1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Câu hỏi và trả lời môn khoa hoc lanh dạo quản lý 15 câu

70 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi và trả lời môn khoa học lãnh đạo quản lý 15 câu
Trường học Trường Đại học Khoa Học Quản Lý
Chuyên ngành Khoa học Lãnh Đạo Quản Lý
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 398 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích một số phương pháp thương thuyết cơ bản trong lãnh đạo và thủ pháp trao đổi trong thương thuyết Câu 1 Phân tích khái niệm lãnh đạo và phân biệt lãnh đạo với quản lý Trả lời Trong xã hội loài[.]

Trang 1

mẻ, bền vững đúng quy luật khách quan Như vậy, lãnh đạo là gì mà có vai trò quantrọng đến như vậy? trước tiên chúng ta cần làm rõ khái niệm lãnh đạo.

Về lãnh đạo thì có nhiều tài liệu khái quát về khái niệm lãnh đạo khác nhau như:

+ Theo từ điển tiếng việt: lãnh đạo là dẫn dắt một tổ chức, phong trào theo

đường lối cụ thể

+ Theo giáo trình (HV – CTQG HCM) thì lãnh đạo là đề ra và dẫn dắt, thực

hiện chủ trương, đường lối chiến lược và sách lược để phát triển một tổ chức

+ Theo Hồ Chí Minh thì LĐ là giải quyết mọi vấn đề một cách cho đúng, phải

tổ chức sự thi hành cho đúng và phải tổ chức sự kiểm soát

=> Tóm lại, LĐ là quá trình gây ảnh hưởng tới con người và tổ chức là đưa ra

những chủ trương, phương hướng nhằm phát triển và thực hiện mục tiêu tổ chức.Song song với công tác lãnh đạo thì công tác quản lý cũng đóng vai trò rất quantrọng, quyết định trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước vàcũng có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà kinh tế học về quản lý được ra đờinhư: F.Taylo (Mỹ), M.Pholet(Mỹ),…

+ Theo F.Taylo (Mỹ) quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm,

và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất

+ Theo M.Pholet (Mỹ) quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn

được hoàn thành bởi người khác

Trang 2

=> Tóm lại, QL là quá trình tác động có tổ chức, có ý thức và bằng quyền lực

của chủ thể QL tới đối tượng, nhằm đạt mục tiêu trong điều kiện biến đổi của môitrường

Như vậy, có thể nhận định chung về lãnh đạo, quản lý là quá trình dẫn dắt của

chủ thể đối với đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu Là quá trình tác động của chủ thểđối với đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu Là việc giải quyết tốt mối quan hệ giữachủ thể và đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu Về thực chất lãnh đạo, quản lý là quátrình vận động của thông tin

Giữa lãnh đạo, quản lý có sự khác nhau về cách biểu hiện, mức độ và tính chất Nếu như lãnh đạo bằng quyết sách thì Quản lý bằng quyết định, cụ thể sự khác nhau thể hiện qua bảng biểu sau đây:

- Đề ra và dẫn dắt đối tượng thực hiện chủ

trương, chính sách, đường lối phát triển tổ

chức

- Bằng quyền lực tác động tới đốitượng nhằm đạt mục tiêu tổ chức

- QL tầm vĩ mô và trung mô - QL vi mô

- Vạch ra định hướng lớn có tính chiến lược - Xây dựng chương trình, kế hoạch,

dự án

- Thực hiện mục tiêu chung - Giải quyết mục tiêu cụ thể

- Dựa vào uy tín, động viên thực hiện nhiệm

Trang 3

+ Kiểm soát công việc CN, NV.+ Tập trung vào hiện tại phát triển

tổ chức và những vấn đề cụ thể.+ Sử dụng có hiệu quả nguồn nhânlực (tướng – binh)

Ví dụ: Lãnh đạo tỉnh ủy ban hành quyết sách tăng cường công tác phòng chốngthiên tai, lũ lụt trong địa bàn tỉnh Còn quản lý trên cơ sở quyết sách được ban hànhđưa ra kế hoạch và tổ chức thực hiện quyết sách của lãnh đạo làm sao để đạt đượcmục tiêu, kế hoạch đề ra bằng việc làm cụ thể của bộ phận cán bộ liên quan Còn đốivới người lãnh đạo thì thông qua người quản lý để biết được hiệu quả thực hiện nhưthế nào?

Bên cạnh những sự khác biệt nêu trên thì LĐ và QL cũng có những điểm giốngnhau nhất định đó điều là một quá trình hoạt động có mục đích, có sự giống nhau cănbản, đó là:

- Là hoạt động trí tuệ nhằm tạo ra sản phẩm

- Thống nhất ý chí và hành động của cá nhân trong tổ chức

- Cùng phối hợp, điều khiển con người

- Cùng phải ban hành và thực hiện các quyết định (quyết sách)

Khoa học lãnh đạo, quản lý là khoa học nghiên cứu tìm ra quy luật và tính quyluật của hoạt động lãnh đạo, quản lý để xác định các nguyên tắc, chính sách, công cụ,phương pháp và các hình thức nâng cao chất lượng hiệu quả lãnh đạo, quản lý

Như vậy, trong hoạt động của cơ quan, tổ chức thì việc lãnh đạo, quản lý là mộtphần không thể thiếu nếu như không nói đây là công đoạn quan trọng nhất, đây là quá

Trang 4

trình mà chủ thể lãnh đạo, quản lý tác động đến đối tượng nhằm thực hiện mục tiêu

đã đề ra bằng nhiều hình thức sao cho phù hợp, khéo léo, mang tính nghệ thuật dẫn

dụ, thương thuyết để đạt được mục tiêu và hiệu quả cao nhất có thể

Câu 2:

Phân tích mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo.

Trả lời:

Để thực hiện tốt mục tiêu của cơ quan, tổ chức mà người lãnh đạo, quản lý đề

ra thì giữa lãnh đạo, quản lý và đối tượng lãnh đạo quản lý cần thực hiện tốt mối quan

hệ tương tác với nhau, giải quyết tốt mối quan hệ này làm cho mục tiêu đạt được caohơn

Thực chất và những biểu hiện chung của quan hệ gỉữa người lãnh đạo, quản lý

và người bị lãnh đạo, quản lý: là mối quan hệ mang tích tất yếu khách quan, trong laođộng và sinh hoạt cộng đồng của xã hội cần phải có sự tổ chức chỉ huy để điều chỉnh,cần có một bộ phận người này dẫn đầu, tổ chức chỉ huy một bộ phận người khác, từ

đó xuất hiện người lãnh đạo và người bị lãnh đạo và các mối quan hệ tương ứng

Trước tiên chúng ta cần hiểu rõ và phân biệt giữa hai khái niệm người lãnh đạo

và người bị lãnh đạo Người lãnh đạo là chỉ cá nhân hoặc tập thể có quyền lực nhấtđịnh trong hoạt động lãnh đạo, gánh vác trách nhiệm lãnh đạo nhất định, cầm đầu chỉhuy, tổ chức một quần thể xã hội nhất định để thực hiện mục tiêu lãnh đạo Người bịlãnh đạo có thể hiểu là những cá nhân hay tổ chức tiến hành những hoạt động xã hộidưới sự chỉ huy, quản lý của người lãnh đạo

Trang 5

Ví dụ: Sở công an thì giám đốc công an tỉnh là người đứng đầu và lãnh đạo còn lại các phòng, ban,…và các cá nhân liên quan thực hiện nhiệm vụ chung là người bị lãnh đạo.

Quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo khi đã hình thành, khôngnhững mang “thuộc tính tự nhiên”, mà còn có thuộc tính chính trị xã hội, thuộc tínhchính trị xã hội này biểu hiện rõ nét quan hệ sản xuất xã hội, quyết định tính chấtquan hệ giữa người lãnh đạo với người bị lãnh đạo, đây cũng chính là thực chất củamối quan hệ trên

Trong xã hội chưa xuất hiện giai cấp bóc lột, do địa vị và quan hệ phân phốicủa mọi người trong chiếm hữu tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất là quan hệ bìnhđẳng nguyên thuỷ, nên nó quyết định quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnhđạo là quan hệ bình đẳng với nhau Trong xã hội tư hữu, thông thường là người đạidiện cho họ điều hành, quản lý, giám sát và phân phối sản phẩm của quá trình sảnxuất ở vào địa vị áp bức và thống trị, còn những người lao động bị mất tư liệu sảnxuất ở vào địa vị bị nô dịch, bị áp bức, thực chất quan hệ giữa người lãnh đạo vàngười bị lãnh đạo là quan hệ đối lập giai cấp, là quan hệ áp bức, bóc lột và bị áp bức,

bị bóc lột

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù xã hội phân công có người lãnh đạo vàngười bị lãnh đạo, nhưng cả hai đều là chủ sở hữu tư liệu sản xuất, địa vị của họ trongquá trình sản xuất xã hội là bình đẳng, quan hệ của họ là mối quan hệ dân chủ bìnhđẳng, hợp tác tương trợ trên cơ sở thống nhất về lợi ích căn bản Tại Việt Nam, kiểuquan hệ bình đẳng tương hỗ này được hình thành trong quá trình Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo toàn thể quần chúng nhân dân lao động, đấu tranh vì sự nghiệp đánhgiặc giữ nước, xây dựng xã hội mới, kiểu quan hệ lãnh đạo mang đầy đủ ý nghĩa này

đã thẩm thấu rộng rãi đến các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, vãn hoá, xã hội

và nó biểu hiện dưới các hình thức quan hệ cụ thể sau:

Một là, công bộc và chủ nhân.

Đây là sự phân tích từ góc độ tổng thể xã hội Trong hoạt động lãnh đạo hiệnnay, quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo đầu tiên được biểu hiện là

Trang 6

Ví dụ: Quần chúng nhân dân là người chọn ra những người đủ đức, đủ tài để tham gia lãnh đạo và quản lý đất nước thông qua việc bầu cử

Người lãnh đạo trong xã hội chúng ta không phải là giai tầng đặc quyền đứngtrên người bị lãnh đạo, là công bộc của quần chúng bản thân xã hội Nói đến côngbộc của xã hội là muốn nói người lãnh đạo phải thể hiện tập trung ý chí của quầnchúng, phải là người thực hiện một cách tự giác ý chí và yêu cầu của toàn thể quầnchúng nhân dân; người lãnh đạo khi thực hiện một quyền lực nhất định thì phảihướng lợi ích đến quần chúng nhân dân, có nghĩa là phải thể hiện tính nhất quán làđảm bảo lợi ích đối với toàn Đảng và quần chúng nhân dân như lời Bác Hồ có dạy

“Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sứctránh”

Như vậy, tiêu chí để đánh giá một người lãnh đạo có phải là “công bộc của xãhội” hay không là người đó có thực hiện được chính xác quyền lực trong tay mìnhmột cách hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm, đúng pháp luật

Trang 7

không có nghĩa là người bị lãnh đạo là công cụ bị động, tiêu cực, mà người khác tự

do thao túng, càng không thể vì vậy mà đưa ra kết luận phủ nhận quần chúng nhândân là chủ thể của xã hội, bởi vì xét từ tổng thể, quần chúng nhân dân chính là chủthể của xã hội

Trên cơ sở của mối quan hệ thứ nhất do người lãnh đạo và người bị lãnh đạo tạothành là sinh ra một loại quan hệ thứ hai, đó là mối quan hệ do hệ thống chủ thể đượctạo thành bởi người lãnh đạo và người bị lãnh đạo trong hoạt động thực tiễn cùng với

môi trường lãnh đạo sinh ra Trong mối quan hệ này, người lãnh đạo cũng có tác

dụng năng động của chủ thể Nhưng mối quan hệ thứ hai được sinh ra trên cơ sở củamối quan hệ thứ nhất, cho nên mối quan hệ thứ nhất có ý nghĩa quy định bản chất đốivới quan hệ thứ hai Nói đến mối quan hệ thứ nhất được tạo thành bởi người lãnh đạo

và người bị lãnh đạo, quy định về chủ thể và khách thể này có tính ổn định tương đối

cả hai có tính ổn định tương đối, cả hai đều có giới hạn hành vi và địa vị xã hội xácđịnh, đảm nhiệm một vai trò xã hội khác nhau, đồng thời có chức năng, quyền lợi vànghĩa vụ khác nhau

Ba là, chủ đạo và phục tùng.

Trong hoạt động lãnh đạo, nhiệm vụ công việc và mục tiêu công việc là điều kiện

cơ bản cấu thành mối quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo Trong quátrình hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo, thực hiện mục tiêu lãnh đạo, người lãnh đạo phảihướng dẫn, chỉ đạo, chỉ huy công việc của người bị lãnh đạo, bất luận và vạch ra vàthực hiện quyết sách hay tuyển chọn và sử dụng nhân tài những chức năng này chủyếu là do người lãnh đạo đảm nhiệm

Người lãnh đạo trong hoạt động lãnh đạo có vị trí chỉ huy và chi phối, có vai tròchủ đạo, tiêu chí thông thường của vai trò chủ đạo này là quyền lực nhất định đượcvận dụng để thống nhất ý chí và quán triệt thực hiện để đảm bảo thống nhất ý chí.Người bị lãnh đạo trong hoạt động lãnh đạo lại ở vị trí bị chỉ huy và phục tùng.Người bị lãnh đạo dưới sự tổ chức và chỉ huy của người lãnh đạo tiến hành các hoạtđộng xã hội Người bị lãnh đạo phải phục tùng người lãnh đạo, đó là nguyên tắcthông thường của mọi tổ chức từ xưa đến nay Nhưng trong mỗi xã hội khác nhau sự

Trang 8

Tính biện chứng trong quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo.

Trong hoạt động lãnh đạo, về các mặt địa vị và vai trò thì người lãnh đạo vàngười bị lãnh đạo tồn tại những sự khác biệt rõ rệt, quan hệ giữa họ trong một phạm

vi và điều kiện nhất định có một giới hạn xác định Nhưng hai yếu tố bản chất trongquan hệ lãnh đạo lại không độc lập tách rời mà lại có sự liên hệ biện chứng với nhau,mối liên hệ biện chứng này biểu hiện rõ nét ở một số đặc điểm sau:

Dựa vào nhau và tác động qua lại lẫn nhau.

Là hai yếu tố cơ bản trong hoạt động lãnh đạo, cái này lấy cái kia làm điều kiệntồn tại của mình, không thể tách rời một trong hai được Chỉ có trong hoạt động lãnhđạo mọi người mới có thể từ sự khác biệt về địa vị, chức năng và vai trò mà phân biệt

ra người lãnh đạo và người bị lãnh đạo Đồng thời, trong hoạt động lãnh đạo ngườilãnh đạo và người bị lãnh đạo lại có sự tác động thúc đẩy lẫn nhau Thông qua cácyếu tố quyền lực, chức trách, uy tín của người lãnh đạo mà vạch ra kế hoạch, tổ chức,điều chỉnh một cách chính xác để tác động vào đối tượng (người bị lãnh đạo), thúcđẩy ý chí thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động… đạt mục tiêu lãnh đạo Người

bị lãnh đạo bằng những phương pháp tín nhiệm, phục tùng và việc làm của mình cóđược sự gợi mở nhất định, thúc đẩy, nâng cao tình khoa học và dân chủ của quyếtsách, nâng cao hiệu quả hoạt động lãnh đạo

Thuộc tính chuyển đổi lẫn nhau.

Trong hoạt động lãnh đạo, do cùng một cá nhân hay tập thể luôn tồn tại hai thuộctính chủ thể hoặc khách thể, tùy theo sự thay đổi của điều kiện mà quan hệ giữangười lđ và người bị lđ cũng biểu hiện những đặc điểm của thuộc tính chuyển đổi lẫn

Trang 9

nhau Trong một trường hợp, trong một tổ chức nhất định là người lđ, nhưng trongtrường hợp khác, một tổ chức khác lại là người bị lãnh đạo Cũng có thể nói, vị trí vàvai trò của người lđ và người bị lđ trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau cóthể có sự thay đổi Thuộc tính chuyển đổi này phân làm ba trường hợp cơ bản sau:

Thứ nhất, thay đổi vai đóng của bản thân người LĐ Vd: trong cơ quan, công

ty, giám đốc trở thành người lãnh đạo đối với công việc, nhân viên của công ty, anh

ta có quyền đưa ra quyết sách nhất định Nhưng giám đốc là một đảng viên bình thường ông ta trở thành người bị lãnh đạo và chịu sự LĐ.

Thứ hai, Người bị lãnh đạo chuyển thành người lãnh đạo Trong điều kiện xãhội ngày phát triển thì thông qua quá trình công tác, bồi dưỡng, năng lực mà người bịlãnh đạo được bố trí vào vị trí phù hợp với năng lực của mình, điều đó mở ra nhiềukhả năng, cơ hội cho người bị lãnh đạo chuyển vị trí thành người lãnh đạo Ở đây,căn cứ vào thực tế, các cơ quan lãnh đạo cần phải kịp thời phát hiện và bồi dưỡngnhững nhân tài có năng lực quản lý xã hội nhất định, đồng thời căn cứ theo nguyêntắc tuyển chọn để mạnh dạng đề bạt, sử dụng cán bộ

Ví dụ: trong quá trình công tác một cán bộ bị lãnh có năng lực đạo làm việc

và có trình độ phù hợp sẽ được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.

Thứ ba, sự chuyển đổi vị trí cấp trên, cấp dưới Theo hình tháp từ trên xuốngdưới hoặc từ dưới lên trên, mỗi cấp đều có quan hệ lãnh đạo với cấp trên, ngoài cấp

cơ sở thấp nhất Mỗi một cấp đều đưa ra chỉ lệnh quyết sách đối với cấp thấp hơn vàyêu cầu cấp thấp hơn thực thi, đồng thời tiếp nhận thông tin về chỉ lệnh của cấp caohơn một bật và đương nhiên trở thành người bị lãnh đạo Vì vậy, muốn lãnh đạo tốtcấp dưới người lãnh đạo trước tiên phải phục tùng hiệu quả lãnh đạo cao hơn mộtcấp, tiếp thu những chỉ lệnh phát ra từ cấp cao hơn một bậc

Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa người lđ và người bị lđ.

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường xhcn hiện nay cùng với sựđiều chỉnh liên tục quan hệ lợi ích giữa người lđ và người bị lđ không thể tránh khỏinhững nảy xinh mâu thuẫn, có mâu thuẫn thậm chí bao gồm những yếu tố mang tínhđộc lập Vì thế, xử lý tốt quan hệ giữa người lđ và người bị lđ càng có ý nghĩa thiết

Trang 10

thực, thời sự và quan trọng

Thứ nhất, tăng cường ý thức công bộc, bồi dưỡng tác phong dân chủ.

Vai trò công bộc cùng với những ý thức công bộc phù hợp với nó, phải lànhững quy định nội tại trong tố chất người lãnh đạo, là yêu cầu tối thiểu đối với ngườilãnh đạo Tuy nhiên có một số ít cán bộ lđ không thể hiện được vai trò là công bộccủa nhân dân, phát sinh sự “đảo lộn” về vai trò, mất dần ý thức công bộc, đã gây raảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội không thể dự đoán hết được Chính vì thế, tăngcường ý thức công bộc của dân, bồi dưỡng tác phong dân chủ cho người lđ là việclàm cần thiết

Một là, phải tin tưởng dựa vào quần chúng, tôn trọng những yêu cầu về ý chí,

nguyện vọng, tôn trọng vai trò làm chủ của nhân dân, quần chúng nhân dân chính làngười sáng tạo ra lịch sử, bao gồm sức mạnh vật chất, sức mạnh tinh thần vô cùnglớn, do đó người lđ phải tin tưởng, tôn trọng, dựa vào quần chúng

Hai là, phải thâm nhập cơ sở, đi sâu vào quần chúng, bồi dưỡng tác phong dân

chủ đây là nguyên tắc căn bản trong xử lý quan hệ giữa người lđ và người bị lđ

Thứ hai, nâng cao ý thức phục vụ, thực hiện quyền lực đúng đắn.

Toàn tâm toàn ý vì nhân dân phục vụ và tôn chỉ căn bản của người lđ cáchmạng chân chính, là điểm xuất phát từ điểm quy tụ công tác lãnh đạo xã hội mới

“lãnh đạo là phục vụ”, đây là sự khái quát cao độ về quan điểm phục vụ của người lđtrong tình hình mới, là yêu cầu về phẩm chất, năng lực, đạo đức đối với người lđ Đócũng là nguyên tác cơ bản về nền tảng tư tưởng cho việc xử lý quan hệ của người lđđối với người bị lđ Một tiêu chí quan trọng của sự cao thấp về ý thức phục vụ đó làngười lđ Một tiêu chí quan trọng quan trọng cuả sự cao thấp về ý thức phục vụ đó làngười lđ sử dụng như thế nào quyền lực trong tay mình

Quyền lực là sức mạnh trung gian được thể hiện trong quan hệ của người lđ vàngười bị lđ Trong xã hội, thông thường quá trình người lđ vận dụng quyền lực và quátrình được xây dựng trên cơ sở người bị lđ tự giác phục tùng, nhưng nếu như người lđkhông có quan điểm quyền lực chính xác tất nhiên có ảnh hưởng tới quan hệ của cả

Trang 11

hai bên, đặc biệt là trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xhcn

Ở đây cần phải thấy được rằng, đề cao ý thức công bộc và quan niệm của ngườiphục vụ lđ, chỉ mới nêu ra và giải quyết vấn đề từ góc độ bản thân người lđ, vàphương tiện nguyên tắc tu tưởng Chỉ có như vậy cũng chưa đủ, còn đòi hỏi tăngcường xây dựng chế độ, xây dựng và kiện toàn hệ thống luật pháp Trong đời sốnghiện thực vẫn còn hiện tượng nhầm lẫn vị trí “chủ” và “tớ” của một số ít cán bộ lãnhđạo, nguyên nhân của tình trạng đó là chế độ pháp quy về vấn đề cán bộ vẫn chưađược hoàn thiện, thiếu cơ chế khống chế quyền lực của người lđ, khuyến khích họlàm việc có hiệu quả

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xhcn, phải ngăn chặn hiện tượng

hủ bại của người lđ như tù “công bộc xã hội” biến chất thành “ông chủ làm dụngquyền của xã hội”, cũng như từ đó mà nảy sinh ra hiện tượng dựa vào chức quyền đểmưu cầu lợi ích cho riêng mình, phải xây dựng và kiện toàn chế độ quản lý cán bộ và

cơ chế khống chế quyền lực lãnh đạo chặt chẽ, từ biện pháp kiểm tra cán bộ đến đềbạt, thưởng phạt, miễn nhiệm cán bộ lãnh đạo quản lý, đều phải có văn bản cụ thể, rõràng Đồng thời phải thông qua xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giám sát lãnh đạo, đảmbảo việc vận hành có hiệu quả cơ chế khống chế quyền lực lãnh đạo

Người bị lãnh đạo làm thế nào để xử lý tốt quan hệ với người lđ?

Người bị lđ là một phương diện khác của mâu thuẫn, tồn tại vấn đề là làm thếnào để ủng hộ, phối hợp với người lđ đạt được mục tiêu tổ chức

Thứ nhất, thực hiện tốt quyền dân chủ.

Quần chúng nhân dân làm chủ, hoàn toàn được hưởng các quyền dân chủ, cũngnhư các quyền quản lý đất nước, đây chính là bản chất và hạt nhân của hệ thống chínhtrị chúng ta Trong hoạt động lđ, có thể thực hiện đúng đắn các quyền dân chủ haykhông chính là phương diện quan trọng để người lãnh đạo xử lý tốt quan hệ đối vớingười lđ hay không Do công cuộc cnh, hđh và xây dựng cnxh ở Việt Nam vẫn cònđang ở giai đoạn đầu, nghĩa là vấn đề đang còn trong giai đoạn đang vừa thực hiệnvừa rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa chữa, không ngừng hoàn thiện, thêm vào đó lànhững ảnh hưởng của một số tư tưởng lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến trước

Trang 12

đây, chủ nghĩa cá nhân cực đoan và mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm chomột số người (cả vị trí lđ và bị lđ) không thể hiện và nhìn nhận đúng về quyền dânchủ của mình

Thứ hai, xây dựng ý thức tự giác tham dự và ý thức tự giác giám sát.

Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xhcn, sự tham dựgiám sát của người bị lđ là con đường cơ bản để bảo đảm và thực hiện vai trò làm chủcủa họ, cũng là điều kiện tất yếu cho việc tiến hành thuận lợi hđlđ Chính vì thế, xâydựng ý thức tự giác tham dự giám sát là yêu cầu cơ bản đối với người bọ lđ Người bị

lđ phải dựa vào trách nhiệm cao cả của người làm chủ, dựa vào sự tận tụy trong côngviệc, nhiệt tình trong lao động, toàn tâm toàn ý góp sức mình vào sự nghiệp đẩy mạnhcnh, hđh Phải tin tưởng, tôn trọng và thông cảm cho lao động của người lđ, đối vớinhững thiếu sót thậm chí sai, làm xuất hiện trong công tác người lđ; phải dựa trên tưcách người làm chủ tăng cường giám sát, kịp thời phản ứng Đương nhiên, việc xâydựng ý thức tự giác tham dự và giám sát cho người bị lđ phải dựa vào việc kiện toàn

và hoàn thiện chế độ tham dự và giám sát, dựa vào sự phát triển, kiện toàn, đổi mớicủa hệ thống chính trị

Tóm lại, chúng ta thấy quan hệ giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo mangthuộc tính tự nhiên tương tác và hỗ trợ lẫn nhau không thể tách rời nhau, cũng nhưmang thuộc tính chính trị xã hội sâu đậm đây thực chất là mối quan hệ thể hiện tínhbiện chứng sâu sắc, mối quan hệ đòi hỏi cả người lãnh đạo và người bị lãnh đạo phảilàm tốt nhất phần việc của mình để đạt được mục tiêu thúc đẩy mối quan hệ sản xuấtnhằm thực hiện nhiệm vụ xuyên suốt và cơ bản là phục vụ con người và đem lại hiệuquả cao nhất có thể trong hoạt động của mình

Trang 13

Trong xã hội hiện đại chức năng cơ bản của người lãnh đạo là định quyết sách vàthúc đẩy người khác quán triệt, thực hiện quyết sách Có nghĩa là định ra chủ trương,

kế hoạch, đưa ra quyết nghị mà nghị quyết, kế hoạch phải thực hiện, đồng thời phải làhạt nhân đoàn kết nội bộ, khuyến khích, thúc đẩy họ tiến hành dẫn dắt đến mục tiêu

đã định Một mặt là định ra quyết sách, mặt khác phải thúc đẩy người khác thực hiệnquyết sách Đó chính là chức năng cơ bản của lãnh đạo

Chức năng lãnh đạo không phải là cố định, bất biến, nó thay đổi cùng với sự bấtbiến của lịch sử, thay đổi cùng với sự thay đổi của phân công xã hội, phương thức sảnxuất, chế độ xã hội, đặt biệt là thể chế lãnh đạo

Trong chế độ gia trưởng thời kỳ sản xuất nhỏ, thực thi thể chế lãnh đạo tập quyềncao, thì mọi quyền lực như quyền quyết sách, thực hiện, phê bình, giám sát đều tậptrung vào một người, người chiếm hữu tư liệu sản xuất là người đưa ra quyết sách sảnxuất, người thi hành và người giám sát Khi đó chức năng chỉ huy là chức năng “kiểutoàn năng” thâu tóm tất cả mà không có sự phân công giữa quyết sách và thực thi

Trang 14

quyết sách Do đó, khi ấy cũng không có vấn đề phân định giữa chức năng lãnh đạo

và chức năng quản lý, quyết sách và thực thi là thể nhất, lãnh đạo và quản lý cũngnhất thể

Chức năng là sự thống nhất chức quyền và chức trách.

Chức năng lãnh đạo cũng giống các chức năng khác, đều do phân công lao động

xã hội quyết định Dù là chức năng cá nhân hay chức năng tập thể đều phải phụ thuộcvào phân công lao động xã hội Phân công có nghĩa là phân quyền, phân trách nhiệm,

do vậy chức năng lãnh đạo là sự thống nhất giữa chức quyền và chức trách Chứcquyền là chức vụ quyền lực được giao phó, đó là quyền ra chỉ thị, mệnh lệnh, đó làphương tiện để thực hiện chức năng chứ không phải là mục đích Chức trách, tứcchức vụ trách nhiệm chính là gánh vác trách nhiệm thực hiện chức năng bao gồmtrách nhiệm xã hội như trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm phápluật và trách nhiệm hành chính

Chức năng lãnh đạo là sự thống nhất giữa quyền lực và trách nhiệm, bất cứ ngườilãnh đạo nào thực hiện chức năng cũng cần có quyền và trách nhiệm; chức vụ càngcao, quyền lực càng lớn thì trách nhiệm càng nặng nề Phương châm, chính sách lớncủa một tổ chức chỉ có người lãnh đạo mới có quyền đưa ra quyết định cuối cùng,song nó đúng đắn hay sai lầm, thành công hay thất bại thì người lãnh đạo cũng phải

xã hội, phục vụ nhân dân đó là tôn chỉ cơ bản của chúng ta Người lãnh đạo trongviệc định ra quyết sách và thúc đẩy người khác thực thi quyết sách, tức là toàn bộ quátrình thực hiện chức năng của mình đều nhằm quán triệt sự thống nhất quyền lực vàtrách nhiệm hay thống nhất sự phục vụ của quyền lực và trách nhiệm

* Liên hệ thực hiện chức năng ở địa phương:

Trang 15

Phương pháp lãnh đạo: chính là trình tự hoặc biện pháp thực hiện mục tiêu của

tổ chức

Phương pháp lãnh đạo cơ bản được phân thành hai loại, đó là: Phương phápchung trong lãnh đạo và phương pháp đặc thù của lãnh đạo: “Nắm bắt việc lớn, bỏqua việc nhỏ”

Trước tiên chúng ta tìm hiểu phương pháp chung trong lãnh đạo

Phương pháp chung trong lãnh đạo là phương pháp triết học dựa trên chủ nghĩaMác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với những tri thức tiêu biểu kết tinhtrong kho tàng tri thức nhân loại Những phương pháp này chủ yếu gồm có:

Một là, thực sự cầu thị.

Giữ vững sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, giữa lý luận và thực tiễn

là một ngyên tắc cơ bản của chủ nghĩa mác lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng là mộtyêu cầu cơ bản để làm tốt công tác lãnh đạo kiên trì sự thống nhất giữa lí luận vàthực tiễn, trước hết, phải thừa nhận và kiên trì lý luận, đường lối, phương châm,chính sách, tình hình thực tế để hoạch định Tiếp theo, phải nhìn nhận lý luận, đường

Trang 16

lối, phương châm, chính sách theo quan điểm phát triển, nó phải phát triển và thayđổi theo sự phát triển và thay đổi của thực tế khách quan, của các giai đoạn lịch sử xãhội Vì vậy, thực sự cầu thị vừa phải kết hợp với giải phóng tư tưởng, chống chủ quanchủ nghĩa, vừa phải phản ứng tư tưởng cứng nhắc, trì trệ, bảo thủ, vừa phải chốngnhững tư tưởng tự do, vô chính phủ, kinh viện, kinh nghiệm chủ nghĩa

Hai là, phân tích cụ thể.

Phương pháp phân tích cụ thể vấn đề là phương pháp phân tích mâu thuẫn,cũng là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh

Phương pháp biện chứng duy vật cho chúng ta biết, không có mâu thuẫn thìkhông có thế giới, mà tình trạng giữa mâu thuẫn với mâu thuẫn lại hết sức phức tạp,cho nên việc phân tích cụ thể vấn đề cụ thể có vai trò cốt tủy trong hoạt động lãnhđạo

Phải vừa nhìn nhận đặc tính chung và tính phổ biến của mâu thuẫn, vừa phảinhìn thấy tính cá biệt và tính đặc thù của mâu thuẫn

Người lãnh đạo phải biết xử lý mối quan hệ biện chứng giữa tính chung và tínhriêng, biết kết hợp hữu cơ hai thuộc tính đó; kết hợp nguyên lý chung và tình hìnhthực tế của đơn vị; kết hợp chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HồChí Minh, lại có tri thức rộng lớn từ cổ tới kim, từ Đông sang Tây, biết đúc kết, gạnlọc kinh nghiệm truyền thống, áp dụng với thực tế cách mạng trong mỗi thời kỳ Tómlại, phải luôn nhớ thực hiện được sự phân tích cụ thể tình hình cụ thể

Ba là, đường lối quần chúng:

Đường lối quần chúng là sự vận dụng cụ thể nhận thức luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và quan điểm duy vật lịch sử, là phương pháp cơ bản của mọi côngtác, cũng là phương pháp cơ bản của công tác lãnh đạo Phương pháp lãnh đạo theođường lối quần chúng chính là phương pháp thực hiện sự kết hợp giữa lãnh đạo vàquần chúng, đến từ quần chúng và đi vào quần chúng

Quan điểm duy vật lịch sử cho rằng, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ralịch sử Quần chúng nhân dân không chỉ là người sáng tạo ra tài sản vật chất và tinhthần cho xã hội, mà còn là lực lượng quyết định sự thay đổi của xã hội Quần chúng

Trang 17

Qua thực tiễn, quần chúng không những có được kinh nghiệm mà quần chúnglại có thể tạo ra nhiều kinh nghiệm mới Người lãnh đạo lại tiến hành những tổng kếtmới, để từ đó không ngừng phát triển phong phú tư tưởng, lý luận, phương châm, kếhoạch của mình Người lãnh đạo phải biết lãnh đạo quần chúng nhân dân hoàn thànhmọi việc được giao thật hiệu quả, đảm bảo được quyết sách và chấp hành quyết sáchphù hợp với lợi ích của nhân dân Cần tích lũy kinh nghiệm đúng sai, phải đảm bảoquyết sách đúng đắn, chấp hành có hiệu quả nhất định; phải kiên trì nguyên tắc xuấtphát vấn đề, công việc từ quần chúng và đi vào quần chúng; thiết lập, kiện toàn quyếtsách và trình tự chấp hành một cách khoa học, dân chủ.

Thực hiện phương pháp lãnh đạo “xuất phát từ quần chúng và đi vào quầnchúng’, phải biết thực hiện sự kết hợp giữa lãnh đạo và quần chúng, biết kết hợp thậttốt tính tích cực chủ động, tầm nhìn của lãnh đạo với tính tích cực của quần chúng

Trong khi thực hiện kết hợp giữa lãnh đạo với quần chúng còn phải sử dụngphương pháp kết hợp riêng và chung Đảng và nhà nước ta yêu cầu cán bộ lãnh đạokhi thực hiện nguyên tắc “xuất phát từ quần chúng và đi vào quần chúng” phải sửdụng phương pháp kết hợp giữa đường lối chung và chỉ đạo riêng Sự hoàn thành bất

cứ công việc nào, nếu không có đường lối chung, chính sách tổng thể, lộ trình cho cả

hệ thống thì không có hành động chung của quảng đại quần chúng, nhưng nếu chỉdừng lại ở đường lối chỉ đạo chung mà không có chỉ thị riêng cụ thể thì đường lốichung ấy có nguy cơ vô ích Điều đó yêu cầu người lãnh đạo dùng phương pháp từ

“điểm tới diện” Kết hợp với thâm nhập vào thực tế nắm vững đơn vị cụ thể, làm tốtthí điểm,rút ra kinh nghiệm tiến tới cái chung, chỉ đạo toàn diện, lại không nhừng kếthợp với việc thực thi công việc ở đơn vị cụ thể với chỉ đạo chung, hiệu triệu chung

Trang 18

Bên cạnh phương pháp chung trong lãnh đạo thì phương pháp lãnh đạo cơ bảncòn có phương pháp đặc thù của lãnh đạo: “Nắm bắt việc lớn, bỏ qua việc nhỏ”.

Chức trách của người lãnh đạo là hoạch định quyết sách và thúc đẩy thực hiệnquyết sách PP đặc thù về lãnh đạo cũng chính là pp cụ thể để hoàn thành chức trách

và thực hiện mục tiêu tổ chức Trong giai đoạn hoạch định quyết sách là phương phápthông tin, phương pháp tư vấn và phương pháp quyết định; sau khi hoạch định chínhsách là phương pháp động viên, tổ chức quần chúng thực thi quyết sách Toàn bộ quátrình của hoạt động lãnh đạo chính là phương pháp “nắm bắt việc lớn, bỏ qua việcnhỏ” Đó là phương pháp cơ bản, xuyên suốt của hoạt động lãnh đạo

Phương pháp đặc thù không thể tách rởi phương pháp chung trong hoạt độnglãnh đạo Nó tồn tại không tách rời phương pháp chung mà là sự thể hiện cụ thể, vậndụng thực tiễn của phương pháp chung “Nắm bắt việc lớn, bỏ qua việc nhỏ” chính làcăn cứ vào đặc điểm, quy luật của hoạt động lãnh đạo, vận dụng cụ thể, thực sự cầuthị, phân tích mâu thuẫn, phương pháp đường lối quần chúng như thế nào, vận dụng

cụ thể phương pháp thông tin, phương pháp điều khiển như thế nào

Phương pháp lãnh đạo cơ bản, xuyên suốt toàn bộ quá trình của hoạt động lãnhđạo là “nắm bắt việc lớn, bỏ qua việc nhỏ” Đó là sự vận dụng và thể hiện phươngpháp chung của khoa học hiện đại và phương pháp triết học của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng HCM; là phương pháp chỉ có riêng ở lĩnh vực lãnh đạo mà không có

ở các lĩnh vực khác; là phương pháp lãnh đạo khoa học duy nhất của người lãnh đạothời hiện đại khác về cơ bản với phương pháp lãnh đạo truyền thống “mọi việc lớn

Trang 19

nhỏ do một người giải quyết” Sau đây là phân tích cụ thể nội dung, cách làm thực tế,thực chất và tác dụng xã hội của phương pháp này

Thứ nhất, nội dung “nắm bắt việc lớn, bỏ qua việc nhỏ”.

“Việc lớn” trong hoạt động lãnh đạo tức là phải xác định được mâu thuẫn chủyếu là gì, còn “việc nhỏ” nghĩa là phải biết mâu thuẫn thứ yếu là gì? Làm sao để nhìnnhận, xử lý chính xác những mâu thuẫn đó chính là vận dụng cụ thể pp triết học Nói

cụ thể “nắm bắt việc lớn, bỏ qua việc nhỏ” chính là nắm 2 việc: hoạch định quyếtsách và tổ chức thực thi quyết sách Còn “bỏ qua việc nhỏ” chính là việc của cấpdưới hoặc của cơ quan chấp hành, cần phải để cho cấp dưới tiến hành công việc mộtcách độc lập, tự chủ, không nên việc gì cũng can dự thẩm tra Chức trách người lãnhđạo là tìm biện pháp cổ vũ, động viên, khơi dậy tiềm năng, sở trường của cả đơn vị,

tổ chức cho cấp dưới thực hiện chính sách với hiệu quả cao Cái gọi là “bỏ qua” chỉ làđối với công việc của cấp dưới hoặc của cơ quan chấp hành không nên bao biện, làmthay

PP này còn gọi là pp hộp đen “quản hai đầu, không quản giữa”

Theo lý luận hộp đen, phải coi các bộ phận dưới quyền là không thể tùy ý vạch

ra hoặc tùy tiện can dự, nếu không sẽ mất đi bộ mặt vốn có của hộp đen Người lãnhđạo phải bằng việc cho đơn vị chấp hành tiếp nhận thông tin (phát động chỉ lệnh củaquyết sách và tổ chức động viên quán triệt thực thi), sau đó quan sát tìm hiểu thôngtin truyền ra (kết quả chấp hành chỉ lệnh), cuối cùng là so sánh, phân tích, đánh giákhách quan thông tin dduwa vào và thông tin truyền ra Kịp thời phát hiện sai lệch,như sai lệch về mục tiêu, tìm ra nguyên nhân do chấp hành không tốt hay quyết sáchsai để tiến hành điều chỉnh

Trang 20

việc nhỏ” và “quản hai đầu, không quản giữa” về nội dung và thực chất là hoàn toànthống nhất, đều là hình thức biểu đạt khoa học của pp lãnh đạo hiện đại Việc lớnchính là hai đầu, việc nhỏ chính là “giữa”, chỗ khác nhau chỉ là trên hình thức, cáitrước là cụ thể hóa của pp phân tích mâu thuẫn, cái sau lại là cụ thể hóa của pp thôngtin, pp điều khiển và pp hệ thống

Thứ hai, thao tác thực tế của phương pháp hộp đen.

Thao tác thực tế của pp hộp đen chính là xử lý đúng đắn giữa phân công vàphân chia quyền hạn và trách nhiệm tương ứng với cùng mối quan hệ giữa tráchnhiệm và quyền hạn Như trên đã nói, người lãnh đạo và người bị lãnh đạo trước tiên

là phân công xã hội khác nhau, từ đó quyền lực và trách nhiệm là thống nhất và hoàntoàn toàn tương đồng

Nắm bắt việc lớn, quản hai đầu nói ở trên chính là độc chiếm quyền quyết sách.Không lơi việc nhỏ, không quản việc nhỏ nói ở trên chính là người bị lãnh đạo, người

có trách nhiệm chấp hành được hưởng quyền chấp hành một cách độc lập tự chủ Nếunhững quyền đó bị độc chiếm thì sẽ trở về thời đại của chế độ gia trưởng “moị việclớn nhỏ đều do một người quyết định”

Ủy quyền là hình thức đặc thù của phân quyền Phân quyền là kết quả phát triểncủa xã hội, là nội dung của thể chế dân chủ Do vậy, khi giao nhiệm vụ rồi, cần đểcho cấp dưới độc lập tự chủ xử lý vấn đề, đồng thời thông qua việc gợi ý,giáo dục,khích lệ để nâng cao năng lực tự chủ phân tích, gải quyết vấn đề của cấp dưới

Thứ ba, thực chất của phương pháp lãnh đạo “nắm bắt việc lớn”.

PP lãnh đạo này là sự vận dụng cụ thể phương pháp triết học chủ nghĩa Mác Lênin, Tư tưởng HCM và kinh nghiệm truyền thống đất nước Đó cũng là sự thể hiệncủa phương pháp hệ thống, phương pháp thông tin, phương pháp điều khiển hiện đạitrong hoạt động lãnh đạo

-Phương pháp lãnh đạo này chính là phương pháp khoa học động viên, khích lệtính tích cực của cấp dưới, đưa tính tích cực ở mức thấp nhất lên mức cao nhất – tínhchủ động, tính sáng tạo, là phương pháp khoa học để cho cấp dưới chấp hành quyếtsách một cách sáng tạo Vì vậy, thực chất của phương pháp lãnh đạo này là cụ thể

Trang 21

Trả lời:

Muốn dùng được người thì phải hiểu mình và hiểu người, có thủ pháp đúng đắn.

Từ xưa đến nay, các vĩ nhân, những người anh hùng làm nên sự nghiệp lớn đều

có chung một tư tưởng “biết mình biết người”, “biết địch biết ta” “Biết” chính là bíquyết của sự thành công Có biết người mới dùng đúng người Nhưng để biết đượcngười thì trước hết phải tự biết mình Đã không tự biết mình thì khó mà biết người

Vì vậy, muốn biết đúng sự phải trái của người khác, thì trước hết phải biết sự phảitrái của mình Nếu không biết sự phải trái thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốthay xấu

Hồ Chí Minh đã chỉ ra một số căn bệnh cơ bản làm cho người cán bộ không tựbiết được mình Đó là:

+ Bệnh cậy thế và kiêu ngạo

+ Bệnh ưa người phỉnh nịnh mình

+ Bệnh “tư túng”, kéo bè kéo cánh

+ Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, máy móc, giáo điều

Người cán bộ lãnh đạo, quản lý mắc những bệnh tật ấy, không hiểu được chínhcái mạnh, cái yếu của mình Do vậy, không thể hiểu được người khác

Trên cơ sở tự hiểu mình, cần phải có phương pháp xem xét để hiểu cán bộ mộtcách thấu đáo, không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ

cả toàn bộ công việc của cán bộ

Trang 22

Một là, làm cho cán bộ mạnh dạn, dám nghĩ, dám nói, dám đề xuất ý kiến Hai là, làm cho cán bộ có tinh thần chủ động, dám phụ trách (làm chủ) trong công việc.

Ba là, phải mạnh dạn cất nhắc cán bộ (cất nhắc cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu của công việc vì vậy mà chọ người chứ không thể “vì người mà tìm việc”).

Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng đến hoạt động thực tiễn của người cán bộ.Người cho rằng, không chỉ tin vào việc hay mà phải xem xét một tổ chức, một cán

bộ, bất cứ người cấp bậc nào, họ có nói đi đôi với làm không Đây là một tư tưởng đãtrở thành nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạngcủa Hồ Chí Minh

Có quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ

Trong thành công hay thất bại của sự nghiệp cách mạng, vấn đề mấu chốt đều

do cán bộ tốt hay kém Nhưng muốn có cán bộ tốt thì “Đảng phải nuôi dạy cán bộnhư người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”

Muốn dùng người thì trước hết phải tạo điều kiện vật chất để cán bộ có thể antâm sống và làm việc Đồng thời, phải thường xuyên huấn luyện cán bộ để nâng caotrình độ giác ngộ, phương pháp tư tưởng, phẩm chất đạo đức và năng lực làm việccho cán bộ, làm cho cán bộ thành thục về chuyên môn, nghiệp vụ; làm cho bất cứ cán

bộ nào cũng đều phải “vững về chính trị, giỏi về chuyên môn” Hồ Chí Minh coi “cán

bộ là gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”

Đổi mới và đan xen các thế hệ cán bộ

Hồ Chí Minh luôn nhìn xã hội với sự phát triển, tiến hóa không ngừng, nhưngđời con người ta là có giới hạn, ai cũng phải già, phải được nghỉ ngơi và tất nhiênphải có lớp cán bộ kế tiếp

Trang 23

Mỗi thế hệ cán bộ sinh ra và trưởng thành trong những hoàn cảnh cụ thể khácnhau, mỗi người đều có những sở trường và sở đoản, cái mạnh và cái yếu nhất định,tuyệt nhiên không ai giống ai Chính vì thế, Hồ Chí Minh đã đưa ra những cách ứng

xử khác nhau:

Thứ nhất, cố gắng phát huy những mặt mạnh, những tư tưởng của từng người,

cố gắng tân dụng, sắp xếp hợp lý theo quan niệm “dụng nhân như dụng mộc”

Thứ hai, phải thấy cái hạn khắc nghiệt của thời gian để tạo nguồn đào tạo thay

thế, bổ sung cho tổ chức những lớp người mới, đử sức lực và tài năng đảm đươngnhiệm vụ theo những yêu cầu mới mà lớp già khó có thể đáp ứng

Thứ ba, nguồn cung cấp cán bộ là tất cả thanh niên, những người đã được giáo

Để có những cán bộ tốt, người lãnh đạo, người quản lý phải dày công, kiênnhẫn và thương yêu cán bộ Hồ Chí Minh còn căn dặn khi phê bình cán bộ phải có lý

có tình, chớ có đao to, búa lớn, chớ có gay gắt, thiên vị, chớ dùng phê bình để làmmất thể diện của cán bộ Cần quan niệm rằng, phê bình là hướng về cái chân, thiên,

mỹ, là làm cho cán bộ tốt đẹp hơn

Con người ai cũng có sai lầm, càng làm việc càng có thể mắc sai lầm Trừnhững kẻ cố ý phá hoại, ngoài ra không ai cố ý sai lầm Sai lầm là vì không hiểu,không biết “Vì vậy, đối với cán bộ sai lầm ta quyết không nên nhận rằng họ muốn

Trang 24

như thế mà công kích họ Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái

cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế sẽ ảnh hưởng đến công việc thế nào làm thếnào mà sửa chữa Tóm lại, phải phê bình cho đúng”

Sửa chữa khuyết điểm tất nhiên là của cán bộ mắc khuyết điểm, nhưng cũng làtrách nhiệm của người lãnh đạo Cần lấy việc giải thích, thuyết phục, dạy bảo tận tình

là chính Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết thì cũng cần phải xử phạt, bởi vì lỗilầm có việc to, việc nhỏ, sự tự giác của con người cũng không nhất loạt như nhau.Nếu không xử phạt nghiêm khắc thì sẽ mất cả kỷ luật, sẽ mở đường cho thói xấu pháttriển, lây lan

Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.

Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của cán bộ cấp trên Người đãnhiều lần nhắc nhở đảng viên và cán bộ cấp trên phải làm mực thước cho cán bộ cấpdưới và người ngoài Đảng Người đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải ghi nhớ rằng mìnhlàm cách mạng là để phục vụ nhân dân, phải luôn ghi tạc trong lòng lo toan công việcchung trước mọi người, hưởng thụ sau mọi người Chỉ có như vậy, mới thu phục, cảmhóa, giáo dục được cấp dưới và mọi người

Khi nhấn mạnh đến vai trò quyết định cảu cán bộ đối với thành bại của côngviệc, Hồ Chí Minh không nói cán bộ chung chug mà luôn luôn xem xét, quy tráchnhiệm cụ thể và trách nhiệm cuối cùng bao giờ cũng thuộc về người lãnh đạo caonhất của địa phương, đơn vị

Người còn nhấn mạnh, cán bộ, đảng viên cấp trên phải phụ trách trực tiếp, rõràng, rành mạch, chứ không thể chỉ nói phụ trách chung chung “ai cũng phụ trách màkhông ai phụ trách” Cán bộ cấp trên, xét trong mọi trường hợp từ hoàn cảnh từ côngtác đến đạo đức, sinh hoạt, bao giờ cũng phải làm mực thước cho cấp dưới noi theo

Đổi mới phương pháp lãnh đạo để dùng người.

Công việc xây dựng và bảo vệ đất nước luôn luôn biến đổi, phát triển Do đó,phải không ngừng đổi mới phương pháp lãnh đạo để dùng người Hồ Chí Minh đãđưa ra 4 phương hướng tiếp cận về đổi mới phương pháp lãnh đạo như sau:

Trang 25

Tóm lại, nghệ thuật dùng người của Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọngtrong hệ thống tư tưởng của Người Nó đã được thực tiễn lịch sử kiểm nghiệm, khẳngđịnh có vai trò là cơ sở lý luận và phương pháp luận của nhiều khoa học mới, trong

đó có lý thuyết khoa học về hoạt động lãnh đạo

Trang 26

Từ xa xưa con người đã nhận thức được rằng trong nhiều trường hợp của cuộcsống dù muốn hay không thì mỗi người đều là nhà thương thuyết và thương thuyếttrở thành một phần cuộc sống của chúng ta Khi thương thuyết ai cũng muốn cuộcthương thuyết diễn ra thành công đạt được cái mong muốn của mình từ phía ngườikhác và phần lợi thế thuộc về phía mình Tuy nhiên để đạt được thỏa thuận trong mộtcuộc thương thuyết là một điều không phải dễ dàng đặc biệt là trong công tác lãnhđạo vì thế một người lãnh đạo cần nắm vững một số phương pháp cơ bản trong hoạtđộng thương thuyết của mình

Trước khi tìm hiểu một số phương pháp cơ bản trong lãnh đạo chúng ta cần làm

rõ khái niệm thương thuyết trong hoạt động lãnh đạo là gì?

Thương thuyết trong hoạt động lãnh đạo được hiểu là hoạt động thương lượng

và thuyết phục của chủ thể lãnh đạo, quản lý đối với các bên liên quan nhằm đạt đượcthỏa thuận giải quyết một vấn đề nhất định

Trong hoạt động thương thuyết có nhiều phương pháp tuy nhiên ở đây chúng tachỉ tìm hiểu một số phương pháp cơ bản, đó là: Phương pháp mềm mỏng (nhu),Phương pháp cứng rắn (cương) và phương pháp kết hợp giữa mềm mỏng và cứng rắn(hay còn gọi là phương pháp liên hợp)

- Phương pháp thương thuyết mềm mỏng

Trong cuộc sống và hoạt động công tác của mình, nhiều khi trong công táclãnh đạo khi gặp khó khăn đòi hỏi chúng ta rất cần áp dụng nghệ thuật thương thuyết,trong đó có thương thuyết mềm mỏng Người thương thuyết mềm mỏng thường tránhcác xung đột cá nhân và do vậy có những nhân nhượng để đạt được thỏa thuận Khi

sử dụng giải pháp hòa hoãn thường bị đối phương “khai thác” triệt để và kết cụcmang cảm giác bị thua thiệt trong thương thuyết

Ví dụ: …

- Phương pháp thương thuyết cứng rắn

Người thương thuyết cứng rắn luôn xem nhẹ mọi tình huống là sự “đấu tranh ýchí” trong đó ai giữ được lợi thế và giữ được lợi thế càng lâu càng tốt, họ làm mọicách để chiến thắng Tuy nhiên, khi thực hiện theo phương pháp này làm cho đối

Trang 27

và cứng rắn (cương) hay có tên gọi là thương thuyết có nguyên tắc Phương pháp này

có cơ sở là nguyên tắc quyết định vấn đề thương thuyết trên cơ sở hợp lý, thay choquá trình thương thuyết dai dẳng qua lại, chủ yếu mỗi phía nhấn mạnh tới việc “sẽlàm” và “sẽ không làm” Chiến lược thương thuyết này cho thấy cần phải luôn quantâm đến “lợi ích hợp lý của cả hai bên”

Ví dụ:…

Khi có xung đột về quyền lợi, bên hưởng lợi phải chứng minh được kết quảđược hưởng lợi đó là có cơ sở xác đáng và phải dựa trên những tiêu chuẩn công bằng,độc lập với nguyện vọng của cả hai bên Phương pháp “thương thuyết có nguyên tắc”rất “cương" về “phần đáng được hưởng” song rất “nhu” về “’tình người” Theophương pháp thương thuyết này, không hề cần đến các trò lừa đảo, giả tạo Phươngpháp cho phép đạt được những gì ta đáng được hưởng mà vẫn giữ được môi quan hệtrong tư thế đàng hoàng, đồng thời đạt được thoả thuận trên cơ sở công bằng và bảo

vệ ta khỏi những kẻ muốn lợi dụng ta

Mỗi cuộc thương thuyết đều khác biệt nhau, song tựu trung các yếu tố cơ bảnkhông hề thay dổi Phương pháp “thương thuyết có nguyên tắc” có thể sử dụng chocác cuộc thượng lượng có một hay nhiều vấn đề liên quan, có sự tham gia của hai bênhay nhiều bên, cho dù trong hoàn cảnh thương lượng tập thể có chuẩn bị trước, haytrong tình huống bất ngờ Phương pháp này phù hợp cho cả thương thuyết trong đómột bên có kinh nghiệm và phía bên kia không mấy kinh nghiệm, hay một bênthương thuyết cứng đầu hay dễ dãi Phương pháp này là chiến lược có thể áp dụngcho mọi tình huống và khác biệt với các chiến lược thương thuyết khác là phía bên

Trang 28

kia càng biết nhiều về phương pháp này thì việc sử dụng phương pháp này càng hữuhiệu

Năm nguyên tắc chi phối phương pháp “thương thuyết có nguyên tắc” đó là:

- Coi mọi tác nhân tham gia là bạn, mời chào, thương lượng, hướng đến thoảthuận khôn ngoan

- Tách cá nhân người thương thuyết khỏi vấn đề cần thương thuyết

- Tập trung vào “lợi ích” của các bên, tránh tập trung vào “lập trường” của cácbên

- Tìm hiểu phương án giải quyết dạt lợi ích chính đáng chung cao nhất cho cácbên

- Nhấn mạnh vào việc sử đụng các tiêu chí đánh giá khách quan

Trong một cuộc thương thuyết, mỗi bên thường xác định tạo lập cho mình mộtlập trường và với lập trường này họ tranh luận, hoặc đến cùng hoặc sẽ từng bướcnhượng bộ để đi đến thỏa thuận Song, trong nhiều trường hợp, vì một bên không cónhượng bộ nào đáng kể và do vậy thương thuyết nhanh chóng đi vào “ngõ cụt”

Ba tiêu chí hiệu quả của phương pháp “ thương thuyêt có nguyên tắc” đó là:

- Giúp các bên thương thuyết đi đến thoả thuận khôn ngoan, khi có thể đạtđược một thoả thuận

- Xây dựng, củng cố mối quan hệ ít nhất không làm xấu đi mối quan hệ giữacác bên tham gia thương thuyết đã có

- Đi đến những kết quả cụ thể mà các bên tham gia có thể khả dĩ chấp nhậnđược, hoặc vạch ra lộ trình đến đích cuối của các thương thuyết lần sau

Thương thuyết thực chất là quá trình trao đổi qua lại liên tục với mục đích điđến thỏa thuận chung Trao đổi bao giờ cũng khó khăn ngay cả với những người cókinh nghiệm và giàu kiến thức cơ bản Những cuộc nói chuyện đơn điệu thường xảy

ra giữa những người không hiểu rõ về nhau và những người hay nghi ngờ và không

Trang 29

Một là, hãy lắng nghe tích cực và công nhận những điều phía bên kia nói Hai là, cần chú ý đến lập trường của phía bên kia và thừa nhận tích hợp lý trong lập trường của họ.

Ba là, nói cho dễ hiểu.

Bốn là, hãy nói về chính chúng ta mà không phải về người thương thuyết với chúng ta.

Năm là, Hãy phát biểu vì một mục đích cụ thể.

Sáu là, phòng ngừa là phương thức tốt nhất.

Bảy là, thiết lập các mối quan hệ công tác.

Tám là, hãy đối mặt với vấn đề và tránh đối mặt cá nhân.

Liên hệ bản thân: Tự liên hệ

Trang 30

- Bối cảnh xã hội: Không Tử sống trong thời Xuân Thu – lúc nhà Chu suy tàn,

xã hội đại loạn và vô đạo

- Tiểu sử: Không Tử xuất thân từ gia đình quan lại nhỏ, nghèo ở nước Lỗ Ông

là một nhà triết học duy tâm khách quan, là vị quan cai trị giỏi, nhà giáo, nhà quản lýgiáo dục xuất sắc (đào tạo 3000 học trò với 72 vị hiền tài) và cũng là nhà tư tưởnglãnh đạo, quản lý

- Triết lý về lãnh đạo, quản lý của Khổng Tử:

+ Bản chất con người là thiện nhưng do trời phú về năng lực và hoàn cảnh sống

+ Phương pháp lãnh đạo, quản lý chính:

Giáo hóa, thuyết phục, nêu gương để có đức (đức trị)

Đôi khi cũng cần răn đe, trừng phạt khi cần thiết

+ Chủ thể lãnh đạo, quản lý:

Hình mẫu: Người quân tử phải có Nhân, Trí, Dũng (kiên cường, quảcảm, dám hy sinh vì nghĩa lớn)

Đạo lý của người quân tử: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Tuyển chọn: Đề bạt chức vụ từ thấp đến cao, chọn người có đức, có tài,không dựa vào giai cấp, huyết thống, không cầu toàn

Chính sách: Công bằng, “trọng hiền đi liền trừ ác”

* Nhận xét:

Trang 31

- Ưu điểm:

+ Phù hợp với điều kiện xã hội đương thời (luật pháp còn sơ khai)

+ Quan điểm tiến bộ về tuyển chọn và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý

- Hạn chế:

+ Bảo thủ, thiếu dân chủ

+ Ảo tưởng (kêu gọi sự gương mẫu để xây dựng xã hội)

Liên hệ:

Câu 4:

* Phân tích tư tưởng “Pháp trị” của Hàn Phi Tử Liên hệ vận dụng những

tư tưởng đó trong lãnh đạo, quản lý ở địa phương, đất nước hiện nay.

Trả lời:

- Bối cảnh xã hội: Hàn Phi Tử sống trong thời Chiến Quốc của Trung Hoa cổ

đại Lúc bấy giờ, nhà Chu suy tàn, với nền chính trị loạn lạc và bất ổn định Đạo đức

xã hội bị suy đồi và xuống cấp, tình hình đất nước thì rối ren với những cuộc chiếnliên miên, đời sống nhân dân cùng cực

- Tiểu sử: Hàn Phi Tử (280 – 233 TCN ) Ông thuộc dòng dõi quý tộc nước Hàn

và rất giỏi về mặt viết sách Ông là nhà triết học DVBC và là nhà vô thần luận nổitiếng

- Nội dung tư tưởng lãnh đạo, quản lý:

Hàn Phi Tử đã đưa ra triết lý về lãnh đạo, quản lý: Bản chất con người vốn là

“tính bản ác, vị lợi” Ông coi trọng ba yếu tố: “Pháp”, “Thế” và “Thuật” và cho rằng

cả 3 yếu tố không thể thiếu trong thuật trị nước Trong sự thống nhất đó:

Trang 32

- Phương pháp lãnh đạo, quản lý:

+ Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, nghiêm minh trên tất cả các lĩnh vực,các ngành nghề của cuộc sống

+ Thưởng phạt phải xác thực, phạt phải cương quyết, công bằng giữa quan vàdân

+ Người lãnh đạo cần phải biết biến đổi cho phù hợp thời thế

- Quan điểm xây dựng cán bộ lãnh đạo, quản lý:

+ Dùng người không chỉ theo lời giới thiệu của người khác mà phải đích thânxem xét Lãnh đạo phải đích thân xem xét việc chọn lựa người và giao việc cho phùhợp Tránh việc chọn theo thâm tình, ân nghĩa, mà phải xét việc để nhận và giao chohợp lý

+ Dùng người phải thận trọng, quan sát họ làm và giao chức để kiểm tra thựclực, tránh tuyệt đối tình trạng nhìn bằng cấp, điểm số lý thuyết, hay qua lời giới thiệu.Phải kiểm tra thực lực nhiều lần rồi mới định việc

+ Giao chức phải từ nhỏ đến lớn, không vượt chức, không kiêm nhiệm nhiềuchức vụ

+ Giao chức và kiểm tra kết quả, không can thiệp và theo dõi khi họ đang làm.+ Thưởng hậu, phạt nặng

- Nhận xét:

+ Ưu điểm: Thuyết pháp trị mà người sáng lập là Hàn Phi Tử ra đời từ một

quốc gia có nhiều luồng ý kiến, tư tưởng lối sống khác nhau, cùng với hoàn cảnh đấtnước loạn lạc chia rẻ Thuyết này đã đưa ra những quan điểm phù hợp xã hội đươngthời (loạn lạc, chia rẽ) Hệ thống pháp luật đã làm con người sống có trật tự kỷ cương

Trang 33

hơn Bên cạnh đó, thuyết pháp trị đã có những tư tưởng quản lý sắc nét và biện pháp

có tính khả thi (quản lý xã hội bằng pháp luật)

+ Hạn chế: Còn yếu tố cực đoan theo kiểu “quơ đũa cả nắm”, duy lý đến mức

lạnh lung và tàn nhẫn Hơn thế nữa, thuyết này quan niệm về bản tính con người cóphần phiến diện (bản chất con người là ác, vị lợi) Tuy nhiên, trên thực tế, không phải

ai và lúc nào cũng thế, mà cái thiện và cái các vốn tồn tại trong mỗi con người, chỉ cóđiều, lúc nào cái thiện, cái các nổi lên

Liên hệ:

Trang 34

Câu 12:

* Nêu các phẩm chất và năng lực cần thiết của người lãnh đạo, quản lý và các nội dung cơ bản của việc rèn luyện các phẩm chất, năng lực đó Liên hệ việc rèn luyện của bản thân.

Trả lời:

Người lãnh đạo là chủ thể của hoạt động lãnh đạo Chủ thể này có thể là một cánhân, cũng có thể là một tập thể, tức là một êkíp Phẩm chất chung của cả êkíp lãnhđạo dựa trên cơ sở phẩm chất của mỗi cá nhân người lãnh đạo Người lãnh đạo phảinhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật của hoạt động lãnh đạo để thực hiện chứcnăng lãnh đạo có hiệu quả Muốn vậy, người lãnh đạo phải luôn nâng cao rèn luyện tốchất phẩm chất và năng lực cho bản thân

Phẩm chất của người lãnh đạo là tổng hợp những giá trị làm nên thuộc tínhngười lãnh đạo, quản lý Để có phẩm chất, khả năng LĐ tốt thì mỗi người LĐ, QL cầnphải qua một quá trình rèn luyện và không ngừng rèn luyện Ngoài ra, mỗi một thờiđại cũng có những yêu cầu khác nhau đối với phẩm chất lãnh đạo Hoàn cảnh kháchquan và nhiệm vụ mà người lãnh đạo được giao thay đổi thì phẩm chất lãnh đạo của

người đó cũng cần phải có sự thay đổi tương ứng Đối với những người lãnh đạo

trong giai đoạn hiện nay những phẩm chất mà người LĐ cần có là: vững vàng vềchính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống mà còn phải có trí tuệ, kiếnthức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân

Phẩm chất và năng lực LĐ được thể hiện ý nghĩa trên hai phương diện:

Một là, chỉ mức độ nhất định đạt được việc một người tu tâm dưỡng tính, rèn

giữa phẩm chất, tư tưởng, trau dổi những khí chất cao quý

Hai là, đặc biệt chỉ thái độ đúng đắn được hình thành dần dân trên các măt đối

nhân xử thế Tu dưỡng của người lãnh đạo chủ yếu là chỉ trình độ và mức đô đạt đượcthông tin qua việc rèn luyện và rèn luyện một cách tự giác trên các mặt chính trị, tưtưởng, đạo đức, phẩm chất và trí thức khoa học cũng như những kỳ năng cần nắmvững của cá nhân người lãnh đạo

Nếu nói tố chất sinh lý chủ yếu là do bẩm sinh, thì phẩm chất lãnh đạo có thểnói chủ yếu là được hình thành qua việc học tập và rèn luyện gian khổ của người lãnh

Trang 35

đạo Do đó, việc tu dưỡng phẩm chất lãnh đạo là biện pháp quan trọng của việc nângcao phẩm chất lãnh đạo

Muốn chỉ đạo và dẫn dắt quần chúng thực hiện mục tiêu đã vạch ra, phấn đấu

hoàn thành nhiệm vụ, cần phải có một đội ngũ cán bộ lãnh đạo có phẩm chất tốt, họ

phải có sức ảnh hưởng to lớn, bao gồm sức ảnh hưởng mang tính quyền lực và sứcảnh hưởng không mang tính quyền lực Sức ảnh hưởng quyền lực của người lãnh đạo

là do tổ chức quyết định, còn sức ảnh hưởng không mang tính quyền lực thì lại tạonên, bằng phẩm chất tri thức, tài năng và hành vi của người ấy Họ có ý chí, có trí tuệ,biết nhìn xa trông rộng, biết dùng ngưòi, và chính vì vậy họ tạo ra được ảnh hưởnglớn đối với các thành viên trong tập thể, tạo ra được sức liên kết, tập trung và chỉ huy

Phẩm chất của người lãnh đạo tỷ lệ thuận với hiệu quả của công tác lãnh đạo.Trong cùng một điều kiện khách quan như nhau, làm tốt việc rèn luyện phẩm chất củangười lãnh đạo thì hiệu quả công tác càng tốt và ngược lại

Phẩm chất của người lãnh đạo liên quan tới sự thành bại của sự nghiệp chung.

Phẩm chất của người lãnh đạo quan hệ tới sự hình thành của sự nghiệp chung,điều này được chứng minh bằng rất nhiều sự kiện lịch sử trong và ngoài nước từ xưađến nay

Sự phát triển của sự nghiệp cách mạng nước ta ngày nay cũng có những điểmtương tự:

Một là, dựa vào đường lối chính trị đúng đắn.

Hai là, dựa vào những tài năng của đất nước Theo lôgíc và yêu cầu của cách

mạng thì những người lãnh đạo phải là những nhân tố tích cực nhất, tài năng và chủ

chốt nhất Do đó, việc rèn luyện phẩm chất của họ quan hệ trực tiếp tới việc thực hiệnmục tiêu cách mạng và cuối cùng quan hệ và quyết định tới sự thành bại của sựnghiệp chung

Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điểukiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, yêu cầu đối vói ngườilãnh đạo không chỉ là phải trẻ hoá, tri thức hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá màhơn nữa còn phải tự trang bị cho mình đầy đủ tri thức về kinh tế hàng hoá, phải có trithức và kinh nghiệm quản lý tương đương Như vậy mới có thể đáp ứng được nhu

Ngày đăng: 18/02/2023, 09:37

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w