Trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, thị trường ngày càng được mở rộng cùng với sự đa dạng của các loại hàng hoá trên thị trường làm cho mức cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh ngày càng được đẩy lên cao. Môt sản phẩm muốn tạo được “ấn tượng” với người tiêu dùng, ngoài chất lượng sản phẩm thì yếu tố mẫu mã, kiểu dáng bên ngoài cũng rất quan trọng. Nhận thức được điều đó, các chủ thể kinh doanh đã không ngừng sáng tạo để cho ra những kiểu dáng đẹp mắt và mang tính ứng dụng cao trong sản xuất kinh doanh nhưng cũng phải cần một cơ chế để bảo vệ thành quả sáng tạo ấy. Thực tế trong những năm gần đây, số đơn yêu cầu bảo hộ kiểu dáng công nghiệp tại Cục sở hữu trí tuệ ngày càng tăng lên đáng kể, điều đó chứng tỏ sự nhận thức về giá trị, vai trò của kiểu dáng công nghiệp trong xã hội đã thay đổi. Tuy nhiên, để xây dựng kiểu dáng công nghiệp đáp ứng mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và đáp ứng được những quy định về điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp lại không phải dễ dàng. Việc bảo hộ một kiểu dáng công nghiệp có thành công hay không trước hết kiểu dáng công nghiệp đó phải đáp ứng được các điều kiện bảo hộ theo
Trang 1ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MÔN HỌC: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
ĐỀ TÀI: ĐIỀU KIỆN BẢO HỘ ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
Lớp:
Hà Nội, Tháng 03/2020
Trang 3A/ Mở đầu: 1
B/ Nội dung: 2
I/ Những vấn đề lý luận chung: 2
1/ Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp: 2
1.1/ Khái niệm: 2
1.2/ Đặc điểm: 2
2/ Khái niệm, đặc điểm của kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với kiểu dáng công nghiệp: 2
2.1/ Khái niệm và đặc điểm của kiểu dáng công nghiệp: 2
2.2/ Khái niệm và đặc điểm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp: 4
2/ Phân loại kiểu dáng công nghiệp: 5
II/ Điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đồi, bổ sung 2009): 6
1/ Điều kiện chung để kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ: 6
1.1/ Điều kiện chung để được bảo hộ: 6
1.2/ Những trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp: .9
2/ Điều kiện về đăng ký kiểu dáng công nghiệp 10
2.1/ Chủ thể có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp 10
2.2/ Cách thức, nguyên tắc nộp đơn và yêu cầu đối với đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp: 12
2.3/Văn bằng bảo hộ 14
III/ Ý nghĩa của bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp trong kinh doanh: 15
IV/ Thực trạng và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp .17
1/ Thực trạng pháp luật về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: 17
2/ Thực trạng hiện nay về bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: 18
Trang 43/ Phương hướng hoàn thiện: 18 C/Kết luận: 20 Danh mục tài liệu tham khảo 21
Trang 5A/ Mở đầu:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường diễn ra ngày càng mạnh mẽ thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng khốc liệt nhằm giành lấy thị phần Điều này là điều tất yếu sẽ diễn ra Sản phẩm của công ty chính là một yếu tố quyết định đến sức cạnh tranh của công ty cũng như lợi nhuận đạt được Sản phẩm đó có khiến người tiêu dùng chọn mua hay không một phần không thể thiếu đó là bao bì, hình dáng bên ngoài của sản phẩm Nhận thức được điều này, các công ty đã ngày càng đầu tư hơn cho bên ngoài sản phẩm của mình ngày càng chỉnh chu, bắt mắt nhầm thu hút khách hàng Thế nhưng hình dáng bên ngoài của sản phẩm có thể dễ dàng nhận thấy bằng mắt và có thể sao chép được Do vậy, pháp luật đã quy định chế định về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
mà đối tượng của quyền này là kiểu dáng công nghiệp nhằm bảo hộ cho sự sáng tạo của con người về kiểu dáng công nghiệp Để được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp, kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ cũng như các điều kiện về đăng ký quyền sở hữu công nghiệp Tuy nhiên, việc đăng ký hoàn toàn không dễ dàng Vì vậy, em
quyết định chọn đề tài bài tập nhóm học kỳ : “Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công
nghiệp theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và một số kiến nghị.”để hiểu thêm sâu sắc các quy định của phạm pháp luật về kiểu dáng
công nghiệp Do tầm hiểu biết còn nhiều hạn chế không thể tránh khỏi những sai sót, mong quý thầy cô góp ý để bài tập lớn học kỳ của em được hoàn thiện hơn
Trang 6B/ Nội dung:
I/ Những vấn đề lý luận chung:
1/ Khái niệm và đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp:
1.1/ Khái niệm:
Theo Khoản 4 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005( sửa đổi, bổ sung năm 2009) quyền
sở hữu công nghiệp là: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.”
1.2/ Đặc điểm:
Thứ nhất, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh
Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ tục đăng lý tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ ba, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo hộ
2/ Khái niệm, đặc điểm của kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với kiểu dáng công nghiệp:
2.1/ Khái niệm và đặc điểm của kiểu dáng công nghiệp:
*Khái niệm của kiểu dáng công nghiệp:
Trong cuộc sống, khi chúng ta thấy được một vật gì đẹp ta thường đề cập đến hai từ
“kiểu dáng” ví dụ như một chiếc xe máy đẹp thì ta thường bảo: “chiếc xe này có kiểu dáng thật đẹp”,…
Kiểu dáng thông thường được hiểu là những hình dáng bên ngoài của một sản phẩm nào
đó dùng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người
Công nghiệp được hiểu là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh
Từ đó ta có thể nhận định sợ bộ về kiểu dáng công nghiệp như sau: Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của một sản phẩm được tạo ra cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh với số lượng tương đối lớn Còn theo các nhà làm luật kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này được quy định tại Khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009)
*Đặc điểm:
Đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp được thể hiện dưới hai dạng bao gồm đặc điểm cơ bản và đặc điểm không cơ bản
Đặc điểm tạo dáng cơ bản là yếu tố thể hiện dưới dạng đường nét, hình khối, màu sắc, tương quan vị trí hoặc tương quan kích thước để khi kết hợp với các đặc điểm (dấu hiệu) khác tạo thành một tập hợp cần và đủ để tạo thành kiểu dáng công nghiệp đó Ví dụ: độ dài, đường kính của chai nước
Đặc điểm tạo đáng cơ bản là đặc điểm dễ dàng nhận biết, ghi nhớ cần và đủ để xác định
Trang 7kiểu dáng công nghiệp, phân biệt kiểu dáng công nghiệp này với kiểu dáng công nghiệp khác cho sản phẩm cùng loại Đặc điểm tạo dáng không đáp ứng điều kiện trên được gọi là đặc điểm tạo dáng không cơ bản
Ngoài ra, theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ hiện hành, những yếu tố sau đây không được coi là đặc điểm tạo dáng của kiểu dáng công nghiệp:
1 Hình khối, đường nét được quyết định bởi chính chức năng kỹ thuật của sản phẩm (ví dụ: hình dạng lõm của bát, cốc; hình dạng dẹt phẳng của đĩa ghi dữ liệu….)
2 Yếu tố mà sự có mặt của nó trong tập hợp các dấu hiệu không đủ gây ấn tượng thẩm
mỹ (ấn tượng về hình dáng sản phẩm không thay đổi khi có mặt và khi không có mặt yếu
tố đó)
3 Vật liệu dùng để chế tạo sản phẩm
4 Các dấu hiệu được gắn, dán….lên sản phẩm chỉ để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo, công dụng, cách sử dụng…sản phẩm đó
5 Kích cỡ của sản phẩm, trừ trường hợp thay đổi kích cỡ trang trí của mẫu vải và vật liệu tương tự.1
Như vậy, hai kiểu dáng công nghiệp chỉ được coi là “có sự khác biệt đáng kể” khi chúng khác nhau về đặc điểm tạo dáng cơ bản Ngược lại nếu chỉ khác nhau về đặc điểm tạo dáng không cơ bản thì không được coi là “có sự khác biệt đáng kể” Hiểu một cách đơn giản, đặc điểm tạo dáng cơ bản thể hiện đặc trưng của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp Việc xác định đâu là đặc điểm tạo dáng cơ bản và không cơ bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xem xét các điều kiện được bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp
2.2/ Khái niệm và đặc điểm quyền đối với kiểu dáng công nghiệp:
* Khái niệm:
Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, theo khách quan thì quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là tổng hợp những quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sáng tạo ra kiểu dáng công nghiệp, trình tự thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp và cơ chế bảo hộ Thứ hai, theo nghĩa chủ quan thì quyền đối với kiểu dáng công nghiệp là quyền của cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hoặc chủ thể có quyền sử dụng trước đối với kiểu dáng công nghiệp
* Đặc điểm:
Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp mang những đặc điểm sau:
Một là quyền đối với kiểu dáng công nghiệp chỉ được bảo hộ thông qua việc đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pháp luật chỉ bảo hộ quyền đối với kiểu dáng công nghiệp sau khi đăng ký và được cấp văn bằng bảo hộ, đây được coi là cách công khai hoá tình trạng của loại tài sản vô hình này đối với các chủ thể khác, là cách thức thông báo tài sản này đã thuộc quyền sở hữu của một chủ thể xác địn Việc đăng ký là điều kiện bắt buộc, nếu một người đã đầu tư rất nhiều thời gian, công sức để tạo ra kiểu dáng công nghiệp mà không đăng ký thì pháp luật sẽ không thể bảo hộ cho họ trong trường hợp bị
1 http://vi.sblaw.vn/dac-diem-tao-dang-cua-kieu-dang-cong-nghiep-trong-tham-dinh-noi-dung/
Trang 8chiếm đoạt và đăng ký trước, khi đó họ chỉ có quyền sử dụng trước Bên cạnh đó, thông qua thủ tục đăng ký, nhà nước khuyến khích các cá nhân, tổ chức đầu tư, sang tạo trong lĩnh vực hoạt động sản xuất
Hai là quyền đối với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn của văn bằng bảo
hộ Kiểu dáng công nghiệp có tác dụng mạnh mẽ trong việc thúc đẩy việc tiêu dùng từ đó tạo nên lợi nhuận to lớn cho chủ thể sở hữu nó Chính vì thế, để đảm bảo sự cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu với lợi ích công đồng cũng như thúc đẩy hoạt động sáng tạo trong kinh doanh, pháp luật đã quy định kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ tối đa 20 năm kể từ ngày nộp đơn
2/ Phân loại kiểu dáng công nghiệp:
Theo thoả ước Locarno về phân loại kiểu dáng công nghiệp thì kiểu dáng công nghiệp được chia thành 31 nhóm2 từ thực phẩm, quần áo và đồ may khâu, các sản phẩm dệt, vải tự nhiên, vải nhân tạo cho đến đồ đạc trong nhà, đồ trang trí và các thiết bị sản xuất, phân phối và biến đổi điện,… Sự đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất cũng như nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng buộc các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh phải sáng tạo ra các sản phẩm ngày càng hoàn thiện về mẫu mã, tính năng cũng như giá cả hợp lý
II/ Điều kiện bảo hộ kiểu dáng công nghiệp theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đồi, bổ sung 2009):
1/ Điều kiện chung để kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ:
1.1/ Điều kiện chung để được bảo hộ:
Ở Việt Nam, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ theo quy định của pháp luật sở hữu công nghiệp Về điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp: Để được đăng kí bảo hộ phải, kiểu dáng công nghiệp phải đáp ứng được các tiêu chí theo quy định tại Điều 63 Luật
Sở hữu trí tuệ năm năm 2005(sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Kiểu dáng công nghiệp được
bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiệu sau đây: 1 Có tính mới; 2 Có tính sáng tạo; 3 Có khả năng áp dụng công nghiệp”
*Về tính mới, tính mới của kiểu dáng công nghiệp phải đạt được ba tiêu chí của Điều 65 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Thứ nhất, kiểu dáng công nghiệp đó phải có sự khác biệt cơ bản rõ rệt với những kiểu dáng đã bị bộc lộ công khai trước đó, có nghĩa là kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ không được giống, đồng nhất hoặc tương tự gần giống đến mức tạo ra sự nhầm lẫn với những kiểu dáng đã có trước đó Nếu vi phạm những quy định trên thì kiểu dáng công nghiệp không được xem là có tính mới
Thứ hai, kiểu dáng công nghiệp chỉ được xem là có tính mới khi nói phải có sự khác biệt
cơ bản mà khi nhìn có thể nhận biết được một cách dễ dàng và có thể phân biệt với những kiểu dáng công nghiệp khác Nhưng nếu nó chỉ khác nhau ở những đặc điểm tạo dáng, những chi tiết đơn giản có thể rất nhỏ mà khi nhìn thoạt nhìn khó có thể nhận thấy được thì
2
http://www.noip.gov.vn/web/noip/home/vn?proxyUrl=/noip/cms_vn.nsf/(agntDisplayContent)?
OpenAgent&UNID=14899CD146032C2B47257770000FB07C
Trang 9rất dễ gây nhầm lẫn đối với khách hàng Như vậy cũng không được xem là có tính mới Thứ ba, khi đăng kí yêu cầu bảo hộ thì người yêu cầu bảo hộ cần đảm bảo rằng kiểu dáng công nghiệp chưa bị bộc lộ công khai ở bất kì đâu, dưới bất kì hình thức nào tính cho đến ngày nộp đơn yêu cầu bảo hộ Vì kiểu dáng công nghiệp có thể bị bộc lộ thông qua các cách thức như: Sử dụng kiểu dáng công nghiệp, mô tả bẳng văn bản như phát hành các ấn phẩm; trưng bày trong các cuộc triển lãm hay qua các bài giảng hoặc có thể được bộc lộ thông qua bất cứ hình thức nào khác trước ngày nộp đơn xin yêu cầu bảo hộ mà nếu một chuyên gia trung bình trong lĩnh vực đó có thể biết được, nắm bắt được bản chất của kiểu dáng công nghiệp Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có một số người được biết và phải có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó Tính mới của kiểu dáng công nghiệp được đặt ra không những trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn thế giới.3
Ngoài ra, tại khoản 4 Điều 65 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) cũng quy định về những trường hợp mà kiểu dáng công nghiệp vẫn được xem là có tính mới mặc dù
đã được công bố nhưng phải đáp ứng được yêu cầu về thời hạn (kề từ ngày công bố cho đến ngày nộp đơn đăng ký)
Một là kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người
có quyền theo quy định tại Điều 86 Trường hợp này được xem là một trong những trường hợp ngoại lệ về tính mới của kiểu dáng công nghiệp vì trong thực tế không ít những trường hợp kiểu dáng công nghiệp bị công bố bởi cá nhân, tổ chức không được phép của “người
có quyền” theo quy định tại Điều 86 Những tư liệu về kiểu dáng công nghiệp đã được giữ
bí mật nhưng bằng cách nào đó hoặc vô tình mà bị người khác biết mà người này lại cố tình công bố nhằm mục đích nào đó, có thể là trả thù hoặc cạnh tranh không lành mạnh Ví dụ: nhân viên A làm ở Công ty B bị buộc thôi việc vì vi phạm kỷ luật nghiêm trọng theo quy định của công ty Trong thời gian công ty chuẩn bị công bố sản phẩm xe ôtô thế hệ mới, A đã lẽn vào phòng tổng giám đốc và lấy được tài liệu về kiểu dáng của sản phẩm xe ôtô thế hệ mới của công ty Sau đó, để trả thù về việc mình bị buộc thôi việc, A đã công bố kiểu dáng ấy nhằm làm cho công ty thiệt hại về vật chất vì kiểu dáng sản phẩm mới đã bị công bố Trong trường hợp này, pháp luật vì muốn bảo vệ lợi ích cũng như thành quả sáng tạo và khuyến khích sự sáng tạo trong hoạt động kinh doanh nên đã quy định về thời hạn công ty có thể nộp đơn để được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp của mình
Hai là kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký tại Điều 86 công bố dưới dạng báo cáo khoa học Trường hợp kiểu dáng công nghiệp được công bố dưới dạng báo cáo khoa học, khi đó báo cáo khoa học ấy được xem là một tác phẩm khoa học và được bảo hộ quyền tác giả theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả mà cụ thể
là Phần II Quyền tác giả và quyền liên quan Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005( sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Ba là kiểu dáng công nghiệp được người có quyền theo quy định tại Điều 86 trình bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc
3 Trường Đại học Luật Hà Nội( 2017), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 123- 124.
Trang 10được thừa nhận chính thức
*Về tính sáng tạo, tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp, theo Điều 66 Luật Sở hữu
trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính
sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng”.
Thứ nhất, kiểu dáng công nghiệp phải là kết quả sáng tạo của tác giả và một người có trình độ trung bình hoặc tương đương trong lĩnh vực đó không thể tạo ra một cách dễ dàng Kiểu dáng công nghiệp nội dung miêu tả trong đơn yêu cầu phải có sự khác biệt và tiến bộ
rõ rệt về mặt kĩ thuật, hình dáng so với những sản phẩm cùng loại đã có trước đó Một kiểu dáng công nghiệp có tính sáng tạo không chỉ trong phạm vi quốc gia mà tính sáng tạo ấy phải được xác định trên phạm vi toàn thế giới, sáng tạo ở đây là so với thế giới Như vậy, tiêu chí về tính thẩm mĩ của kiểu dáng công nghiệp phải có cả hai yêu cầu về tính thẫm mĩ
và tính kĩ thuật và tính sáng tạo phải được tính trên phạm vi thế giới
Thứ hai, có khả năng áp dụng công nghiệp Kiểu dáng công nghiệp được xem là có khả năng áp dụng công nghiệp theo quy định tại Điều 67 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nếu kiểu dáng công nghiệp có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp sẳn phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó Với đặc điểm này nhấn mạnh tính khả thi của kiểu dáng công nghiệp theo sự mô tả trong đơn đăng kí phải được triển khai thực hiện trong điều kiện thực tế và có thể cho ra các thành phẩm cụ thể như kết quả đã nêu ra trong đơn yêu cầu
Như vậy, kiểu dáng công nghiệp chỉ được cấp văn bằng bảo hộ thì phải thõa mãn những yêu cầu của cả ba tiêu chí về tính mới, tính sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp
1.2/ Những trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:
Những đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp được quy định tại Điều 64 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) như sau:
-Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có hoặc chỉ mang tính kỹ thuật; hình dáng bên ngoài chỉ thuần túy có giá trị thẩm mĩ Như vậy, nếu hình dáng bên ngoài của sản phẩm chỉ thiếu một trong hai yếu tố là tính thẩm mĩ hay tính kĩ thuật thì đều không được bảo hộ Ví dụ: hình dáng chai nước, lon nước,đĩa CD,
…
-Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì chỉ những bản vẽ thiết kế sở đồ của các công trình xây dựng mới được bảo hộ dưới góc độ của luật quyền tác giả còn hình dáng bên ngoài của chúng thì không được bảo hộ
-Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm Như