Tài liệu tham khảo kinh tế đầu tư: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho dự án từ nguồn ngân sách nhà nước
Trang 1MỞ ĐẦU
Đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược, vừa là giải pháp chủ yếunhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư là một hoạt độngquan trọng đối với một nền kinh tế nhằm tăng cường cơ sở vật chất, năng lựcsản xuất của nền kinh tế
Công tác quản lý đầu tư là một công việc phức tạp có liên quan đếnnhiều ngành, nhiều cấp, nhiều chế độ quy định và phải xử lý đa dạng các mốiquan hệ dân sự, quan hệ hành chính và các mối quan hệ khác mà đáng ra phảiđược điều chỉnh bằng các Luật và các văn bản pháp luật, văn bản pháp quymột cách đồng bộ, nhất quán và thống nhất
Hiện nay, quản lý đầu tư chủ yếu mới thực hiện theo các văn bản ở hìnhthức Nghị định, Nghị quyết, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị, (trừ đầu tư nướcngoài được thực hiện theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) trong khi nềnkinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi, hình thành và phát triểnphương thức quản lý theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các
cơ chế, chính sách nói chung mới hình thành, vừa làm vừa rút kinh nghiệm,từng bước điều chỉnh cho phù hợp với thực tế khách quan
Trong thời gian qua với sự nỗ lực của nhiều cơ quan chức năng trongviệc nghiên cứu đổi mới, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện dần cơ chế, chínhsách trong lĩnh vực này; đặc biệt là đã có nhiều biện pháp, giải pháp tíchcực nhằm phát huy đầy đủ tính tích cực, hạn chế tối đa mặt tiêu cực Tuyvây, trên thực tế trong lĩnh vực đầu tư phát triển vẫn còn nhiều bất cập, cảntrở quá trình sản xuất, chưa phù hợp với thực tế khách quan: đầu tư còn dàntrải; nợ đọng trong khối lượng vốn đầu tư xây dựng cơ bản lớn; lãng phí,
Trang 2thất thoát nhiều; những biểu hiên tiêu cực trong đầu tư còn diễn ra ở nhiềunơi, nhiều cấp; hiệu quả đầu tư thấp
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài luận
văn: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho dự án từ nguồn ngân sách nhà nước”.
Nội dung của luận văn bao gồm:
Chương I: Dự án đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho dự án Chương II: Thực trạng sử dụng vốn đầu tư cho dự án từ ngân sách
nhà nước
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn từ ngân sách nhà
nước đầu tư cho dự án
Trang 3CHƯƠNG I
DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ SỰ DỤNG
VỐN ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN
1 DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 Khái niệm và vai trò của dự án
Các hoạt động đầu tư phát triển được thực hiện nhằm tái sản xuất giảnđơn hoặc tái sản xuất mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế
Hoạt động đầu tư phát triển thường đòi hỏi một lượng vốn lớn, thời gianđầu tư, phát huy các kết quả đầu tư tương đối dài, phạm vi tác động của đầu
tư phát triển cả trực tiếp lẫn gián tiếp tương đối rộng Vì vậy trước một hoạtđộng đầu tư chúng ta phải chuẩn bị một cách khoa học, đầy đủ, chính xácnhằm nâng cao hiệu quả đầu tư Việc chuẩn bị đó được thể hiện thông quaquá trình lập các dự án đầu tư
Trước hết, ta sẽ xem xét khái niệm về dự án đầu tư Với các quan điểmkhác nhau có thể có các khái niệm khác nhau về dự án đầu tư Sau đây là một
số khái niệm về dự án đầu tư:
- Dự án đầu tư là tập hợp các hoạt động nhằm thực hiện một mục tiêunhất định, trong quá trình thực hiện mục tiêu đó cần có các nguồn lực đầu vào(inputs) và kết quả thu được là các đầu ra (outputs)
- Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu, trình bày một cách chi tiết và có
hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được nhữngkết quả nhất định trên cơ sở những mục tiêu xác định
- Trong “Quy chế đầu tư và xây dựng” theo Nghị định 52/1999/NĐ-CPngày 08 tháng 07 năm 1999 của Chính phủ: Dự án đầu tư là một tập hợp
Trang 4những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạonhững cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sư tăng trưởng hoặc duy trì, cảitiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gianxác định.
Dự án có vai trò rất quan trọng đối với chủ đầu tư, các nhà quản lý và tácđộng trực tiếp tới tiến trình phát triển kinh tế xã hội Nếu không có dự án, nềnkinh tế sẽ khó nắm bắt được cơ hội phát triển Những công trình thế kỷ củanhân loại trên thế giới luôn là minh chứng về tầm quan trọng của dự án Dự
án là căn cứ quan trọng để quyết định bỏ vốn đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu
tư và theo dõi quá trình thực hiện đầu tư Dự án là căn cứ để các tổ chức tàichính đưa ra quyết định tài trợ, các cơ quan chức năng của nhà nước phêduyệt và cấp giấy phép đầu tư Dự án còn được coi là công cụ quan trongquản lý vốn, vật tư, lao động trong quá trình thực hiện đầu tư Do vây, hiểuđược những đặc điểm của dự án là một trong những yếu tố quyết định sựthành công của dư án
1.2 Đặc điểm của dự án đầu tư
Xuất phát từ khái niệm dự án đầu tư, có thể nhận biết những đặc điểm cơbản sau đây của dự án:
- Dự án không chỉ là một ý tưởng hay phác thảo mà còn là hàm ý hànhđộng với mục tiêu cụ thể Nếu không có hành động thì dự án vĩnh viễn tồn tại
ở trạng thái tiềm năng
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng hay ứng dụng mà phảinhằm đáp ứng một nhu cầu cụ thể đã được đặt ra, tạo nên một thực tế mới
- Dự án tồn tại trong một môi trường không chắc chắn Môi trường triểnkhai dự án thường xuyên thay đổi, chứa đựng nhiều yếu tố bất định nên trong
dự án rủi ro thường là lớn và có thể xảy ra Đặc điểm này có ảnh hưởng rất
Trang 5lớn đến mức độ thành công của dự án và là mối quan tâm đặc biệt của các nhàquản lý dự án.
- Dự án bị không chế bởi thời hạn Là một tập hợp các hoạt động đặc thùphải có thời hạn kết thúc Mọi sự chậm trễ trong thực hiện dự án sẽ làm mất
cơ hội phát triển, kéo theo những bất lợi tổn thất cho nhà đầu tư và cho nềnkinh tế
- Dự án chịu sự ràng buộc về nguồn lực Thông thường, các sự án bị ràngbuộc về vốn, vật tư và lao động Đối với dự án quy mô càng lớn mức độ ràngbuộc về nguồn lực càng cao và càng phức tạp: mọi quyết định liên quan đếncác vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án đều bị chi phối bởi nhiềumối quan hệ, chẳng hạn: chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, các nhà tài trợ,nhân công, các nhà kỹ thuật Xử lý tốt các ràng buộc này là yếu tố quantrọng góp phần đạt tới mục tiêu của dự án
1.3 Phân loại dự án đầu tư.
Các dự án thường rất đa dạng về cấp độ, loại hình, quy mô, thời hạn vàđược phân loại theo các tiêu thức khác nhau Tại nhiều nước trên thế giới thì
dự án được phân loại theo một số tiêu thức sau:
Theo người khởi xướng: Dự án được phân loại thành dự án cá nhân, dự
án tập thể, dự án quốc gia, dự án quốc tế
Theo lĩnh vực dự án: Dự án được phân thành dự án xã hội, dự án kinh tế,
dự án tổ chức, dự án kỹ thuật, dự án hỗn hợp
Theo loại hình dự án: Dự án được phân loại thành dự án giáo dục đàotạo, dự án nghiên cứu và phát triển, dự an đổi mới, dự án hỗn hợp
Theo thời hạn: Dự án ngắn hạn, dự án trung hạn, dự án dài hạn
Theo cấp độ: Dự án được phân loại thành dự án lớn và dự án nhỏ
Trang 6Tại Việt Nam, theo “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèmtheo Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5-5-2000 của Chính phủ vể sửa đổi,
bổ sung Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8-7-1999, thì dự án được phânloại cụ thể như sau:
- Dự án nhóm A:
+ Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính bảo mậtquốc gia, có ý nghĩa chính trị xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạtầng khu công nghiệp mới
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Không kể mức vốn đầu tư.+ Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Không kể mức vốn đầu tư.+ Các dự án: Công nghiệp điện, khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, hoáchất, phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tầu, lắp ráp ô tô), ximăng, luyện kim, khai thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu,cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Trên 600 tỷ đồng
+ Các dự án: thuỷ lơi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng
kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược,thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông,BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, đường giao thông nội thị thuộc các khu
đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Trên 400 tỷ đồng
+ Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệpnhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắmthiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biếnnông, lâm sản
Trang 7Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Trên 300 tỷ đồng.
+ Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựngdân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Từ 30 đến 600 tỷ đồng.+ Các dự án: thuỷ lơi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng
kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hoá dược,thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông,BOT trong nước, xây dựng khu nhà ở, trường phổ thông, đường giao thôngnội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Từ 20 đến 400 tỷ đồng.+ Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệpnhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xâydựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biến nông, lâm sản.Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Từ 15 đến 300 tỷ đồng.+ Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựngdân dụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự
án khác
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Từ 7 đến 200 tỷ đồng
Trang 8- Dự án nhóm C:
+ Các dự án: Công nghiệp điện, dầu khí, hoá chất, phân bón, chế tạo máy(bao gồm cả mua và đóng mới tầu, lắp ráp ô tô), xi măng, luyện kim, khaithác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông,sân bay, đường sắt, đường quốc lộ Các trường phổ thông nằm trong khu quyhoạch (không kể mức vốn)
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 30 tỷ đồng
+ Các dự án: thuỷ lơi, giao thông, cấp thoát nước và công trình hạ tầng
kỹ thuật, kỹ thuật điện, điện tử, tin học, hoá dược, thiết bị y tế, công trình cơkhí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông, BOT trong nước, xây dựngkhu nhà ở,trường phổ thông, đường giao thông nội thị thuộc các khu đô thị đã
có quy hoạch chi tiết được duyệt
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 20 tỷ đồng
+ Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệpnhẹ, sành, sứ, thuỷ tinh; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắmthiết bị xây dựng, sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chế biếnnông, lâm sản
Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 15 tỷ đồng
+ Các dự án: y tế, văn hoá, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dândụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác.Tổng mức vốn đầu tư đối với các dự án này là: Dưới 7 tỷ đồng
2 CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO DỰ ÁN
2.1 Khái niệm về nguồn vốn đầu tư
Các nhà kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác- Lênin và kinh tếhọc hiện đại chứng minh rằng: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết
Trang 9kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trìnhtái sản xuất xã hội.
Theo Adam Smith, nhà kinh tế học điển hình của trường phái kinh tế học
cổ điển cũng đã đưa ra quan điểm về nguồn hình thành vốn đầu tư và trongtác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), ông đã viết rằng: Tiết kiệm lànguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ choquá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không cótiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệgiữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề trực tiếp liên quan đếntích luỹ, C Mác đã chứng minh rằng: Trong một nền kinh tế với hai khu vực,khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng Cơcấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c + v + m), trong đó:
c là phần tiêu hao vật chất
(v + m) là phần giá trị sáng tạo ra
Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nềnsản xuất xã hội phải đảm bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất(c) của khu vực II Tức là:
Trang 10Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c + v + m) < (v + m)I + (v + m)II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trịsản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thoả mãn,nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng Từ
đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng
Như vậy, để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng quy môđầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở khu vực I, đồngthời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở cả hai khu vực Mặt khác, phảităng cường sản xuất tư liệu tiêu dùng ở khu vực II, thực hành tiết kiệm tiêudùng trong sinh hoạt ở cả hai khu vực
Với phân tích như trên, chúng ta thấy rằng theo quan điểm của C Mác,con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất và tiêu dùng Haynói cách khác, nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ có thể được đápứng do sự gia tăng sản xuất và tích luỹ của nền kinh tế
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhàkinh tế học hiện đại chứng minh Trong tác phẩm nổi tiếng “Lý thuyết tổngquát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đãchứng minh được rằng: Đầu tư chính bằng phần thu nhập mà không chuyểnvào tiêu dùng Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng, tiết kiệm chính là phần dôi racủa thu nhập so với tiêu dùng:
Điều đó có nghĩa là:
Thu nhập = Tiêu dùng + Đầu tưTiết kiệm = Thu nhập – Tiêu dùngNhư vậy:
Đầu tư (i) = Tiết kiệm (s)
Trang 11Theo Keynes, sự cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư xuất phát từ tính chấtsong phương của các giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất và bên kia là tiêudùng Thu nhập chính là mức chênh lệch giữa doanh thu từ bán hàng hoá hoặccung ứng dịch vụ và tổng chi phí Nhưng toàn bộ sản phẩm sản xuất ra phảiđược bán cho người tiêu dùng hoặc cho các nhà sản xuất khác Mặt khác đầu
tư hiện hành chính bằng phần tăng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ Vìvậy, xét về mặt tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người
ta gọi là tiết kiệm không thể khác với phần gia tăng năng lực sản xuất màngười ta gọi là đầu tư
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng.Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tưnhân và tiết kiệm của chính phủ
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tếkhông phải bao giờ cũng được thiết lập Phần tích luỹ của nền kinh tế có thểlớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sangnước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể
ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nướcngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư đượcthể hiện trên tài khoản vãng lai
CA = S – ITrong đó: CA là tài khoản vãng lai (current account)
Như vậy, trong nền kinh tế mở nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích luỹ củanội bộ nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốnđầu tư từ nước ngoài Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thànhmột trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích luỹ
Trang 12của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dưtài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc chonước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế.
Từ những quan điểm về sự hình thành nguồn vốn đầu tư của các nhà kinh
tế học nói trên mà ta có thể đưa ra khái niệm về nguồn vốn đầu tư như sau:
Nguồn vốn đầu tư: là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước
và của xã hội Nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước vànguồn vốn đầu tư nước ngoài
2.2 Nguồn vốn đầu tư cho dự án
Việt Nam cũng như hầu hết các nước đang phát triển, trong giai đoạnđầu của sự phát triển kinh tế, do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng
và tích luỹ vốn đều rất hạn chế Trong khi đó, nhu cầu của nền kinh tế lạicần những khoản vốn lớn để đầu tư cho cơ sở hạ tầng, xây dựng các côngtrình làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế Do đó, trong giai đoạn này, nềncông nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng hoá xuất khẩu đại bộphận sẽ là sản phẩm sơ chế như: dầu thô, gạo, cà phê, cao su, thuỷ sản…lànhững hàng hoá có giá trị thấp Ngược lại, nhu cầu phát triển đòi hỏi phảinhập khẩu máy móc, thiết bị, các sản phẩm hoá chất và cả kỹ thuật côngnghệ, là những sản phẩm có giá trị cao Việc xuất nhập khẩu hàng hoá nhưvậy làm cán cân thương mại và cán cân thanh toán luôn ở tình trạng nhậpsiêu Thách thức này làm gia tăng sự mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng
về vốn đầu tư Vì thế, mà ngoài nguồn vốn trong nước ra thì ta có thể tranhthủ vốn đầu tư từ nước ngoài để bù đắp cho sự thiếu hụt nguồn vốn đầu tưphát triển của đất nước
Trang 132.2.1 Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành từ nguồn vốn nhà nước,nguồn vốn từ khu vực tư nhân và từ thị trường vốn
Nguồn vốn đầu tư trong nước giữ vai trò quan trọng đối với nguồn vốnđầu tư của đất nước, nó vừa là điều kiện để phát triển kinh tế vừa là cơ sơ đểthu hút vốn đầu tư nước ngoài, quyết định cho sự phát triển, thể hiện:
+ Để tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài, nhất thiếtphải có vốn đối ứng bên trong để triển khai các công trình Vốn đối ứng nàynhiều khi phải sử dụng để xây dựng các cơ sở hạ tầng như: điện, nước, thôngtin, bệnh viện, trường học…
+ Nếu không có vốn trong nước đủ mức thì xét về lâu dài, của cải sảnxuất ra (GDP) có thể lớn, nhưng nguồn thu nhập thực tế mà nhân dân ta cóđược (GNP) lại thấp Đại bộ phận lợi nhuận được tạo ra ở trong nước sẽ bịchuyển ra nước ngoài, nền kinh tế sẽ có một sự phát triển giả tạo
+ Vốn đầu tư nước ngoài thường chỉ tập chung vào những vùng hoặcnhững lĩnh vực hứa hẹn tạo ra được lợi nhuận hấp dẫn Chỉ có vốn đầu tưtrong nước thì mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế trên tất cả cácvùng rộng lớn của đất nước, đặc biệt là các vùng miền núi, vùng sâu vùng xa
Trang 142.2.1.1 Nguồn vốn đầu tư nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhànước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tưphát triển của doanh nghiệp nhà nước
(1) Nguồn vốn ngân sách nhà nước: là nguồn chi của ngân sách nhà
nước cho đầu tư và là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Nguồn vốn ngân sách thường được sử dụng đầu tư cho các dự án thuộcchương trình đầu tư công cộng, các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnhvực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự ánquy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xâydựng đô thị và nông thôn Hàng năm, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho dự ánthường chiếm khoảng 20% tổng nguồn vốn đầu tư chung Tỷ lệ này tuy khônglớn, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tưchung, tạo môi trường để thu hút các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tưphát triển
Nguồn vốn ngân sách nhà nước được hình thành chủ yếu từ nguồn thutrong nước của ngân sách, sau khi đã chi trả cho các khoản chi thường xuyên,
dự phòng hoặc trả nợ Ngoài ra nó còn gồm cả vốn ODA viện trợ không hoànlại hoặc vốn vay đưa vào ngân sách Vì vậy mà tình hình thu, chi ngân sáchhàng năm tăng hay giảm sẽ quyết định rất lớn đến nguồn vốn chi cho các dự
án đầu tư hàng năm của quốc gia Sau đây ta sẽ đi xem xét kỹ hơn về tìnhhình thu, chi của ngân sách qua các năm từ 2001 đến 2005:
Trang 15BẢNG 1: CÂN ĐỐI THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯ CỚC
TT Chỉ tiêu Đơn vị
tính 2001 2002 2003 2004
Ước TH 2005
Ước TH 2001-2005
A TỔNG THU NSNN đồngtỷ 103,88 8 121,71 5 142,21 0 180,39 7 210,40 0 759,610
Tốc độ tăng thu % 14.48 17.16 16.84 26.85 16.63 18.43 1
Thu nội địa
(không kể dầu
thô)
tỷ đồng 52,626 61,375 74,333 96,464 115,000 400,798
Trang 16Qua Bảng 1, thu ngân sách tăng dần qua các năm (2001-2005) Trong đó,ước thu cân đối ngân sách cả năm 2005 đạt 210.400 tỷ đồng, tăng 16,6% sovới ước thực hiện năm 2004 Thu nội địa đạt 115.000 tỷ đồng tăng 19,2% sovới thực hiện năm 2004; thu từ dầu thô đạt 55.500 tỷ đồng tăng 18,8% so vớithực hiện năm 2004 Cơ cấu thu ngân sách đã bước đầu chuyển dịch theohướng tăng tỷ trọng các nguồn thu ổn định từ nền sản xuất trong nước, giảm
tỷ trọng các nguồn thu từ yếu tố bên ngoài Tỷ trọng thu nội địa tiếp tục tănglên từ 53,5% năm 2004 tăng lên 54,7% năm 2005
Tổng chi ngân sách nhà nước trong cân đối ước đạt 258.500 tỷ đồng tăng19,5% so với thực hiện năm 2004 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước đã đượcđiều chỉnh hợp lý hơn theo hướng ưu tiên chi đầu tư phát triển nguồn nhânlực, khoa học công nghệ và chi thực hiện các mục tiêu xã hội như: xoá đóigiảm nghèo, việc làm, y tế, vệ sinh môi trường và đảm bảo an toàn xã hội.Bội chi ngân sách nhà nước ước đạt 40.800 tỷ đồng bằng 4,86% GDP Điều đó chứng tỏ rằng nguồn vốn ngân sách luôn đứng trước một mâuthuẫn giữa nhu cầu chi tiêu lớn mà khả năng huy động nguồn thu thì chỉ cóhạn Mâu thuẫn này càng trở nên gay gắt hơn với các nước đang phát triểntrong đó có Việt Nam Do hệ thống nguồn thu của những nước này vẫn chưahoàn thiện, chưa chặt chẽ, còn vấn đề quản lý chi tiêu của ngân sách thì lỏnglẻo, còn nhiều sơ hở gây nên những khoản thất thoát rất lớn
- Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước bao gồm:
+ Các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh, các dự án không có khả năng thu hồi vốn và được quản lý sửdụng theo phân cấp về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển
+ Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật
Trang 17+ Chi cho công tác điều tra, khảo sát, lập các dự án quy hoạch tổng thểphát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nôngthôn khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
+ Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển
+ Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanhnghiệp nhà nước để đầu tư
- Thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:+ Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư hoặc uỷ quyền quyết định đầu
tư các dự án thuộc nhóm A
+ Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan quản lý tài chính của Trung ương Đảng, cơ quan Trung ương của các
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội (được xác định trong Luật Ngânsách Nhà nước), Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đầu tư các dự
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu
tư quyết định đầu tư các dự án có mức vốn dưới 500 triệu đồng
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã được quyết định đầu tư các
dự án thuộc nguồn vốn ngân sách do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp.Đối với các dự án đầu tư ở cấp huyện dùng vốn ngân sách nhà nước phảiđược Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chấp thuận và quản lý chặt chẽ về quy hoạch,mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 18Đối với các dự án ở cấp xã dùng vốn ngân sách nhà nước đầu tư và xâydựng kênh mương, đường nông thôn, trường học, trạm xá, công trình văn hóasau khi được Hội đồng nhân dân cấp xã thông qua phải được Uỷ ban nhân dâncấp huyện chấp thuận về mục tiêu đầu tư và quy hoạch.
Các dự án đầu tư xây dựng hệ thống kênh mương, chuồng trại, đườnggiao thông nông thôn, các trường học ở cấp xã đầu tư bằng nguồn đóng gópcủa dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đầu tư vàxây dựng theo Quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đónggóp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn,ban hành kèm theo Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 4 năm 1999của Chính phủ
(2) Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: là nguồn vốn
được hình thành từ vốn tích luỹ của nguồn thu trong nước của ngân sách vàvốn ODA vay để cho vay lại
Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cựctrong việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước Nguồn vốnnày được dùng để hỗ trợ đầu tư cho các dự án chuyển tiếp, có thể hoàn thành
để sớm phát huy hiệu quả, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm; hỗ trợ đầu tưcho các dự án công nghiệp chế biến và sản xuất hàng xuất khẩu; trồng câycông nghiệp; chăn nuôi xuất khẩu; đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản; pháttriển kinh tế trang trại; hỗ trợ đầu tư các dự án chuyển đổi cơ cấu sản xuấttrong từng ngành, từng vùng; các dự án thuộc các ngành công nghiệp thenchốt, các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội có thu hồi vốn Đối với các dự án đầu tưbằng vốn vay ODA để cho vay lại cần đưa vào kế hoạch thực hiện theo đúngtiến độ giải ngân của các nhà tài trợ, tăng cường quản lý để bảo đảm hiệu quảcao nhất, góp phần hoàn vốn nhanh
Trang 19Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam còn yếu kém về hiệu quả vàsức cạnh tranh như hiện nay, các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế cònchưa đủ sức đầu tư đổi mới công nghệ, hoặc xây dựng các cơ sở sản xuất mớivới công nghệ theo hướng hiện đại thì việc hỗ trợ đầu tư cho các doanhnghiệp bằng nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước là rất cần thiết Tuy vậynguồn vốn này sẽ hạn chế dần trong tương lai.
Tất cả các thành phần kinh tế đều có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng đầu
tư của nhà nước, nếu có những dự án đầu tư có hiệu quả, được thông quathẩm định của các cơ quan chức năng Các chủ đầu tư sử dụng nguồn vốn tíndụng đầu tư của nhà nước cho các dự án, có trách nhiệm hoàn trả vốn và lãitheo các quy định của nhà nước và theo hợp đồng ký kết giữa bên cho vay vàbên vay Tuy nhiên, việc cho vay của nhà nước cũng chỉ là hỗ trợ, chưa cókhả năng cho vay 100% mức vốn của dự án Các doanh nghiệp và các nhà đầu
tư có vay vốn cần huy đồng thêm các nguồn vốn khác nhau và vốn tự có đểbảo đảm thực hiện các dự án có hiệu quả cao nhất
Đối với nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước, thì thẩm quyền quyếtđịnh đầu tư các dự án của doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn tín dụng đầu tưphát triển của Nhà nước, thực hiện theo quy định như đối với vốn ngân sáchnhà nước nêu trên
+ Hội đồng quản trị các Tổng công ty nhà nước được quyền quyết địnhđầu tư các dự án nhóm C Riêng các Tổng công ty nhà nước do Thủ tướngChính phủ trực tiếp quản lý, Hội đồng quản trị của tổng công ty được quyềnquyết định đầu tư các dự án nhóm B, C
+ Chủ đầu tư các dự án nhóm C sử dụng các nguồn vốn quy định tạikhoản 2 Điều này được quyền phê duyệt kế hoạch đấu thầu, kết quả đấu thầu,hợp đồng giao nhận thầu, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu và quyết toán vốnđầu tư theo các chế độ, chính sách hiện hành của nhà nước trong phạm vi tổng
Trang 20mức đầu tư và các nội dung ghi trong quyết định đầu tư, thiết kế kỹ thuật vàtổng dự toán đã được người có thẩm quyền quyết định đầu tư phê duyệt Tổchức cho vay vốn theo dõi và kiểm tra thực hiện đầu tư theo quyết định đầu tư
và thực hiện quyết toán vốn đầu tư
Các dự án nhóm A, B quá trình thực hiện đầu tư được áp dụng theo quyđịnh đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước
(3) Nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: là nguồn
vốn được huy động từ nguồn khấu hao cơ bản để lại, lợi nhuận sau thuế và cáckhoản đầu tư khác của doanh nghiệp nhà nước: đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh, hiện đại hoá từng phần trong các doanh nghiệp hoắc góp vốn liên doanh…
Để đảm bảo huy động tốt nguồn vốn tư các doanh nghiệp nhà nước thìcần phải tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển, mởrộng thị trường tiêu thụ hàng hoá, làm ăn có lãi Mặt khác, tiến hành đẩy nhanh
cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước không cần thiết phải có 100% vốn nhànước, mở rộng diện và hạn mức mua cổ phiếu để nhà nước có thể có ngaynguồn vốn lớn cho đầu tư và tái đầu tư; cải tiến thủ tục ra quyết định cổ phầnhoá doanh nghiệp nhà nước Sớm ban hành Nghị định sửa đổi bổ sung củaChính phủ về bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước, nhất là bán doanhnghiệp nhà nước quy mô nhỏ, thu nhanh vốn về cho ngân sách Như vậy cókhả năng huy động nhiều hơn vốn đầu tư phát triển, có điều kiện để tập trungcho đổi mới công nghệ, tăng sức cạnh tranh của các sản phẩm và nền kinh tế.Đối với nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước thì thẩmquyền quyết định các dự án đầu tư và triển khai thực hiện đầu tư được quyđịnh như sau:
+ Đối với các dự án nhóm A, thẩm quyền quyết định đầu tư và thực hiện đầu
tư được áp dụng theo quy định đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
Trang 21+ Đối với các dự án nhóm B, C doanh nghiệp nhà nước căn cứ vào quyhoạch phát triển ngành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc thông qua
để quyết định đầu tư; quá trình thực hiện đầu tư do doanh nghiệp tự chịu tráchnhiệm trên cơ sở thực hiện đúng các chế độ chính sách hiện hành của nhànước về quản lý đầu tư và xây dựng về định mức, đơn giá và quy chế đấuthầu Tổ chức quản lý vốn của doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ vốn cho dự
án có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện quyết định đầu tư và thực hiệnquyết toán vốn đầu tư
2.2.2 Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài
Ta có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài dưới giác độ như là dònglưu chuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất thì cácdòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tàichính giữa các quốc gia trên thế giới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế,dòng từ các nước phát triển đổ vào các nước đang phát triển thường được cácnước thuộc thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốn này diễn ra dướinhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thực hiệnriêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thểphân loại các nguồn vốn chính như sau:
+ Tài trợ phát triển chính thức (ODF – official development finance).Nguồn này bao gồm: viện trợ phát triển chính thức (ODA – officialdevelopment assistance) và các hình thức tài trợ phát triển khác Trong đó,ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF, vì thế khi đề cập đến nguồntài trợ phát triển chính thức thì chỉ đề cập đến nguồn ODA
+ Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
+ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
+ Nguồn huy động qua thị trường vốn
Trang 22Với đề tài nghiên cứu này, tôi sẽ giới thiệu cụ thể hơn về hai nguồn vốnnước ngoài chủ yếu đóng vai trò quan trọng đối với nguồn vốn đầu tư pháttriển của quốc gia, đó là: nguồn vốn ODA và nguồn vốn FDI.
2.2.2.1 Nguồn vốn ODA
Đây là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủnước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So vớicác hình thức tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn ODFnào khác Ngoài các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khỗilượng vốn vay tương đối lớn, thì bao giờ trong ODA cũng có yếu tố khônghoàn lại (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất 25%
Trong thời gian qua (2001-2005), việc thu hút ODA phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam đã diễn ra trong bối cảnhkhó khăn kinh tế toàn cầu, nguồn ODA của thế giới có xu hướng giảm đáng
kể Tuy nhiên, nguồn ODA mà các nhà tài trợ cam kết dành cho Việt Namvẫn tiếp tục tăng lên qua các năm, cụ thể: năm 2001 đạt 2,4 tỷ USD; năm
2002 đạt 2,6 tỷ USD; năm 2003 đạt 2,83 tỷ USD; năm 2004 đạt 3,4 tỷ USD;năm 2005 dự kiến cam kết 3,5 tỷ USD Điều này thể hiện sự đồng tình và ủng
hộ của cộng đồng các nhà tài trợ, các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủđối với chính sách phát triển kinh tế – xã hội của đảng và Nhà nước ta
Việc ký kết các điều ước quốc tế cụ thể về ODA trong 5 năm đã diễn rathuận lợi; tổng giá trị các hiệp định ký kết đạt khoảng 14,7 tỷ USD, trong đóvốn viện trợ không hoàn lại chiếm 15-20% Tuy nhiên tỷ lệ giả ngân nguồnvốn này chưa cao, dự kiến trong 5 năm ước giải ngân nguồn vốn ODAkhoảng 7,8 tỷ USD đạt 87% so với kế hoạch đề ra, cụ thể: năm 2001 chỉ giảingân được 1,5 tỷ USD; năm 2002 là 1,55 tỷ USD; năm 2003 là 1,42 tỷ USD;năm 2004 là 1,6 tỷ USD; năm 2005 ước là 1,7 tỷ USD
Trang 23Trong các chương trình, dự án ODA đã được ký kết có những dự án quốcgia mang ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng đối với cả nước Việc vận độngnguồn ODA trực tiếp tập trung cho các vùng nghèo, có nhiều khó khăn cũngđược cải thiện một bước so với trước đây Giá trị ODA bình quân đầu người
mà các vùng nghèo, khó khăn được thụ hưởng trực tiếp trong thời gian qua đãđược cải thiện một phần Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA đãhoàn thành, đưa vào sử dụng góp phần tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sốngngười dân, tăng cường công bằng xã hội
2.2.2.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối vớicác nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển Nguồn vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoàikhác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuậnthích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nướcngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó cóthể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những nghành đòi hỏi cao
về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vì thế, nguồn vốn này có tác dụngcực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu tư
Kinh nghiệm phát triển hiện đại của một số nước Đông á cho thấy rằngđầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triểncủa các quốc gia này Vấn đề hiệu quả sử dụng vốn FDI tuỳ thuộc chủ yếuvào cách thức huy động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứkhông chỉ ở ý đồ của người đầu tư
Đối với Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện chính sách mở cửa, nguồnvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp phần bổ sung vốn quan trọng cho
Trang 24đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực để khai thác và nâng cao hiệu quả sửdụng các nguồn lực trong nước như dầu khí, điện…Từ 2001-2005 , tỷ lệ đónggóp của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP tăng dần, cụthể: năm 2001 là 13,1%; năm 2002 là 13,9%; năm 2003 là 14,5%; năm 2004
là 14,8% và năm 2005 ước là 15% GDP Trong 5 năm qua, vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài chiếm gần 17% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, giảm đáng kể sovới con số 24% của thời kỳ trước; tổng doanh thu không kể dầu khí đạt 76,9
tỷ USD, gấp hơn 2,5 lần so với kỳ trước; giá trị xuất khẩu không kể dầu khíđạt 34,2 tỷ USD, gấp 3 lần so với kỳ trước và chiếm trên 31% tổng kim ngạchxuất khẩu của cả nước; kim ngạch nhập khẩu đạt 45,2 tỷ USD, chiếm 34,7%tổng kim ngạch nhập khẩu; nộp ngân sách nhà nước khoảng 3,4 tỷ USD, gấp
2 lần so với thời kỳ trước và bằng 4,9% tổng thu ngân sách; thu hút khoảng
86 vạn lao động trực tiếp, tăng hơn 2 lần so với kỳ trước và số lao động giántiếp ước tăng hơn 2 lần
3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ.
Bất kỳ một hoạt động bỏ vốn đầu tư nào dù là đứng trên phương diện chủđầu tư hay nhà quản lý thì họ đều mong muốn rằng hoạt động sử dụng vốnđầu tư của mình sẽ đạt được hiệu quả Hiệu quả đó có thể là lợi nhuận đối vớicác nhà đầu tư hoặc là các lợi ích về kinh tế - xã hội đối với các nhà quản lýnền kinh tế Vì vậy, để đi xem xét về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho dự ánthì ta sẽ đi xem xét trên hai phương diện là hiệu quả tài chính và hiệu quảkinh tế - xã hội của dự án đầu tư
3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư
3.1.1 Hiệu quả tài chính
3.1.1.1 Khái niệm
Hiệu quả tài chính (Etc ) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầuphát triển hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và nâng cao đời sống người
Trang 25lao động trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư mà
cơ sở đã sử dụng so với kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với đ nh m c chung.ịnh mức chung ức chung
Etc= Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện
đầu tư số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện để tạo ra các kết quả trên
Etc được coi là có hiệu quả khi Etc > Etc0
Trong đó: Etc0 - Chỉ tiêu hiệu quả tài chính định mức, hoặc của các kỳkhác mà cơ sở đã đạt được chọn làm cơ sở so sánh, hoặc của các đơn vị khác
đã đạt được tiêu chuẩn hiệu quả
Do đó, để phản ánh hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư người ta phải
sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh củahiệu quả và được sử dụng trong những điều kiện nhất định
3.1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính
Đối với dự án đầu tư, hệ thống đánh gía hiệu quả tài chính gồm có:
- Chỉ tiêu lợi nhuận thuần, thu nhập thuần của dự án: Đây là chỉ tiêu phảnánh hiệu quả tuyệt đối của dự án đầu tư Chỉ tiêu lợi nhuận thuần tính cho từngnăm của đời dự án, phản ánh hiệu quả hoạt động từng năm của đời dự án Chỉtiêu thu nhập thuần phản ánh hiệu quả hoạt động của toàn bộ công cuộc đầu tư(quy mô lãi của cả đời dự án) Các chỉ tiêu này có thể tính chuyển về mặt bằngthời gian hiện tại hoặc tương lai
- Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư còn gọi là hệ số thu hồi vốn đầu tư:
Chi tiêu này phản ánh mức lợi nhuận thu được từng năm ipv
i v0
W RR L
một đơn vị vốn đầu tư (1000đ, 1.000.0000đ,…) và mức thu nhập thuần thu
được tính cho 1 đơn vị vốn đầu tư
v0
NPV npv
Trang 26Trong đó:
Iv0 : Vốn đầu tư tại thời điểm hiện tại (dự án bắt đầu hoạt động)
Wipv : Lợi nhuận thuần năm i tính chuyển về thời điểm hiện tại
NPV: Thu nhập thuần tính chuyển về thời điểm hiện tại
- Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí (B/C): Chỉ tiêu này phản ánh tỷ số giữa lợiích thu được với chi phí bỏ ra, dự án có hiệu quả khi B/C ≥ 1, dự án không cóhiệu quả khi B/C < 1
- Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn đầu tư (T ): Cho biết thời gian mà dự áncần hoạt động để thu hồi vốn đầu tư đã bỏ ra từ lợi nhuận và khấu hao thu đượchàng năm Dự án có hiệu quả khi T ≤ T tuổi thọ dự án hoặc T ≤ T định mức.Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì hiệu quả của dự án càng cao
- Chỉ tiêu hệ số hoàn vốn nội bộ (IRR): Hệ số hoàn vốn nội bộ là mức lãisuất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của
dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì cân bằng với tổng chi Dự án có hiệuquả khi: IRR = rgiới hạn Dự án không có hiệu quả khi IRR < rgiới hạn Tỷ suất giớihạn được xác định căn cứ vào các nguồn huy động của dự án Chẳng hạn dự ánvay vốn đầu tư, tỷ suất giới hạn là mức lãi suất vay Nếu sử dụng vốn tự có đểđầu tư, tỷ suất giới hạn là mức chi phí cơ hội của vốn Nếu huy động vốn từnhiều nguồn, tỷ suất giới hạn là mức lãi suất bình quân từ các nguồn huy động
- Chỉ tiêu điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa
đủ để trang trải các khoản chi phí phải bỏ ra Điểm hoà vốn được biểu hiệnbằng chỉ tiêu hiện vật (sản luợng tại điểm hoà vốn) và chỉ tiêu giá trị (doanhthu tại điểm hoà vốn) Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơnsản lượng hoặc doanh thu hoà vốn thì dự án có lãi (có hiệu quả) và ngược lại,nếu nhỏ hơn, dự án bị lỗ (không có hiệu quả) Điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt,mức độ an toàn của dự án càng cao, thời gian thu hồi vốn càng ngắn
Trang 273.1.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Khái niệm
Hiệu quả kinh tế xã hội là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế
-xã hội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và -xã hội đã phải bỏ rakhi thực hiện đầu tư
Các dự án đầu tư nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội thường là các
dự án được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, vì mục đích của việcđầu tư là đạt được những lợi ích về kinh tế xã hội trong kế hoạch phát triểnkinh tế quốc dân Và để xem xét mức độ đóng góp cụ thể của các dự án đầu tưtrong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế có đạt hay không thì ta sẽdựa vào các tiêu chuẩn đánh giá sau
3.1.2.2 Các tiêu chuẩn đánh giá
Đối với mọi quốc gia, mục tiêu chủ yếu của nền sản xuất xã hội là tối đahoá phúc lợi Mục tiêu này thường được thể hiện qua các chủ trương chínhsách và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Ở các nước pháttriển, các mục tiêu chủ yếu được đề cập trong kế hoạch phát triển dài hạn được
đo lường bằng các tiêu chuẩn sau:
- Nâng cao mức sống dân cư: Đựơc thể hiện gián tiếp thông qua các sốliệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độtăng trưởng và phát triển kinh tế
- Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện thông qua sự đónggóp của công cuộc đầu tư vào việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triền
và đẩy mạnh công bằng xã hội
- Gia tăng số lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủyếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước thừa lao động thiếuviệc làm
Trang 28- Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nước đang phát triển không chỉnghèo mà còn là nước nhập siêu Do đó đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhậpkhẩu là những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế tại cácquốc gia này.
- Các mục tiêu kế hoạch kinh tế khác là:
+ Tận dụng khai thác tài nguyên chưa được quan tâm hay mới được phát hiện.+ Nâng cao năng xuất lao động, đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao,tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật để hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinh tế + Phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng gây phản ứng dâytruyền thúc đẩy phát triển các ngành nghề khác
+ Phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương nghèo, các vùng xa xôi, dân
cư thưa thớt nhưng có nhiều triển vọng về tài nguyên để phát triển kinh tế
3.1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư
3.1.2.3.1 Giá trị gia tăng thuần tuý NVA (Net value added): Đây là chỉ
tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư NVA là mức chênhlệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào
NVA = O – (MI + Iv)Trong đó:
NVA: Giá trị gia tăng thuần tuý do đầu tư đem lại
O (output): Giá trị đầu ra của dự án
MI (Material input): Giá trị đầu vào vật chất thường xuyên và các dịch
vụ mua ngoài theo yêu cầu để đạt được đầu ra trên đây (như năng lượng,nhiên liệu, giao thông, bảo dưỡng )
Iv: Vốn đầu tư bao gồm chi phí xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc,thiết bị
Trang 293.1.2.3.2 Chỉ tiêu số lao động có việc làm do thực hiện dự án và số lao
động có việc làm tính trên 1 đơn vị giá trị vốn đầu tư
- Số lao động có việc làm: bao gồm số lao động có việc làm trực tiếp cho
dự án và số lao động có việc làm ơ các dự án liên đới (số lao động có việc làmgián tiếp) Các dự án liên đới là các dự án khác được thực hiện do sự đòi hỏicủa dự án đang được xem xét
Trình tự xác định số lao động (Trực tiếp và gián tiếp) có việc làm do thựchiện dự án như sau:
+ Xác định số lao động cần thiết cho dự án đang xem xét tại năm hoạtđộng binhg thường của đời dự án
+ Xác định số lao động cần thiết cho việc tăng thêm ở các dự án liên đới
cả về đầu vào và đầu ra Đây chính là số lao động có việc làm gián tiếp nhờthực hiện dự án đang xem xét
+ Tổng hợp số lao động trực tiếp và gián tiếp có việc làm trên đây chính
là tổng lao động có việc làm nhờ thực hiện dự án
- Số lao động có việc làm trên một đơn vị vốn đầu tư
Để tính chỉ tiêu số lao động có việc làm trên một đơn vị giá trị vốn đầu
tư, cũng tương tự như đối với lao động, ta phải tính số vốn đầu tư trực tiếpcủa dự án đang xem xét và vốn đầu tư của các dự án liên đới Tiếp đó tính cácchỉ tiêu sau đây:
Số lao động có việc làm trực tiếp tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tưtrực tiếp (Id)
Trong đó:
Ld: Số lao động có việc làm trực tiếp của dự án
Ivd: Số vốn đầu tư trực tiếp của dự án
Trang 30Toàn bộ số lao động có việc làm tính trên một đơn vị giá trị vốn đầu tưđầy đủ (It)
T
T T V
L I I
Trong đó:
Lt: Toàn bộ số lao động có việc làm trực tiếp và gián tiếp
IvT: Số vốn đầu tư đầy đủ của dự án đang xem xét và các dự án liên đới
LT = Ld + Lind
IVT = IVd + IVind
Lind: Số lao động có việc làm gián tiếp
IVind: Số vốn đầu tư gián tiếp
3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN
Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tuy chỉ chiếm 20%tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhưng nó luôn đóng một vai trò quan trọng trongviệc thu hút các nguồn vốn đầu tư khác, thúc đẩy hoạt động đầu tư đối vớinền kinh tế đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vìvậy, để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thì ta cầnxem xét các nhân tố ảnh hưởng của nó Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đénhiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ NSNN, cụ thể ta sẽ đi xem xét một vài nhân tốsau:
Công tác quản lý đầu tư ở các ngành, các cấp: là một trong những nhân
tố ảnh hưởng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Tình trạng buông lỏng trong quản
lý, thiếu kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực đầu tư có thể dẫn đến những sai sóttrong quản lý kế hoạch đầu tư và quá trình xây dựng thể hiện ở tất cả các
Trang 31đầu tư, thiết kế kỹ thuật, lập tổng dự toán đến khâu triển khai thực hiện, giámsát thi công, theo dõi cấp phát thanh quyết toán Thêm vào đó, tình trạng hamthành tích bề nổi, không chú ý đến quy trình, tiêu chuẩn kỹ thuật, hiệu quảđầu tư và kinh doanh cũng làm cho tình trạng lãng phí, thất thoát thêmnghiêm trọng.
Chất luợng công tác quy hoạch: Hiện nay, chất lượng công tác quy
hoạch ở nước ta chưa cao, chưa làm cơ sở cho kế hoạch đầu tư phát triển; dẫn
đến tình trạng phải điều chỉnh dự án nhiều lần gây lãng phí vốn đầu tư chất
lượng các quy hoạch chưa cao, thiếu gắn kết với nhau, chưa dựa vào nhu cầuthi trường Trong khi đó, Nhà nước lại thiếu công cụ, chính sách hữu hiệu đểquản lý, giám sát thực hiện quy hoạch; tình trạng đầu tư tự phát, không theoquy hoạch còn khá phổ biến, đã dẫn đến hậu quả tiêu cực về kinh tế và môitrường, một số sản phẩm được đầu tư nhiều vượt xa quy hoạch dẫn đến cungvượt cầu, giá cả tụt giảm, tiêu thụ khó khăn, điển hình như cà phê, hạt tiêu
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về đầu tư và xây dựng: đây cũng
là nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Hiện nay, công tácthanh tra, kiểm tra, giám sát về đầu tư và xây dựng vẫn chưa được triển khaiđến nơi đến chốn trong tất cả các ngành và các cấp Việc phân cấp về quản lýđầu tư và xây dựng cho các Bộ, các ngành, các địa phương đã được tiến hànhrộng rãi, toàn diện và triệt để nhưng lại thiếu các chế tài kiểm tra, giám sát.Thêm vào đó, trách nhiệm quản lý của các Bộ, ngành, địa phương, các chủđầu tư chưa cao trong việc xem xét đầy đủ các nội dung theo quy định; một số
dự án được phê duyệt nhưng tính khả thi thấp, dẫn đến đầu tư kéo dài, hiệuquả không cao
Trang 32Nguồn vốn ngân sách đóng vai trò hết sức quan trọng trong chương trìnhđầu tư phát triển và chương trình đầu tư công cộng; tác động nhiều chiều đếnviệc thu hút các nguồn vốn khác; nếu sử dụng không tốt, dự án đầu tư không
có hiệu quả thì sẽ hạn chế khả năng thu hút các nguồn vốn khác và ảnh hưởngnghiêm trọng đến việc thực hiện toàn bộ chương trình; ngược lại, nếu sử dụng
có hiệu quả, đúng mục tiêu thì sẽ thúc đẩy khả năng huy động nguồn vốn vàtính hiệu quả của các dự án thuộc nguồn vốn khác Vốn từ ngân sách nhànước chỉ đầu tư mới rất hạn chế cho doanh nghiệp nhà nước và không đầu tưcho các cơ sở sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp này Đối vớingành công nghiệp, thì nguồn vốn từ ngân sách chỉ hỗ trợ đầu tư cho cơ sở hạtầng ngoài khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng làng nghề…Còn trong nông nghiệpthì nguồn vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư phát triển hệ thông giống cây trồng, vậtnuôi, hệ thông thuỷ lợi…Để nghiên cứu cụ thể hơn quá trình đầu tư từ ngânsách nhà nước, ta sẽ đi xem xét thực trạng sử dụng vốn đầu tư từ ngân sáchnhà nước theo ngành kinh tế và theo vùng lãnh thổ
1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ TỪ NGÂN SÁCH THEO NGÀNH KINH TẾ
1.1 Vốn đầu tư phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn
Nông nghiệp là một nền tảng quan trọng để góp phần ổn định kinh tế, xã
Trang 33triển nông nghiệp và nông thôn, xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm cũng nhưthực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia khác, tạo động lực mạnh mẽ chonông dân và người dân ở nông thôn hăng hái tham gia phát triển sản xuất, xâydựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nông nghiệp tiếp tục duy trì đà phát triểnkhá cao với nhịp tăng trên 5,7%/năm, góp phần giữ vững ổn định lương thực,cung cấp nông sản cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu, góp phần ổnđịnh chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước.
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp trên nhiều vùng đã có sự chuyển dịch theohướng tăng hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp; trong khi bảođảm an toàn lương thực đã phát triển đa dạng nông nghiệp, nhất là cây côngnghiệp; đặc biệt nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản phát triển khá nhanh,chiếm khoảng 15% giá trị sản xuất toàn ngành, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sảntăng cao
Cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn được tăng cường; đời sống kinh
tế và xã hội đã có nhiều cải thiện, tạo ra nhiều khả năng thực hiện việc chuyểnđổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, chuyển đổi cây trồng vật nuôibảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội góp phần xoá đói giảm nghèo và tạo thêmviệc làm ở nông thôn
Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp cũng đặt ra mục tiêu phát triển trong 5năm (2001-2005) đó là tập trung chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu nông nghiệp
và kinh tế nông thôn theo hưóng gắn chặt với thị trường trong và ngoài nước;xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá chuyên canh năng xuất cao và có khảnăng xuất khẩu ổn định, phù hợp với tiềm năng và lợi thế của từng vùng; phấnđấu đạt giá trị cao trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp dự kiến tăng bình quân 4,8%/năm.Đến năm 2005, ngành nông nghiệp (bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi và dịch
Trang 34vụ nông nghiệp) chiếm khoảng 75 - 76% giá trị sản xuất toàn ngành; lâmnghiệp khoảng 5 - 6%; thuỷ sản khoảng 19 - 20%
BẢNG 2 VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CHO NGÀNH
NÔNG, LÂM, NGƯ NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2001-2005
Đơn vị: 1000 tỷ đồng (giá năm 2000)
2001-2005 2001 2002 2003 2004 2005
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%) Vốn đầu tư
toàn xã hội 109,2 100 17,9 100 20,7 100 22,1 100 23,3 100 25,0 100Vốn đầu tư từ
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Để đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành, thì nhu cầu vốn đầu tư toàn xãhội trong 5 năm (2001-2005) khoảng 109,2 nghìn tỷ đông, trong đó nguồnvốn từ NSNN đầu tư cho nghành khoảng 46,63 nghìn tỷ đồng chiếm 42,7%tổng vốn đầu tư toàn xã hội của ngành Cụ thể, năm 2001 là 9 nghìn tỷ chiếm50,3%; năm 2002 là 9,2 nghìn tỷ chiếm 44,4%; năm 2003 là 9,3 nghìn tỷchiếm 42,08%; năm 2004 là 9,5 nghìn tỷ chiếm 40,77%; năm 2005 là 9,6nghìn tỷ chiém 38,4%
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách chưa cao Vẫn cònnặng đầu tư vào các công trình thuỷ lợi (chiếm hơn 70% vốn đầu tư củangành), chủ yếu là thuỷ lợi phục vụ cây lúa, việc xây dựng các công trìnhthuỷ lợi tưới cho các loại cây công nghiệp còn ít, còn coi nhẹ đầu tư thuỷ lợicấp nước cho công nghiệp và dân sinh, cho nuôi trồng thuỷ sản Vốn cho côngtác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, công tác nghiên cứu pháttriển giống, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thời gian đầu chưa được
Trang 35quan tâm thoả đáng.
Cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp lý như đầu tư ngân sách cho một
số ngành và sản phẩm được bảo hộ; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và cơ
sở hạ tầng còn thấp…Việc đầu tư phục vụ việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn
ít, nặng về đầu tư quốc doanh, chưa có chính sách tốt để thu hút các nguồnvốn ngoài ngân sách đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn
Mới quan tâm đầu tư “đầu vào” nhằm phát triển năng lực sản xuất, chưaquan tâm đến đầu ra của sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thônghàng hoá, đầu tư cho công tác bảo quản chế biến sau thu hoạch, đầu tư chothông tin thị trường chưa tương xứng Mới quan tâm đầu tư theo chiều rộng,lấy số lượng làm chính, do vậy một số hàng hoá nông sản làm ra thường chấtlượng không cao, chủng loại, mẫu mã kém, không phù hợp với yêu cầu thịtrường, giá thành cao hơn các nước trong khu vực và thế giới, khả năng cạnhtranh khó khăn; tỷ lệ nông sản qua chế biến thấp, phần lớn xuất khẩu hàngnông sản của ta vẫn là sản phẩm thô
1.2 Vốn đầu tư phát triển ngành công nghiệp
Ngành công nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến trong việc chuyểnđổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm và cơ cấu công nghệ theo hướng hiệnđại, nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường Tốc độ tăng trưởngbình quân hàng năm ngành công nghiệp trong 5 năm qua đạt 13,5% Đó làbước phát triển khá nhanh, góp phần làm cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởngvới tốc độ bình quân khoảng 7% trong điều kiện kinh tế các nước trong khuvực đều suy giảm
Năng lực sản xuất một số sản phẩm công nghiệp tăng khá; không những
đã đảm bảo đủ nhu cầu về ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại, học hành và nhiềuloại hàng tiêu dùng thiết yếu khác, mà còn có khả năng xuất khẩu ngày càng
Trang 36tăng Nhiều sản phẩm quan trọng có ý nghĩa chiến lược, có tác động lớn đếnnhiều ngành kinh tế đều có tốc độ tăng trưởng khá Cơ cấu các ngành côngnghiệp đã có chuyển dịch đáng kể, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn,một số khu công nghiệp, khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất có công nghệkhá hiện đại.
Trong kế hoạch 5 năm (2001-2005), ngành công nghiệp có vai trò rấtquan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Với một
số chỉ tiêu về tăng trưởng ngành công nghiệp như sau:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 13,1%/năm
+ Ngành điện tăng trưởng khoảng 13%/năm; năm 2005 dự kiến điện sảnxuất đạt 49 tỷ Kwh
+ Ngành than tăng trưởng khoảng 6,8%/năm; năm 2005 sản lượng thansạch khoảng 15 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn
+ Ngành dầu khí tăng trưởng khoảng 4 - 5%; năm 2005 dự kiến đạt sảnlượng 22 - 24 triệu tấn dầu quy đổi và xuất khẩu khoảng 12 - 16 triệu tấn+ Ngành thép tăng trưởng khoảng 14%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sảnlượng 2,7 triệu tấn thép xây dựng, 1 - 1,4 triệu tấn phôi thép và 0,7 triệu tấnthép các loại khác
Ngành xi măng tăng trưởng khoảng 13%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sảnlượng 24 triệu tấn xi măng
Ngành giấy tăng trưởng khoảng 10%/năm; năm 2005 dự kiến đạt sảnlượng 605 nghìn tấn giấy
Để đạt được các mục tiêu tăng trưởng này thì nguồn vốn đầu tư phát triểncho ngành công nghiệp cần thiết trong giai đoạn 2001-2005 là:
BẢNG 3 VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
Trang 37Đơn vị: 1000 tỷ đồng (giá năm 2000)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Vốn đầu tư
Vốn đầu tư
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Từ bảng 3, nguồn vốn cần thiết đầu tư cho ngành công nghiệp trong giaiđoạn 2001-2005 khoảng 369,6 nghìn tỷ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sáchnhà nước đầu tư cho ngành là 17,72 nghìn tỷ đồng, chiếm 4,79% tổng vốnđầu tư toàn xã hội So với các nguồn vốn đầu tư xã hội khác như: nguồn vốntín dụng đầu tư phát triển nhà nước, vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nướcthì nguồn vốn đâu tư từ ngân sách ít hơn nhiều Điều này là do trong đầu tưphát triển công nghiệp thì vốn từ ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng cho công nghiệp
Mặc dù nguồn vốn đầu tư phát triển cho ngành từ ngân sách còn thấp,nhưng việc sử dụng nguồn vốn này trong ngành vẫn chưa đạt hiệu quả cao.Nhiều công trình đầu tư đã quá chú trọng vào việc đầu tư để tăng công suấtsản xuất mà chưa chú ý đúng mức đến năng lực cạnh tranh của đầu ra tiêu thụsản phẩm được thị trường chấp nhận đến mức nào; tuy có quy hoạch nhưngcòn rất lúng túng trong việc tạo ra một hệ thống chính sách, biện pháp phùhợp để thực hiện quy hoạch gắn với thị trường, nên đã dẫn đến việc đầu tưquá mức trong một số ngành, làm cho một số sản phẩm cung vượt quá cầu;chưa tập trung đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại nên chất lượng sảnphẩm chưa cao, giá thành chưa hạ; chưa đầu tư đúng mức cho công nghiệp
Trang 38sản xuất vật liệu, công nghiệp chế tạo, công nghiệp công nghệ cao để tăngcường khẳ năng chủ động của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càngsâu Một số dự án, chương trình đầu tư phát triển công nghiệp đã đề ra trongmỗi kỳ kế hoạch 5 năm chưa được triển khai hoặc triển khai chậm do chưatính hết các yếu tố khách quan từ phía đối tác và cả yếu tố chủ quan, trong đó
có yếu tố thiếu nguồn vốn
1.3 Vốn đầu tư phát triển ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông
Ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông trong 5 năm qua đã cóbước phát triển đáng kể, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành
đã được tăng cường, đáp ứng nhu cầu phát triển
Trong 5 năm (1996-2000) đã xây dựng mới và nâng cấp 5.134 km đườngquốc lộ, làm mới 11,5 km cầu đường bộ, sửa chữa và nâng cấp 200 km đườngsắt, khôi phục 2,5 km cầu trên tuyến đường sắt Thống Nhất Mở rộng và từngbước hiện đại hoá các cảng biển quan trọng như Hải Phòng, Sài Gòn, ĐàNẵng, Cần Thơ…nâng năng lực thông qua hệ thống cảng biển lên trên 70triệu tấn/năm Giao thông nông thôn đã có nhiều cải thiện
Hệ thống bưu chính viễn thông có bước phát triển khá, được hiện đại về
cơ bản Tất cả các tỉnh và các huyện được trang bị tổn đài điện tử, được nốivới nhau qua các tuyến cáp quang và viba số Các thành phố lớn như Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh đát xấp xỉ 20 máy/100 dân, trên 85% số xã trong toànquốc đã có điện thoại Mạng viễn thông quốc tế và công nghiệp viễn thông cóbước phát triển nhanh, hiện đại hơn
Trong 5 năm (2001-2005), ngành giao thông vận tải sẽ tập trung nângcấp và xây dựng mới các tuyến giao thông huyết mạch của đất nước, đảm bảo
Trang 39các phương tiện vận tải sắt, thuỷ, bộ, hàng không và đường ống thông suốtmọi miền đất nước, có biện pháp tích cực để giải quyết tốt vận tải hành kháchcông cộng ở các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.Ngành bưu chính viễn thông sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, phấn đấu100% tuyến liên tỉnh được cáp quang hoá vào năm 2005 để cơ bản hình thành
xa lộ thông tin quốc gia Nâng mức độ sử dụng cơ bản bình quân về điệnthoại từ 4% hiện nay lên mật độ 7 - 8% vào năm 2005, tạo điều kiện phát triểnmạnh dịch vụ Internet Để thực hiện mục tiêu này thì nguồn vốn đâu tư cầnthiết cho ngành giao thông vận tải và bưu chính viễn thông:
BẢNG 4 VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIAO THÔNG
VẬN TẢI VÀ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Đơn vị: 1000 tỷ đồng (giá năm 2000)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Vốn đầu tư
toàn xã hội 126,0 100 22,3 100 24,5 100 25,5 100 26,3 100 27,3 100Vốn đầu tư
từ NSNN 55,02 43,67 10,7 47,98 11,0 44,9 11,0 43,13 11,1 42,2 11,2 41,02
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong 5 năm, tổng vốn đầu tư cho ngành khoảng 126 nghìn tỷ đồng.Trong đó, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước là 55,02 nghìn tỷ đồng,chiếm 43,67% tổng vốn đầu tư toàn xã hội chủ yếu đầu tư để xây dựng hạtầng giao thông và hạ tầng bưu điện Mặt khác, ta biết rằng các dự án đầu tưvào các công trình giao thông và bưu chính viễn thông thường là các dự án
Trang 40đòi hỏi có nguồn vốn đầu tư lớn, vì vậy mà vốn đầu tư từ ngân sách nhà nướccho ngành thường chiếm một tỷ trọng cao hơn so với các ngành khác Nhưngcùng với nguồn vốn đầu tư lớn thì chi phí hàng năm cho sửa chữa, bảo dưỡng
hạ tầng giao thông, hạ tầng bưu điện của ngành cũng cao hơn so với cácngành khác Điều nay cũng đồng nghĩa với chất lượng công trình xây dựngthấp, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư không cao, tình trạng thất thoát, lãng phí vàtham nhũng vốn đầu tư công trình ngày càng trở nên một vấn nạn Vì vậy,trong 5 năm tới thì việc quản lý chặt chẽ và hợp lý nguồn vốn đầu tư tư ngânsách nhà nước cần được tăng cường hơn nữa để đảm bảo việc sử dụng hiệuquả vốn đầu tư, góp phần nâng cấp mạnh mẽ điều kiện về cơ sở hạ tầng chongành kinh tế, văn hoá, xã hội
1.4 Vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ
Trong 5 năm qua (1996-2000), hoạt động khoa học và công nghệ đã cóbước chuyển biến đáng kể, góp phần thiết thực, có ý nghĩa trong sư nghiệpđổi mới của đất nước
Trong 5 năm tới (2001-2005) mục tiêu khoa học công nghệ là bên cạnhviệc coi trọng thực hiện các dự án về khoa học xã hội và nhân văn, phải tạobước phát triển mới, có hiệu quả trong các lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụngcác thành quả khoa học và công nghệ vào sản xuất và kinh doanh; nâng caođáng kể tỷ trọng đóng góp của khoa học và công nghệ vào việc thực hiện cácchỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khoa học công nghệ đóng vai trò quantrọng trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanhnghiệp và toàn bộ nền kinh tế trong quá trình hội nhập và cạnh tranh gay gắt
Để đạt được mục tiêu phát triển khoa học công nghệ thì cơ cấu về vốn đầu tưcủa ngành: