1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài “haecceitas” (sở ngã tính) và “dasein” (hiện tính thể) trong quan niệm của j.d.scotus và m.heidegger

22 619 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 369,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

McGrath cho rằng, “món nợ của Heidegger với Doctor Subtilis Tiến sĩ tế vi - Scotus thường được gọi như vậy sống cuối thế kỷ XIII được thể hiện ở trang đầu cuốn “Thể tính và thời tính”,

Trang 1

Nghiên cứu triết học

Đề tài: " “HAECCEITAS” (SỞ NGÃ TÍNH)

VÀ “DASEIN” (HIỆN TÍNH THỂ) TRONG QUAN NIỆM CỦA J.D.SCOTUS VÀ

M.HEIDEGGER "

Trang 2

“HAECCEITAS” (SỞ NGÃ TÍNH) VÀ “DASEIN” (HIỆN TÍNH THỂ) TRONG QUAN NIỆM CỦA J.D.SCOTUS VÀ M.HEIDEGGER

ALEXIS TRẦN ĐỨC HẢI (*)

Nghiên cứu so sánh hai khái niệm “Haecceitas” (Sở ngã tính) và “Dasein” (Hiện tính thể) trong quan niệm của J.D.Scotus và M.Heidegger, làm rõ sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm của các ông về hai khái niệm này, trong bài viết này, tác giả đã cho thấy, cả D.Scotus lẫn M.Heidegger đều muốn nhấn mạnh cá nhân tính, độc nhất tính, tính cao cả và phẩm giá con người Song, do bối cảnh lịch sử và văn hoá rất khác xa nhau, trong quan niệm của các ông đã có sự khác biệt Do vậy, mặc dầu cả hai ông đều phát hiện ra “nỗi

cô đơn tột cùng” và “tính thể quy tử” của mỗi con người, song cách giải thích của hai ông về vấn đề này cũng không giống nhau Sự khác biệt này bắt nguồn

từ sự hiểu biết rất khác nhau về ý nghĩa của hiện hữu tính

Chào đời ngày 26-9-1889 tại Messkirch, miền tây nam nước Đức, có cha mẹ là người Công giáo đạo đức, Martin Heidegger học triết học với tư cách là một ứng sinh trẻ cho chức linh mục Công giáo, “nhưng sau hai năm(1) học thần học tại Đại học Freiburg, chứng đau tim tái diễn làm tắt các hy vọng này”(2) Những năm học thần học như thế đã giúp Heidegger làm quen với triết học Kinh viện thời Trung cổ theo trường phái Aristotle Thời gian này, Heidegger

gặp một vấn đề có tầm quan trọng hiện đại - “Vấn đề trạng thái của ý nghĩa luận lý” “Xác tín rằng các nguồn của Kinh viện – và nhất là Scotus, một triết

gia sắc sảo vào bậc nhất về luận lý và hiện sinh của thời Trung cổ, có thể giúp ông thành công trong việc giải quyết các vấn đề này”, nghĩa là “một vấn đề

mang ý nghĩa siêu hình: luận lý học đòi hỏi “viễn ảnh đích thực của nó”, đó là

siêu hình học” (FS 2 406)(3) Ông muốn thực hiện cuộc đối thoại với John Duns Scotus (1266 – 1308) từ lập trường của triết gia Edmund Husserl và luận

Trang 3

lý học hiện đại của Đức(4) Việc này dẫn đưa Heidegger viết cuốn sách nổi

tiếng về Duns Scotus - Lý thuyết các phạm trù và ý nghĩa trong học thuyết

và tập bài giảng bậc đại học năm 1915 mang tựa đề Khái niệm thời tính trong khoa học lịch sử McGrath cho rằng, “món nợ của Heidegger với Doctor

Subtilis (Tiến sĩ tế vi - Scotus thường được gọi như vậy) sống cuối thế kỷ XIII

được thể hiện ở trang đầu cuốn “Thể tính và thời tính”, trong đó ông không hỏi

về hữu thể, nhưng hỏi về ý nghĩa của hữu thể, và ông viết: “biên độ khả thể tính thì rộng lớn hơn thực thể tính”(6)

Các chi tiết lịch sử này về mối liên hệ giữa Heidegger(7) - một triết gia hiện tượng luận và hiện sinh nổi tiếng của thế kỷ XX, và một triết gia kiêm thần học gia sống vào cuối thế kỷ XIII, đã dẫn tôi cố gắng so sánh đặc tính riêng về triết

học của hai người: “Dasein” và “Haecceitas” Qua hai thuật ngữ này, Scotus

và Heidegger đều muốn nhấn mạnh đến cá nhân tính, độc nhất tính, tính cao cả

và phẩm giá con người Tuy nhiên, do hai bối cảnh lịch sử và văn hóa rất khác

xa nhau, “nhất là do khái niệm con người có về chính bản thân mình”(8) có thể

đã không xuất hiện một số khác biệt trong quan điểm tác động lên thái độ hiện

sinh của hai vị trong cuộc sống? Sau đây, tôi sẽ lần lượt trình bày Haecceitas, Dasein của Scotus và Heidegger để sau đó, so sánh hai khái niệm này trên một

số điểm chính

1 Haecceitas(9)

1.1 Định nghĩa

Xét về từ nguyên, từ Latinh này – một từ ngữ của triết học Trung cổ, do Duns

Scotus đặt ra – thường được dịch là “this-ness” (“sở ngã tính”, từ chữ haec, nghĩa là "cái này"), đối lập với chữ “quidditas”, "whatness" (“yếu tính”, từ chữ quid, có nghĩa là "cái gì") để nói lên các phẩm chất riêng, đặc tính hoặc đặc

điểm của một vật và làm cho vật ấy trở nên một vật đặc biệt, nghĩa là lý do tại

Trang 4

sao cá nhân này là cá nhân này chứ không thể là cá nhân khác(10) “Thisness” (sở ngã tính) là yếu tố quyết định, riêng biệt cho cá nhân ấy, làm cho cá nhân

ấy vốn là cá nhân hóa thành một người, chẳng hạn biết người ấy chắc chắn là

Socrates, chứ không thể là Plato, hoặc Aristotle Chẳng hạn, Socrate-tính có thể diễn tả “haecceity” của Socrates; Platon-tính là “haecceity” của Plato, v.v

Nói tóm lại, đó là tính độc nhất, sự hoàn hảo duy nhất, tính độc đáo(11) tạo cho mỗi người và mỗi vật có một giá trị nội tại và miên viễn Triết gia Gabriel

Marcel có lý khi nói: “Điều hiện hữu và đáng kể, đó là cá nhân này, là thực tại

“Haecceity” (Sở ngã tính) hoặc “Thisness” (Sở ngã) như sau: (1) nó làm cho mỗi cá nhân là độc nhất và không thể có bản sao, ngay cả bởi Thiên Chúa toàn năng; và (2) nó phân biệt tận gốc và tận cùng cá nhân này với cá nhân khác, dù các cá nhân này khác biệt hoặc giống nhau trong chủng loại”(13)

1.2 Tính chất đa chiều của Haecceitas (Sở ngã tính)

1.2.1 Di sản linh đạo Phan Sinh

Scotus ủng hộ cá nhân tính độc nhất và cụ thể, không chỉ vì ông “đi theo xu

phần đời trí thức với tư cách một sinh viên và sau đó là giáo sư(15), mà còn vì ông thừa hưởng sự chọn lựa này từ thánh Phanxicô Átxidi - một con người vô địch về cổ vũ trong luật Dòng tầm quan trọng của mỗi cá nhân, bằng cách nhường phần lớn cho linh hứng và ơn Chúa dẫn dắt Chính cá nhân là quan trọng nhất cho vũ trụ trật tự của Chúa và là một giá trị không thể chuyển

nhượng được trong cái nhìn của Chúa Thái độ tôn trọng của thánh Phanxicô đối với mỗi một cá nhân là một sự tôn trọng, bất chấp cá nhân đó là ai, bất kể các đức tính và sự nghiệp mà cá nhân ấy đáng hưởng, chỉ bởi cá nhân ấy được Thiên Chúa sáng tạo một cách đặc biệt Thánh nhân đã khuyên nhủ chúng ta:

“Anh em hãy thể hiện phẩm giá mà Chúa trao cho anh em” Nét độc đáo này của truyền thống linh đạo Phan Sinh đã làm cho một triết gia nghiên cứu về

Trang 5

thời Trung cổ - J.W Thompson khẳng định mạnh mẽ: “Một cá nhân luôn có giá trị hơn mọi vật phổ quát trên thế giới… Thiên Chúa không dựng nên thế giới vì lợi ích của con người phổ quát, nhưng vì lợi ích của từng cá nhân

một”(16) Người ta có thể nói rằng, Scotus biết lợi dụng ngôn ngữ triết học để diễn tả điều đã được thánh Phanxicô thể hiện cụ thể trong cuộc đời Ngài Thật vậy, khi nhìn thế giới, thánh Phanxicô yêu thương mọi loài thụ tạo, loài động thực vật cũng như loài bất động, bởi thật ra trong Giao ước, Thiên Chúa đã có

sự cam kết không chỉ với loài người, mà còn với mọi loài mà Người đã dựng nên (xem St 9, 12-13): “Thay vì nói Sở ngã tính, Ngài nói anh chị em”(17)

Trong tạo dựng, con người chúng ta cũng ngang bằng với các loài thụ tạo khác, bởi tất cả mọi loài thụ tạo đều diễn tả Chân, Thiện, Mỹ của Thiên Chúa(18)

Thánh Phanxicô sống “haecceitas” của Anh Mặt Trời, Chị Mặt Trăng, chị

Chết, anh Lửa, anh Leo, anh Bernard… “Mọi loài trong công trình sáng tạo của Thiên Chúa là anh chúng ta, là chị chúng ta, như thánh Phanxicô đã gọi

một cách thi vị trong Bài ca mặt trời, hoặc Bài ca các tạo vật” Bài ca này giúp

chúng ta tôn trọng mọi tạo vật do Chúa tạo nên và nhất là, tôn trọng Trái đất quí giá này, con tàu vũ trụ xinh đẹp của chúng ta, tài sản chung của cả nhân loại”(19)

1.2.2 Sự độc nhất bí nhiệm

Tuy nhiên, nói chung, haecceitas được hiểu một cách sống động nhất trong

mối quan hệ giữa con người với con người Nó liên can đến mỗi cá nhân, nhắc

mà thôi “Bằng cách loại bỏ thuyết yếu tính của Platon, Scotus đặt bước đầu

cho việc cá nhân hóa thực sự, mà nguyên lý không gì khác hơn là ultima

realitas entis(21) (thực tại sau cùng của hữu thể); và các loài thụ tạo tìm thấy

ở đây sự biện minh đầy đủ của mình”(22) Mỗi cá nhân là một hữu thể và vốn

dĩ đã phong phú hơn yếu tính riêng của mình Như vậy, Haecceitas là sự hoàn

hảo sau cùng của một vật, một sự hoàn hảo cần thiết cho sự hiện hữu cụ thể

Trang 6

của một vật Cá nhân chỉ hiện hữu trong ý nghĩa đầy đủ của hạn từ như thế, bởi chỉ một mình nó là hữu thể đích thực(23), có một “nỗi cô đơn tột cùng”(24) và

do vậy, nó tạo nên sự bí nhiệm của căn tính mỗi cá nhân Ingham đã diễn tả tuyệt vời căn tính duy nhất bí nhiệm này của mỗi con người qua mọi thời gian,

như sau: “Haecceitas nêu ra được điều không thể diễn tả trong mỗi hữu thể

Tính thánh thiêng của mỗi người, và cả của mỗi hữu thể, được diễn tả một cách triết học trong từ ngữ Latinh này Theo Scotus, trật tự được tạo thành…, được phú cho một ánh sáng nội tâm, và ánh sáng này chiếu rọi ra ngoài từ tận nguồn mạch bên trong của nó… Nguồn ánh sáng này đã được Đấng Tạo hoá ban cho mỗi hữu thể Mỗi hữu thể trong trật tự sáng tạo đã sở hữu một phẩm giá nội tại; phẩm giá này được Thiên Chúa yêu thương ban tặng cùng với một

sự thánh thiện vượt quá khả năng hiểu biết của chúng ta”(25)

Việc nhấn mạnh vào tính cao cả và phẩm giá của con người - cái vốn làm thành chiều kích hiện sinh của học thuyết Scotus đã giúp Scotus đồng thời

nhấn mạnh cả sức mạnh tự quyết nội tại (ab intrinseco) của ý chí đối với sự

thiện được khám phá - và điều này được ý chí thể hiện một cách tự tại -, để rồi, sau đó ông mới nhấn mạnh đến sự tự do và tình yêu(26) Sự tự do không phải

là cái gì khác hơn ngoài lý do mà nhờ đó, sức mạnh ý chí nổi trội trong phẩm

giá, là điều kiện sine qua non (không thể không có) của ý chí Thánh Âu Tinh

Mặc dầu sự tự do được mọi người nhất trí nhìn nhận như một nét cơ bản của con người, song sự hiểu biết về bản tính và cách giải thích thì nó thật đa dạng

Về điểm này, Scotus đưa ra cái nhìn gợi ý như sau: Cái mà chúng ta lựa chọn

để đưa mình đến một trạng thái sống quyết liệt, hoặc là làm chúng ta mở rộng lòng ra hơn hoặc khép kín lòng hơn trước các cảm nghiệm mà chúng ta có thêm về sự Thiện Như vậy, sự chọn lựa là quan trọng, vì nó thể hiện bản chất con người chúng ta là gì, chúng ta sẽ trở thành ai và chúng ta sẽ hoàn thành điều đó như thế nào… Sự đóng góp quan trọng của Scotus là ở chỗ đã giúp

Trang 7

chúng ta có được sự hiểu biết về tự do, một sự tự do công nhận việc lựa chọn phản ảnh một thực tại sâu sắc hơn đang hoạt động; thực tại đó là sự cam kết kiên định hướng về sự Thiện để rồi, mỗi người có thể được hoàn thiện bởi cam kết ấy(28)

Sự cam kết hướng về sự Thiện là một hành vi của ý chí tự do par excellence (ở mức cao nhất), bởi nó là tình yêu, là hành vi mạnh mẽ nhất và cao thượng nhất

trong con người(29) Nói tóm lại, “nỗi cô đơn tột cùng”, bí nhiệm của mỗi cá nhân không phải là sự cô lập; độc nhất tính không thể hiểu lầm như là tính ích

kỷ Nó không khép kín con người vào chính mình, mà cởi mở ra cho mọi người khác, và trên hết mọi sự, cho một Đấng Tối cao mà con người là hình ảnh phản chiếu hình ảnh của Người Khi đó, sẽ có sự mở lòng ra cho mọi người khác, hoặc để buông xuôi hay để dấn thân phục vụ: “Chỉ khi nào sự tự hiến dâng bắt nguồn từ sự tự do hoàn toàn của tình yêu, thì khi đó, tính độc nhất của con người mới đạt đến sự thể hiện trọn vẹn nhất của nó”(30)

2 Dasein (Hiện tính thể)

2.1 Cấu trúc thời gian và không gian của Dasein: “Tại thể tính”

Từ ngữ Dasein trong triết học Đức thời trước Heidegger có nghĩa là “hiện

hữu”, nhưng trong ngôn ngữ thường ngày này, nó có nghĩa là sự hiện hữu của từng con người Tuy nhiên, với Heidegger, từ ngữ này trở nên quen thuộc đến

độ người ta có thể nói mà không thấy thái quá, đó là: nói về Heidegger có

nghĩa là nói về “Dasein”

“Da-sein” theo nghĩa đen là “hiện hữu ở đó” (da: ở đó; sein: hiện hữu) Tuy

vậy, trong quá trình phân tích và trình bày tư tưởng của Heidegger, từ ngữ này

đã đón nhận nhiều tính chất phong phú nói lên cách nhìn cơ bản của Heidegger

về ý nghĩa của sự hiện hữu con người và vốn đã được ông diễn tả một cách

xuất sắc trong Being and Time (Thể tính và Thời tính, 1927)

“Chữ “Da-” hoặc “ở đó” trong từ ngữ Dasein có nghĩa rằng, nó không phải là

Trang 8

một thực thể khép kín mà là thực thể cởi mở, một cái gì đó “ex” hoặc bên

ngoài với chính nó, để làm cho “Dasein” và “hiện hữu” hướng về cùng một hiện tượng Dasein là nơi mà các hữu thể gặp gỡ Nó cũng có nghĩa là “sự hiện

hữu ở đó” của Dasein cho chính nó trong sự tự nhận thức Tuy nhiên, sự tự nhận thức này không phải là sự tự tỏ bày đời sống tinh thần…, mà là sự nhận thức tình cảm và thực tiễn được chính bản thân tạm thời khai mở, liên can đến các khả năng riêng của nó, các chọn lựa, cũng như các bất khả thể, các dự phóng và nỗi lo sợ, các hoàn cảnh, quá khứ và các giới hạn; tất cả mọi hình thái nhận thức này đều không thể quan niệm được ngoài đặc điểm thời tính của

Dasein”(31)

Nói tóm lại, Da là “mở” (nghĩa là, mở ra cho mọi hình thái hiện hữu, hoặc

“là”); Dasein là “sự mở ra”, nghĩa là hữu-thể-mở ra, hữu-thể-mở, hoặc “sự

kiện chúng-ta-mở-ra”

Theo Heidegger, thời tính và bối cảnh lịch sử là những nét chính yếu của sự

hiện hữu thật sự của Dasein, thế giới của sinh hoạt hàng ngày Như vậy,

Dasein trong cấu trúc cơ bản của nó là “tại thế” (Weltlich), “tại-thể-tính” der-Welt-Sein) Tình trạng cơ bản này của Dasein đã được Heidegger quan niệm như một hiện tượng đơn vị nhất thống, bởi Dasein không có lợi thế để từ

(In-đó, nó có thể nhìn nhận thế giới như một vật thể và đồng thời xem nó như một vật thể khác: nó là tại-thể-tính(32) Tom Nenon đã giải thích rõ hơn tính cách

cơ bản của “tại-thể-tính” như sau: “Vì bối cảnh này hoặc “thế giới” này bao

gồm trước hết một nhóm các cách thức mà Dasein có thể tự ứng xử (thậm chí

thụ động theo nghĩa có cái gì đó xảy ra trong nó), thứ đến là sự tự hiểu chính

mình của Dasein - nghĩa là sự hiểu biết về sự hiện hữu của nó, xét về các khả

năng cũng như giới hạn của nó - để đặt nền móng cho sự hiểu biết về sự hiện hữu của các hữu thể khác trong thế giới”(33)

Thật ra, Heidegger đã lấy quan điểm này từ kinh nghiệm độc đáo về hữu thể của người Hy Lạp cổ đại, vì họ không “khách thể hóa” các hữu thể (họ không

Trang 9

giản lược chúng vào một khách thể cho một chủ thể tư duy), mà cứ để mặc chúng như chúng hiện diện, như chúng tự trưng bày trong chân lý khai mở

(aletheia) Họ cảm nhận tính hiện tượng của vật đang hiện diện, sự tự trưng bày rạng rỡ của vật ấy Con người, với tư cách Da-sein là hữu thể duy nhất có đặc tính cởi mở với hữu thể, và nếu xét theo vị trí, "Da" là cái mà hữu thể đòi

hỏi để tự bộc lộ chính mình Người ta có thể thấy rằng, đối với Heidegger, cảm nhận ban đầu hoặc sự định hướng về kẻ khác luôn được sáp nhập vào bên

trong cơ cấu hữu thể của Dasein

2.2 Trách nhiệm cá nhân của chính Dasein

Khi khẳng định cơ cấu cơ bản của “tại-thể-tính” của con người, Heidegger thúc giục chúng ta sống và hiện hữu bằng cách hiểu rõ các khả thể hiện hữu, những khả thể mà chính cuộc sống vạch ra hoặc dự phóng, nghĩa là không chỉ hiểu vị trí hiện thời của chúng ta trong lịch sử, mà còn hướng về tương lai và nhìn nhận tương lai trong sự hợp nhất với quá khứ như đã có và hiện có Bởi

lẽ, “sự hiện diện nội tại” bao gồm hiện diện có định hướng thật sự và liên quan

đến các tình huống có thể hiểu được Quan niệm về Dasein trở nên thật sự

riêng tư và cá nhân: “Dasein” không phải là một vật, mà là “Tôi”, không phải

là “cái gì”, mà là “Ai”… Có một hữu thể mà sự hiện diện của nó liên kết vào

“toàn thể tính” hoặc “cùng tồn tại” (điều được gọi là Jemeinigkeit trong Being

một hữu thể có khả năng nêu vấn đề, một thực tại đi tìm kiếm chính mình, quan tâm đến mọi sự và mọi người, và cố gắng hiểu phải xử sự ra sao trong các tình huống lịch sử thực tế Đối diện với một hoàn cảnh hiện sinh như thế, sự

quan tâm chủ yếu của con người đối với môi trường quanh nó là sự chăm lo, là thái độ lưu tâm, “sorge”, nhằm chống lại một sự hiện hữu vô nhân sinh mà Heidegger gọi là không trung thực Bởi lẽ, đối với Heidegger, con người là

hữu thể duy nhất mà sự hiện hữu có đặc tính là cởi mở, hướng về hữu thể khác Những con người, nam cũng như nữ, cũng có thể quay mặt lại với sự hiện diện

Trang 10

của mình, quên cả bản thân mình và tự đánh mất tính nhân bản của mình Vì vậy, thái độ lưu tâm là điều cần thiết để phù hợp với cấu trúc thời tính của “tại-

thể-tính” của Dasein, nghĩa là hiện tượng của các dự phóng có mục đích và

hướng về tương lai mà Heidegger mô tả như là “dự phóng bị ném đi” Nói đúng hơn, trách nhiệm của chúng ta trong các dự phóng cần được hiểu là “sự hàm chứa trong một mạng lưới rộng lớn hơn về các mối tương quan thực tiễn, vốn đã chỉ định công cụ cho bối cảnh, công tác, mục tiêu và cho điểm quan trọng cuối cùng của việc chúng ta đang làm mà Heidegger gọi là “vì lợi ích của

tất cả”(35) Trái lại, một sự hiện hữu không trung thực sẽ diễn ra khi “Dasein

không lấy trách nhiệm về việc công nhận chính mình như nền tảng sau cùng của ý nghĩa, mà chỉ biết thích ứng với bất kỳ hoàn cảnh nào đã diễn ra trong lịch sử và chấp nhận chúng một cách chung chung”(36) Bằng cách này, khi một người chấp nhận sự sa ngã và hữu hạn tính của đời người, nghĩa là khi anh

ta quyết định chấp nhận toàn bộ cuộc đời của mình, chấp nhận cuộc sống của mình đang đối diện với cái chết, đối diện với sự vô nghĩa của hiện hữu, người

đó đang chứng tỏ mình sở hữu một sự hiện hữu thực sự trung thực Khi đó, cái

chết của tôi là biến cố duy nhất trong đời tôi, độc nhất trong đời tôi: nó là eigenlich (“trung thực, thật sự”), bởi vì nó là eigen (“của riêng tôi”) Heidegger

kiên trì lập luận rằng, chúng ta không bao giờ có thể hiểu được sự chết qua cái chết của người khác và ông dùng sự việc này để khẳng định rằng, cái chết vẫn

luôn là một chuyện có tính cá nhân Trong nỗi xao xuyến, lo âu (Angst), tôi dự

báo được cái chết sắp tới; nhờ việc "định hướng về sự chết", chúng ta có thể nhìn thấy quá khứ của mình như của riêng ta và có khả năng, lần đầu tiên, sở hữu nó như của riêng ta Nỗi lo sợ có thể đem lại cho con người sự tự do riêng

có cho mình, biến các phi lý ngoại lai của sự kiện ương ngạnh này thành một khả năng chính yếu cho sự hiện hữu của mình - đó gọi là “tính-thể-qui-tử”

(Sein zum Tode), là “lối thoát khỏi mọi ảo tưởng của “chúng” trong sự tự do

đam mê, tự tin và âu lo hướng về cái chết”(37) (Xem tiếp >>>)

Trang 11

“HAECCEITAS” (SỞ NGÃ TÍNH) VÀ “DASEIN” (HIỆN TÍNH THỂ) TRONG QUAN NIỆM CỦA J.D.SCOTUS VÀ M.HEIDEGGER (Tiếp theo)

“Khái niệm haecceity (sở ngã tính) của Scotus giữ một vai trò lớn trong

những cuộc thảo luận của các triết gia Kinh viện về cá thể hóa và nhờ

Gottfried Wilhelm Leibniz, nó đã được một số lớn các triết gia hiện đại(38) chú ý tới, trong đó có Heidegger - người xem sự luận giải của Scotus về trực

giác của sở ngã tính (haecceitas) là “một nỗ lực để phục hồi khả năng hiểu

biết ban đầu của lịch sử tính và chống lại sự nhắc đi nhắc lại các công thức cũ”(39) đến nỗi ông gọi “haecceitas” của Scotus là “tính duy nhất và dịp duy nhất có thể hiểu được”(40) (the understandable oneness and onceness) của

sự sống trong lịch sử Cá thể hóa là một chức năng của thời tính; haecceitas

cho thấy sự hiện hữu tại một thời tính đặc biệt(41)

Scotus và Heidegger không chỉ đề cao tính ưu việt của cá nhân, mà còn khám phá tính độc nhất và tính độc đáo của cá nhân Sau khi đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm kiếm ý nghĩa của hiện hữu mà tự bản thân nó, vốn đã không bị giới hạn trong sự tự bộc lộ mình và xuất hiện như một vực sâu thẳm, thì nguồn tư duy và sự thán phục - kết quả mà Heidegger rút ra từ suy

luận triết học của ông - lại là một khẳng định bi đát: con người là một thể-qui-tử” (Sein-zum-Tode) Cũng với một cách thức tương tự, về câu hỏi

Ngày đăng: 28/03/2014, 22:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w