1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài dự thi tìm hiểu hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

500 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài dự thi tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp
Thể loại Bài dự thi
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 500
Dung lượng 14,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Câu nói kinh điển của Thomas Payne: Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật” đã cho thế hệ những người làm công tác Tư pháp như chúng tôi nói riêng và những người làm công tác lập pháp nhiều điều suy ngẫm về quá trình xây dựng lập pháp, xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ. Theo một nghĩa chung nhất: Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của Nhà nước, vừa là bản khế ước mang trong mình nó ý chí chung của xã hội. Vì vậy xây dựng Hiến pháp là chúng ta xây dựng một Luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị pháp lý cao nhất, tất cả các văn bản khác đều phải phù hợp với Hiến pháp. Nhưng nói như vậy không có nghĩa Hiến pháp điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội hiện hữu mà Hiến pháp chỉ điều chỉnh những quan hệ chủ đạo nhất, chính yếu nhất (bao gồm chế độ xã hội và chế độ nhà nước, vị trí pháp lý của con người, của công dân, vị trí của quốc gia trong cộng đồng quốc tế), có tính nguyên tắc và tính nền tảng nhất. Bên cạnh đó để một bản Hiến pháp thực sự vững chắc và có ý nghĩa trong lòng nhân dân thì Hiến pháp phải phản ánh chính xác mối tương quan thực tế của các lực lượng xã hội, phải ghi nhận và thể hiện những lợi ích tương hợp của các tầng lớp xã hội, lợi ích chung của nhân dân, của dân tộc. Lịch sử lập Hiến của các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, Hiến pháp luôn luôn được xây dựng nhằm hợp pháp hoá ở mức cao nhất cơ sở tồn tại của một chế độ xã hội, chế độ nhà nước, một trật tự các quan hệ xã hội; ổn định hoá các quan hệ xã hội, các thiết chế chính trị và Nhà nước cũng như các định chế xã hội và sự an toàn pháp lý cho cá nhân, cho xã hội. Đặc biệt Hiến pháp chỉ cần thiết và phải “có mặt” trong những bước ngoặt của quá trình phát triển xã hội nhằm khẳng định, hợp pháp hoá một giai đoạn mới của sự phát triển đó. Sự ra đời của Hiến pháp cũng phản ánh một thế giới quan hay một mức độ khác hơn của ý thức chính trị và pháp lý về tiến trình phát triển đất nước. Nó tạo ra những định hướng cho tương lai, “vẽ” nên sơ đồ của các định hướng phát triển mới. Vì vậy Hiến pháp “không thể đóng vai trò một văn bản của bất kỳ sự thay đổi nào đơn lẻ hay ở một hay một số lĩnh vực nào của đời sống xã hội mà là của một quá trình thay đổi lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với nhân dân, đối với dân tộc, đối với đất nước”. Soi sáng những vấn đề thuộc về lí luận của khoa học Hiến pháp với lịch sử lập Hiến của Việt Nam chúng ta sẽ thấy lịch sử lập hiến của Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử dân tộc. Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đều gắn với những bước ngoặt lịch sử quan trọng của đất nước, thể hiện tầm nhìn, chọn lựa mang tính chiến lược về con đường phát triển của dân tộc Việt Nam ứng với từng thời kỳ. Thế hệ người dân Việt Nam hôm nay mãi khắc ghi cái gốc của Hiến pháp Việt Nam luôn gắn với tên Người – Hồ Chí Minh. Nhắc đến Hồ Chí Minh là nhớ đến Tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (năm 1919) một biểu trưng chủ nghĩa yêu nước sáng ngời, tư tưởng và ý chí quyết tâm đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Nhắc đến Hồ Chí Minh là nhớ đến một con người luôn trăn trở chuyện “tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm dân sợ, lấy phú quý làm dân tham” (Hồ chí Minh toàn tập, tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr267), nhớ đến một con người luôn khát khao có một nền công lý cho người dân Đông Dương nói chung và người dân An Nam nói riêng. Nhắc đến Hồ Chí Minh là nhớ đến “Việt Nam yêu cầu ca” Người viết năm 1922 với một những triết lý sâu xa về Hiến pháp, pháp quyền: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Câu nói kinh điển của Thomas Payne: "Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật” đã cho thế

hệ những người làm công tác Tư pháp như chúng tôi nói riêng và những ngườilàm công tác lập pháp nhiều điều suy ngẫm về quá trình xây dựng lập pháp, xâydựng một bản Hiến pháp dân chủ

Theo một nghĩa chung nhất: Hiến pháp vừa là văn bản pháp lý của Nhànước, vừa là bản khế ước mang trong mình nó ý chí chung của xã hội Vì vậyxây dựng Hiến pháp là chúng ta xây dựng một Luật cơ bản của Nhà nước, có giátrị pháp lý cao nhất, tất cả các văn bản khác đều phải phù hợp với Hiến pháp.Nhưng nói như vậy không có nghĩa Hiến pháp điều chỉnh mọi loại quan hệ xãhội hiện hữu mà Hiến pháp chỉ điều chỉnh những quan hệ chủ đạo nhất, chínhyếu nhất (bao gồm chế độ xã hội và chế độ nhà nước, vị trí pháp lý của conngười, của công dân, vị trí của quốc gia trong cộng đồng quốc tế), có tínhnguyên tắc và tính nền tảng nhất Bên cạnh đó để một bản Hiến pháp thực sựvững chắc và có ý nghĩa trong lòng nhân dân thì Hiến pháp phải phản ánh chínhxác mối tương quan thực tế của các lực lượng xã hội, phải ghi nhận và thể hiệnnhững lợi ích tương hợp của các tầng lớp xã hội, lợi ích chung của nhân dân, củadân tộc

Lịch sử lập Hiến của các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nóiriêng, Hiến pháp luôn luôn được xây dựng nhằm hợp pháp hoá ở mức cao nhất

cơ sở tồn tại của một chế độ xã hội, chế độ nhà nước, một trật tự các quan hệ xã

hội; ổn định hoá các quan hệ xã hội, các thiết chế chính trị và Nhà nước cũng

như các định chế xã hội và sự an toàn pháp lý cho cá nhân, cho xã hội Đặc biệtHiến pháp chỉ cần thiết và phải “có mặt” trong những bước ngoặt của quá trìnhphát triển xã hội nhằm khẳng định, hợp pháp hoá một giai đoạn mới của sự pháttriển đó

Trang 3

Sự ra đời của Hiến pháp cũng phản ánh một thế giới quan hay một mức

độ khác hơn của ý thức chính trị và pháp lý về tiến trình phát triển đất nước Nótạo ra những định hướng cho tương lai, “vẽ” nên sơ đồ của các định hướng phát

triển mới Vì vậy Hiến pháp “không thể đóng vai trò một văn bản của bất kỳ sự thay đổi nào đơn lẻ hay ở một hay một số lĩnh vực nào của đời sống xã hội mà

là của một quá trình thay đổi lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với nhân dân, đối với dân tộc, đối với đất nước”.

Soi sáng những vấn đề thuộc về lí luận của khoa học Hiến pháp với lịch

sử lập Hiến của Việt Nam chúng ta sẽ thấy lịch sử lập hiến của Việt Nam luôngắn liền với lịch sử dân tộc Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980,Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 đều gắn với những bước ngoặt lịch sử quantrọng của đất nước, thể hiện tầm nhìn, chọn lựa mang tính chiến lược về conđường phát triển của dân tộc Việt Nam ứng với từng thời kỳ

Thế hệ người dân Việt Nam hôm nay mãi khắc ghi cái gốc của Hiến phápViệt Nam luôn gắn với tên Người – Hồ Chí Minh Nhắc đến Hồ Chí Minh lànhớ đến Tác phẩm “Đường Kách Mệnh” (năm 1919) một biểu trưng chủ nghĩayêu nước sáng ngời, tư tưởng và ý chí quyết tâm đấu tranh vì độc lập, tự do củadân tộc Nhắc đến Hồ Chí Minh là nhớ đến một con người luôn trăn trở chuyện

“tụi tư bản và đế quốc chủ nghĩa nó lấy tôn giáo và văn hóa làm cho dân ngu, lấy pháp luật buộc dân lại, lấy sức mạnh làm dân sợ, lấy phú quý làm dân tham” (Hồ chí Minh toàn tập, tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr267),

nhớ đến một con người luôn khát khao có một nền công lý cho người dân ĐôngDương nói chung và người dân An Nam nói riêng Nhắc đến Hồ Chí Minh là

nhớ đến “Việt Nam yêu cầu ca” Người viết năm 1922 với một những triết lý sâu

xa về Hiến pháp, pháp quyền: “Bảy xin Hiến pháp ban hành Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”

Trang 4

Vâng triết lý: Hiến pháp là tiền đề của pháp quyền Có Hiến pháp mới cópháp quyền của Hồ Chí Minh đã rất lâu rồi, nhưng đến ngày hôm nay vẫn cònnguyên giá trị Và thực tiễn bản Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủcộng hòa là một di sản hiến định, là bản Hiến pháp đẫm tinh thần, tư tưởng của

Hồ Chí Minh về xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là cơ sở

cơ bản cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, donhân dân và vì nhân dân trong giai đoạn hiện nay Các bản Hiến pháp sau đómặc dù ra đời trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng tư tưởng lập hiến

Hồ Chí Minh, những giá trị dân chủ, quyền con người, quyền công dân, tư tưởng

và mô hình tổ chức nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân củaHiến pháp năm 1946 luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tất cả các bản Hiến pháp saunày và toàn bộ hệ thống pháp luật của đất nước

Trang 5

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh – công dân số 1 bỏ phiếu bầu cử Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Những mốc lịch sử quan trọng trong tiến trình lập Hiến ở Việt Nam mãimãi đi sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nó thức dậy trong mỗi người dânchúng ta niềm tự hào dân tộc Chúng ta có một bản Hiến pháp dân chủ đầu tiênnăm 1946, tiếp đó là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở nước ta - Hiếnpháp 1959 của thời kỳ hòa bình đã được lập lại ở miền Bắc, đất nước thực hiệnhai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là: xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

và tiến hành cuộc đấu tranh ở miền Nam thống nhất đất nước; rồi bản Hiến pháp

1980 – Hiến pháp của nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất sau hơn hai mươinăm bị chia cắt với những chế độ chính trị - xã hội khác nhau; rồi bản Hiến pháp

1992 - Hiến pháp xây dựng đất nước trong thời kỳ đổi mới toàn diện và sâu sắc

về kinh tế, đổi mới từng bước về chính trị, đánh dấu Việt Nam đang xây dựngmột Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tiếp đó Hiến pháp sửa đổi, bổ sung

Trang 6

năm 2001 càng được làm sâu sắc thêm một bước tinh thần dân chủ và phápquyền của Hiến pháp năm 1992

Hơn 20 năm thi hành Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung 2001), Nhànước ta đã ban hành một hệ thống văn bản pháp luật tương đối đầy đủ và đồng

bộ, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhóa, khoa học kỹ thuật, quốc phòng, an ninh phục vụ tiến trình đổi mới đấtnước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân và góp phần tích cực để chủ động hội nhập quốc tế

Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu,yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế, Hiến pháp năm

1992 đã bộc lộ những bất cập nhất định (tổ chức bộ máy nhà nước, việc phâncông, kiểm soát quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân vềbảo vệ Tổ quốc ) đòi hỏi được nghiên cứu, xem xét sửa đổi nhằm bảo đảm phùhợp với thực tiễn đất nước, đồng thời đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổimới, yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và yêu cầu hội nhập quốc tế

Để đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới, đáp ứng yêu cầu tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nước cùng những biến đổi to lớn, sâu sắc và phức tạpcủa tình hình quốc tế, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thôngqua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổsung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác xác định mục tiêu, định hướngphát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằmxây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh Như vậy cần "Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiếnpháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) phù hợp với tìnhhình mới" để xây dựng xây dựng “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nướcthuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp

Trang 7

nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lựcNhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơquan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nướcban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Để đạt được mục tiêu trên, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổsung 2001) cần đáp ứng các yêu cầu sau:

- Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 phải dựa trên cơ sở tổng kếtviệc thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; phải căn cứ vàođịnh hướng, nội dung của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác củaĐảng; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và của các bảnHiến pháp trước đây còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những vấn đề thật sự cầnthiết, phù hợp với tình hình mới với những nội dung đã được văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định

- Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình tổng thể của hệ thống chính trị

và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nướctrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) vàHiến pháp năm 1992 Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp

và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp

- Khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấpcông nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộcViệt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân laođộng và của dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làĐảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Trang 8

- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mớiđồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xãhội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của côngdân; quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân; thực hiện dânchủ xã hội chủ nghĩa; tăng cường kỷ luật, kỷ cương; xây dựng khối đại đoàn kếttoàn dân tộc

- Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng nên phải tiến hành chặt chẽ,khoa học dưới sự lãnh đạo của Đảng Bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia,các nhà khoa học, nhà quản lý; tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân và các

cơ quan, tổ chức; chú trọng công tác thông tin, tuyên truyền, bảo đảm đúng địnhhướng, không để các đối tượng xấu, thế lực thù địch lợi dụng để chống phá,xuyên tạc trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp

Để thực hiện tốt yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1992, Ban Chấp hành Trungương Đảng khóa XI, ngày 6 tháng 8 năm 2011, Quốc hội khóa XIII đã ban hànhNghị quyết số 06/2011/QH13 về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vàthành lập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Sau khi được thành lập,

Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến phápnăm 1992, đề xuất các nội dung, phương án sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm1992; trong đó, Bộ Quốc phòng được Chính phủ giao chủ trì phối hợp với BộCông an nghiên cứu, đề xuất nội dung, phương án sửa đổi, bổ sung Hiến phápnăm 1992 về nhiệm vụ "thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân" của Chủ tịchnước; vị trí, chức năng của Hội đồng quốc phòng và an ninh

Trên cơ sở tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992, nội dung, phương

án đề xuất của các cơ quan, tổ chức hữu quan trong hệ thống chính trị, ý kiếncủa các chuyên gia, các nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân và kế thừa kết quảtổng kết 25 năm đổi mới đất nước, Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

đã xây dựng Dự thảo sửa đổi Hiến pháp trình Quốc hội cho ý kiến Ngày 23tháng 11 năm 2012, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38/2012/QH13 về việc

Trang 9

tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Thực hiệnNghị quyết của Quốc hội, từ ngày 2 tháng 1 năm 2013, Dự thảo sửa đổi Hiếnpháp đã được công bố để lấy ý kiến sâu rộng, nghiêm túc trong nhân dân và đã

có hơn 26 triệu lượt ý kiến nhân dân, 28 nghìn hội nghị, hội thảo, tọa đàm được

tổ chức, Quốc hội đã dành 3 kỳ họp (kỳ 4, 5, và kỳ 6) thảo luận, cho ý kiến, sửatrực tiếp vào dự thảo và thông qua Hiến pháp Có thể nói rằng sửa đổi Hiếnpháp 2013 đã được chắt lọc, tiếp thu, kết tinh được trí tuệ, ý chí, nguyện vọngcủa tuyệt đại đa số nhân dân, thể hiện được ý Đảng, lòng dân và sự đồng thuậncủa cả hệ thống chính trị

9 giờ 50 phút ngày 28 tháng 11 năm 2013, trong không khí trang nghiêm,xúc động, với đa số phiếu tuyệt đối (486/488 đại biểu Quốc hội có mặt biểuquyết tán thành, chiếm 97,59% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội khóa XIII

đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là sựkiện chính trị - pháp lý trọng đại, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lậphiến của nước ta Và ngày 8 tháng 12 năm 2013, Chủ tịch nước Trương TấnSang đã công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

2013 (sau đây viết gọn là Hiến pháp năm 2013) Hiến pháp có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/01/2014

Hiến pháp 2013 được ban hành đã tạo khung pháp lý ngày càng hoànchỉnh hơn để Nhà nước quản lý bằng pháp luật; đồng thời tạo cơ sở pháp lývững chắc bảo đảm các quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và phát huytrên thực tế, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý điều hành của Nhà nước, đẩymạnh phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, giữ vững ổn định chính trị - xã hội

và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên để Hiến pháp 2013 thực sự bảo đảm chính trị pháp lý vữngchắc cho toàn dân tộc ta, có chỗ đứng trong lòng Nhân dân cần đẩy mạnh tuyêntruyền, phổ biến nội dung của Hiến pháp để cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy:Hiến pháp 2013 với những nội dung mới, nội dung sửa đổi, bổ sung sẽ là nền

Trang 10

tảng để Nhân dân ta, đất nước ta vượt qua những khó khăn, thách thức của thời

kỳ mới, vững bước tiến vào giai đoạn đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đấtnước và chủ động nhập quốc tế Và đặc biệt hơn nữa đẩy mạnh tuyên truyềnHiến pháp 2013 là chúng ta làm thức dậy trong mỗi cá nhân, mỗi công dân ViệtNam ý thức tôn trọng Hiến pháp, đảm bảo nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp,hình thành thói quen tư duy, ứng xử tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp

Để tổ chức triển khai thi hành Hiến pháp kịp thời, đồng bộ, thống nhất,hiệu quả, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm trong việc chấp hành và bảo

vệ Hiến pháp, pháp luật của các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viênchức, công nhân, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân và người Việt Nam ởnước ngoài về Hiến pháp; Bảo đảm các quy định của Hiến pháp được tôn trọng

và nghiêm chỉnh chấp hành trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạođộng lực thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện nhiều hoạt động tuyên truyền,phổ biến Hiến pháp 2013 đã được toàn hệ thống chính trị của cả nước vào cuộc,tích cực triển khai Một trong những hình thức được đánh giá là tuyên truyền sâurộng, được Nhân dân quan tâm nghiên cứu một cách thấu đáo, có hệ thống nhất,đảm bảo tính hiện thực của Hiến pháp trong đời sống xã hội là hình thức tổ chứccuộc thi “Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm2013”

Với việc trả lời 9 câu hỏi thi do Ban Tổ chức cuộc thi Trung ương pháthành cho người dự thi một cái nhìn hệ thống về lịch sử lập hiến, một cái nhìnsâu sắc, toàn diện về những nội dung mới của Hiến pháp 2013 và đặc biệt vớiriêng tôi qua cuộc thi Tìm hiểu Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam 2013 cho phép tôi được nói lên tiếng nói của mình, bày tỏ những tư tưởng,tình cảm của mình đối với những nội dung mới sửa đổi của Hiến pháp 2013đồng thời cho tôi một cái nhìn khoa học, khách quan về yêu cầu sửa đổi Hiếnpháp và một phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học Hiến pháp

Bố cục của bài thi “Tìm hiểu Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013” tôi trình bày dưới đây chính là phản ánh sự trưởng thành trong

Trang 11

lý luận nhận thức và lý luận về phương pháp tư duy của tôi về Hiến pháp nóiriêng và về pháp luật nói chung Bài dự thi gồm 4 phần:

Phần 1: Trả lời câu hỏi

Phần 2: Sở Tư pháp Thanh Hóa tổ chức tuyên truyền Hiến pháp trên báo, đàiPhần 3: Hệ thống các bản Hiến pháp của Việt Nam

Phần 4: Hệ thống các văn bản triển khai thi hành Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tin rằng, với sự chung sức, chung lòng của toàn dân, toàn hệ thống chính

trị, cuộc thi “Tìm hiểu Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013” sẽ khơi gợi, giáo dục tinh thần thượng tôn Hiến pháp, vận động,

khuyến khích, kêu gọi toàn thể nhân dân chung sức, đồng lòng, tôn trọng,

nghiêm chỉnh “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

Trang 12

PHẦN 1 TRẢ LỜI CÂU HỎI Câu hỏi 1

Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào?

Trả lời.

Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý, là đạo luật cơ bản, luật gốc củaNhà nước Hiến pháp phản ánh ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn dân tộc.Thông qua Hiến pháp, tư tưởng quyền lực thuộc về Nhân dân được khẳng định,Nhân dân trao quyền cho các cơ quan nhà nước, bảo đảm tính hợp pháp của việcthực hiện quyền lực nhà nước Ở nước ta, từ năm 1945 thành lập nước Việt NamDân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay,Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp gồm: Hiến pháp năm 1946, Hiến phápnăm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp 2013 Cácbản Hiến pháp này đã tạo nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc cho sự nghiệpxây dựng và phát triển đất nước

* Hiến pháp năm 1946 (được Quốc Hội khóa I thông qua ngày 9-11-1946)

Hoàn cảnh ra đời

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ ChíMinh đã đọc bản "Tuyên ngôn độc lập" khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủCộng hoà Ngay sau đó, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 3-9-1945,

Hồ Chủ tịch đã đề ra sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Một trong những

nhiệm vụ cấp bách đó là xây dựng Hiến pháp Người viết: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do, dân chủ Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ" (Hồ Chí Minh.

Toàn tập, T.4, tr.8)

Trang 13

Ngày 20-9-1945, Chính phủ Lâm thời ra Sắc lệnh thành lập Ban dự thảoHiến pháp gồm 7 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Tháng 11-1945,Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản dự thảo được công bố cho toàn dânthảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến chobản dự thảo Hiến pháp chứa đựng mơ ước bao đời của nhân dân ta về độc lập và

tự do

Ngày 2-3-1946, Quốc hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiếnpháp Trên cơ sở đó, Quốc hội (Khoá I, Kỳ họp thứ nhất) đã thành lập Ban dựthảo Hiến pháp gồm 11 người, đại biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau

do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ýkiến đóng góp của nhân dân và xây dựng bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốchội xem xét và thông qua

Ngày 28-10-1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hộikhoá I đã khai mạc Ngày 9-11-1946, sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương,Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủCộng hoà với 240 phiếu thuận, 2 phiếu chống

Vào thời điểm Quốc hội thông qua Hiến pháp, thực dân Pháp phản bội cáchiệp định đã ký kết với Chính phủ ta, chúng không ngừng khiêu khích và tấncông chúng ta bằng vũ lực, hòng lập lại ách thống trị của chúng ở Việt Nam.Trước tình hình đó, trong phiên họp ngày 9-11-1946, sau khi tuyên bố Hiếnpháp đã trở thành chính thức, Quốc hội ra Nghị quyết giao nhiệm vụ cho Banthường trực Quốc hội cùng với Chính phủ ban bố và thi hành Hiến pháp khi cóđiều kiện thuận lợi Theo Nghị quyết của Quốc hội trong điều kiện chưa thi hành

Trang 14

được Hiến pháp thì Chính phủ phải dựa vào những nguyên tắc đã quy định trongHiến pháp để ban hành các sắc luật Ngày 19-12-1946, mười ngày sau khi Quốchội thông qua Hiến pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ Do hoàn cảnhchiến tranh mà Hiến pháp 1946 không được chính thức công bố, việc tổ chứctổng tuyển cử bầu Nghị viện nhân dân không có điều kiện thực hiện Tuy nhiênChính phủ dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Ban thường vụQuốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung của Hiến pháp 1946 để điềuhành mọi hoạt động của Nhà nước

Như vậy, việc ban hành Hiến pháp 1946 là sự khẳng định mạnh mẽ vềmặt pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập và toàn vẹnlãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà

Nội dung và ý nghĩa

Hiến pháp 1946 là một bản Hiến pháp bản Hiến pháp dân chủ tiến bộ,được trình bày cô đúc, khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người.Hiến pháp năm 1946 gồm : lời nói đầu, 7 chương với 70 điều

Lời nói đầu Hiến pháp 1946 xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giaiđoạn này là "bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc giatrên nền tảng dân chủ" Lời nói đầu còn xác định ba nguyên tắc cơ bản xây dựngHiến pháp là: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp,

Trang 15

tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ

và sáng suốt của nhân dân

Chương I: Chính thể Chương này gồm 3 điều từ Điều thứ 1 đến Điều thứ

3 quy định về chính thể, theo đó Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa,thống nhất, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng,quốc ca là bài Tiến quân ca

Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi công dân (gồm 18 điều từ Điều thứ 4

đến Điều thứ 21), trong đó quy định về quyền và nghĩa vụ công dân Hiến pháp

đã ghi nhận quyền bình đẳng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xãhội; bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng trước pháp luật, quyền được tham giachính quyền và công việc kiến quốc tùy theo tài đức; quyền tự do ngôn luận, hộihọp, cư trú, đi lại, tín ngưỡng; quyền bầu cử, bãi miễn, phúc quyết; quyền đảm

Trang 16

bảo thân thể, nhà ở, thư tín ; Đồng thời cũng quy định công dân có các nghĩavụ: bảo vệ Tổ quốc, tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật

Chương III: gồm 20 điều từ Điều thứ 22 đến Điều thứ 42 quy định về

Nghị viện nhân dân (Quốc hội), theo đó, Nghị viện nhân dân được xác định là

cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do công dânViệt nam từ 18 tuổi trở lên bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, tự do, trực tiếp vàkín, nhiệm kỳ 3 năm Nghị viện nhân dân được xác định là cơ quan có quyềncao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, do công dân Việt nam từ 18 tuổitrở lên bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, tự do, trực tiếp và kín, nhiệm kỳ 3năm Nghị viện có những quyền hạn quan trọng như: giải quyết mọi vấn đềchung cho toàn quốc, đặt ra pháp luật, biểu quyết ngân sách, bầu Ban thường vụNghị viện, bầu Chủ tịch nước, biểu quyết chức danh Thủ tướng và danh sách các

Bộ trưởng… Bên cạnh đó Chương này cũng quy định cơ cấu, hoạt đông củaNghị viện nhân dân; quyền và nghĩa vụ của các nghị viên

Trang 17

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại biểu tham dự Kỳ họp thứ 1, Quốc hội khóa I tại Nhà hát Lớn Hà Nội, năm 1946.

Chương IV (từ Điều thứ 43 đến Điều thứ 56) quy định về Chính phủ,

Chương này quy định Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc,gồm “Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Phó Chủ tịch và Nội các Nộicác có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng Có thể có Phó Thủ tướng”(Điều thứ 44, Hiến pháp 1946). Quyền hạn của Chính phủ : Thi hành các đạoluật và quyết nghị của Nghị viện; Đề nghị những dự án luật ra trước Nghị viện;

Đề nghị những dự án Sắc luật ra trước Ban Thường vụ, trong lúc Nghị việnkhông họp mà gặp trường hợp đặc biệt; Bãi bỏ những mệnh lệnh và Nghị quyếtcủa cơ quan cấp dưới, nếu cần; Bổ nhiệm hoặc cách chức các nhân viên trongcác cơ quan hành chính hoặc chuyên môn; Thi hành luật động viên và mọiphương sách cần thiết để giữ gìn đất nước ; Lập dự án ngân sách hằng năm(Điều thứ 52) Bên cạnh đó Hiến pháp còn quy định chi tiết cơ cấu, thẩm quyền

và phương thức hoạt động của chính phủ

Trang 18

Ảnh: Chính phủ mới (3-11-1946)

Ảnh: Ngày 3/11/1946 cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Chính phủ ra mắt Quốc hội.

Chương V: (từ Điều thứ 57 đến Điều thứ 62) quy định về Hội đồng nhân

dân và Ủy ban hành chính Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và phải chịu trách nhiệmtrước nhân dân Ủy ban hành chính là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương,thực hiện những quyết định của hội đồng nhân dân và các cơ quan nhà nước cấptrên Chương này còn quy định về cơ cấu đơn vị hành chính lãnh thổ Việt Nam

Trang 19

Chương VI: (từ Điều thứ 63 đến Điều thứ 69) quy định về cơ quan tư

pháp, theo đó, các tòa án được chia thành 4 cấp, có trách nhiệm xét xử các vụ án

hình sự và dân sự Khi xét xử thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật Xét xử các vụ

án hình sự, phải có phụ thẩm nhân dân tham gia Thẩm phán do Chính phủ bổnhiệm Bị cáo được quyền tự bào chữa, mượn luật sư, dùng tiếng nói riêng vàkhông bị ngược đãi

Chương VII: (Điều thứ 70) quy định về việc sửa đổi Hiến pháp: Hiến pháp

chỉ được sửa đổi khi có không dưới 2/3 tổng số Nghị viện yêu cầu, Nghị việnbầu ra Ban Dự thảo những điều thay đổi và toàn dân phúc quyết những điều thayđổi đã được Nghị viện tán thành

  Ý nghĩa của Hiến pháp 1946

Hiến pháp 1946 là bản “Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà, là mộtvết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông” Hiến pháp 1946 đã ghinhận thành quả đấu tranh của nhân dân ta giành độc lập, tự do cho dân tộc, lật

đổ chế độ thực dân-phong kiến ở nước ta Đây là sự kiện đánh dấu sự "đổi đời"của đất nước và của nhân dân ta Hiến pháp năm 1946 đặt cơ sở pháp lý nền tảng

cho việc tổ chức và hoạt động của một "chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt" của

nhân dân với sự sáng tạo ra một hình thức chính thể cộng hòa dân chủ độc đáovới chế định Chủ tịch nước phù hợp với điều kiện chính trị-xã hội rất phức tạp ởnước ta giai đoạn này Nhiều nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhànước, nhiều quy định về quyền tự do, dân chủ của công dân ở Hiến pháp 1946mang tính tiến bộ, tính nhân văn sâu sắc, đến nay vẫn còn nguyên giá trị

Đánh giá về bản Hiến pháp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Đó là bảnHiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà” “Hiến pháp đó tuyên bố với thếgiới nước Việt Nam đã độc lập , dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tựdo , phụ nữ Việt Nam được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởngchung mọi quyền tự do của một công dân Hiến pháp đó đã nêu một tinh thầnđoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết,công bình của các giai cấp”

Trang 20

Ảnh: Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I - Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội. 

* Hiến pháp năm 1959 ( Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến pháp 1959 ngày 31/12/1959)

Hoàn cảnh ra đời

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, thực dân Pháp đã phải kí hiệp

định Giơ-ne-vơ (20/7/1954) Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng đất

nước tạm thời chia cắt thành hai miền Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mớilà: xây dựng chủ nghĩa XH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Thêmvào đó, quan hệ giai cấp trong XH miền Bắc đã thay đổi Giai cấp địa chủ phongkiến đã bị đánh đổ Liên minh giai cấp công nhân và nông dân ngày càng đượccủng cố và vững mạnh Hiến pháp 1946 “đã hoàn thành sứ mạng của nó Nhưng

so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thíchhợp nữa Vì vậy chúng ta cần sửa đổi Hiến pháp ấy” (Hồ Chí Minh- báo cáo về

Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 1959)

Ngày 23/1/1957 tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá I đã ra Nghị quyết vềviệc sửa đổi Hiến pháp và thành lập ban sửa đổi Hiến pháp đứng đầu là Chủ tịch

Hồ Chí Minh

Trang 21

Ảnh: Bác Hồ và Bác Tôn tham dự kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá I (từ ngày 29/12/1956 đến 25/1/1957) Tại kỳ họp, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết sửa đổi Hiến pháp năm 1946.

Ảnh: Tháng 05 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ

15 (khóa II) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì.

Ngày 1/4/1959, Dự thảo Hiến pháp sửa đổi công bố để nhân dân thảoluận, đóng góp ý kiến Ngày 31/12/1959 Tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa I, đã

Trang 22

thông qua Hiến pháp mới với sự nhất trí tuyệt đối 206 phiếu tán thành trên 206đại biểu có mặt Trong lời phát biểu sau khi Quốc Hội thông qua bản Hiến phápmới, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Bản Hiến pháp mới của chúng ta sẽkhuyến khích đồng bào miền Bắc thi đua xây dựng Chủ nghĩa xã hội, khuyếnkhích đồng bào miền Nam đấu tranh bền bỉ hơn nữa hơn nữa để đòi tự do dânchủ và thống nhất nước nhà Ngày 01/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắclệnh số 1 – SL công bố Hiến pháp mới 1959

Ảnh : Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại biểu Quốc hội khóa I nhất trí thông qua Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, ngày 18 tháng 12 năm 1959

Ảnh: Quốc hội khóa I nhất trí thông qua Hiến pháp mới (1959)

Trang 23

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa, ngày 1 tháng 1 năm 1960.

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II (1960)

Sở dĩ Hiến pháp 1959 được gọi là Hiến pháp sửa đổi là vì 1ý do chính trị.Lúc đó, nước ta bị chia cắt thành hai miền, không thể tiến hành tổng tuyển cử đểbầu ra một Quốc hội để xây dựng một bản Hiến pháp mới Chính vì vậy cần

Trang 24

phải lấy danh nghĩa Hiến pháp sửa đổi để đảm bảo việc sửa đổi Hiến pháp vẫnđược thông qua bởi các đại biểu đã được bầu trong tổng tuyển cử ngày 6/1/1946với đầy đủ thành phần đại biểu của nhân dân hai miền.

Nội dung Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1959 là bản hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên của nước ta.Hiến pháp 1959 gồm có lời nói đầu và 112 điều chia thành 10 chương

Lời nói đầu khẳng định những thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam,khẳng định những truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam Lời nói đầu ghinhận vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng cộng sản ViệtNam) đồng thời xác định bản chất của NN ta là NN dân chủ nhân dân dựa trênnền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo Khẳng định vịtrí của Việt Nam trên thương trường quốc tế

Chương I: Gồm 8 điều quy định về “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”:

chính thể của Nhà nước (NN) ta vẫn là NN cộng hoà dân chủ nhân dân, xác địnhtất cả quyền lực của NN đều thuộc về nhân dân Hiến pháp khẳng định ViệtNam là một khối thống nhất không thể chia cắt, khẳng định nguyên tắc bìnhđẳng và đoàn kết dân tộc…

Chương II: Gồm 13 điều quy định về “Chế độ kinh tế và xã hội” bao gồm đường lối, chính sách phát triển KT, các hình thức sở hữu (NN, tập thể, của người lao động riêng lẻ và của nhà tư sản dân tộc), về chính sách KT của NN

đối với các thành phần KT … so với Hiến pháp 1946 thì chương này là mộtchương hoàn toàn mới Chương này được xây dựng theo mô hình của Hiến phápcác nước XHCN Vì vậy, ngoài việc quy định KT quốc doanh giữ vai trò chủđạo trong nền KT quốc dân, Hiến pháp còn quy định NN lãnh đạo hoạt động KTtheo một kế hoạch thống nhất

Chương III: Gồm 21 điều quy định “Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân” Ở chương này, Hiến pháp1959 đã kế thừa và phát triển các quy định

của Hiến pháp 1946 về các quyền và nghĩa vụ của công dân, đồng thời quy địnhnhững quyền và nghĩa vụ mới như: quyền của người lao động được giúp đỡ vật

Trang 25

chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động (điều 32); quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật (điều 34); quyền khiếu nại, tố cáo (điều 29); nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng (điều 46)…

Chương IV: Quốc hội, bao gồm 18 điều quy định các vấn đề liên quan đến

chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội-cơ quan quyềnlực NN cao nhất So với nhiệm kỳ của Nghị viện theo Hiến pháp 1946 thì nhiệm

kỳ của Quốc hội dài hơn (04 năm so với Hiến pháp 1946 là 03 năm) Hiến pháp

1959 thì quy định quyền hạn của Quốc hội cụ thể hơn (điều 50) Quốc hội có cơ

quan thường trực là Ủy ban Thường vụ Quốc hội Ngoài ra, Quốc hội còn thành

lập các Uỷ ban chuyên trách (Uỷ ban dự án PL, Uỷ ban kế hoạch và ngân sách,

Uỷ ban thẩm tra tư cách của các đại biểu và các Uỷ ban khác mà Quốc hội thấy cần thiết)….

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam (5/9/1960)

Chương V: Chủ tịch nước, bao gồm 10 điều Theo Hiến pháp 1959 thì Chủ tịch nước và Phó chủ tịch nước không nằm trong thành phần Chính Phủ.

Chủ tịch nước chỉ là người đừng đầu NN về mặt đối nội cũng như đối ngoại Vìvậy, chế định Chủ tịch nước được quy định thành một chương riêng

Trang 26

So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 quy định Chủ tịch nước từ 35tuổi trở lên, là công dân của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và không nhấtthiết phải là đại biểu Quốc hội Quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp

1959 hẹp hơn so với Hiến pháp1946 như không còn quyền đứng đầu Chính phủ,không còn quyền ban hành sắc lệnh, quyền yêu cầu Quốc hội thảo luận và biểuquyết lại dự luật đã thông qua, không là tổng chỉ huy quân đội, chỉ thống lĩnhcác lực lượng vũ trang…

Chương VI: Hội đồng Chính Phủ bao gồm 07 điều Theo quy định của

điều 71 thì Hội đồng Chính Phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực

NN cao nhất và cũng là cơ quan hành chính cao nhất Quy định này chứng tỏHội đồng Chính Phủ theo Hiến pháp 1959 được tổ chức hoàn toàn theo mô hìnhChính Phủ của các nước XH chủ nghĩa Về thành phần của hội đồng Chính Phủ

(điều 72) không có Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước và các Thứ trưởng.

Chương VII: Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân gồm 15 điều.

Hiến pháp 1959 “Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân” không còn trựcthuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách nhiệm và báo cáo trước cơ quan quyềnlực Nhà nước đó là Quốc Hội Hiến pháp 1959 quy định thành lập hệ thống Toà

án tương ứng với các cấp chính quyền địa phương từ cấp huyện trở lên, do cơquan dân cử cùng cấp bầu; quy định thành lập hệ thống Viện kiểm sát độc lập,theo nguyên tắc tập trung thống nhất để thực hiện chức năng giám sát theo PL

và công tố… Hệ thống Tòa án nhân dân theo Hiến pháp 1959 bao gồm Tòa ánnhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án Quân sự Trongtrường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc Hội có thể quyết định thànhlập Tòa án đặt biệt (Điều 97) Điểm thay đổi đáng kể trong các quy định về Tòa

án trong Hiến pháp 1959 là các “Tòa án nhân dân thực hành chế độ Thẩm phánbầu theo quy định của pháp luật”(Điều 98) Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân

có Hội thẩm nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật Khi xét xử, Hộithẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán (Điều 99) Khi xét xử, Tòa án nhândân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 100) Tòa án nhân dân tốicao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tòa án

Trang 27

nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân địa phương, Tòa

án Quân sự và Tòa án đặc biệt (Điều 103)

Về hệ thống Viện Kiểm sát, Hiến pháp năm 1959 quy định: “Viện Kiểmsát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theopháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địaphương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân Các Viện Kiểm sát nhândân địa phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi doLuật định” (Điều 105)

Chương VIII: HĐND và Uỷ ban hành chính địa phương các cấp bao gồm

14 điều So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 quy định 04 cấp chính quyền

(trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã), cấp bộ được bãi bỏ Các đơn vị

hành chính đều tổ chức HĐND và Uỷ ban hành chính, các cơ quan dân cử được

đề cao, được xác định là cơ quan quyền lực NN ở mỗi cấp Uỷ ban hành chínhcấp nào do HĐND cấp đó bầu ra

Chương IX: Quy định về Quốc kỳ, Quốc huy và Thủ đô.

Chương X: Quy định về sửa đổi Hiến pháp.

Ý nghĩa của Hiến pháp 1959

Hiến pháp 1959 ghi nhận thành quả đấu tranh giữ nước và xây dựng đấtnước của nhân dân ta, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam(tức Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) trong sự nghiệp cách mạng nước ta.Hiến pháp 1959 là Hiến pháp XHCN đầu tiên của nước ta đặt cơ sở pháp lýnền tảng cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta không qua giai đoạn pháttriển tư bản chủ nghĩa Nguyên tắc tập quyền XHCN được đề cao

Hiến pháp 1959 là cương lĩnh đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhấtnước nhà

Trang 28

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp với các cháu thiếu nhi ở tập thể Văn phòng Ban Thường trực Quốc hội (ảnh chụp ngày 15-12-1959) tại trụ sở Văn phòng Ban Thường

trực Quốc hội, 22 Lý Thường Kiệt, Hà Nội

Ảnh: các đại biểu Quốc hội khóa VIII nhất trí thông qua nghị quyết của

Quốc hội

Trang 29

Ảnh: Quốc hội thông qua Hiến pháp mới- Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên

Trang 30

Chiến sĩ Hải quân Hạm đội 147 bầu cử đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất tại hòm phiếu số 512, khu vực 4, TP HCM, tháng 4/1976.

Ảnh: Nhân dân Hà nội đi bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất

Trang 31

Ảnh: cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội thống nhất

Cuộc tổng tuyển cử ngày 25/4/1976, cử tri cả nước đã bầu ra Quốc hội

thống nhất Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội thống nhất (25/6/1976), Quốc hội

đã thông qua những Nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết về việc sửađổi Hiến pháp 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 vị do Chủtịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh làm chủ tịch

Ảnh: Toàn cảnh phiên họp đầu tiên Quốc hội nước Việt Nam thống nhất

Trang 32

Sau hơn một năm chuẩn bị khẩn trương, dự thảo Hiến pháp đã được lấy ýkiến, thảo luận trong cán bộ và nhân dân Ngày 18/12/1980 tại kỳ thứ 7 Quốchội khoá VI đã chính thức thông qua Hiến pháp mới Hiến pháp 1980 được xâydựng và thông qua trong không khí hào hùng và tràn đầy niềm tự hào dân tộc

sau Đại thắng mùa xuân năm 1975 Với tinh thần “lạc quan cách mạng” và

mong muốn nhanh chóng xây dựng thắng lợi CNXH tiến tới CNCS ở nước ta,bản Hiến pháp này không tránh khỏi các quy định mang tính chủ quan, duy ý chí

và quan niệm giản đơn về CNXH

Nội dung của Hiến pháp

Kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946 và Hiến pháp

1959, Hiến pháp năm 1980 gồm Lời nói đầu, 147 điều chia làm 12 chương

Chương I: Qui định về “Chế độ chính trị của NN CHXHCN Việt Nam”,

bao gồm 14 điều

Chương này xác định bản chất giai cấp của Nhà nước ta là Nhà nướcchuyên chính vô sản, sứ mệnh lịch sử của Nhà nước là thực hiện quyền làm chủtập thể của nhân dân lao động, xây dựng thắng lợi CNXH, tiến tới chủ nghĩacộng sản (Điều 2); lần đầu tiên Hiến pháp 1980 thể chế hóa chính thức vai tròlãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội không chỉtrong Lời nói đầu như Hiến pháp 1959, mà còn có một điều riêng quy định rõ vềvấn đề này (Điều 4)…

Chương II: Chế độ Kinh tế gồm 22 điều

NN tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất, cải tạo các thành phần Kinh

tế phi XHCN, thiết lập và củng cố chế độ sở hữu XHCN nhằm xây dựng mộtnền Kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần là: Kinh tế quốc doanh thuộc sở

hữu toàn dân và Kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể (Điều 18) Nhà nước

lãnh đạo nền Kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất (Điều 33)…

Chương III: Văn hoá, giáo dục, khoa học, kỹ thuật; bao gồm 13 điều

Trang 33

Đây là một chương hoàn toàn mới Chương này quy dịnh mục tiêu của

cách mạng tư tưởng và văn hoá (Điều 37), xác định chính sách về khoa học, kỹ

thuật, văn học, nghệ thuật và các công tác thông tin báo chí, xuất bản, thư viện,phát thanh, truyền hình,…

Chương IV: Bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, bao gồm 3 điều

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, vấn đề này được xây dựng thành mộtchương riêng trong Hiến pháp Chương này xác định đường lối quốc phòng của

Nhà nước (Điều 50), xác định nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang nhân dân

(Điều 51) và việc thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự (Điều 52)

Chương V: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bao gồm 32 điều.

Kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959

về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Hiến pháp 1980 quy định thêmmột số quyền mới của công dân như quyền tham gia quản lý công việc của Nhànước và xã hội (Điều 56), quyền học không phải trả tiền (Điều 60), khám bệnh

và chữa bệnh không phải trả tiền (Điều 61), quyền có nhà ở (Điều 62),…

Về các nghĩa vụ của công dân, Hiến pháp 1980 qui định thêm: Công dân

có nghĩa vụ tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (Điều 77), nghĩa vụ tuân

theo kỷ luật lao động, bảo vệ an ninh chính trị, tôn trọng những quy tắc của cuộc

sống Xã hội (Điều 78), nghĩa vụ lao động công ích (Điều 80)….

Do quan niệm giản đơn về CNXH, cũng như bệnh chủ quan, duy ý chí khithông qua Hiến pháp 1980, nên nhiều quyền của công dân đề ra quá cao, khôngphù hợp với điều kiện và trình độ phát triển Kinh tế – Xã hội và vì thế các quyềnnày không mang tính khả thi, không có điều kiện vật chất để đảm bảo thực hiện

Chương VI: Quốc hội, bao gồm 16 điều

Trang 34

Ảnh:Quốc Hội nước Việt Nam thống nhất

So với Hiến pháp 1959 thì về cơ bản, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củaQuốc hội theo Hiến pháp 1980 là không thay đổi Nhưng về cơ cấu tổ chứcQuốc hội thì có sự thay đổi lớn Theo Hiến pháp 1980, cơ quan thường trực củaQuốc hội là Hội đồng NN, đây cũng là Chủ tịch tập thể của Nhà nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hiến pháp 1959 quy định khi Quốc hội họp thì bầuchủ tịch đoàn để điều khiển cuộc họp Theo Hiến pháp 1980, thì Quốc hội sẽ bầu

ra Chủ tịch và Phó chủ tịch Quốc hội Đây là những chức danh mới theo Hiếnpháp 1980

Hiến pháp 1980 đề cao một cách quá mức vai trò, thẩm quyền của các cơquan dân cử ở trung ương và địa phương, như : Quốc hội có quyền tự "định chomình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết"; "Hội đồng

Trang 35

nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương", " quyết định các chủtrương, biện pháp nhằm xây dựng và phát triển địa phương về mọi mặt"…

Hiến pháp đề cao quá mức quyền hạn của Quốc hội bằng quy định:”Quốc hội có quyền tự định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết”.

Chương VII: Hội đồng Nhà nước, bao gồm 6 điều.

Đây là một chương mới so với Hiến pháp 1959 Hội đồng Nhà nước vừa

là cơ quan cao nhất, hoạt động thường xuyên của Quốc hội, vừa là Chủ tịch tậpthể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hội đồng Nhà nước cónhiệm vụ, quyền hạn rất lớn bởi vì vừa thực hiện chức năng của Uỷ ban thường

vụ Quốc hội, vừa thực hiện chức năng Chủ tịch nước Quốc hội có thể giao choHội đồng Nhà nước những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết

Thể chế Chủ tịch nước tập thể trong thực tiễn đã thể hiện những ưu điểm

và nhược điểm của nó Ưu điểm của thể chế này là các vấn đề quan trọng củađất nước đều được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số, như vậy thườngvững vàng hơn so với một người quyết định Nhược điểm của nó là do mọi vấn

đề phải bàn bạc tập thể nên công việc nhiều khi chậm chạp, trách nhiệm của Chủtịch Hội đồng NN chưa thật rõ ràng…

Chương VIII: Hội đồng Bộ trưởng, bao gồm 8 điều

Hội đồng Bộ trưởng là Chính phủ của nuớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam là “cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực

NN cao nhất” Với quy định này, chúng ta thấy tính độc lập của Chính phủ

trong quan hệ với Quốc hội bị hạn chế So với Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980quy định cho Hội đồng Bộ trưởng một số quyền hạn mới cho phù hợp với nhucầu Xã hội như tổ chức và lãnh đạo công tác trọng tài Nhà nước về Kinh tế, tổchức và lãnh đạo công tác bảo hiểm Nhà nước… Hiến pháp 1980 qui định tráchnhiệm tập thể của các thành viên Hội đồng Bộ trưởng trước Quốc hội và Hộiđồng Nhà nước

Trang 36

Chương IX: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (14 điều ).

Chương này quy định về phân cấp hành chính ở nước ta, xác định vị trí,tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.Hiến pháp 1980 quy định nước ta có ba cấp hành chính Đó là tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương và cấp tương đương; huyện, quận, thành phố trực thuộctỉnh và thị xã; xã, phường, thị trấn

Khu tự trị đã được bãi bỏ nhưng lập thêm khu vực hành chính đặc khu Ởtất cả các đơn vị hành chính nói trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷban nhân dân…

ChươngX: Toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân (15 điều).

Các quy định về chương này về cơ bản giống với Hiến pháp 1959

ChươngXI: Quy định Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca và Thủ đô.

Chương XII: Quy định hiệu lực của Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp

Ý nghĩa của Hiến pháp 1980

Hiến pháp 1980 là Hiến pháp của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa ViệtNam thống nhất, Hiến pháp của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội trong phạm

vi cả nước Đây là văn bản pháp lý tổng kết và khẳng định những thành quả đấutranh cách mạng giành độc lập, tự do, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc chonhân dân Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thể hiện ý chí và nguyện vọng củanhân dân ta quyết tâm xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa Từ bản Hiến pháp này nước ta thực hiện cơ chế “Đảng lãnhđạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý"

Trang 37

Quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ ký lệnh công bố Hiến pháp mới

Ngày 18 tháng 12 năm 1980.

* Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): Được thông qua tại

kỳ họp thứ 11 ngày 15/04/1992 Quốc hội khóa VIII đã thông qua Hiến pháp

1992 và được sửa đổi, bổ sung ngày 25 tháng 12 năm 2001 theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 )

Hoàn cảnh ra đời

Nếu như Hiến pháp 1980 được xây dựng và thông qua trong hoàn cảnhđất nước chan hòa khí thế lạc quan, hào hùng của đại thắng mùa xuân năm 1975,đất nước ta sạch bóng quân xâm lược Trên thế giới, Hiến pháp của các nước Xã

Trang 38

hội chủ nghĩa được ban hành vào cuối những năm 60-70 đã khẳng định đây làthời kì xây dựng Chủ nghĩa xã hội phát triển, đang thịnh hành cơ chế quản lý tậptrung quan liêu, bao cấp và phổ biến quan điểm giáo điều, giản đơn về Chủnghĩa xã hội Điều này đã để lại dấu ấn trong nội dung của Hiến pháp 1980 và

là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội của đấtnước

Sau một thời gian dài áp dụng, Hiến pháp 1980 đã tỏ ra không còn phùhợp với điều kiện Kinh tế, Xã hội của đất nước Để đưa đất nước thoát ra khỏitình trạng khủng hoảng, đi dần vào thế ổn định và phát triển, Đại hội Đảng lầnthứ VI năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới trên tất cả các lĩnh vực Kinh tế,chính trị, Xã hội , chính sách đối ngoại,…đặc biệt là đổi mới về Kinh tế - đây làĐại hội mở ra thời kỳ mới về phát triển Kinh tế đất nước với những chủ trươngcủa Đảng là nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện ra những sai lầm trong chủ trương,đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy nền dân chủ Xã hội chủnghĩa, phát huy sự sáng tạo của nhân dân lao động từ đó nhận thức đúng đắnhơn về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm cho dân giàu, nướcmạnh, Xã hội công bằng, văn minh

Nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách về đổi mới chính sách đối ngoại, tháng12/1988 Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi lời nói đầu Hiến pháp 1980, bỏhết những câu chỉ đích danh từng tên thực dân, từng tên đế quốc,…để thực hiện

phương châm “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” với những nước đã từng

xâm lược và gây tội ác đối với nhân dân ta

Để dân chủ hoá đời sống chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,tăng cường vị trí và vai trò của các cơ quan dân cử ở địa phương, ngày30/6/1989, tại kỳ họp thứ 5 nhiệm kỳ khoá VIII đã thông qua Nghị quyết sửa đổi

7 điều Hiến pháp 1980 để qui định thêm công dân có quyền tự ứng cử đại biểuQuốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân quy định việc thành lập cơ quan thườngtrực Hội đồng nhân dân từ cấp huyện trở lên

Trang 39

Cũng trong kỳ họp này, Quốc hội ra Nghị quyết thành lập Uỷ ban soạnthảo sửa đổi Hiến pháp để sửa đổi một cách cơ bản, toàn diện Hiến pháp 1980nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới Uỷ ban này gồm 28 người,

do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm chủ tịch

Cuối năm 1991 đầu năm 1992, bản dự thảo Hiến pháp lần thứ ba đã đượcđưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân Ngày 15/04/1992 tại kỳ họp thứ 11 Quốc hộikhóa VIII đã thông qua Hiến pháp 1992

Nội dung của Hiến pháp 1992.

Hiến pháp 1992 gồm lời nói đầu và 147 điều chia làm 12 chương

Lời nói đầu: Ghi nhận những thành quả của cách mạng Việt Nam, xác

định những nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới và xác định những vấn đề

cơ bản mà Hiến pháp sẽ quy định

Chương I: Chế độ chính trị cũng bao gồm 14 điều như Hiến pháp năm

1980

Khác với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 không dùng thuật ngữ “Nhà

nước chuyên chính vô sản” mà dùng thuật ngữ “Nhà nước của dân, do dân và vì dân” Việc thay đổi này không làm thay đổi bản chất của Nhà nước mà chỉ làm

rõ thêm bản chất của Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” phù hợp với chínhsách đoàn kết các dân tộc, các tầng lớp trong Xã hội cũng như phù hợp với xuthế chung của thế giới và thời đại Hiến pháp 1992 đề cao vai trò của Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của nó là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân Hiến pháp 1992 quy định một đường lối đối ngoại rộng mở

Chương II: Chế độ Kinh tế gồm 15 điều

Chương này được thay đổi một cách cơ bản nhất, thể hiện rõ nét quanđiểm đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Hiến pháp 1992 đã chuyển đổi từ nềnKinh tế kế hoạch hóa tập trung hai thành phần sang nền Kinh tế hàng hoá thịtrường nhiều thành phần Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, Hiếnpháp quy định: Kinh tế cá thể, Kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ

Trang 40

chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không hạn chế về quy

mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh (Điều 21).Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần Kinh tế được liên doanh, liên kết với các cánhân, tổ chức Kinh tế trong và ngoài nước theo quy định của Pháp luật (điều

22) Như vậy, Hiến pháp đã xác định sự bình đẳng của các thành phần Kinh tế

trước Pháp luật Hơn nữa, Nhà nước ta còn khuyến khích đầu tư nước ngoài…

Chương III: Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ; bao gồm 14 điều.

Xác định đường lối bảo tồn và phát triển nền văn hoá Việt Nam, “giáo dục vàđào tạo là quốc sách hàng đầu” Có thể nói rằng, Hiến pháp 1992 đánh dấu bướcphát triển mới trong chính sách giáo dục và đào tạo của nước ta

Chương IV: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; bao gồm 5 điều Xác định

đường lối quốc phòng toàn dân Hiến pháp 1992 còn quy định bổ sung thêm vềnhiệm vụ xây dựng công an nhân dân…

Chương V: Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bao gồm 34 điều So

với Hiến pháp 1980 thì chương này trong Hiến pháp 1992 có nhiều điều hơn,nhiều quyền lợi và nghĩa vụ được bổ sung và sửa đổi Lần đầu tiên trong Hiến

pháp 1992 quy định các quyền con người về chính trị, dân sự, Kinh tế, văn hoá

và Xã hội được tôn trọng” (Điều 50), quyền tự do kinh doanh của công dân đượcxác lập (Điều 57), công dân có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn và tài sảntrong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức Kinh tế khác” (Điều 58) Ngoài việcthiết lập các quyền mới kể trên, hiến pháp còn sửa đổi một số quy định về quyềncủa công dân không phù hợp với điều kiện Kinh tế xã hội của đất nước và không

có tính khả thi

Chương VI: Quốc hội; bao gồm 18 điều

Hiến pháp 1992 có bổ sung thêm về quyền hạn của Quốc hội như quyếtđịnh xây dựng chương trình luật, pháp lệnh; quyết định chính sách dân tộc củaNhà nước; quyết định trưng cầu dân ý (Điều 48) Về cơ cấu tổ chức Quốc hội,Hiến pháp 1992 có một số thay đổi nhất định: bỏ thiết chế Hội đồng Nhà nước,khôi phục lại chế định Uỷ ban thường vụ Quốc hội và chế định Chủ tịch nước

Ngày đăng: 18/02/2023, 08:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w