người từ nơi khác đến với mục đích tham quan, du ngoạn

Vào đầu thế kỷ XX, Lozep Stander (Nhà kinh tế học người Áo) định nghĩa:

“Khách du lịch là hành khách xa hoa, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế „ (Dẫn theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà, 2004)

Theo Odgilvi (Nhà kinh tế học người Anh):“Để trở thành khách du lịch phải có 2 điều kiện: (1) Đi xa nhà trong thời gian dưới 1 năm; (2) Phải chi tiêu tại nơi nghỉ lại bằng tiền kiếm được ở nơi khác" (Dẫn theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hoà, 2004)

Hội nghị của Tổ chức du lịch quốc tế họp tại Roma (1968) đã xác định:“Bất cứ ai ngủ một đêm tại nơi không phải nhà của mình và mục đích chính của cuộc hành trình không nhằm kiếm tiền đều được coi là khách du lịch" (Dẫn theo Nguyễn Văn Lưu, 2005)

Theo Luật du lịch Việt Nam (2005):“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi

du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến’’

Ngày 4/3/1993, theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO), Uỷ ban thống kê LHQ đã công nhận các thuật ngữ sau để thống nhất việc thống kê du lịch:

Khách du lịch quốc tế (International Tourist) bao gồm khách quốc tế đến du lịch (Inbound Tourist) và khách quốc tế đi du lịch ra nước ngoài (Outbound Tourist)

Khách du lịch trong nước (Internal Tourist) gồm những người là công dân của một quốc gia và người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước

Trang 12

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005):“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch."

Theo Luật du lịch Việt Nam (2005):“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam" 1.3 Khái niệm điểm đến du lịch

Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người, các giá trị nhân văn khác và các sự kiện đặc biệt có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch

vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không

Kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Trang 13

Khách sạn là cơ sở kinh doanh lưu trú phổ biến trên Thế giới, đảm bảo chất lượng

và tiện nghi cần thiết phục vụ kinh doanh lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu về nghỉ ngơi,

ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác trong suốt thời gian khách lưu trú tại khách sạn, phù hợp với động cơ, mục đích chuyến đi

2 Các loại hình du lịch

2.1 Căn cứ vào môi trường tài nguyên

- Du lịch thiên nhiên (Du lịch sinh thái) hấp dẫn người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích thưởng thức phong cảnh đẹp và đời sống động thực vật hoang dã Những người đi du lịch trong nhóm này muốn tìm đến vẻ đẹp và đời sống hoang sơ của Vườn Quốc gia Xuân Thủy, phong cảnh hùng vĩ của Bà Nà

- Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững Du lịch sinh thái (EcoTourism) là loại hình du lịch có trách nhiệm tại các điểm đi lại của các khu vực thiên nhiên, bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương Loại hình du lịch này tuy ra đời khá muộn nhưng nó đă nhanh chóng trở thành một loại hình du lịch có triển vọng và đang phát triển với tốc độ khá nhanh, đặc biệt là trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia Với ý nghĩa đó, đề tài đã nghiên cứu tiềm năng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái trong khu bảo tồn thiên nhiên nhằm gắn kết du lịch với bảo tồn và phát triển kinh tế cộng đồng địa phương

Trang 14

14

Minh họa 1: Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái có nguồn gốc từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Thực ra loại hình du lịch này đă có từ rất lâu nhưng ít được con người chú ý Kể từ khi loại hình du lịch máy bay ra đời, cùng với sự phát triển khá nhanh của ngành

du lịch với mối quan tâm về vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường, nhất là sau hội nghị thượng đỉnh về môi trường tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) năm 1972 và tại Rio Dejanero (Brazil) năm 1992 th́ du lịch sinh thái mới thực sự phát triển và được xem như là một công cụ hữu hiệu để thoả măn sự khát khao của con người về với thiên nhiên, gắn kết bảo vệ tài nguyên môi trường với phát triển du lịch bền vững

Du lịch sinh thái có những đóng góp rất lớn về mặt kinh tế – xă hội ở nhiều quốc gia Chỉ tính riêng Kenya, năm 1994 du lịch sinh thái trở thành một ngành xuất khẩu lớn nhất nước đóng góp 35% thu nhập ngoại tệ và 11% tổng sản phẩm quốc gia Ở Mỹ, các hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn mỗi năm đón khoảng 270 triệu lượt khách đem về hàng chục tỷ đô la Một số nước như Mêxicô, Úc, Malaixia, Eucoado, Kenya, Brazil, Ethiophia… du lịch sinh thái cũng đă đóng vai tṛ quan trọng trong việc thu đổi ngoại tệ

Mặc dù chưa có con số thống kê cụ thể nhưng theo nghiên cứu sơ bộ của Fillion (1992), du lịch sinh thái đă đóng góp 223 tỷ đô la trong thu nhập của nhiều quốc gia

Ngoài những lợi ích về mặt kinh tế, du lịch sinh thái đă mang lại nhiều lợi ích trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển kinh tế cộng đồng Ở Coastarica, Vênêxuêla… một số chủ trang trại chăn nuôi đă bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng và biến những nơi này thành điểm du lịch sinh thái tự nhiên, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương Ecuado sử dụng khoản thu nhập từ du lịch sinh thái tại đảo Galapago

để duy tŕ mạng lưới vườn quốc gia… nhờ du lịch sinh thái mà người dân trong vùng đệm ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia phát triển các ngành nghề thủ công, tham gia hoạt động du lịch để đảm bảo thu nhập, hạn chế sự tác động vào rừng

Ở Việt Nam, ngành du lịch phát triển tương đối muộn Hoạt động du lịch chỉ

Trang 15

15

thực sự diễn ra sôi nổi từ sau năm 1990 gắn liền với chính sách mở cửa của Đảng

và Nhà nước Theo số liệu thống kê từ năm 1990 đến 2002 lượng khách quốc tế tăng10,5 lần (từ 250.000 đến 2.620.000) khách nội địa tăng 13 lần (từ 1000.000 tăng lên 13.000.000) Thu nhập xă hội cũng tăng đáng kể, năm 1991 là 2.240 tỷ đồng đến năm 2002 là 23.000 tỷ đồng, trong đó hoạt động du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia và du lịch biển đóng góp một tỷ trọng lớn Các

số liệu thống kê ở một số vườn quốc gia như Cúc Phương, Cát Bà, Côn Đảo, Bạch

Mă … các khu bảo tồn thiên nhiên như Phong Nha - Kẻ Bàng, Hồ Kẻ Gỗ… bình quân mỗi năm tăng 50% khách nội địa và 30 % khách quốc tế Trong giai đoạn từ

1995 – 1998 du lịch sinh thái đạt tăng trưởng 16,5%

Du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng đã có những đóng góp lớn cho sự phát triển cộng đồng, bảo vệ tài nguyên môi trường Nhờ phát triển du lịch sinh thái mà đồng bào một số dân tộc, cư dân sinh sống trong vùng đệm các vườn quốc gia, khu bảo tồn có được việc làm, nâng cao mức sống, các lễ hội, tập tục, ngành nghề thủ công được bảo tồn và phát triển

(Nguồn: www.vietnamtourism.gov.vn)

- Du lịch văn hóa thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của điểm đến Các du khách này sẽ đến thăm bảo tàng, tham dự các lễ hội truyền thống

Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Bên cạnh những loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm,

du lịch giáo dục… gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa và cũng là nơi tồn tại đói nghèo Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những lễ hội của các

Trang 16

16

nước để tổ chức những chuyến du lịch nước ngoài Bởi thế, thu hút khách du lịch tham gia du lịch văn hóa tức là tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lại đóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc gia phát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ… “Du lịch văn hóa là xu hướng của nhiều nước Loại hình du lịch này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam, rất tốt cho hoạt động xóa đói giảm nghèo quốc gia, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của ngành du lịch Việt Nam”, một quan chức của Vụ Hợp tác quốc tế thuộc Tổng Cục Du lịch phát biểu

Ở Việt Nam, nhiều hoạt động du lịch văn hóa được tổ chức dựa trên những đặc điểm của vùng miền Chương trình Lễ hội Đất Phương Nam (Lễ hội văn hóa dân gian vùng Đồng bằng Nam bộ), Du lịch Điện Biên (Lễ hội văn hóa Tây Bắc kết hợp với sự kiện chính trị: 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ), Con đường Di sản miền Trung (Lễ hội dân gian kết hợp tham quan những di sản văn hóa được UNESCO công nhận)… là những hoạt động của du lịch văn hóa, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước Trong số

đó, Festival Huế được xem là hoạt động du lịch văn hóa đặc sắc ở Việt Nam Lễ hội được

tổ chức thường xuyên 2 năm một lần, với sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp Festival Huế

2004 là lần thứ ba Việt Nam có dịp giới thiệu với du khách về lễ hội dân gian của miền Trung Ngoài ra, lễ hội dân gian này còn có sự tham gia của các nước Pháp, Trung Quốc…

Hình 1: Một số hình ảnh minh họa về loại hình du lịch văn hóa

Trang 17

17

2.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ Các tác giả McIntosh, Goeldner và Ritchie đã sử dụng tiêu thức này để phân chia thành các loại hình du lịch sau:

- Du lịch quốc tế (International Tourism) liên quan đến các chuyến đi vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ (biên giới) quốc gia của khách du lịch Chính vì vậy, du khách thường gặp phải 3 cản trở chính trong chuyến đi đó là: ngôn ngữ, tiền tệ và thủ tục đi lại Cùng với dòng du khách, hình thức du lịch này tạp ra dòng chảy ngoại tệ giữa các quốc gia và

do đó ảnh hưởng đến cán cân thanh toán của quốc gia Loại hình du lịch này được phân chia thàn 2 loại nhỏ:

+ Du lịch quốc tế đến là chuyến viếng thăm của những người từ các quốc gia khác

+ Du lịch ra nước ngoài là chuyến đi của cư dân trong nước đến một nước khác

- Du lịch trong nước là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc gia của họ

+ Du lịch nội địa bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến

Trang 18

18

+ Du lịch quốc gia bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài

Trong thực tế ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch nội địa được sử dụng để chỉ những chuyến đi du lịch trong nước của người Việt Nam (đồng nghĩa với khái niệm du lịch trong nước của McIntosh, Goeldner và Ritchie) và trường hợp nước ngoài đang sinh sống tạm thời hoặc làm việc tại Việt Nam khi đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam du lịch được quan niệm là khách du lịch quốc tế và thuộc loại hình du lịch quốc tế đến Còn người nước ngoài cư trú tại Việt Nam khi ra nước ngoài du lịch được quy định là khách du lịch quốc

tế và thuộc loại hình du lịch ra nước ngoài

2.3 Căn cứ vào mục đích chuyến đi

- Du lịch tham quan: Tham quan là hành vi quan trọng của con người với mục đích chính là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, loại hình du lịch này thoả mãn lòng ham hiểu biết

và ham thích nâng cao văn hoá thông qua các chuyến đi du lịch đến những nơi lạ để tìm hiểu các di sản văn hoá, di tích lịch sử, các công trình kiến trúc nghệ thuật, các lễ hội độc đáo, các làng nghề thủ công truyền thống, các bản làng của ngưòi dân tộc thiểu số, phong tục tập quán và tìm hiểu những thành quả kinh tế, chế độ xã hội, chất lượng cuộc sống của mỗi địa phương mỗi quốc gia và có thể là một phong cảnh thiên nhiên kỳ thú… Loại hình du lịch tham quan có tác dụng nhận thức là rất lớn, tác dụng giải trí không hiện hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu Thời gian lưu lại của khách đối với loại hình này trong thời gian rất ngắn, thường kéo dài một giờ, hoặc một vài phút Đối tượng của loại hình du lịch này thường là những người có văn hoá cao như nhà giáo, nhà khoa học, nhà sử học, nhà báo… Ưu thế của loại hình du lịch này là đại bộ phận không chịu ảnh hưởng của tính mùa vụ Điều này nó giúp cho sự cân bằng trong việc phát triển du lịch

- Du lịch giải trí: Mục đích chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi sức khỏe (vật chất cũng như tinh thần) Trong chuyến đi, nhu cầu giải trí là nhu cầu không thể thiếu được của du khách Do vậy, ngoài thời gian tham quan, nghỉ ngơi, cần thiết có các chương trình vui chơi, giải trí trong chuyến đi cho du khách trong chuyến đi Với sự phát triển của xã hội, mức sống gia tăng, số người đi du lịch chỉ nhằm mục đích giải trí, tiêu khiển bằng các trò chơi cũng gia tăng đáng kể Để đáp ứng xu thế này cần quan tâm mở rộng các loại hình và các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ vui chơi giải trí như

Trang 19

19

các khu du lịch, làng du lịch, công viên, khu vui chơi giải trí, sòng bạc… Ở Việt Nam, tuy các khu vui chơi giải trí còn chưa hiện đại do hoàn cảnh kinh tế chưa cho phép song cũng đã thu hút được khá đông khách trong và ngoài nước, nhất là trong các dịp lễ tết Ví dụ như là khu du lịch Đầm Sen, Suối Tiên ở Thành Phố Hồ Chí Minh Muốn phát triển loại hình du lịch này cần quan tâm đến các dự án cùng với việc đầu tư, quy hoạch du lịch, đào tạo các bộ nhân viên

- Du lịch nghỉ dưỡng: Du khách tìm đến các bãi biển, vùng suối nước khoáng, nước nóng có giá trị y học cao để chữa bệnh Bên cạnh đó do đời sống công nghiệp, sự làm việc căng thẳng nên tranh thủ những ngày nghỉ tìm đến với thiên nhiên, hoà mình vào thiên nhiên để thay đổi môi trường sống hàng ngày, tránh tình trạng stress Vì vậy, không gian

du lịch phải thoáng mát, yên tĩnh Và điều quan trọng là phải có đội ngũ phục vụ chuyên nghiệp Thời gian lưu lại của khách đối với loại hình du lịch này là rất lớn Đối tượng khách chủ yếu của loại hình du lịch này công nhân lao động, người già Ngày nay ở Việt Nam, các bộ ngành đang có xu hướng xây dựng các nhà nghỉ tại các bờ biển đẹp vừa kinh doanh, vừa tạo điều kiện cho cán bộ công nhân đi nghỉ vào dịp hè Do chịu ảnh hưởng của điều kiên thời tiết, khí hậu nên hiệu suất sử dụng không cao hay nói cách khác loại hình này chịu ảnh hượng của tính mùa vụ

- Du lịch thể thao: Nhu cầu, sở thích của khách gắn với các môn thể thao Loại hình này có hai loại khách chính đó là vận động viên trực tiếp tham gia thi tài ở các kì Thế Vận hội, Worldcup hoặc đến các vùng có tiềm năng thể thao như leo núi, trượt tuyết, săn bắn, bơi lội… (chủ động) và các cổ động viên xem các cuộc thi đấu và cổ vũ (bị động) Loại hình du lịch thể thao là một trong những loại hình đem lại nguôn thu rất lớn cho địa phương vì nó thu hut một lượng lớn khách du lịch Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia trên thế giới ngày càng ra sức chạy đua để được đăng cai một kì Thế vận hội, Worldcup bên cạnh việc thu lợi nhuận là quảng bá hình hình ảnh đất nước nhằm mục đích phát triển du lịch

Chúng ta thấy rằng, đối với các tổ chức kinh doanh lữ hành của quốc gia hay địa phương đăng cai tổ chức thể thao hoàn toàn có thể chủ động đón những đối tượng tham gia vào cuộc thi (khách du lịch thể thao chủ động) Nhưng họ lại hoàn toàn không thể

Trang 20

20

đoán trước mà chỉ dự báo được số du khách tới xem (khách du lịch thể thao bị động) Vì vậy trong phạm vi này có thể cho rằng các công ty lữ hành phải đóng vai trò bị động Trong điều kiện hiện nay, đối tượng du khách có xu hướng phát triển nhanh, vì thế đứng ở góc độ bị động đối với đối tượng du khách này, các nhà kinh doanh du lịch phải xây dựng tính dự báo đảm bảo tính thuyết phục, tránh cung cấp dịch vụ quá dư thừa hoặc quá thiếu theo nhu cầu của du khách tới xem hoạt động thể thao

Hiệu quả du lịch từ khách du lịch bị động là không thể phủ nhận được, chính vì vậy một trong những mục đích chính của quốc gia dành giật đăng cai tổ chức các kỳ thể thao lớn không nằm ngoài mục đích như được nguồn tài chính lớn từ khách du lịch

- Du lịch tôn giáo: Loại hình này thoả mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo các tôn giáo khác nhau (hiện nay, trên thế giới có các tôn giáo lớn như đạo Hồi, đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, Nho giáo, Do Thái…) Đây là loại hình

du lịch lâu đời rất phổ biến ở các nước tư bản Vì tôn giáo là nhu cầu tinh thần và là tín ngưỡng trong những cá nhân theo tôn giáo của họ, do đó dộng cơ đi và đến những nơi cội nguồn của tôn giáo là mong muốn và là nguyện vọng hàng năm của họ Ngoài ra còn

có những đối tượng không thuộc thành phần tôn giáo, nhưng họ lại có xu hướng hiếu kỳ khi tham gia vào các hoạt động mang tính tôn giáo Chính điều này mà mỗi năm tất cả các quốc gia trên thế giới hoạt động du lịch tôn giáo là rất lớn và không ngừng tăng trưởng về số lượng du khách trên phạm vi khả năng thanh toán Các trung tâm nổi tiếng thế giới của loại hình du lịch này là Vaticăng, Gieluxalun, Mecca,… Ở Việt Nam, vào mùa xuân, các tín đồ Phật giáo hành hương về Yêu Tử - nơi khởi nguồn của đạo Phật phái Trúc Lâm, Chùa Hương, thăm nhà thờ Phát Diệm (Ninh Bình)…

Hoạt động hướng dẫn tham quan đối với loại hình du lịch này đòi hỏi phải có quá trình khảo sát, chọn lọc và được chuẩn bị theo một chương trình nhất định Khi giới thiệu cần phải định hướng cho khách về thông tin biểu hiện tính tích cực, tránh thần thánh hoá, tránh đưa con người vào bi quan, bi lụy

- Du lịch thăm thân: Nảy sinh do nhu cầu giao tiếp xã hội nhằm gặp mặt, thăm hỏi, trò chuyện, chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn cùng bà con, họ hàng, bạn bè thân quen… Hình thức du lịch này có ý nghĩa quan trọng đối với những nước có nhiều người sống ở nước ngoài như Việt Nam, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Nam Tư Đối tượng của loại hình du

Trang 21

21

lịch này thường đi trong thời gian dài ngày và thường diễn ra vào thời điểm sự kiện quan trọng như dịp tết, quốc khánh, lễ hội….Khách du lịch gần như chỉ mua những dịch vụ không trọn gói của các công ty lữ hành Và mỗi lần trở về thăm quê hương, khách du lịch thuộc loai hình này mang về một lượng ngoại tệ lớn, tạo điều kiện tích lũy ngoại tệ cho quốc gia

Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có đối tượng Việt kiều rất đông và hàng năm có tới vài trăm ngàn người về thăm quê hương, là một thị trường khách mà các nhà kinh doanh lữ hành quốc tế tại Việt Nam đang hướng tới Ngoài ra, trong phạm

vi du lịch thăm thân nội địa cũng rất phổ biến, âu cũng chính là do đặc điểm lịch sử để lại

- Du lịch MICE: MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác MICE – viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm) Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event Bởi vậy các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 – 5 sao, dịch vụ cao, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu…) MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước

Đối với Việt Nam loại hình du lịch này đã được các công ty trong ngành du lịch khai thác từ nhiều năm nay, bước đầu đã có kết quả khả quan Khai thác thị trường MICE là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam

Đánh giá về tiềm năng phát triển MICE, đoàn chuyên gia UNWTO cho rằng: Việt Nam có tiềm năng rất lớn và nếu phát triển MICE sẽ là đối thủ đáng ngại của Singapore (trung tâm thu hút MICE lớn nhất Đông Nam Á hiện nay) Cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều di sản văn hóa, thiên nhiên thuộc hàng kỳ quan thế giới, bãi biển đẹp, hệ thống khách sạn, resort phát triển… Tuy nhiên theo UNWTO để MICE phát triển Việt Nam nên thành lập MICE Bureau (tổ chức xúc tiến phát triển MICE), xây dựng chiến lược marketing, cải thiện ngay hạ tầng phục vụ khách MICE: visa, sân bay, hệ thống khách sạn, trong đó, việc xác định vị trí xây dựng trung tâm hội chợ triển lãm quốc tế rất quan

Trang 22

2.4 Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch

Valene Smith, một nhà nhân chủng học đã phối hợp với trường Đại học Pennsylvania đưa ra một cách phân nhóm khác Cách phân loại này quan tâm đến sự tác động (cả về kinh tế và xã hội) của khách du lịch đến nước chủ nhà thông qua một số biến

số quan trọng như: phạm vi khách du lịch quan tâm (ảnh hưởng đến môi trường), thời gian lưu lại và đối tượng dân cư du khách thường gặp gỡ (và mục đích của cuộc gặp gỡ) Theo cách này, có các loại hình du lịch sau:

- Du lịch thám hiểm: bao gồm các nhà nghiên cứu, học giả, người leo núi và những nhà thám hiểm đi theo các nhóm với số lượng nhỏ Họ hoàn toàn chấp nhận các điều kiện địa phương Họ sử dụng đồ dùng cá nhân, thức ăn chuẩn bị trước và hầu như không tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ du lịch Chính vì vậy, loại hình du lịch này ảnh hưởng không đáng kể đến kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường của điểm đến

- Du lịch thượng lưu: chuyến đi của tầng lớp thượng lưu đến những nơi độc đáo để giải trí và tìm kiếm sự mới lạ Bên cạnh việc sử dụng các tiện nghi dành cho khách du lịch thì họ cũng dễ dàng thích nghi với các điều kiện địa phương Số lượng khách của nhóm này thường tương đối ít, có nhu cầu về những sản phẩm du lịch chất lượng cao và không đàn hồi theo giá cả Chuyến du lịch của họ có thể dẫn tới những hoạt động đầu tư sau này

có lợi cho điểm đến

- Du lịch khác thường: bao gồm những khách du lịch không giàu có như tầng lớp thượng lưu, họ thích đến những nơi xa xôi, hoang dã, quan tâm đến những vùng văn hóa

sơ khai hoặc tìm kiếm những phần bổ sung thêm (không có) trong một tour dy lịch tiêu chuẩn Họ thích nghi tốt và chấp nhận những điều kiện về sản phẩm, dịch vụ du lịch do địa phương cung cấp

- Du lịch đại chúng tiền khởi: Một dòng khách du lịch ổn định đi theo nhóm nhỏ hoặc cá nhân đến các nơi an toàn, phổ biến, khí hậu phù hợp Họ tìm kiếm các tiện nghi

và dịch vụ tiêu chuẩn nhưng cũng dễ dàng chấp nhận các điều kiện chưa đảm bảo tiêu

Trang 23

23

chuẩn của địa phương Nhu cầu của nhóm này có thể ít đàn hồi theo giá cả và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của sản phẩm, dịch vụ du lịch ở điểm đến Đây là sự mở đầu và phát sinh hình thức du lịch đại chúng sau này

- Du lịch đại chúng: Một số lượng lớn khách du lịch (thường từ Châu Âu hoặc Bắc Mỹ) tạo thành dòng chảy liên tục tràn ngập các khu nghỉ mát nổi tiếng ở châu Âu hoặc Hawaii vào các mùa du lịch Khách du lịch thường thuộc tầng lớp trung lưu và họ mong muốn các tiện nghi đạt tiêu chuẩn (ví dụ, tiêu chuẩn kiểu châu Âu), nhân viên phục vụ được đào tạo và hướng dẫn viên du lịch biết nhiều ngoại ngữ để có thể thỏa mãn được các nhu cầu của họ tại điểm đến du lịch Với số lượng nhiều, phạm vi du lịch rộng và nhu cầu

có thể ít đàn hồi theo giá cả, loại hình du lịch này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển du lịch ở cả các quốc gia gửi khách lẫn các quốc gia đón khách, các điểm đến du lịch

- Du lịch thuê bao: Đây là loại hình du lịch phát triển rộng rãi, thị trường phát triển đến các tầng lớp có thu nhập trung bình và thấp nên có dung lượng lớn Nó hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động thương mại trong kinh doanh du lịch Khách du lịch thuộc loại này yêu cầu các tiện nghi tiêu chuẩn (đặc biệt về vận chuyển và lưu trú) và nhu cầu của họ đàn hồi theo giá cả Với số lượng lớn, dòng khách ồ ạt, chi tiêu của du khách tạo ra nguồn thu nhập lớn đối với các cơ sở kinh doanh và khu vực điểm đến Ngoài ra, các nước nguồn khách có thể có những hoạt động đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực kinh doanh ở đây Mặt khác, loại hình du lịch này cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực (đặc biệt với môi trường và xã hội) đối với điểm đến du lịch

2.5 Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến du lịch

- Du lịch bằng hàng không: Đây là loại hình du lịch mà phần lớn khách du lịch sử dụng Với việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sản xuất các phương tiện vận chuyển hàng không, ngày nay con người có thể đi đến khắp mọi nơi trên trái đất Từ kinh khí cầu, các chuyến bay vượt đại dương, Air Taxi (máy bay nhỏ không cần sân bay) đến cả tàu vũ trụ, trong đó các hãng hàng không đóng một vai trò quan trọng trong việc vận chuyển khách du lịch

- Du lịch bằng đường bộ: Khi hệ thống đường bộ phát triển không chỉ nối liền các địa phương trong một quốc gia mà còn nối liền với các quốc gia khác, du lịch bằng đường

Trang 24

24

bộ sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ Không chỉ các phương tiện vận chuyển khách du lịch bằng xe ô tô loại lớn, mà khách có thể tự lái xe đưa gia đình và người thân đi du lịch trong nước và nước ngoài Điển hình là sự phát triển du lịch của các nước ở châu Âu và châu Mỹ, số lượng khách du lịch đi bằng ôtô rất lớn

- Du lịch bằng đường sắt: Đây là loại hình du lịch phát triển đầu tiên ở Anh do Thomas Cook, người được coi là cha đẻ của ngành đại lý du lịch (lữ hành) trên thế giới tổ chức Ngày nay, các phương tiện vận tải đường sắt được hiện đại hoá với tiện nghi sang trọng, tốc độ nhanh và an toàn đang cạnh tranh nguồn khách du lịch với các hãng hàng không

- Du lịch bằng tàu biển: Loại hình du lịch này phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và châu Mỹ, ngày nay đang phát triển trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương Khách du lịch đi theo loại hình du lịch này chủ yếu là những người giàu có không chỉ về tiền bạc mà

cả về thời gian Thông thường một chương trình du lịch thường kéo dài hàng tháng và đi qua nhiều nước có cảng biển, họ đỗ lại và lên bờ tham quan Những chiếc tầu biển này như một khách sạn 5 sao nổi trên mặt biển và trong tầu không chỉ có buồng ngủ cho khách mà còn có cả bể bơi, sân thể thao, phòng chiếu phim, vũ trường…, đáp ứng nhu cầu của khác trong thời gian đi du lịch theo loại hình này

- Du lịch bằng tàu thuỷ: Loại hình du lịch này chủ yếu phát triển ở những vùng có nhiều sông và với những con sông chảy qua nhiều quốc gia như sông Đanuyt (Châu Âu), sông MêKông (châu Á) Khách du lịch đi trên du thuyền này đi tham quan các quốc gia

có dòng sông đi qua Loại hình du lịch bằng đường thuỷ này rất phát triển khi kết hợp với loại hình du lịch tham quan văn hóa lịch sử

Căn cứ vào việc khách du lịch sử dụng phương tiện vận chuyển tại điểm đến du lịch Các phương tiện vận chuyển khách du lịch tại các khu du lịch, các điểm du lịch rất phong phú và đa dạng, trước hết bằng xe ô tô, sau đó là các loại xe thô sơ như: xích lô, ngựa kéo, trâu, bò kéo hoặc bằng thuyền, bằng xe kéo bằng acquy, cáp treo v.v Các nhà kinh doanh

du lịch còn tạo ra nhiều phương tiện vận chuyển mang tính chất đặc sắc, độc đáo và hấp dẫn để tạo ra Theo các nhà tâm lý “Động cơ là nhân tố chủ quan khuyến khích mọi người hành động Động cơ du lịch chỉ ra nguyên nhân tâm lý khuyến khích người ta đi du lịch,

đi đâu, theo loại hình du lịch nào, điều này thường được biểu hiện ra bằng các hình thức

Trang 25

25

như nguyện vọng, hứng thú, yêu thích, tìm kiếm điều mới lạ” Chính vì vậy, ngành du lịch phải tiến hành tuyên truyền, quảng cáo một cách thiết thực, có hiệu quả để kích thích được động cơ du lịch của mọi người Xét về mặt khoa học, động cơ du lịch được hình thành bởi hai nhân tố rất cơ bản đó là nhân tố tâm lý và nhân tố cụ thể Nhân tố tâm lý -

đó là việc tìm kiếm cảm giác mới lạ, thay đổi nếp sống thường ngày, mở rộng thêm kiến thức, mở rộng tầm nhìn, tìm cách thể hiện mình để được người khác ngưỡng mộ và tôn trọng Vì thế, người ta thường gọi du lịch là tiêu chuẩn để đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống của mỗi người

- Căn cứ vào thời gian du lịch bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn ngày.Căn

cứ vào lứa tuổi bao gồm du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch trung niên và du lịch cao niên

- Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch gia đình

Trang 26

26

đang phát triển là ở chỗ: tại các quốc gia đang phát triển, người ta xem du lịch nông thôn là đa dạng hóa thu nhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường Vì vậy, du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng Còn ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo chiều sâu mà nguyên nhân chính là do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại

Ở Pháp, Bộ Du lịch đã phát triển đa dạng hóa các loại hình du lịch (như du lịch bãi biển và du lịch nông thôn) để thu hút du khách nước ngoài Trong thời gian tới, tại Pháp có khoảng 300 điểm ở các vùng nông thôn sẽ được lựa chọn để thực hiện các dự án lắp đặt các thiết bị, phát triển các phương tiện giao thông công cộng nhằm thu hút khách du lịch quốc tế

Ở Trung Quốc, từ năm 1990, chính phủ đã tuyên bố một chương trình du lịch nông thôn nhằm mục đích chống đói nghèo tại một số tỉnh như Vân Nam, Quảng Đông Các điểm du lịch tại những khu vực nông thôn rộng lớn của Trung Quốc hằng năm tiếp đón 300 triệu khách du lịch, đạt doanh thu 40 tỉ NDT (5,13 tỉ USD) Theo các số liệu chính thức của Tổng cục Du lịch Trung Quốc, 30 điểm du lịch nông thôn quanh Thượng Hải đã đón 3,91 triệu khách du lịch trong năm 2006, tăng 86%

so với năm 2005; hằng năm có khoảng 60 triệu du khách từ khu vực thành thị chọn đến các vùng nông thôn trong "3 tuần nghỉ vàng" vào tháng 5, tháng 10 và thời gian diễn ra Lễ hội Mùa xuân

Ở Nhật Bản, từ năm 1995, Bộ Nông Lâm Thủy sản đã thiết lập chương trình nhà nghỉ nông thôn khắp trên đất nước Các nhà nghỉ nông thôn này chủ yếu do các nông hộ cá thể hay dựa vào trang trại Du khách được phục vụ các dịch vụ ăn nghỉ tại các nhà nghỉ nông thôn hoặc tham gia các hoạt động hằng ngày ở đây như trồng trọt, gặt hái, câu cá

Ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn bắt đầu vào năm 1984 từ một dự án của chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân Nhiều làng quê Hàn Quốc trước đây vốn nghèo nàn, nhờ chương trình này mà bộ mặt đã thay đổi hẳn, thu nhập của nông dân tăng lên đáng kể

Trang 27

27

Ở Thái Lan, từ lâu chính phủ đã có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển

du lịch nông thôn theo mô hình các trang trại hoặc các khu làng khép kín, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ du khách Từ năm 1997, du lịch nông thôn đã phát triển khá nhanh, thu hút nhiều du khách nội địa và quốc tế

Ngoài ra, du lịch nông thôn còn có ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, xtrây-li-a, Ca-na-đa, Lat-vi-a, Tây Ban Nha, In-đô-nê-xi-a, Nê-pan, Ấn Độ Đáng chú

Ô-ý là Anh, Pháp, Đức và Áo là những quốc gia thống trị thị trường du lịch nông thôn toàn cầu với hàng ngàn doanh nghiệp kinh doanh loại hình du lịch này ở mỗi nước

Do những điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên khác nhau, nên hình thức du lịch nông thôn cũng khác nhau theo từng vùng, quốc gia, lãnh thổ Chẳng hạn, ở Ô-xtrây-li-a,

du lịch nông thôn chủ yếu dựa vào các trang trại lớn; ở Nhật Bản, hình thức du lịch chủ yếu là các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn; ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn được

tổ chức theo các trang trại nhỏ; ở Đài Loan, du lịch nông thôn được tổ chức theo nhóm sở thích của cộng đồng; Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có nhiều làng nên du lịch nông thôn được tổ chức theo quy mô làng Phát triển du lịch nông thôn sẽ góp phần bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường; giảm nghèo thông qua phát triển kinh kế nông thôn, phát triển ngành, nghề; giúp phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác; giáo dục, huấn luyện và tăng cường kỹ năng cho cộng đồng; tạo việc làm cho phụ nữ và sử dụng sản phẩm địa phương, giúp phát triển nông nghiệp sinh thái

(Nguồn: www.vietnamtourism.gov.vn) 3.Nhu cầu du lịch và sản phẩm du lịch

3.1 Nhu cầu du lịch

Khi hỏi một người là tại sao đi du lịch, họ có thể đưa ra một loạt các lý do khác nhau, chẳng hạn như khám phá những điều mới lạ, nghỉ ngơi thư giãn, học hỏi những kiến thức mới, biết đó biết đây,…Tất cả các lý do đó có được gọi là động cơ du lịch không? Phần nghiên cứu dưới đây sẽ nhằm chỉ rõ sự khác biệt giữa lý do đi du lịch và động cơ du lịch

3.1.1 Lý do đi du lịch

Trang 28

28

Con người đi du lịch vì rất nhiều lý do khác nhau Với một số người, du lịch đồng nghĩa với những kinh nghiệm bổ ích nhất; với một số người khác, các hoạt động được tham gia ở nơi đến du lịch là quan trọng nhất Trong khi hầu hết mọi người đi du lịch để nghỉ ngơi, thư giãn thì một số người lại vì những lý do khác Các nhà quản lý hoặc điều hành kinh doanh có thể chọn kỳ nghỉ cuối tuần bằng chuyên đi câu cá, chơi golf nhằm xua tan những căng thẳng, mệt mỏi hay va chạm trong công việc hàng ngày Học sinh, sinh viên đến các miền quê để muốn có những khoảng thời gian vui vẻ, vô tư với những kỷ niệm khó quên Nhiều khách du lịch muốn tìm hiểu dân cư ở các nơi khác, quốc gia khác sinh sống như thế nào để khám phá những phong tục tập quán hay để thẩm nhận các giá trị văn hóa khác Họ muốn thưởng ngoạn những phong cảnh nổi tiếng và khác lạ như Vịnh Hạ Long, Vạn Lý Trường Thành, Kim Tự Tháp…Nhiều du khách còn muốn tham

dự những sự kiện đặc biệt của nơi đến du lịch

Nhiều người trở về với quê hương, xứ sở của mình để thăm họ hàng, người thân hay bạn bè để thỏa mãn nỗi lòng nhớ nhung Những tín đồ tôn giáo thường tham gia các cuộc hành hương đến những nơi linh thiêng của tôn giáo mình Hay đơn giản hơn, một số du khách vượt qua những chặng đường xa xôi chỉ để tìm kiếm ánh nắng mặt trời và thời tiết

ấm áp hoặc trốn tránh mùa có thời tiết khắc nghiệt nơi mình sinh sống

Ở những quốc gia phát triển, người dân có ý thức hơn về giữ gìn sức khỏe, họ bị thu hút bởi các hoạt động thể dục thể thao như: đua xe đạp, đua thuyền, lướt ván trượt tuyết, leo núi… thực sự thu hút được số đông khách du lịch Các chương trình thể thao, các kỳ nghỉ gắn với nhiều hoạt động thể thao ngày càng trở nên phổ biến ở các quốc gia này Sau một chuyến du lịch, khi về có nhiều điều để kể với người thân, bạn bè có thể là

sở thích đối với một số người Khi điều kiện kinh tế được cải thiện, du lịch càng trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống mỗi người Người dân quan tâm đến du lịch giống như quan tâm đến nhà cửa, xe cộ hoặc mốt thời trang Du lịch tạo cơ hội cho người được sống trong cái đẹp, được phục vụ, được thoát khỏi những phiền toái hàng ngày và những hạn chế xã hội thông thường

Như vậy, lý do đi du lịch của mỗi người là rất khác nhau và đa dạng Nó phản ánh sự nhận thức động cơ và bộc lộ động cơ của chuyến đi Một số công trình nghiên cứu tập trung vào việc phát triển danh mục các lý do mà con người đi du lịch và coi đó như là

Trang 29

29

những động cơ đi du lịch của họ Tuy nhiên, theo Mill và Morrison không phải tất cả các

lý do được nêu đều phản ánh đúng động cơ du lịch Cách tiếp cận như vậy để hiểu biết động cơ du lịch là chưa thỏa đáng vì hai lý do Thứ nhất, bản thân những người đi du lịch

có thể không nhận biết được những lý do thực (động cơ) ẩn sau hành vi đi du lịch của họ Một người tham gia chuyến du lịch câu cá ở ngoại ô vào kỳ nghỉ cuối tuần có thể đơn giản cho rằng lý do chuyến đi là để câu cá Nhưng khi được hỏi, người này mới có thể khám phá ra rằng vấn đề hồi phục sức khỏe đã thúc đẩy chuyến đi Du khách có thể không muốn bộc lộ lý do thực ẩn sau một chuyến đi Họ sẽ không thoải mái thừa nhận lý

do chính của chuyến đi du lịch là họ sẽ có thể “gây ấn tượng” với bạn bè sau khi trở về Thứ hai, tất cả các lý do đưa ra giải thích một cách thích đáng cho động cơ người tiêu dùng vì chúng mới chỉ tập trung vào việc bán sản phẩm hơn là thỏa mãn các nhu cầu của thị trường

Theo TS Harssel (trường Đại học Niagara, NewYork), những lý do con người đi du lịch bộc lộ động cơ chuyến đi gồm 4 nhóm:

- Tự khám phá

Con người đi du lịch sẽ hiểu biết về bản thân mình thông qua hiểu biết thế giới xung quanh Du lịch kết nối du khách với một thế giới mà họ chưa hiểu và chưa biết một cách chính xác thông qua công việc và các hoạt động hàng ngày của họ Nhận thức thế giới có thể thông qua sách báo, phim ảnh và các phương tiện thông tin, nhưng bằng hình thức đi du lịch, du khách được tiếp xúc trực tiếp với thế giới, tự do khám phá những điều bất ngờ, thu nhận được ngay lập thức những kinh nghiệm "chưa bị biên tập bởi trí tuệ người khác"

- Giao lưu xã hội

Nhu cầu giao lưu xã hội là một phần quan trọng để tạo nên chất lượng của kinh nghiệm thu nhận được qua chuyến đi và liên quan đến hỏi "làm như thế nào?" Khi đến một điểm du lịch xa lạ, du khách hiếm khi đi một mình mà thường đi cùng với gia đình, bạn bè hoặc theo đoàn, nhóm Thông qua du lịch, con người ngày càng gắn bó và hiểu nhau hơn Thể thao không chỉ là một hoạt động nhằm phá triển thể lực và nâng cao sức khỏe, mà còn là một hoạt động tạo ra sự giao lưu xã hội Con người ngày càng muốn được

Trang 30

- Tăng cường bản ngã

Tăng cường bản ngã là phạm trù triết học của sự "đề cao cái tôi" trong mỗi người Với lý do đó, nhiều du khách lựa chọn chuyến đi là có sự ảnh hưởng của uy tín cá nhân Việc đến những nơi du lịch nổi tiếng, kỳ lạ với giá tour trọn gói cao được đánh giá quan trọng hơn đến một nơi thông thường với mức giá vừa phải Họ muốn người khác biểu lộ

sự kính trọng, thán phục hoặc thậm chí ganh tỵ khi nghe đến những nơi họ đã tới hoặc đã

đi qua

Động cơ du lịch

Động cơ được hiểu là sự thúc đẩy con người thực hiện hoạt động theo mục tiêu nhất định nhằm thỏa mãn các nhu cầu đặt ra Do đó, vấn đề then chốt để hiểu được động cơ du lịch là xem chuyến đi có thỏa mãn được các nhu cầu và mong muốn hay không Một người đi du lịch không chỉ để được ngồi trên máy bay hoặc được nghỉ trong một khách sạn mà họ muốn được thỏa mãn các nhu cầu hoặc mong muốn đặc trưng Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh du lịch Hoạt động marketing sẽ hoàn toàn khác nhau giữa một đại lý du lịch cho rằng mình chỉ là người bán vé cho các hãng hàng không với một đại lý cho rằng mình đang chào bán “những giấc mơ” cho khách hàng Với hình thức du lịch “ẩm thực”, du khách không chỉ được thỏa mãn nhu cầu ăn uống mà còn được đáp ứng nhu cầu xã hội khác như giao tiếp, kết bạn hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh Như vậy, động cơ du lịch phản ánh những nhu cầu, mong muốn của du khách và là lý do của hành động đi du lịch Động cơ chính là nhu cầu mạnh nhất của con người trong một thời điểm nhất định và nhu cầu này quyết định hành động của con người Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu cũng sẽ tác động đến động cơ Nhu cầu du lịch nói

Trang 31

Động cơ mang tính chủ quan và cá nhân nên rất khó xác định Nó bộc lộ qua lý do đi

du lịch của mỗi cá nhân Tuy nhiên, khách du lịch vì lý do này hay lý do khác mà không muốn hay không thể nói ra động cơ thực sự thúc đẩy họ tham gia vào chuyến đi cụ thể Chính vì vậy, việc nhận thức được động cơ và bộc lộ động cơ du lịch của khách có thể thuộc một trong ba trường hợp sau:

+ Trường hợp 1: Nhận thức được động cơ và sẵn sàng bộc lộ qua lý do thật sự của chuyến đi

+ Trường hợp 2: Nhận thức được động cơ nhưng không muốn bộc lộ hoặc bộc lộ qua những lý do không đúng

+ Trường hợp 3: Không nhận thức được động cơ, không bộc lộ được lý do thực sự của chuyến đi du lịch

Xuất phát từ nhu cầu, các học giả Mỹ McIntosh, Goeldner và Ritchie đã nhóm các động cơ du lịch thành bốn loại:

+ Các động cơ về thể chất: Những động cơ này nhằm giảm bớt tình trạng căng thẳng, hồi phục sức khỏe thông qua các hoạt động thể chất như nghỉ dưỡng, tham gia thể

Trang 32

+ Các động cơ về giao lưu: Đó là sự khát khao gặp gỡ những con người mới, tạo những mối quan hệ bạn bè mới; thăm lại thân nhân hoặc bạn bè; thoát ly sự nhàm chán của công việc và gia đình thường ngày

+ Các động cơ về địa vị và uy tín: Động cơ này liên quan đến nhu cầu đề cao và phát triển cá nhân Nội dung của loại động cơ này bao gồm các chuyến đi liên quan đến kinh doanh, hội nghị, nghiên cứu, theo đuổi sở thích và giáo dục Thông qua du lịch để thỏa mãn khát vọng được chú ý, đánh giá, thừa nhận, và kính trọng

Việc tách biệt các động cơ du lịch theo các loại nêu trên là một vấn đề khó khăn vì chúng có những yếu tố đan xen lẫn nhau Tuy nhiên, việc phân chia này giúp giải thích được thực chất của hành vi du lịch, tại sao con người đi du lịch

Những nghiên cứu gần đây về động cơ du lịch tập trung vào hai khái niệm "thúc đẩy" và "lôi kéo" Các nhân tố "thúc đẩy" một chuyến đi có nguồn gốc duy nhất từ bên trong du khách thường là sự phản ứng lại môi trường sinh sống hoặc làm việc và liên quan đến các điều kiện tâm lý – xã hội riêng biệt đối với từng người Các nhân tố này chính là động cơ du lịch xuất phát từ nhu cầu đã trình bày ở phần trên

Các nhân tố "lôi kéo" đi du lịch phát sinh từ chính bản thân điểm đến du lịch Động

cơ “đẩy” giúp giải thích tại sao con người phát triển nhu cầu và khát vọng đi du lịch, còn động cơ “kéo” giúp giải thích sự lựa chọn điểm đến du lịch Lúc này, có hai đáp án trả lời cho câu hỏi “Điều gì làm con người đi du lịch?” Thứ nhất, chủ yếu từ các động cơ thúc đầy thỏa mãn sự hiểu biết, phá vỡ nhàm chán, nhu cầu giao tiếp và cơ hội tự khẳng định mình Thứ hai, có nhân tố lôi kéo cũng có tầm quan trọng tương đương đó là tính độc đáo của điểm hấp dẫn, cơ hội xa nhà, hoặc thời gian tự do với các hoạt động giải trí

Trang 33

33

Như vậy, các động cơ du lịch vừa có cả thuộc tính văn hóa lẫn tâm lý – xã hội Khách du lịch có thể bị hấp dẫn bởi một sự kiện văn hóa nhất định hoặc tính độc đáo, riêng có của nơi đến du lịch Với một số người khác, các nơi đến ít khi có vai trò như là một động lực thúc đẩy sự thỏa mãn nhu cầu đi du lịch Họ không đến điểm du lịch để hưởng thụ các tài nguyên du lịch mà vì các lý do tâm lý – xã hội không liên quan đến bất

kỳ một nơi đến đặc biệt nào

3.2 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch trong tiếng Anh được gọi là Tourism Product

Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hoá và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật

và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó

Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hoá) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấo cho du khách hay nó bao gồm các hàng hoá, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch

Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hoá du lịch

Phân loại

Bất kì sản phẩm du lịch nào cũng nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch Sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ, có thể là sản phẩm tổng hợp, do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng

- Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một nhu cầu cụ thể của khách

Ví dụ một khách sạn có dịch vụ cho khách du lịch thuê xe tự lái Các nhà cung ứng

Trang 34

34

- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực ra nó

là một kinh nghiệp du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành sản phẩm

du lịch có hàng hoá

- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm

- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy

ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng

- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…

4 Thời vụ du lịch

4.1 Khái niệm và đặc điểm của thời vụ du lịch

Tính thời vụ du lịch (tiếng Anh: Seasonality in tourism) là sự dao động lặp đi, lặp lại hàng năm đối với cung và cầu các dịch vụ và hàng hóa du lịch, xảy ra dưới tác động của một số nhân tố nhất định

Cung du lịch mang tính tương đối ổn định về lượng trong năm còn cầu du lịch lại thường xuyên biến động do phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau Cho nên, nếu lượng cầu dao động quá lớn thì lượng cung không thể nào đáp ứng được

Biểu đồ: Biến động cung cầu trong thời vụ du lịch

Trang 35

35

Biến động cung cầu trong thời vụ du lịch

Khi xem xét tính thời vụ của một khu vực, một đất nước nào đó cần chú ý đến những loại hình du lịch được kinh doanh tại đó là gì Mỗi một loại hình du lịch có một đặc điểm khác nhau vì vậy thời vụ du lịch cũng diễn ra khác nhau

Vì thế, tính thời vụ của một vùng sẽ là tập hợp các dao động theo mùa của cung và cầu các loại hình du lịch được phát triển ở đó

Sự chênh lệch về thời gian giữa các loại hình du lịch và cường độ biểu hiện của từng loại chính là nguyên nhân tạo ra đường cong thể hiện các dao động thời vụ du lịch của toàn bộ hoạt động du lịch

Sự dao động của cung và cầu du lịch đó đã tạo ra các mùa du lịch trong năm

Các mùa trong du lịch

Cường độ nhu cầu du lịch không giống nhau giữa các tháng trong năm tạo ra các thời kì

có lượng cầu khác nhau, đó là các mùa du lịch Bao gồm:

- Mùa chính du lịch: là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách du lịch cao nhất

- Mùa trái du lịch: là khoảng thời gian có cường độ tiếp nhận khách du lịch thấp nhất Ngoài ra, người ta còn xác định khoảng thời gian kề trước và sau mùa chính du lịch:

Trang 36

- Cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau theo thời gian của chu kì kinh doanh

- Độ dài thời gian và cường độ của thời vụ du lịch phụ thuộc vào mức độ phát triển và kinh nghiệm kinh doanh của các quốc gia du lịch, điểm du lịch và các nhà kinh doanh du lịch

- Độ dài thời gian và cường độ thời vụ du lịch phụ thuộc vào cơ cấu của khách đến vùng

đó, việc xác định các nhân tố tác động tới sự hình thành thời vụ du lịch là rất quan trọng

Nhân tố mang tính tự nhiên

Trong nhóm nhân tố mang tính tự nhiên có nhiều yếu tố có thể tác động tới hoạt động du lịch, tuy nhiên khí hậu là nhân tố chính ảnh hưởng đến tính thời vụ trong du lịch Thông

Trang 37

Ảnh hưởng của nhân tố khí hậu thể hiện rõ nét ở các loại hình du lịch nghỉ biển Đối với các du lịch nghỉ biển, các thành phần như ánh nắng, độ ẩm, hướng gió, nhiệt độ và một số đặc điểm như vị trí địa lý, độ sâu, chiều dài - rộng của bãi tắm… sẽ quyết định đến nhu cầu của khách

Như vậy, yếu tố tự nhiên mà cụ thể là khí hậu có vai trò lớn đối với thời vụ du lịch Khí hậu quyết định điều kiện phù hợp để bắt đầu một chuyến du lịch đối với khách du lịch và quyết định tới việc tổ chức, hoạt động du lịch, sử dụng tài nguyên du lịch đối với một địa phương trong khoảng thời gian nhất định

Nhân tố kinh tế - xã hội

Thu nhập

Thu nhập là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới nhu cầu đi du lịch, thu nhập của người dân càng cao thì nhu cầu đi du lịch càng nhiều Vì vậy, ở các nước có nền kinh tế phát triển, người ta đi du lịch nhiều hơn, thực hiện nhiều chuyến đi du lịch trong một năm, do đó nhu cầu đi du lịch trong mùa chính giảm, góp phần làm giảm cường độ

du lịch ở thời vụ du lịch chính Điều đó cho thấy rõ tác động của thu nhập đến tính thời

vụ

Sự thay đổi tỉ giá hối đoái cũng tác động khá lớn đến nhu cầu đi du lịch Chẳng hạn, đồng tiền quốc gia nơi đến bị mất giá so với đồng tiền có khả năng chuyển đổi cao như USD, EURO… thì sẽ làm tăng nhu cầu du lịch và ngược lại Sự thay đổi có thể kéo theo làm thay đổi mức độ, thời vụ của du lịch

Thời gian nhàn rỗi

Quỹ thời gian nhàn rỗi của các nhóm dân cư phân bổ không đồng đều làm ảnh hưởng đến nhu cầu du lịch Chỉ khi có thời gian rỗi, con người mới có thể đi du lịch Tác động của thời gian rỗi lên tính thời vụ trong kinh doanh du lịch thường được xét từ hai khía cạnh: (1) Thời gian nghỉ phép trong năm có thể tác động lên thời vụ du lịch do độ dài

Trang 38

38

của thời gian nghỉ phép và thời gian sử dụng phép trong năm Nếu thời gian nghỉ phép ngắn, du khách thường đi du lịch một lần trong năm và thời gian chính vụ là xu hướng được lựa chọn nhiều, cường độ du lịch sẽ tăng cao vào mùa chính Ngược lại, khi quỹ thời gian nghỉ phép dài ngày, du khách sẽ lựa chọn đi du lịch nhiều lần trong một năm, tỉ trọng nhu cầu tập trung vào mùa chính sẽ giảm, góp phần làm giảm cường độ du lịch ở mùa chính, thu hút nhu cầu ngoài mùa Sự gia tăng thời gian nhàn rỗi là yếu tố góp phần làm giảm cường độ tập trung nhu cầu vào ngoài thời vụ du lịch truyền thống (2) Thời gian nghỉ học của các trường học tác động lên thời gian rỗi của học sinh và phụ huynh, điều này có vai trò trong việc lựa chọn thời gian đi du lịch của các bậc cha mẹ Ở Việt Nam, kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên trùng với mùa du lịch biển nên đã làm tăng cường độ mùa

du lịch chính

Ngược lại, số lượng người hưu trí ngày càng tăng do tuổi thọ trung bình tăng, họ

có thể đi du lịch bất kỳ thời gian nào trong năm nếu có điều kiện kinh tế, vì thế đây là lực lượng làm giảm cường độ mùa du lịch chính

Phong tục tập quán

Dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán được hình thành qua thời gian, dần trở thành lâu đời và có giá trị trong đời sống cộng đồng dân cư các vùng, miền với những màu sắc khác nhau, mang tính độc đáo, hấp dẫn riêng Điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi cũng tạo thêm nhiều phong tục, tập quán mới bên cạnh những phong tục xưa được cộng đồng tôn trọng gìn giữ

Ở một khía cạnh nhất định, phong tục tập quán sẽ trở thành yếu tố tác động trực tiếp đến cầu du lịch, tạo nên sự tập trung của cầu du lịch vào những thời vụ nhất định Ở Việt Nam, phong tục có sức ảnh hưởng mạnh và rõ rệt trong việc tạo nên thói quen đi du lịch của con người, vì thế cũng tác động lên tính thời vụ trong du lịch Có thể nhận thấy rất rõ, khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 3 âm lịch, ở Việt Nam có rất nhiều lễ hội,

lễ tục diễn ra, đây chính là khoảng thời gian quý cho những khách du lịch quan tâm đến

du lịch tâm linh, phong tục tập quán quốc gia, vùng miền

Nhân tố mang tính tổ chức - kỹ thuật

Sự sẵn sàng đón tiếp du khách là nhân tố ảnh hưởng đến độ dài của thời vụ thông qua lượng cung trong hoạt động du lịch Cơ cấu của cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và

Trang 39

Chính sách giá của các cơ quan du lịch ở từng nước, từng vùng, các tổ chức kinh doanh du lịch, khách sạn thường giảm giá các dịch vụ và hàng hóa trước và sau mùa chính hoặc dùng các hình thức khuyến mãi để kéo dài thời vụ du lịch

Các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo ảnh hưởng không nhỏ đến sự phân bố của luồng khách du lịch giúp cho khách du lịch nắm được các thông tin về điểm du lịch để họ có kế hoạch đi nghỉ sớm hoặc sau mùa chính một khi họ thấy có lợi

Các nhân tố khác

Sự quần chúng hóa trong du lịch

Quần chúng hóa trong du lịch là nhân tố ảnh hưởng đến cầu trong du lịch Sự tham gia của số đông du khách có khả năng thanh toán ở mức trung bình (thường ít có kinh nghiệm đi du lịch) thường thích đi nghỉ biển vào mùa hè, mùa du lịch chính bởi: (1) Đa số khách có khả năng thanh toán hạn chế thường đi nghỉ tập thể vào chính vụ do chi phí tổ chức chuyến đi theo đoàn thường nhỏ, mặc dù vào vụ chính có phí du lịch cao nhưng lại được giảm giá cho số đông; (2) Họ thường không hiểu điều kiện nghỉ ngơi của từng tháng nên họ chọn những tháng thuộc mùa chính để xác suất gặp thời tiết bất lợi là nhỏ nhất; (3)

Do ảnh hưởng của xu hướng và sự bắt chước lẫn nhau của du khách Những người mới tham gia vào dòng khách du lịch thường không nắm được điều kiện nghỉ ngơi của từng vùng, từng địa phương một cách cụ thể Họ lựa chọn thời gian đi nghỉ ngơi dưới tác động của các nhân tố tâm lý và phụ thuộc vào kinh nghiệm của người khác Họ thường đi nghỉ vào thời gian mà các nhân vật nổi tiếng đi nghỉ

Vì vậy, sự quần chúng hóa trong du lịch làm tăng tính thời vụ vốn có trong du lịch

Để khắc phục ảnh hưởng này người ta thường dùng chính sách giảm giá vào trước và sau mùa chính, đồng thời tăng cường quảng cáo các điều kiện nghỉ ngơi ngoài mùa chính để thu hút khách

Một số yếu tố đặc biệt khác

Trang 40

sở hạ tầng bổ sung (tuyết nhân tạo, đập nước nhân tạo…) và thời gian đi du lịch của du khách Các yếu tố trên vừa có thể tác động riêng lẻ vừa đồng thời tác động lên tính thời vụ trong du lịch bởi trên thực tế mùa du lịch thường chịu sự tác động đồng thời của một vài yếu tố Tác động của từng nhân tố có thể giảm đi khi có sự tác động ngược lại của một yếu tố khác

Thời vụ ngắn trong du lịch làm cho việc sử dụng tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất

kỹ thuật và lao động không hết công suất gây lãng phí lớn Việc phân bổ không đồng đều của hoạt động du lịch theo thời gian cũng gây ảnh hưởng không tốt đến các ngành kinh

tế và dịch vụ có liên quan Do đó, các nhà kinh doanh cần nghiên cứu kỹ tính thời vụ của hoạt động du lịch tại địa phương; cần hiểu rõ các mối liên hệ và ràng buộc qua lại giữa các yếu tố ảnh hưởng đến độ dài của mùa du lịch, từ đó tìm ra khả năng kéo dài mùa kinh doanh du lịch hoặc xây dựng thời vụ du lịch thứ hai trong năm, nâng cao công suất và tăng nguồn thu cho doanh nghiệp du lịch, khách sạn

4.3 Một số giải pháp khắc phục sự bất lợi của thời vụ du lịch

4.3.1 Xác định khả năng kéo dài thời vụ du lịch :

+ Xác định thể loại du lịch nào phù hợp

+ Giá trị và khả năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch

+ Số lượng du khách trong đó và tiềm năng

+ Sức tiếp nhận của cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch

+ Khả năng cung ứng nguồn lao động

+ Kinh nghiệm tổ chức

+ Khả năng kết hợp các thể loại du lịch khác nhau

4.3.2 Hình thành thời vụ du lịch thứ hai trong năm

Cần phải xác định được những loại hình du lịch và phải dựa trên các tiêu chuẩn sau:

Ngày đăng: 18/02/2023, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm