Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.Nghiên cứu xây dựng chương trình môn học giáo dục thể chất theo học chế tín chỉ cho sinh viên Trường Cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục - đào tạo và công tác Giáo dục thể chất trong trường học
1.1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới
Nhận thức rõ vai trò của giáo dục và đào tạo trong phát triển kinh tế - xã hội và con người, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng nền giáo dục Việt Nam tiên tiến, hiện đại và chất lượng cao Nghị quyết Đại hội XI khẳng định rằng giáo dục góp phần nâng cao năng lực, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đồng thời giữ gìn giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước, theo Báo cáo chính trị tại Đại hội XI Đại hội yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội và hội nhập quốc tế, đồng thời đẩy mạnh hoạt động thể thao để nâng cao sức khỏe cộng đồng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và thúc đẩy sự phát triển bền vững Để thực hiện các chỉ thị này, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết, tiêu biểu như Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013, với mục tiêu đổi mới toàn diện hệ thống giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Nghị quyết này đề ra 7 quan điểm chủ đạo nhằm hướng tới sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo quốc gia.
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là việc thực hiện những vấn đề lớn, cốt lõi và cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, chính sách và điều kiện bảo đảm Quá trình đổi mới hướng đến lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục – đào tạo, và sự tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội cùng chính bản thân người học Đổi mới diễn ra ở tất cả các bậc học, ngành học nhằm phát huy thành tựu đã đạt được, đồng thời phát triển các yếu tố mới, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế Nhiệm vụ quan trọng là kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức và hành động lệch lạc, đảm bảo tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn phù hợp với từng đối tượng và cấp học Các giải pháp đổi mới cần đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình rõ ràng và bước đi hợp lý để thúc đẩy sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục quốc gia.
Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài cho sự phát triển bền vững của đất nước Chuyển đổi mạnh mẽ quá trình giáo dục từ việc chỉ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học, kết hợp lý luận với thực tiễn Học đi đôi với hành, giáo dục nhà trường kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội để tạo ra hệ sinh thái giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Các quan điểm chỉ đạo đó đã được cụ thể hóa trong nghị quyết số 29/NQ-
CP ngày 9/6/2014 và kế hoạch hành động của ngành Giáo dục (B n hành èm theo Quy t nh số 2653 /QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2014 a Bộ tr ng
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Các Bộ, Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo cùng các trường học trên toàn quốc đang đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục Việc thực hiện các giải pháp đổi mới này góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền giáo dục hiện đại Các hoạt động đổi mới giáo dục không ngừng thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển toàn diện của học sinh, góp phần xây dựng nền giáo dục phát triển bền vững.
1.1.2 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất
Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII về Giáo dục & Đào tạo cùng khoa học công nghệ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia Những chính sách này khẳng định sự ưu tiên phát triển ngành khoa học công nghệ như một động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước Đồng thời, các nghị quyết đều nhấn mạnh cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và phát triển nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Giáo dục đào tạo và Khoa học công nghệ cần trở thành quốc sách hàng đầu để chuẩn bị hành trang vững chắc cho thế hệ trẻ bước vào thế kỷ XXI Để xây dựng đất nước giàu mạnh và văn minh, cần phát triển con người toàn diện cả về trí tuệ, đạo đức trong sáng và thể chất cường tráng Điều này đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.
Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định rõ ràng về phát triển thể thao, trong đó nhà nước và xã hội đều có trách nhiệm thúc đẩy nền thể thao dân tộc, khoa học và nhân văn Điều này thể hiện sự thống nhất trong quản lý sự nghiệp phát triển thể thao của nhà nước, đồng thời nhấn mạnh vai trò của giáo dục thể chất bắt buộc trong chương trình đào tạo tại các trường học để nâng cao sức khỏe cộng đồng và phát triển thể thao quốc gia.
GDTC đóng vai trò then chốt trong giáo dục con người mới và phát triển toàn diện, góp phần hình thành những công dân có phẩm chất và năng lực vượt trội Đồng thời, GDTC giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT quốc gia, thúc đẩy phong trào thể thao và nâng cao sức khỏe cộng đồng Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác GDTC là chìa khóa để đáp ứng yêu cầu mới của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
GDTC là hoạt động thể chất cốt lõi trong xã hội, phản ánh trình độ phát triển của nền văn hóa và năng lực sáng tạo của dân tộc, đồng thời là phương tiện giao lưu văn hóa quốc tế Đảng và Nhà nước đã xác định rõ nhiệm vụ chính của GDTC nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực và trang bị kỹ năng vận động cần thiết cho học sinh, sinh viên, góp phần hình thành thói quen rèn luyện thân thể, vệ sinh và phẩm chất đạo đức, nhân cách của thế hệ tương lai đất nước Sự phát triển của GDTC phải phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời đảm bảo tính dân tộc, khoa học và nhân dân, trong đó tính dân tộc thể hiện qua nội dung, hình thức mang đậm bản sắc dân tộc, còn tính khoa học dựa trên việc kế thừa có chọn lọc kiến thức TDTT toàn cầu và phù hợp với quy luật phát triển tâm lý, sinh lý của con người.
Trong công tác đổi mới giáo dục thể chất trường học, việc đổi mới chương trình đào tạo nhằm bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên giáo dục thể chất đóng vai trò then chốt Giáo viên GDTC không chỉ truyền đạt kiến thức về thể dục thể thao mà còn tổ chức và trực tiếp thực hiện các hoạt động giáo dục và thể thao trong nhà trường cũng như cộng đồng Để đáp ứng yêu cầu này, cần đào tạo đội ngũ giáo viên GDTC có đủ năng lực nghề nghiệp, là gương mẫu cho học sinh, tích cực tham gia phát triển thể thao cơ sở và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong nhà trường.
Quan điểm về phát triển thể dục thể thao Việt Nam đã được khẳng định trong "Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020", nêu rõ các tồn tại, yếu kém của ngành, đồng thời đề ra mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể để đổi mới công tác TDTT Chiến lược nhấn mạnh việc tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ hàng đầu là thúc đẩy sự phát triển toàn diện của ngành thể thao, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
“…m rộng và n ng o hất l ợng ào tạo, bồi ỡng ội ngũ giáo vi n, h ớng dẫn vi n th d ho tr ng h ”[13, tr.2], [81]
Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1.Khái niệm về Giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất (GDTC) là một bộ phận quan trọng của giáo dục phổ thông, có vai trò giúp học sinh phát triển thể chất, tinh thần và kỹ năng vận động GDTC bao gồm các nhiệm vụ giáo dục nhằm nâng cao sức khỏe, thúc đẩy luyện tập thể thao và hình thành thói quen sinh hoạt lành mạnh cho học sinh Thông qua quá trình học tập và rèn luyện, GDTC góp phần xây dựng nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của học sinh.
Theo Nôvikov, giáo thỉnh là quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục khó khăn nhất, đòi hỏi sự kiên trì và phương pháp phù hợp Quá trình này thường xuyên đối mặt với các hành vi vi phạm, gây ra nhiều thách thức cho nhà sư phạm và tổ chức hoạt động giáo dục Vai trò của người giáo viên là phải xử lý các tình huống phạm pháp một cách hiệu quả, đảm bảo an toàn và phát triển toàn diện cho học sinh Tuy nhiên, quá trình này cũng cần có sự hỗ trợ liên tục từ các tổ chức liên quan để giảm thiểu các rủi ro và nâng cao chất lượng giáo dục.
Trong Giáo dục Thể chất (GDTC), có hai bộ phận cơ bản là giảng dạy các động tác vận động và phát triển tố chất thể lực, giúp người học nắm vững kỹ thuật động tác và nâng cao thể lực Các bài tập thể dục không chỉ giúp điều chỉnh các đặc tính tự nhiên của cơ thể như sức mạnh và sức bền mà còn thúc đẩy sự phát triển các chức năng điều chỉnh của hệ thần kinh, tăng trưởng cơ bắp và cải thiện khả năng hoạt động của hệ tim mạch, tạo ra những biến đổi thích nghi ngày càng tích cực.
Giáo dục thể chất là môn học chính trong chương trình giáo dục nhằm giúp học sinh phát triển các kỹ năng vận động cơ bản thông qua bài tập và trò chơi vận động, góp phần phát triển tinh thần và thể chất của học sinh, sinh viên, là nền tảng cho sự phát triển toàn diện Theo Quyết định số 904/QĐ-BGDĐT ngày 14/02/2004, giáo dục thể chất còn giúp hình thành thói quen vận động tích cực, góp phần nâng cao ý thức rèn luyện và xây dựng nền tảng nhằm phát triển thể chất và tinh thần của người học trong quá trình học tập và đời sống.
Việc xây dựng mới chương trình các môn thể thao tự chọn phải tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Giáo dục Thể chất (GDTC) Các nội dung này cần phù hợp với các văn bản hướng dẫn của Bộ GD&ĐT nhằm đáp ứng nhu cầu tập luyện thể thao của sinh viên Đồng thời, chương trình cần góp phần giáo dục con người phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng đào tạo.
Phát triển thể chất là một quá trình liên tục diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi người, bao gồm các biến đổi về hình thái, chức năng sinh lý và tố chất vận động Đây là quá trình chịu tác động tổng hợp từ các yếu tố tự nhiên và xã hội, trong đó các yếu tố xã hội đóng vai trò quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của thể chất con người.
Phát triển thể chất là quá trình và kết quả của sự biến đổi về hình thái và khả năng chức phận của cơ thể con người, chịu ảnh hưởng của di truyền, môi trường sống và mức độ tích cực vận động của cá nhân Để đánh giá sự phát triển thể chất, người ta sử dụng các chỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng cánh tay, chỉ số khối cơ thể (BMI) và dung tích sống, giúp đo lường chính xác sự trưởng thành và trạng thái sức khỏe của cơ thể.
1.2.3 Khái niệm học phần, tín chỉ, đặc điểm về học phần, tín chỉ
Học phần và tín chỉ được quy định chi tiết tại Điều 3 của quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 17/VBHN-BGDĐT.
Học phần là khối lượng kiến thức phù hợp giúp sinh viên tích lũy trong quá trình học tập, thường có từ 2 đến 4 tín chỉ Nội dung học phần được tổ chức giảng dạy đầy đủ và phân bổ đều trong từng học kỳ, phù hợp với trình độ của sinh viên theo năm học Mỗi học phần có mã số riêng do trường quy định, đảm bảo tính rõ ràng và dễ quản lý Có hai loại học phần chính: học phần bắt buộc cần hoàn thành để tốt nghiệp và học phần tự chọn để sinh viên tự do lựa chọn phù hợp sở thích và năng lực.
+ Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy
Học phần tự chọn là các môn học cung cấp kiến thức thiết yếu, cho phép sinh viên tự chọn theo hướng dẫn của trường để đa dạng hóa chuyên môn hoặc tự do chọn lựa nhằm tích lũy đủ số học phần theo quy định của chương trình đào tạo.
Tín chỉ (TC) là đơn vị đo khối lượng học tập của sinh viên, phổ biến ở Mỹ và một số quốc gia Một TC được tính dựa trên một tiết học lý thuyết kéo dài 50 phút trong một tuần suốt 15-18 tuần học Các hình thức học khác như thực tập, thực nghiệm, thực địa, vẽ, nhạc, nghệ thuật, thể dục thường được tính bằng cứ 3 tiết học trong một tuần suốt một học kỳ tương đương 1 TC Để chuẩn bị cho một tiết học, sinh viên cần dành ít nhất 2 giờ làm việc ngoài lớp Theo quy định, 1 tín chỉ tương đương với 15 tiết học lý thuyết, 30-45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận, hoặc 45-90 giờ thực tập tại cơ sở, và 45-60 giờ làm tiểu luận hoặc đồ án tốt nghiệp Đặc biệt, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân để tiếp thu một tín chỉ đối với các học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm.
Hiệu trưởng các trường quy định rõ số tiết và số giờ dành cho từng phần học phù hợp với đặc điểm của từng trường Các chương trình đào tạo được tính dựa trên đơn vị học trình, trong đó 1,5 đơn vị học trình (ĐVHT) tương đương với 1 tín chỉ Mỗi tiết học được tính là 50 phút, đảm bảo quy trình giảng dạy phù hợp và thống nhất trong toàn hệ thống giáo dục.
Việc triển khai chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người học, mở ra nhiều cơ hội học tập đa dạng cho các đối tượng khác nhau Chương trình này giúp người học chủ động hơn trong quá trình học tập, nâng cao khả năng tự lập và phù hợp với nhu cầu cá nhân Nhờ đó, sinh viên có thể linh hoạt về thời gian và địa điểm học, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và đáp ứng xu hướng phát triển của giáo dục hiện đại.
Phương thức đào tạo theo tín chỉ được xem là hình thức học linh hoạt, tập trung vào sinh viên và thúc đẩy khả năng tự chủ, động lực tự học và tự nghiên cứu của sinh viên Đây là hệ thống đào tạo mềm dẻo hướng đến phát huy tối đa khả năng của sinh viên, giúp họ chủ động hơn trong quá trình học tập và nghiên cứu.
1.2.4 Đổi mới chương trình giáo dục:
Đổi mới theo nghĩa hiện đại là việc sáng tạo, suy nghĩ mới, sử dụng thiết bị hoặc phương pháp phù hợp với yêu cầu của thời đại và thành quả của khoa học kỹ thuật hiện đại Đổi mới là xu hướng tất yếu của sự phát triển, giúp loại bỏ trì trệ, thúc đẩy sản xuất, công tác và cuộc sống phát triển thuận lợi, nhanh chóng Trong lĩnh vực giáo dục, các nghị quyết của Đảng đều nhấn mạnh việc đổi mới chương trình giáo dục nhằm chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học, đổi mới nội dung giáo dục phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề, và xây dựng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời Đồng thời, đổi mới quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo, hoàn thiện chính sách tài chính, huy động sự tham gia của toàn xã hội để nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục và quản lý, chính là những yếu tố cốt lõi thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục trong thời kỳ đổi mới.
Khái quát về chương trình đào tạo
Trong phần này, luận án sẽ trình bày và làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến nghiên cứu, bao gồm chương trình đào tạo, chương trình khung và chương trình môn học Các khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục phù hợp, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo hiện đại Việc hiểu rõ các thuật ngữ này giúp xác định rõ phạm vi nghiên cứu và nâng cao hiệu quả thiết kế chương trình học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu của người học.
1.3.1 Chương trình, chương trình khung,
Việc đưa ra định nghĩa về chương trình giáo dục không hề dễ dàng, bởi vì các tác giả như Hilda Taba (1962), Tanner (1995), Piter F Oliva, Ronald C Doll (1996), White (1995) đã chỉ ra rằng quan niệm về chương trình phản ánh rõ quan điểm cá nhân về mục tiêu và bản chất của giáo dục Các định nghĩa này cho thấy rằng, ngoài việc xác định khái niệm, chúng còn thể hiện quan điểm của từng người về vai trò và chức năng của giáo dục trong xã hội Do đó, hiểu đúng về chương trình giáo dục không chỉ là vấn đề kỹ thuật, mà còn liên quan đến các quan điểm và triết lý giáo dục của mỗi nhà nghiên cứu.
Chương trình đào tạo được hiểu là văn bản hình thành, mô tả các mục tiêu, nội dung, phương pháp, và kỹ năng cần đạt được trong quá trình học tập Nó bao gồm tổng thể các môn học, hoạt động lớp học và thực hành theo từng năm học, xác định tỷ lệ các bộ môn, lý thuyết và thực hành, cũng như các quy định về phương pháp giảng dạy, phương tiện, đặc điểm của vật chất, yêu cầu chuẩn đầu ra và văn bằng tốt nghiệp.
Chương trình giáo dục là bản thiết kế tổng thể được trình bày một cách có hệ thống để hướng dẫn hoạt động giáo dục, đào tạo trong một khóa học trong khoảng thời gian xác định Nó bao gồm bốn yếu tố chính: mục tiêu đào tạo được cụ thể hóa qua kết quả đào tạo, nội dung cần đào tạo (các môn học) và thời lượng của mỗi môn học, quy trình và phương pháp triển khai thực hiện nội dung đào tạo nhằm đạt được mục tiêu, cùng với phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo.
Ch ơng trình khung là khung quy định cứng về CTĐT theo Quyết định số
Theo Quyết định số 15/2004/QĐ-BGDĐT, xác định rõ số ĐVHT cần được đào tạo và danh sách các môn học chung áp dụng cho tất cả các trường đào tạo ngành đó Chương trình khung do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm đảm bảo tính thống nhất trong đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việc xây dựng chương trình theo quy định này giúp chuẩn hóa kiến thức cung cấp cho sinh viên, phù hợp với yêu cầu của ngành nghề và đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.
Bộ GD&ĐT ban hành không phải là một chương trình đào tạo hoàn chỉnh mà chỉ là phần nội dung cứng [20]
Chương trình khung của hệ đào tạo trình độ cao đẳng theo Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH quy định rõ ràng về quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo Chương trình này gồm các nội dung cứng về số lượng ĐVHT cần được đào tạo, danh sách các môn học chung áp dụng cho tất cả các trường có ngành đào tạo đó Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành chương trình khung như một phần nội dung cố định, nhằm định hướng chung cho các chương trình đào tạo cao đẳng Tuy nhiên, chương trình khung không phải là một chương trình đào tạo hoàn chỉnh, mà chỉ cung cấp nội dung cơ bản để các trường xây dựng và phát triển chương trình đào tạo phù hợp.
Chương trình đào tạo của mỗi trường được thiết kế dựa trên chương trình khung do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định cho từng ngành hoặc chuyên ngành, sau đó các trường bổ sung phần nội dung mềm, cấu trúc, sắp xếp lại các học phần phù hợp, nhằm xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với đặc thù của trường Các trường còn chủ động xây dựng nội dung chương trình ngoài các môn do Bộ quy định, nhằm tạo ra sự khác biệt, thể hiện tính chủ động trong công tác đào tạo để thu hút sinh viên và đáp ứng yêu cầu của xã hội Hiện nay, chương trình đào tạo theo Thông tư số 03/2017/TT-BLĐTBXH ngày 01/03/2017 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội gồm 4 phần chính: mục tiêu đào tạo, khối lượng kiến thức và thời gian khoá học, nội dung chương trình, hướng dẫn sử dụng chương trình.
Sau khi Quốc hội thông qua Luật giáo dục Nghề nghiệp, phương thức quản lý chương trình và nội dung đào tạo nghề nghiệp đã được điều chỉnh lại Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hiện chịu trách nhiệm quy định, xây dựng, thẩm định và ban hành các chương trình khung cho các ngành đào tạo nghề nghiệp, đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu thực tế và tiêu chuẩn chất lượng giáo dục nghề nghiệp.
Quản lý chương trình khung gồm việc xác định cơ cấu, nội dung môn học, thời gian đào tạo và tỷ lệ phân bổ thời lượng giữa kiến thức giáo dục đại cương và chuyên nghiệp Dựa trên chương trình khung, hiệu trưởng các trường cao đẳng có trách nhiệm tổ chức xây dựng, đánh giá thẩm định và ban hành chương trình đào tạo phù hợp với ngành nghề của nhà trường.
Chương trình môn học là văn bản quy định rõ mục tiêu, nội dung giảng dạy, phương pháp dạy và học, cùng hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của từng môn học hoặc học phần, giúp người học tích lũy kiến thức một cách hệ thống và phù hợp với thời lượng từ 2 đến 4 tín chỉ trong suốt một học kỳ Theo từ điển tiếng Việt và Từ điển Bách khoa Việt Nam, môn học được hiểu là khối tri thức hoặc kỹ năng thuộc một phần của chương trình học, sắp xếp theo yêu cầu sư phạm để truyền thụ cho sinh viên, đảm bảo phù hợp với trình độ của từng năm học Trong tiếng Anh, thuật ngữ "course syllabus" dùng để chỉ kế hoạch giảng dạy chi tiết, gồm nội dung và cấu trúc môn học trong chương trình giáo dục Các môn học thường có khả năng tích lũy kiến thức trọn vẹn, phân bố đều trong suốt học kỳ, và dựa trên chế độ tích lũy, môn học được phân thành 3 loại phù hợp với từng mức độ trình độ của sinh viên.
Môn học bắt buộc chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của ngành hoặc chuyên ngành đào tạo, đóng vai trò là nền tảng để xây dựng và phát triển kiến thức cho các môn học tiếp theo trong chương trình đào tạo Các môn học này không thể thiếu và bắt buộc người học phải tích lũy để được công nhận văn bằng.
Môn học tự chọn có hướng dẫn là các môn học chứa đựng nội dung kiến thức cần thiết, do người học tự chọn theo hướng dẫn của cố vấn học tập hoặc nhà trường Những môn học này giúp định hướng hoặc mở rộng kiến thức chuyên ngành đào tạo của sinh viên.
Môn học chọn tự do là phần trong chương trình đào tạo mà người học tự chọn dựa trên sở thích và nhu cầu cá nhân, giúp mở rộng kiến thức ngành hoặc chuyên ngành đào tạo Môn học này không chỉ góp phần tích lũy đủ số tín chỉ theo quy định của chương trình mà còn thúc đẩy phát triển kỹ năng và kiến thức đa dạng cho sinh viên.
1.3.3 Khái quát về chương trình môn học GDTC
Hiện nay, các trường cao đẳng trong cả nước, đặc biệt là Trường Cao đẳng Công thương, đang thực hiện chương trình Giáo dục Thể chất (GDTC) theo chỉ đạo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Chương trình và kế hoạch đào tạo này được ban hành dựa trên Thông tư số 12/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 09 năm 2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển toàn diện cho sinh viên.
Chương trình môn học Giáo dục thể chất cung cấp kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, giúp hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe và phát triển thể lực Khóa học còn góp phần hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập và kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần tích cực, thúc đẩy mục tiêu giáo dục toàn diện.
Đặc điểm tâm lý và sinh lý của sinh viên (lứa tuổi 19- 22)
1.4.1 Đặc điểm tâm lý sinh viên (lứa tuổi 19- 22)
Phát triển tự ý thức là một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của sinh viên Đây là quá trình hình thành ý thức và khả năng tự đánh giá về hành động, kết quả hoạt động, tư tưởng, tình cảm và đạo đức của bản thân Sinh viên luôn xem xét và nhận thức toàn diện về chính mình cũng như vị trí của mình trong cuộc sống, giúp họ phát triển ý thức tự đề cao và tự phản ánh về bản thân.
Tự ý thức là khả năng tự quan sát, phân tích, đánh giá và kiểm tra hoạt động cùng nhân cách của chính mình Đây là một loại ý thức đặc biệt trong đời sống cá nhân, có chức năng giúp tự điều chỉnh hành vi và thái độ đối với bản thân, góp phần nâng cao nhận thức và phát triển cá nhân một cách toàn diện.
1.4.1.2 Hoạt ộng h c tập và nghi n c u c a sinh vi n
Hoạt động học tập tại các trường ĐH, CĐ là những hoạt động tâm lý quan trọng của sinh viên được tổ chức một cách độc đáo và có mục đích rõ ràng Những hoạt động này không chỉ giúp sinh viên chuẩn bị về mặt kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà còn thúc đẩy sự phát triển toàn diện của bản thân Mục tiêu chính của quá trình học tập là đào tạo sinh viên trở thành những người chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo và giúp sinh viên tiếp cận cũng như giải quyết các vấn đề khoa học và thực tiễn Các hoạt động này góp phần tạo lập kỹ năng tư duy phản biện và nghiên cứu độc lập, thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới trong học tập Đồng thời, nghiên cứu khoa học của sinh viên còn mở ra cơ hội tiếp cận các kiến thức mới, nâng cao năng lực chuyên môn và chuẩn bị tốt hơn cho sự nghiệp sau này.
Động cơ là yếu tố thúc đẩy mọi hoạt động, trong đó hoạt động học tập của sinh viên cũng được kích thích bởi một động cơ nhất định Động cơ học tập của sinh viên được xem là yếu tố kích thích, thúc đẩy quá trình học tập để nắm vững kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách Vì vậy, động cơ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và nâng cao động lực học tập của sinh viên.
Những sự vật hiện tượng có thể trở thành động cơ học tập, bắt nguồn từ hai nguồn gốc:
Nguồn gốc bên ngoài của sự phát triển cá nhân xuất phát từ gia đình, nhà trường, xã hội và địa vị cá nhân Những mong đợi từ gia đình và xã hội cùng sự kỳ vọng của người thân ảnh hưởng lớn đến quá trình trưởng thành của sinh viên Các yếu tố này hình thành nên môi trường hỗ trợ hoặc thách thức đối với sự phát triển của học sinh, góp phần định hình giá trị, mục tiêu và thái độ học tập của họ.
- Nguồn gốc bên trong: Xuất phát từ nhu cầu hiểu biết hoàn thiện tri thức, hứng thú học tập
Động cơ học tập của sinh viên là sự kết hợp của các yếu tố kích thích thúc đẩy quá trình học tập, phản ánh qua các mục đích khác nhau của sinh viên Theo các nhà nghiên cứu, hiện nay sinh viên có đa dạng động cơ học tập, có thể phân thành năm loại chính là động cơ xã hội, động cơ nghề nghiệp, động cơ nhận thức, động cơ tự khẳng định bản thân và động cơ vụ lợi Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên.
Động cơ xã hội của sinh viên thể hiện ý thức rõ ràng về các nhu cầu và lợi ích của xã hội, đồng thời hướng tới đạt được các mục tiêu và chuẩn mực xã hội đề ra.
Động cơ nghề nghiệp là yếu tố quan trọng thúc đẩy sinh viên tìm hiểu sâu về ngành nghề mình yêu thích, giúp họ có quyết tâm và đam mê để phát triển sự nghiệp Những sinh viên có động cơ nghề nghiệp rõ ràng thường thể hiện sự hứng thú với lĩnh vực đã chọn và khả năng sáng tạo trong việc xây dựng hướng đi nghề nghiệp phù hợp Việc xác định động cơ nghề nghiệp giúp sinh viên nắm bắt rõ mục tiêu học tập và phát triển kỹ năng cần thiết để thành công trong tương lai.
Động cơ nhận thức của sinh viên thể hiện qua nhu cầu học tập nhằm nâng cao kiến thức và phát triển bản thân Họ học để hiểu biết nhiều hơn, hoàn thiện kỹ năng, đồng thời khám phá những điều mới lạ trong quá trình học tập Việc này giúp sinh viên không chỉ tích lũy kiến thức mà còn phát triển tư duy sáng tạo và mở rộng tầm nhìn cuộc sống.
Động cơ tự khẳng định mình là đặc điểm của sinh viên có ý thức rõ ràng về năng lực và khả năng của bản thân Trong quá trình học tập, họ luôn thể hiện mong muốn thể hiện khả năng, khẳng định bản thân qua thành tích và nỗ lực Chính nhờ động lực này, sinh viên tự tin hơn trong học tập và phát triển bản thân một cách hiệu quả.
- Động cơ vụ lợi: Đó là học tập để có địa vị xã hội, có lương cao,…
Các động cơ học tập kích thích và thúc đẩy sinh viên tích cực học tập, tuy nhiên, mức độ thể hiện của những động cơ này khác nhau ở từng sinh viên Sự đa dạng trong các động cơ này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành thái độ và hành vi học tập của sinh viên Việc hiểu rõ các động cơ học tập giúp xây dựng phương pháp giảng dạy phù hợp, nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên.
1.4.1.4 Động ơ tham gia th thao c a con ng i
Vận động là một nhu cầu thiết yếu của sự sống vì bản chất của sự sống chính là sự vận động Việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe, kéo dài tuổi thọ là mong muốn tự nhiên và luôn tiềm ẩn trong mỗi con người Đặc biệt, ước muốn này càng rõ ràng hơn ở những người lớn tuổi hoặc người gặp vấn đề về sức khỏe, khi họ cần phải duy trì sự vận động để cải thiện chất lượng cuộc sống.
Mong muốn có một thể hình đẹp là một ước muốn của mọi cá nhân, điều này đặc biệt rõ ở nam và nữ thanh niên
Nhu cầu thưởng thức sự hấp dẫn, vẻ đẹp của môn thể thao, thỏa mãn cảm giác dễ chịu do môn thể thao mang lại
Hoạt động tập luyện của quần chúng đa dạng theo giới tính, lứa tuổi, điều kiện kinh tế và lối sống, phản ánh sở thích và động cơ riêng biệt Người lớn tuổi thường chọn các bài tập dưỡng sinh và thái cực quyền để duy trì sức khỏe Thanh niên thích tham gia các môn võ và bóng đá để rèn luyện thể lực và tinh thần chiến đấu Nữ thanh niên yêu thích các hoạt động nhịp điệu, khiêu vũ nhằm duy trì sự dẻo dai và năng lượng tích cực.
Thiếu niên có sở thích đa dạng hơn, tuy nhiên họ thường không thích những môn học mang tính đơn điệu, phản ánh xu hướng tìm hiểu những hoạt động mới mẻ, hấp dẫn Động cơ tham gia thể thao không chỉ là yếu tố ý thức, mà còn phản ánh tư tưởng, tình cảm thúc đẩy các em tập luyện tích cực Nó mô tả trạng thái kích thích nội tại, điều khiển và chỉ đạo hành vi, giúp các thiếu niên duy trì đam mê và sự hứng thú trong các hoạt động thể thao.
Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên
Sự thay đổi các tố chất thể lực dựa trên sự phát triển về hình thái và chức năng của cơ thể Quá trình này biến đổi theo lứa tuổi, giới tính và có tính làn sóng cũng như theo từng giai đoạn phát triển Trong quá trình trưởng thành, các tố chất thể lực phát triển không đồng bộ, mỗi tố chất có mức độ phát triển riêng và vào các thời điểm khác nhau Các tố chất thể lực chính gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo, đều đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của cơ thể.
Sức mạnh phụ thuộc vào hệ vận động vì nó liên quan chặt chẽ đến các tổ chức xương, cơ, dây chằng, năng lực kiểm soát và điều hòa cơ Trong quá trình trưởng thành, sự phát triển không đồng đều của các nhóm cơ làm thay đổi tỷ lệ sức mạnh của chúng theo từng lứa tuổi Đặc biệt, các nhóm cơ duỗi phát triển nhanh hơn nhóm cơ co và các cơ hoạt động nhiều hơn sẽ có tốc độ phát triển vượt trội, đặc biệt từ 18 đến 21 tuổi, khi sức mạnh cơ bắp tăng đột biến Để nâng cao sức mạnh, người ta thực hiện các bài tập sức mạnh với lực đối kháng, chia thành hai nhóm dựa trên tính chất lực đối kháng Nhóm một bao gồm các bài tập với lực đối kháng từ bên ngoài như dụng cụ nặng, lực từ người tập khác, lực đàn hồi và môi trường như chạy trên cát hoặc bãi biển Nhóm hai là các bài tập dựa trên trọng lượng cơ thể để khắc phục và nâng cao sức mạnh.
Tốc độ là một tố chất vận động quan trọng, thể hiện qua thời gian phản ứng, tần số động tác và tốc độ của từng hành động Trong hoạt động thể lực, tốc độ tổng hợp phản ánh khả năng thực hiện các động tác nhanh chóng và chính xác Tốc độ của các động tác đơn lẻ có thể biến đổi rõ rệt trong quá trình phát triển thể lực Việc luyện tập đều đặn giúp nâng cao tốc độ của các động tác, mang lại hiệu quả thể lực vượt trội.
Phương pháp cơ bản để giáo dục sức nhanh là sử dụng kỹ thuật lặp lại, giúp nâng cao khả năng vận động Tuy nhiên, để tránh sự nhàm chán và "hàng rào tốc độ," người ta khuyến khích kết hợp các trò chơi như chạy tiếp sức hoặc các trò chơi với bóng, tạo sự hứng khởi và thúc đẩy quá trình luyện tập hiệu quả.
Sức bền phát triển đến 21-22 tuổi thì đạt đỉnh cao, cho thấy sự liên hệ mật thiết giữa sức bền và chức năng hệ thống tuần hoàn, hô hấp, cũng như khả năng ổn định của cơ thể Trong các hoạt động tĩnh lực và động lực, tố chất sức bền cũng có những biến đổi đáng kể Sức bền ưa khí phát triển mạnh nhất trong độ tuổi 18-22, trong khi đó, sức bền yếm khí lại có sự phát triển vượt trội ngay từ lứa tuổi 12-17, phản ánh sự đa dạng trong quá trình phát triển thể lực theo từng nhóm tuổi.
Để phát triển sức bền chung cho sinh viên, các bài tập gắng sức kéo dài từ 2-3 phút trở lên như chạy Việt dã hoặc chạy quãng đường 1000m – 5000m với cường độ phù hợp là phương pháp chủ yếu Những bài tập này giúp nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể, khắc phục mệt mỏi và duy trì hoạt động vận động hiệu quả Thông thường, sinh viên nên tập luyện khoảng 1 lần mỗi tuần, tuân theo nguyên tắc tăng dần lượng vận động để đạt hiệu quả tối ưu trong việc phát triển sức bền.
Tố chất vận động khéo léo phản ánh khả năng điều khiển các yếu tố thể lực, không gian và thời gian của động tác Định hướng chính xác trong không gian là một trong những yếu tố quan trọng nhất của khéo léo vận động Khả năng này phát triển mạnh nhất trong độ tuổi từ 7 đến 10 tuổi, ổn định từ 10 đến 12 tuổi, giảm sút vào độ tuổi 14 đến 15, và đạt mức độ người lớn vào khoảng 16 đến 17 tuổi.
Để tăng khả năng linh hoạt khéo léo, cần đa dạng hóa các bài tập bằng cách thực hiện nhiều loại động tác khác nhau, thay đổi điều kiện bên ngoài để thích nghi tốt hơn, thực hiện các bài tập theo yêu cầu về thời gian để nâng cao khả năng phản xạ, cùng với việc điều chỉnh cách thức thu nhận thông tin nhằm cải thiện kỹ năng vận động một cách toàn diện.
Tố chất mềm dẻo là khả năng hoạt động của các khớp và sự linh hoạt của dây chằng, cơ bắp trong cơ thể con người Độ mềm dẻo không phát triển đều theo lứa tuổi, ảnh hưởng đến khả năng vận động tổng thể Độ linh hoạt của cột sống ở trẻ nam 7 tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự linh hoạt và sức khỏe vận động Các bài tập kéo giãn và vận động phù hợp sẽ giúp nâng cao tố chất mềm dẻo, phòng tránh chấn thương và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Trong quá trình phát triển, chiều cao của trẻ nâng cao rõ rệt và đạt mức lớn nhất vào tuổi 15 Sau đó, sự phát triển chiều cao chậm lại khi trưởng thành Độ linh hoạt của khớp hông phát triển mạnh mẽ nhất ở độ tuổi 12-13, trong khi biên độ khớp hông lớn nhất lại xuất hiện từ 7-10 tuổi, sau đó quá trình phát triển chậm lại.
Các bài tập phát triển linh hoạt hiệu quả cần đảm bảo khả năng phối hợp vận động cao, chất lượng thả lỏng cơ tốt và khả năng gập sâu tối đa Những bài tập này không gây ức chế thần kinh, đồng thời kích thích sự hưng phấn cho người tập Thực hiện các bài tập nên hạn chế thời gian, kết hợp các động tác luân phiên hoặc giữ quãng nghỉ ngắn để duy trì hiệu quả và an toàn.
Phát triển hài hòa các tố chất thể lực là nhiệm vụ quan trọng trong công tác GDTC cho HSSV, giúp nâng cao sức khỏe và khả năng hoạt động của cơ thể Thể lực tốt tạo điều kiện thuận lợi để hệ hô hấp, tuần hoàn hoạt động hiệu quả và thúc đẩy quá trình tiêu hóa, duy trì sức khỏe ổn định Việc lưu thông máu tốt sẽ cung cấp đủ dưỡng chất và dưỡng khí, đồng thời loại bỏ độc tố ra khỏi cơ thể, đảm bảo sự cân bằng nội tạng Theo Đông y, “Thông tức bất thống, thống tắc bất thông”, nghĩa là khí huyết lưu thông tốt thì không đau, còn đau là biểu hiện khí huyết không đều Khi có sức khỏe tốt, các em học sinh sẽ tích cực tham gia học tập và các hoạt động, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và thành tích học tập.
Sơ lược về Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM
1.6.1 Một số nét về Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM
Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM hiện nay, được thành lập tháng 10/1976 Tháng 12/2000 trường được nâng cấp lên thành trường Cao đẳng Kinh tế
- kỹ thuật Công nghiệp II, tháng 01/2009 đổi tên thành Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM như hiện nay
Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM thuộc Bộ Công Thương, là cơ quan chủ quản trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo do Bộ Lao động Thương binh & Xã hội quản lý Đây là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đất nước.
Trường Cao đẳng Công Thương TP.HCM tuyển sinh hàng năm từ 4.300 đến 5.000 sinh viên trên toàn quốc, góp phần mở rộng quy mô đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng Với quy mô tuyển sinh lớn, hiện trường đang đào tạo hơn 15.000 sinh viên, chia thành 26 chuyên ngành đa dạng phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động Trường không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành công thương trong nước và quốc tế.
Trường có khoảng 400 cán bộ, giảng viên, công nhân viên làm việc tại 13 khoa, 13 phòng ban và trung tâm chức năng, đáp ứng cơ bản nhiệm vụ đào tạo Cơ cấu đội ngũ giảng viên phù hợp với các ngành và chuyên ngành đào tạo của trường Đây là đội ngũ có tỷ lệ học hàm, học vị cao, với 16 giảng viên tiến sĩ (4.5%) và 212 thạc sĩ (59.72%), cùng các trình độ khác như đại học (27.04%), cao đẳng (4.2%), trung cấp (2.5%), và sơ cấp (2.04%) Một phần giảng viên đang theo học sau đại học, gồm 22 nghiên cứu sinh và 20 thạc sĩ, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
1.6.2 Khoa giáo dục thể chất
Khoa Giáo dục Thể chất được thành lập theo Quyết định số 495/QĐ-CĐCT ngày 20/10/2011 của Hiệu trưởng, có chức năng, nhiệm vụ và hoạt động phù hợp với quy chế tổ chức của nhà trường Hiện nay, khoa có 10 giảng viên chính và 1 giáo vụ, cùng với hợp đồng ký với 5 giảng viên ngoài Tất cả 10 giảng viên đều có trình độ Thạc sĩ, sở hữu uy tín, năng lực chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm, và có khả năng tổ chức, điều phối các hoạt động của khoa theo chỉ đạo của Ban Giám Hiệu nhà trường.
Nhà trường xác định rằng bên cạnh đội ngũ cán bộ giảng dạy và cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện giảng dạy đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của sinh viên Mặc dù luôn quan tâm đầu tư xây dựng và mua sắm cơ sở vật chất, đặc biệt cho môn GDTC, diện tích sân bãi và dụng cụ TDTT vẫn còn thiếu, chủ yếu phục vụ các môn học tự chọn và chính khóa Trong những năm qua, ban giám hiệu đã tích cực trang bị cơ sở vật chất và thiết bị giảng dạy GDTC, TDTT cho giảng viên và sinh viên, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu giảng dạy thực tế.
Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM hiện đang thực hiện chương trình Giáo dục Thể chất theo đúng quy định tại Thông tư số 12/2018/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Chương trình này nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực và kỹ năng vận động cho sinh viên, đảm bảo phù hợp với tiêu chuẩn quy định của Bộ Việc thực hiện đúng quy trình giúp sinh viên phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Tình hình nghiên cứu về hoạt động xây dựng chương trình môn học GDTC ở Việt Nam
Hiện nay, qua hệ thống thư viện, trao đổi với đồng nghiệp và tìm kiếm trực tuyến, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của hoạt động xây dựng chương trình môn học GDTC ở các cấp độ phù hợp với điều kiện từng trường và địa phương Tuy nhiên, mục tiêu chung vẫn hướng tới việc nâng cao hiệu quả của quá trình xây dựng chương trình đào tạo, tập trung vào các vấn đề như nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho học sinh, sinh viên.
Trong lĩnh vực thể thao và giáo dục thể chất, một số tác phẩm thiết kế, xây dựng chương trình cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng:
Trong luận án tiến sĩ của Trần Nam Giao (2018), đã cung cấp thông tin chính xác, toàn diện về thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục Thể chất theo học chế tín chỉ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá các điều kiện đảm bảo như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên và chương trình đào tạo; mức độ quan tâm của sinh viên đối với chương trình GDTC; thực trạng thể chất của sinh viên năm thứ nhất; và các biện pháp triển khai chương trình Đồng thời, luận án đã xây dựng thang đo đánh giá để đánh giá thực trạng các biện pháp thực hiện chương trình Giáo dục Thể chất theo học chế tín chỉ, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện giáo dục thể chất trong môi trường đại học.
Nguyễn Thanh Hùng (2017) đã xây dựng chương trình giáo dục thể chất phù hợp cho sinh viên Đại học Quy Nhơn, bao gồm học phần tự chọn và hoạt động ngoại khóa, nhằm nâng cao thể chất và sức khỏe của sinh viên Luận án đã nghiên cứu và đánh giá thực trạng công tác giáo dục thể chất, gồm nội dung chương trình, hoạt động câu lạc bộ thể thao, và tình trạng thể chất của sinh viên, đồng thời xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất Mô hình đổi mới chương trình giáo dục thể chất bao gồm nội dung tự chọn với 9 môn thể thao và ngoại khóa với 6 câu lạc bộ thể thao, phân bổ 60 tiết tập luyện phù hợp cho các hoạt động chạy trong lớp học và câu lạc bộ Quá trình kiểm nghiệm trong 10 tháng đã chứng minh rằng việc áp dụng đa dạng các môn tự chọn và câu lạc bộ thể thao mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc phát triển thể chất của sinh viên.
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa (2017) đã đánh giá thực trạng chương trình đào tạo giáo dục thể chất tại Trường Đại học Cần Thơ, nhận thấy kết quả học tập của sinh viên còn nhiều yếu kém, thể chất phù hợp với người Việt Nam nhưng vẫn còn hạn chế về khéo léo, sức bền và thể lực theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong giai đoạn từ 2010 đến 2014, điều kiện tổ chức hoạt động GDTC như đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và kinh phí còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên Để cải thiện, chương trình giảng dạy các môn thể thao tự chọn đã được nâng cấp từ 60 lên 90 tiết, bao gồm 9 môn như điền kinh, Taekwondo, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông, bóng bàn, thể dục nhịp điệu, bóng rổ và môn cờ vua dành cho sinh viên có sức khỏe yếu hoặc khuyết tật, phù hợp với thực tế và đáp ứng mục tiêu đào tạo của trường, đồng thời phù hợp với quy định của Thông tư số 25/2005/TT-BGDĐT về chương trình môn học GDTC trong đào tạo đại học.
Trong năm 2015, đã có nhiều cải tiến về điều kiện đảm bảo hoạt động thể thao như tuyển thêm cán bộ, đề xuất sửa chữa cơ sở vật chất và tăng kinh phí cho các hoạt động TDTT, góp phần nâng cao hiệu quả các chương trình thể thao Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Cương (2016) về xây dựng chương trình thể thao nâng cao cho sinh viên Đại học Thái Nguyên đã xác định mối liên hệ giữa lý luận khoa học giáo dục và giáo dục thể chất trong việc tổ chức các hình thức giáo dục phù hợp với đặc điểm cá nhân của người học Trường Đại học TDTT Bắc Ninh cũng đã xây dựng quy trình phát triển chương trình giáo dục thể chất cho các nhóm sinh viên có trình độ khác nhau dựa trên các quan điểm, xu hướng mới trong lý luận và thực tiễn giáo dục Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thực trạng công tác giáo dục thể chất tại Đại học Thái Nguyên qua góc nhìn phân hóa trong giáo dục, từ đó góp phần đánh giá toàn diện hơn về công tác này và xác định nhu cầu nâng cao kỹ năng, kiến thức cho các sinh viên yêu thích và có năng khiếu thể thao Đồng thời, nghiên cứu đã xây dựng chương trình đào tạo thể thao đặc biệt cho sinh viên có năng khiếu, mở ra chương trình mới chưa từng được triển khai tại các trường thuộc Đại học Thái Nguyên, góp phần thúc đẩy hoạt động thể thao nâng cao trong sinh viên.
Nguyễn Hữu Vũ (2016) [90] Ứng dụng một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên trường Đại học Tư thục Hoa Sen Thành phố
Luận án tiến sĩ Giáo dục học của Hồ Chí Minh tại Trường Đại học TDTT TP.HCM đã nghiên cứu toàn diện thực trạng công tác giáo dục thể chất tại Đại học Tư thục Hoa Sen, bao gồm chương trình nội khóa, cơ sở vật chất, đầu tư tài chính, nhân sự bộ môn và quy trình đào tạo Nghiên cứu đã làm rõ thành tựu, khó khăn và nguyên nhân của các kết quả đạt được trong việc nâng cao chất lượng giáo dục thể chất cho sinh viên Trên cơ sở đó, luận án đề xuất 03 nhóm gồm 15 giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng GDTC, được đánh giá là khả thi và hiệu quả sau khi triển khai thực hiện.
Trần Ngọc Cương (2018) đã nghiên cứu xây dựng chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình Câu lạc bộ trong đào tạo tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sài Gòn, sử dụng Bộ tiêu chuẩn AUN-QA và các tiêu chuẩn của Thông tư 04/2016/TT-BGDĐT để đánh giá thực trạng chương trình giáo dục thể chất Nghiên cứu đã phân tích học tập, thể lực chung, nhu cầu các môn thể thao của sinh viên, cũng như mức độ đánh giá của giảng viên và điều kiện đảm bảo của chương trình, từ đó xác định những ưu nhược điểm hiện tại Trên cơ sở đó, luận án đề xuất xây dựng một chương trình mới, phù hợp, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng xu thế hội nhập và sứ mệnh phát triển của nhà trường, đồng thời sử dụng các tiêu chuẩn đánh giá này để kiểm thử và hoàn thiện chương trình mới.
Chương trình các môn thể thao tự chọn theo mô hình câu lạc bộ đã được xây dựng dựa trên các văn bản pháp lý của Chính phủ và Bộ GD&ĐT, bao gồm 5 môn: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, bóng rổ và cầu lông, với thời lượng 90 tiết (3 tín chỉ) Chương trình thực nghiệm trong một năm học với 3 khóa học đảm bảo tính sư phạm và cập nhật phù hợp để sinh viên phát triển kỹ năng, kỹ xảo vận động và thói quen vận động thể thao suốt đời Cấu trúc và thời lượng của chương trình đáp ứng nhu cầu tập luyện thể thao của sinh viên, cung cấp kỹ năng và thái độ tích cực phù hợp với yêu cầu phát triển toàn diện.
Dựa trên các công trình nghiên cứu và tài liệu về xây dựng chương trình giáo dục, tác giả nhận thấy phần lớn tập trung vào phát triển chương trình giáo dục đại học với các quan điểm lý luận, mô hình và tiêu chí đánh giá mang những điểm mạnh riêng Các lý thuyết này có thể ứng dụng để giải quyết các nội dung của đề tài luận án Tuy nhiên, trong bối cảnh nghiên cứu về chương trình GDTC nội, ngoại khóa cho sinh viên còn rất hạn chế, phần lớn các đề tài tập trung vào cải tiến chương trình môn học dành cho sinh viên không chuyên và nâng cao chất lượng công tác GDTC Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến xây dựng chương trình GDTC phần tự chọn dành cho sinh viên các trường cao đẳng.
Kết luận chương 1: Từ kết quả tổng quan về nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài, cho phép rút ra các kết luận sau:
Đổi mới giáo dục luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và quy mô giáo dục để phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính sách này hướng tới mục tiêu đưa giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và thế giới, có năng lực cạnh tranh cao và thích ứng linh hoạt với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước nhấn mạnh sự chuyển biến toàn diện về chất lượng giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân và hội nhập quốc tế.
Giáo dục thể chất đóng vai trò quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển của đất nước Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển giáo dục thể chất và thể thao trong trường học, xem đây là mục tiêu hàng đầu để phát triển con người toàn diện về đức, trí, thể chất và mỹ thuật.
GDTC không chỉ là môn học trong chương trình giáo dục từ mẫu giáo đến đại học mà còn là hoạt động quan trọng của tuổi trẻ học đường, góp phần phát triển toàn diện cho học sinh, sinh viên Đây còn là phương tiện hiệu quả giúp nhà giáo giáo dục ý thức đạo đức nghề nghiệp, hình thành nhân cách và ý thức trách nhiệm của giới trẻ trong môi trường học đường.
Trong xu hướng đổi mới đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ, giáo dục thể chất (GDTC) hiện nay đang chuyển sang hình thức đào tạo theo tự chọn, giúp đa dạng hóa nội dung và hình thức học tập Việc này nhằm mục tiêu cung cấp chương trình đào tạo linh hoạt, phong phú về chuyên môn để phù hợp với nhu cầu của từng sinh viên Đào tạo GDTC theo hướng tự chọn góp phần nâng cao trải nghiệm học tập, thúc đẩy cá nhân phát triển toàn diện và đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hiện đại.
Thực hiện lộ trình đổi mới giáo dục nghề nghiệp, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư 12/2018/TT-BLĐTBXH ngày
Ngày 26 tháng 9 năm 2018 đã ban hành Chương trình môn học Giáo dục thể chất trong khối các môn học chung của chương trình đào tạo trung cấp và cao đẳng, với quy định dựa trên yêu cầu của người học và thực tiễn của nhà trường, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện của sinh viên, bên cạnh đó còn có các chuyên đề đã được quy định cụ thể để đảm bảo hiệu quả giảng dạy và nâng cao chất lượng học tập.
Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Công thương TP.HCM yêu cầu khoa Giáo dục thể chất đổi mới môn học để phù hợp với yêu cầu đào tạo tín chỉ mới, trong đó đặc biệt đề cao việc tích hợp các nội dung mới Chương trình giáo dục thể chất cần thiết kế linh hoạt theo hướng tín chỉ, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên và điều kiện của nhà trường Việc đổi mới này giúp nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, đồng thời thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho sinh viên trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.