Hãy phân tích quá trình hình thành, phát triển cũng như ý nghĩa của luật công bằng (equity law) đối với hệ thống pháp luật Anh.docxHãy phân tích quá trình hình thành, phát triển cũng như ý nghĩa của luật công bằng (equity law) đối với hệ thống pháp luật Anh.docxHãy phân tích quá trình hình thành, phát triển cũng như ý nghĩa của luật công bằng (equity law) đối với hệ thống pháp luật Anh.docx
Trang 1MÔN HỌC: LUẬT SO SÁNH
ĐỀ TÀI: Anh/chị hãy phân tích quá trình hình thành, phát triển cũng như ý nghĩa của luật công bằng (equity law) đối với hệ thống pháp luật Anh.
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 03/2023
Trang 3Hệ thống pháp luật Anh là một hệ thống pháp luật lớn trên thế giới Được xuất phát
từ một quốc ra riêng lẻ đó là nước Anh Trong đó Common law và Equity đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật này, là cơ sở tạo nên những đặc điểm cơ bản khác biệt so với các hệ thống pháp luật khác Do những đặc trưng cơ bản về điều kiện kinh tế xã hội, việc áp dụng Common law đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong thực tế, đó chính là lý do mà Equity law được ra đời nhằm khắc phục
và giải quyết những tồn tại ấy Trong bài tập nhóm này, nhóm lựa chọn nghiên cứu đề
tài: “Quá trình hình thành, phát triển cũng như ý nghĩa của luật công bằng (equity
law) đối với hệ thống pháp luật Anh” để làm rõ các nội dung liên quan đến luật công
bằng (equity law)
Trang 4B NỘI DUNG
I Khái quát về hệ thống pháp luật Anh
Ở Anh pháp luật được mở rộng chủ yếu là do công cuộc mở rộng thuộc địa, không
có sự tự nguyện tiếp nhận như hệ thống pháp luật ở Pháp Tuy nhiên có một điểm đặc biệt là những nước đã tiếp nhận hệ thống pháp luật của Anh thì lại không muốn từ bỏ, bởi pháp luật của Anh vừa có tình mềm dẻo vừa có tình thực tiễn đặc biệt Do đó hệ thống pháp luật Anh đã mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, như Đức, Hồng kong, Canada…
Hệ thống pháp luật Anh là hệ thống pháp luật lâu đời trên thế giới, đã trải qua nhiều thời kì phát triển Nó được nước Anh sử dụng trên nước Anh và khi đế quốc Anh tiến hành bành trướng thuộc địa vào thế kỉ XIX thì nó lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước thuộc địa đặc biệt là nước Mỹ Common law là dòng họ pháp luật có cộ ngồn từ hệ thống pháp luật Anh Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hình thành nên hệ thống pháp luật Anh có nhiều đặc trưng khác biệt
Về quan niệm pháp luật thì nước Anh có quan niệm khác với nước Pháp, trong khi pháp cho rằng quyền lực của thẩm phán cần phải được kìm hãm, họ cần bị hạn chế nghiêm ngặt chỉ áp dụng pháp luật mà cơ quan lập pháp công bố thì Anh lại cho rằng cần phải có tư duy pháp lý linh hoạt, coi trọng giải quyết các vấn đề từ thực tiễn cuộc sống,
do đó mà thẩm phán đóng vai trò quan trọng việc sáng tạo và phát triển các quy phạm pháp luật Về việc ban hành luật thì pháp luật Anh không được pháp điển hóa như pháp luật của các nước khác Nước Anh không có những bộ luật chứa đựng toàn bộ những quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực quan hệ xã hội đặc thù nào đó, thậm chí Anh quốc còn không có Hiến pháp thành văn giống như nhiều nước khác Hệ thống pháp luật Anh thừa nhận án lệ như nguồn luật chính thống, tức là thừa nhậ học thuyết tiền lệ Pháp Bên cạnh đó thì hệ thống pháp luật Anh có sự phân biêt luật công và luật tư nhằm xác định thủ tục tố tụng nào cần áp dụng để giải quyết vụ việc có liên quan Chế định pháp luật
Trang 5tiêu biểu của hệ thống pháp luật Anh là chế định ủy thác, đây được coi là chế định đặc thù, ra đời do hoàn cảnh riêng có của nước Anh và sau đó đã lan sang các nước thuộc địa của Anh
Tóm lại, nhờ có tính mềm dẻo và thực tiễn đặc biệt, công cuộc mở rộng thuộc địa của đế quốc Anh đã lan ra khắp thế giới và có sự ảnh hưởng rất lớn đến pháp luật của các quốc gia khác
II Qúa trình hình thành và phát triển của luật công bằng trong tiến trình lịch
sử pháp luật Anh
1 Sự phát triển của hệ thống pháp luật Anh trước khi luật công bằng ra đời
Nhìn chung, trước khi luật công bằng (equity law) ra đời, hệ thống pháp luật Anh trải qua hai giai đoạn chính dựa trên dấu mốc là cuộc chiếm đóng của người Norman (1066)
Trước khi người Norman chiếm đóng, vào những năm 55 đến năm 54 trước Công nguyên, La Mã thống trị Anh trong gần bốn thế kỉ song không phát triển Anh và hệ thống pháp luật của nó Cho đến thời Anglo-Saxon, pháp luật thời kì này chủ yếu là áp dụng tập quán bất thành văn của các địa phương và chủ yếu chịu ảnh hưởng bởi các bộ tộc Germanic
Sự thay đổi rõ rệt trong hệ thống pháp luật Anh diễn ra sau cuộc chinh phục của người Norman (từ thế kỉ XI cho đến cuối thế kỉ XIV) Những người Normande và người
ở miền Bắc nước Pháp đã chiển thắng người Anglo-Saxin trong trận Hasting, thủ lĩnh những người Normande đã lên ngôi vua nước Anh lấy hiệu là Willam (người chinh phục), Willam đã tuyên bố quy trì tập quán người Anglo-Saxon và tập trung xây dựng chế độ phong kiến tập quyền Người Anh rất quý trọng truyền thống, chế độ quân chủ của nước Anh đến nay vẫn tồn tại, sau năm 1066 các luật địa phương vẫn được áp dụng pháp quan, tòa án Hoàng gia Anh vẫn hoạt động trong phạm vi hạn chế, dưới thời
Trang 6Willam tòa án chỉ xét xử những vụ việc liên quan đến những người của triều đình và các
vụ việc về thuế Tòa án hoàng gia muốn mở rộng thẩm quyền và muốn kiếm thêm thu nhập nên đã cử các thẩm phán đi xét xử lưu động, từ đó dần thống nhất nguyên tắc xét
xử, và đến thế ký XIII đã hình thành hệ thống án lệ được áp dụng thống nhất trên toàn nước Anh thay thế cho luật địa phương
Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX ở Anh, trước những biến đổi của xã hội về những điều kiện kinh tế, tư tưởng chính trị…pháp luật cũng có những thay đổi, điển hình là sự
ra đời luật công bằng (equity law)
2 Sự hình thành và phát triển của luật công bằng
Những hạn chế của Common law là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Equity (Luật công bằng)
Thứ nhất là những bất cập trong lĩnh vực dân sự: Khi nguyên tắc Stare dicisis (với
nội dung là thẩm phán bị ràng buộc bởi những phán quyết có liên quan của các thẩm phán khác trong quá khứ, bởi cách giải thích pháp luật của các thẩm phán tiền bối) đã trở thành tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của Common law thì cũng chính nguyên tắc này
đã tạo ra sự cứng nhắc trong việc đưa ra phán quyết của các thẩm phán, do không có án
lệ để điều chỉnh các quan hệ mới nên thẩm phán thường áp dụng các án lệ cũ để giải quyết vụ việc Hơn nữa, trong lĩnh vực dân sự, chế tài của Common law chủ yếu chỉ là phạt tiền nên chưa đủ tính răn đe để khiến các bên trong hợp đồng không thực hiện hành
vi phá vỡ giao dịch hợp đồng Tình trạng này đã dẫn đến sự bất bình trong giới tư sản nói riêng và cộng đồng người dân nói chung
Thứ hai, trong lĩnh vực hình sự: ngược lại với lĩnh vực dân sự, chế tài trong lĩnh vực
hình sự ngày càng nghiêm khắc, các hình phạt gây tổn hại, đau đớn trên cơ thể người vẫn được áp dụng Thứ ba, đó là bất cập xuất phát từ hệ thống trát1, thực tiễn áp dụng hệ
1 Trát là văn bản hành chính dưới dạng m t bức thư, được chứng thực bằng dấu đóng trên trát, được dùng vào mục đích ộ hành chính và tư pháp, theo Giáo trình Lu t so sánh, Trường Đại học Lu t Hà N i, Nxb Công an nhân dân, Hà N i, 2015, ậ ậ ộ ộ tr.216.
Trang 7thống trát trong xét xử của Tòa án Hoàng gia đã làm cho thẩm quyền của các Tòa án này
bị giới hạn nghiêm trọng vì nếu đương sự không có trát thích hợp, Tòa án không thể tiến hành xét xử vụ việc Điều này đã trở thành vật cản trong thủ tục tố tụng ở Anh, làm cho thủ tục tố tụng ngày càng trở nên phức tạp
Do đó, khi Common law đã dần trở nên phức tạp, cứng nhắc, dẫn đến những bất công trong xét xử và khi bước sang thế kỉ XV, hệ thống trát đã chi phối mạnh mẽ thủ tục
tố tụng gây ra tình trạng là thủ tục tố tụng được coi trọng hơn cả quyền lợi đang bị tranh chấp trong vụ kiện, đã gây ra những bất công trong xã hội thì nhu cầu tìm kiếm giải pháp mới để khắc phục bất công, mang lại công bằng cho người dân đã nảy sinh, và lúc đó, Equity ra đời
Equity được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo nghĩa thông dụng thì nó được hiểu là trạng thái bằng nhau, ngang bằng, vô tư và như nhau, nó dùng để hàm chỉ những gì chính đáng, đúng đắn hoặc những gì nảy sinh từ việc làm đúng lương tâm hay
từ các học thuyết về công lí tự nhiên Còn về phương diện pháp lí thì Equity là hệ thống các học thuyết và thủ tục pháp lí phát triển song song với Common law và luật thành văn, được sử dụng trong hoạt động xét xử tại Văn phòng đại pháp mà sau này phát triển thành Tòa đại pháp nhằm khắc phục những bất cập của Common Law2
.
Khi bên nguyên bị bác đơn hoặc thua kiện vì lí do kĩ thuật, mà tình trạng này xảy ra rất nhiều do sự chi phối mạnh mẽ của hệ thống trát đối với thủ tục tố tụng, làm cho người dân không thể tiếp cận với công lí hoặc không thỏa mãn với các giải pháp của tòa Common law đưa ra, đã dẫn đến việc bên nguyên thường tiếp tục tìm cách khiếu kiện lên Vua nhằm tìm kiếm sự trợ giúp đặc biệt Vua thường không trực tiếp giải quyết những đơn kiện loại này mà thường thông qua viên Đại pháp quan (Chancellor) của mình để giải quyết Theo đó, Đại pháp quan chính là thư kí của Vua, chịu trách nhiệm quản lí hành chính bộ máy nhà nước Người này làm việc tại Văn phòng đại pháp, mà ở đây gồm
2 Giáo trình Lu t so sánh, Trường Đại học Lu t Hà N i, Nxb Công an nhân dân, Hà N i, 2015, tr.223 ậ ậ ộ ộ
Trang 8có Đại pháp quan là người đứng đầu và các viên lục sự khác Khi thay mặt Vua tiến hành giải quyết các đơn kiện do những người dân khiếu kiện lên Vua để tìm kiếm sự trợ giúp đặc biệt thì Văn phòng đại pháp - nơi làm việc của Đại pháp quan đã dần phát triển thành Tòa đại pháp (Courts of Chancellor)
Đại pháp quan là người có kiến thức sâu sắc về Common law và các giải pháp của Common law do họ chính là người phát hành trát Hơn nữa, trải qua một quãng thời gian khi họ thay mặt Vua giải quyết các vụ việc trên bằng công lí thì các phán quyết của họ đã phát triển thành tập hợp những quy phạm pháp luật đặc biệt (có thể nói là đặc biệt do bản chất đặc biệt của những vụ việc được giải quyết mà không theo thủ tục tố tụng thông thường), và những quy phạm pháp luật đó được gọi là “equity”
Ở giai đoạn đầu mới hình thành, do những vụ việc được Đại pháp quan giải quyết dựa trên những gì mà ông Tòa án cho là đúng, công bằng, vô tư mà không chịu bất kì sự ảnh hưởng, ràng buộc nào nên Equity đã phát triển độc lập, bên ngoài Tòa án hoàng gia Điều này diễn ra trong suốt thế kỉ XV, khi đó, các phán quyết của Đại pháp quan được các viên Đại pháp quan kế nhiệm, tuy nhiên các viên Đại pháp quan không bắt buộc phải
áp dụng cứng nhắc các phán quyết của Đại pháp quan trước mà có thể phát triển thêm, tùy theo nhận thức của từng viên Đại pháp quan về sự công bằng, lẽ phải là như thế nào Điều này đã tạo ra sự linh hoạt trong quá trình giải quyết của các viên Đại pháp quan, khắc phục được sự cứng nhắc mà Common law đã mắc phải
Tuy nhiên, Equity chỉ phát triển độc lập được đến khoảng nửa đầu thế kỉ XVI, do vào lúc đó, viên Đại pháp quan đầu tiên không phải là tín đồ cơ đốc giáo đã được bổ nhiệm nên Equity đã dần đi theo chiều hướng của Common law Và từ cuối thế kỉ XVI, khi phán quyết của Đại pháp quan đã được xuất bản định kì thì các Đại pháp quan cũng
bị ràng buộc bởi tiền lệ pháp như các thẩm phán của Tòa án Hoàng gia
Từ đây, hoạt động của Đại pháp quan không còn độc lập, tự do như giai đoạn đầu
Trang 9nữa mà ngày càng mang tính tư pháp Bởi dần dần, Vua giao cho Đại pháp quan giải quyết luôn những vụ việc và giao quyền cho ông Do đó mà Tòa án,Văn phòng của Đại pháp quan chính thức trở thành Tòa đại pháp với thẩm phán duy nhất là Đại pháp quan Đến nửa đầu thế kỉ XVIII thì viên trợ lí (Master of the Rolls) được tham gia hoạt động trong Tòa đại pháp với nhiệm vụ là trợ giúp Đại pháp quan trong hoạt động xét xử và chịu trách nhiệm về sổ sách
Trong suốt thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, Equity xuất hiện và phát triển bên cạnh Common law mà không nhằm thay thế Common law đã hỗ trợ, khắc phục, sửa chữa những sai lầm, đồng thời giải quyết những vấn đề mà Common law không giải quyết được Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, khi Anh quốc rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng về mặt chính trị và xã hội thì Equity cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết của nó Equity lúc này đã trở nên dễ thay đổi và thiếu ổn định; nhiều phán quyết của Tòa đại pháp mâu thuẫn làm cho luật sư khó có thể dự đoán trước được để tư vấn cho thân chủ của mình kết cục có thể, nếu đưa vụ việc ra giải quyết tại tòa đại pháp Hơn nữa, việc xuất bản các phán quyết của Tòa đại pháp không còn được chú ý đúng mực dẫn đến việc khó khăn khi thiết lập hệ thống tiền lệ trong Equity Thủ tục tố tụng của tòa đại pháp cũng trở nên lỗi thời đã làm trì hoãn quá trình tố tụng và làm cho Tòa đại pháp hoạt động kém hiệu quả
Trước những bất cập không chỉ ở Equity mà còn trong Common law đã dẫn đến như cầu cải tổ hệ thống pháp luật Anh vào cuối thế kỉ XIX Cuộc cải tổ này đã hợp nhất Common law và Equity, theo đó, tất cả các tòa chuyên trách trong Tòa án cấp cao và tòa phúc thẩm đều phải áp dụng các quy phạm và nguyên tắc pháp lí của Anh quốc, mà không phân biệt chúng được hình thành từ Tòa án Hoàng gia (Common law) hay từ Tòa đại pháp (Equity) Như vậy, sau cuộc cải cách tòa án, bằng việc hợp nhất hai hệ thống tòa
án tồn tại song song vào một tòa án duy nhất đã làm cho Equity có vị trí ngang bằng với Common law, và không còn là một bộ phận bổ sung cho Common law như trước đó nữa
Trang 103 Khái quát về luật công bằng (equity law) và những đặc trưng pháp lý
Như đã trình bày ở quá trình hình thành và phát triển, Luật Công bằng hay Luật Công lý (Equity Law) là một bộ phận trong hệ thống pháp luật Anh xuất hiện vào thế
kỷ XVI, cùng tồn tại song song với hệ thống Thông luật, được sử dụng trong hoạt động xét xử tại Văn phòng đại pháp mà sau này phát triển thành Tòa đại pháp Với đặc trưng là các nguyên lý xây dựng và áp dụng luật được dựa trên lẽ phải, công lý là chính, luật Công bằng ra đời trên bối cảnh Thông luật, hệ thống pháp luật chính của nước Anh hiện tại đang gặp nhiều bất cập, nhất là trong việc giải quyết các thủ tục tố tụng Sự hình thành
và phát triển của Luật Công bằng nhằm sửa đổi và bổ sung cho Thông luật và hoàn thiện Thông luật chứ không nhằm mục đích thay thế nó Đến nay, nó là một trong hai bộ phận chính của hệ thống pháp luật Anh
Luật công bằng có những đặc trưng pháp lý sau:
Thứ nhất, thủ tục tố tụng được mở đầu thông qua đơn thỉnh cầu lên nhà vua Đơn
thỉnh cầu không có mẫu sẵn như hệ thống trát và mọi thỉnh cầu chỉ cần ghi rõ lí do khiếu nại và khẩn cầu sự trợ giúp là sẽ nhận được sự trợ giúp chứ không cần thông qua thủ tục trát phức tạp và yêu cầu cao như thủ tục tại Tòa án Hoàng gia
So với Thông luật thì Luật công bằng có một số đặc điểm như các quy phạm thể hiện tính đạo đức, linh hoạt, mềm dẻo và ảnh hưởng nhiều bởi Luật Giáo hội do viên quan Đại Chưởng ấn là người theo đạo, các quy định được thiết lập trên nguyên lý "lẽ phải và tình yêu thương của Chúa trời" Ngoài ra hoạt động xét xử của tòa công bằng thể hiện tính chất cá nhân, chủ quan Mặt khác, các thủ tục pháp lý, thủ tục xét xử đa dạng, đơn giản hơn so với Thông luật do không bị ràng buộc nặng nề bởi hệ thống trát
Luật công bằng ra đời đã khắc phục được những bất cập của Thông luật, giúp giải quyết được các vụ việc không được giải quyết hoặc chưa được giải quyết tại Tòa án Hoàng gia bằng cách các vụ khiếu kiện chính đáng đều được giải quyết