1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Câu hỏi thảo luận Chương 2 Tư Pháp Quốc Tế

33 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Câu hỏi thảo luận Chương 2 Tư Pháp Quốc Tế
Trường học Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Tư pháp quốc tế
Thể loại Bài tập thảo luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 49,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 TƯ PHÁP QUỐC TẾ ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Có nhận định “Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của Tư pháp quốc tế” Anh (chị) hãy chứng minh nhận định này là đúng Xung đột pháp luậ.

Trang 1

Chương 2: 20 LT + 28 NĐ + 16 TN

Chương 2

I Câu hỏi tự luận:

1 Có nhận định: “Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của Tư pháp quốc tế” Anh (chị) hãy chứng minh nhận định này là đúng.

Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế vì:

Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh củachúng phát sinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùngtham gia vào việc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọnluật để áp dụng vì các quy phạm pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối vềmặt lãnh thổ

Còn trong TPQT, mỗi nước có điều kiện cơ sở hạ tầng khác nhau, bởi vậy phápluật của các nước được xây dựng trên các nền tảng đó cũng có sự khác nhau Chỉ khi cácquan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luậtkhác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu về chọn luật ápdụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất

XĐPL là htg đặc thù của TPQT vì: Nguyên nhân của htg này là do tồn tại qhe DS cóYTNN & các QG thừa nhận việc AD PLNN trong TPQT Chỉ khi qhe xảy ra thì mới cóhtg 2 hay nhiều hệ thống PL khác nhau cùng tgia điều chỉnh qhe đó & làm nảy sinh yêucầu về việc chọn luật AD nếu trong TH ko có quy phạm thực chất thống nhất Còn trongcác ngành luật khác sẽ ko có htg 2 hay nhiều hệ thống PL cùng tgia điều chỉnh 1 qhe &cũng ko có việc chọn luật AD vì các QPPL của các ngành luật này mang tính tuyệt đối vềlãnh thổ

2 Xung đột pháp luật có xảy ra trong hệ thống pháp luật của một quốc gia hay không?

Đối với các nhà nước đơn nhất, ví dụ như VN, các mâu thuẫn, chồng chéo trongcác quy định của các văn bản PL khác nhau đều được giải quyết bằng pháp luật Ví dụtheo Điều 663 BLDS 2015, nếu luật khác có quy định về pháp luật áp dụng đối với quan

hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trái với quy định của Phần thứ năm của BLDS thì ápdụng BLDS Hay theo Điều 5 LSHTT 2005, trong trường hợp có sự khác nhau giữa quyđịnh về SHTT của LSHTT với quy định của luật khác thì áp dụng quy định của LSHTT

Vì vậy đối với các nhà nước đơn nhất thì XĐPL không được thừa nhận

Trang 2

Tuy nhiên đối với nhà nước liên bang, mỗi bang có một hệ thống PL riêng, bêncạnh đó còn có PL liên bang Vì vậy có thể xảy ra XĐPL giữa PL các bang với nhau hoặcXĐPL giữa PL các bang với PL của liên bang Ví dụ quy tắc giải quyết XĐPL của Mỹ ápdụng cho cả 3 khía cạnh: XĐPL giữa PL các bang, XĐPL giữa PL các bang với PL củaliên bang và XĐPL giữa PL của Mỹ với PL nước ngoài Vì vậy đối với những nhà nướcliên bang thì XĐPL trong hệ thống PL vẫn có thể xảy ra.

3 Chứng minh phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung đột pháp luật hiệu quả.

Phương pháp xung đột là phương pháp sử dụng quy phạm xung đột nhằm xác định

hệ thống pháp luật nước nào sẽ được áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ Tư pháp

quốc tế cụ thể Quy phạm xung đột không trực tiếp quy định quyền và nghĩa vụ của các

chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật mà chỉ đưa giải pháp gián tiếp cho việc giải quyết

sự xung đột về mặt quyền lợi giữa các chủ thể đó Có thể nói, quy phạm xung đột luônmang tính chất ‘dẫn chiếu’ khi nó thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn việc lựa chọn một cáchkhách quan nguồn luật có mối liên quan nhất và có hiệu lực áp dụng nhất cho loại quan

hệ pháp luật nhất định

Mỗi quốc gia có một chế độ chính trị, văn hóa và trình độ phát triển khác nhau kể cả

có cùng chế độ chính trị, vì vậy khó khăn nằm ở chỗ hệ thống pháp luật của các quốc giacũng sẽ khác nhau khi quy định về cùng một vấn đề Chẳng hạn, về độ tuổi kết hôn: ởViệt Nam là 18 tuổi với nữ, 20 tuổi với nam, nhưng ở Trung Quốc thì tuổi này là 20 và

22, còn ở Pháp là 16 và 18, riêng nước Anh thì cả nam và nữ đều là 16 Do đó, việc thừanhận quy phạm xung đột là công cụ chủ yếu để thiết lập và bảo đảm một trật tự pháp lýtrong quan hệ pháp luật dân sự quốc tế Chính vì thế, phương pháp xung đột được sửdụng cả ở các nước theo hệ thống luật thực định (VD: các nước châu Âu lục địa như Đức,Pháp…), cũng như ở các nước theo hệ thống luật thực hành (VD: Anh, Pháp…)

Phương pháp xung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống các quyphạm xung đột của quốc gia Các quốc gia tự ban hành các quy phạm xung đột trong hệthống pháp luật nước mình để hướng dẫn chọn luật áp dụng để chủ động trong việc điềuchỉnh các quan hệ tư pháp quốc tế trong khi chưa xây dựng được đầy đủ các quy phạmthực chất thống nhất Vì thế, phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung độtpháp luật hiệu quả

4, Anh (chị) hãy trình bày chế tài của hiện tượng lẩn tránh pháp luật.

Lẩn tránh pháp luật là thủ đoạn của đương sự để lẩn tránh khỏi sự chi phối của hệthống pháp luật lẽ ra phải được áp dụng và lường sự dẫn chiếu của quy phạm pháp luật

Trang 3

xung đột đến hệ thống pháp luật khác có lợi cho mình Hầu hết các nước trên thế giới đềuxem đây là hiện tượng không bình thường và đều hạn chế hoặc ngăn cấm Biện pháp đểngăn cấm, hạn chế ở các nước cũng khác nhau.

- Ở Pháp: Tòa án không chấp nhận việc “lẩn tránh pháp luật”và ở Pháp đã hìnhthành nguyên tắc pháp luật là mọi hành vi, mọi hợp đồng ký kết mà “lẩn tránhpháp luật” đều bị coi là bất hợp pháp

- Ở Anh - Mỹ: nếu các hợp đồng giữa các bên ký kết mà “lẩn tránh pháp luật” củacác nước này, sẽ bị Tòa án hủy bỏ

- Ở Nga: Điều 48 BLDS Cộng hòa liên bang Nga quy định: “Các hợp đồng ký kếtnhằm lẩn tránh pháp luật bị coi là vô hiệu”

- Ở Bồ Đào Nha: Điều 21 BLDS Bồ Đào Nha quy định: “Trong quá trình áp dụngquy phạm xung đột pháp luật, coi như không có giá trị pháp lý những hoàn cảnhpháp lý được thiết lập với mục đích tránh áp dụng pháp luật thông thường đượcchỉ định để điều chỉnh”

- Ở Rumani: Điểm b Điều 8 Luật Rumani ngày 22/9/1992 về quan hệ có yếu tốnước ngoài, “áp dụng pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ khi nó được chỉ dẫn do lẩntránh pháp luật Khi pháp luật nước ngoài bị gạt bỏ, pháp luật Rumani được ápdụng”

- Ở Tuynidi: Điều 30 Bộ luật Tư pháp quốc tế Tuy-ni-di (1998), “lẩn tránh pháp luậtđược hình thành bởi thay đổi giả tạo bộ phận của quy phạm xung đột pháp luậtliên quan đến hoàn cảnh pháp lý thực tiễn với mục đích tránh pháp luật Tuy- ni-dihoặc pháp luật nước ngoài được chỉ định điều chỉnh bởi quy phạm xung đột thôngthường được áp dụng Khi điều kiện của lẩn tránh pháp luật được thỏa mãn, sựthay đổi thành phần của quy phạm xung đột không được sử dụng”

Ở nước ta, hiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong tư pháp quốc tế hầu như chưa có,nhưng trong các văn bản pháp luật đã ban hành từng có những quy định cấm các trườnghợp lẩn tránh Ví dụ: Theo Khoản 4 Điều 6 Pháp lệnh về Hôn nhân và gia đình giữa côngdân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, thì “Việc kết hôn của công dân Việt Namvới người nước ngoài được tiến hành ở nước ngoài và tuân theo pháp luật nước đó vềnghi thức kết hôn thì được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp việc kết hôn đó có ýđịnh rõ ràng là để lẩn tránh các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn vàcấm kết hôn” Phân tích quy định này chúng ta thấy, Nhà nước Việt Nam thừa nhận giátrị pháp lý của việc kết hôn tiến hành ở nước ngoài, nếu như việc kết hôn đó tiến hànhđúng theo các quy định của pháp luật, không lẩn tránh pháp luật Việt Nam để hướng đếnmột hệ thống pháp luật khác có lợi hơn Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng đã thể hiện rõquan điểm không chấp nhận hiện tượng lẩn tránh pháp luật

Trang 4

Tuy nhiên, quy định này chỉ giới hạn ở lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài Thêmvào đó, nó cũng chưa nói rõ hậu quả của việc “lẩn tránh” sẽ như thế nào và việc xử lý sẽtiến hành theo pháp luật nước nào Đến nay, điều khoản cũng không còn hiệu lực Vì vậy,

có thể kết luận đến thời điểm này, chúng ta chưa có một cơ sở pháp lý chung để xử lýhiện tượng “lẩn tránh pháp luật” trong quan hệ có yếu tố nước ngoài

5 Vì sao có hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế?

→ Nguyên nhân làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật trong Tư pháp quốc tế: có 2nguyên nhân:

● Sự khác nhau giữa các hệ thống pháp luật có liên quan khi cùng quy định về mộtvấn đề cụ thể: Sự phát triển về mặt kinh tế, chính trị, xã hội tạo ra những khác biệttrong quy định của pháp luật các nước, hay nói cách khác chính những sự khácbiệt này các quốc gia sẽ phải xây dựng cho mình hệ thống pháp luật phù hợp vớinhững quan hệ đó nhằm điều chỉnh xã hội Ví dụ: tuổi kết hôn, theo luật pháp ViệtNam là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì mới có quyền kết hôn.Trong khi tại Pháp độ tuổi này là 18 không phân biệt nam hay nữ Như vậy nếumột công dân nam Việt Nam 19 tuổi muốn kết hôn cùng 1 công dân nữ Pháp 18tuổi, họ có thể đăng ký kết hôn tại Pháp, nhưng khi có tranh chấp phát sinh trongquan hệ hôn nhân diễn ra tại Việt Nam thì mối quan hệ hôn nhân này có thể khôngđược toà án Việt Nam công nhận Trong ví dụ trên, mặc dù cùng điều chỉnh nhómquan hệ trong lĩnh vực hôn nhân nhưng giữa pháp luật Việt nam và Pháp về tuổikết hôn, nhưng nội dung trong quy định lại có sự khác nhau trong việc xác định độtuổi có quyền kết hôn Có thể nói, mặc dù cùng điều chỉnh chung một vấn đềnhưng nội dung trong pháp luật của các nước có quy định khác nhau, chính điềunày đã tạo nên xung đột pháp luật giữa các nước

● Tính chất của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài: Đặc trưng cơ bản của nhữngquan hệ pháp luật này là các yếu tố cấu thành của quan hệ pháp luật đó có liênquan đến nước ngoài Chính những yếu tố đó tạo nên xung đột pháp luật, đặctrưng cơ bản của Tư pháp quốc tế Trong thực tiễn pháp lý, yếu tố nước ngoàiđược xem là cơ sở, căn cứ để xây dựng và xác định các nguyên tắc chọn luật điềuchỉnh, nhằm giải quyết vấn đề xung đột pháp luật và xung đột về thẩm quyền tàiphán trong tư pháp quốc tế Chẳng hạn, đối với yếu tố chủ thể tham gia quan hệpháp luật, tương ứng có nguyên tắc luật quốc tịch; đối với yếu tố sự kiện pháp lýdiễn ra ở nước ngoài, tương ứng có nguyên tắc luật nơi ký kết hợp đồng

Trang 5

● Một trong những nguyên nhân khác gây nên xung đột pháp luật giữa các quốc gia

đó là sự khác nhau trong việc giải thích và áp dụng những quy định giống nhau vềmặt hình thức Mặc dù có sự khác nhau về những yếu tố nội dung nhưng do tiếpthu những tiến bộ của kỹ thuật lập pháp giữa các nước vẫn có những quy địnhgiống nhau về mặt hình thức Tuy nhiên, trong việc giải thích và áp dụng luật cácnước lại có những quan điểm, cách thức khác nhau trong việc giải quyết các vấn

Xung đột pháp luật là hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế vì:

Trong các ngành luật khác, khi quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của chúng phátsinh, không có hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau cùng tham gia vàoviệc điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội ấy, và cũng không có sự lựa chọn luật để ápdụng vì các quy pháp pháp luật của các ngành luật này mang tính tuyệt đối về mặt lãnhthổ

Chỉ khi các quan hệ tư pháp quốc tế xảy ra thì mới có hiện tượng hai hay nhiều hệ thốngpháp luật khác nhau cùng tham gia điều chỉnh quan hệ đó và làm nảy sinh yêu cầu vềchọn luật áp dụng nếu trong trường hợp không có quy phạm thực chất thống nhất

7 Vì sao cần phải áp dụng cả hai phương pháp xung đột và phương pháp thực chất

để giải quyết xung đột pháp luật?

Vì chỉ sử dụng 1 phương pháp thì không đủ cơ sở giải quyết xung đột pháp luật

mà cần 2 phương pháp xung đột và phương pháp thực chất bổ sung và hỗ trợ cho nhau

Ưu điểm của phương pháp này là nhược điểm của phương pháp kia và ngược lại

Phương pháp thực chất

- Ưu điểm:

Trang 6

Giải quyết vấn đề nhanh chóng, hiệu quả (Vì quy phạm thực chất quy định trựctiếp quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, có thể quy định về chế tài áp dụng Do đó,

cơ quan có thẩm quyền căn cứ ngay vào quy phạm thực chất để giải quyết vấn đề màkhông cần phải lựa chọn hệ thống pháp luật khác)

- Nhược điểm:

+ Việc xây dựng các quy phạm thực chất rất khó khăn, số lượng quy phạm thực chất

ít (vì lợi ích các nước khác nhau, không dễ dàng thỏa thuận thống nhất trong điềuước quốc tế mà phải đàm phán lâu dài)

+ Không dự liệu được hết các tình huống xảy ra trên thực tế

Phương pháp xung đột

- Ưu điểm:

Tính khách quan và tính linh hoạt cao, có thể được áp dụng trong mọi quan hệ dân sự

có yếu tố nước ngoài Vì quy phạm xung đột chỉ ra một hệ thống pháp luật để điềuchỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên ngay cả những quan hệ dân sự chịu ảnhhưởng sâu sắc của phong tục, tập quán thì đều có thể xây dựng được quy phạm xung đột

để điều chỉnh

- Nhược điểm:

+ Gây khó khăn, phức tạp cho các cơ quan có thẩm quyền vì phải tìm hiểu về quyđịnh của pháp luật nước ngoài như xác định nội dung pháp luật nước ngoài, giảithích pháp luật nước ngoài,…

+ Giải quyết vấn đề không được nhanh chóng

+ Không phải lúc nào cơ quan có thẩm quyền cũng xác định chính xác hệ thốngpháp luật cần được áp dụng mà có thể dẫn đến các trường hợp dẫn chiếu ngược vàdẫn chiếu đến nước thứ ba

Do đó cần phải áp dụng cả hai phương pháp xung đột và phương pháp thực chất

để giải quyết xung đột pháp luật

8 Khi áp dụng điều ước quốc tế để giải quyết xung đột pháp luật thì có thể coi rằng hiện tượng xung đột pháp luật đã bị triệt tiêu không? Vì sao?

Trang 7

Xuất phát từ tính đặc thù của các quan hệ xã hội do Tư pháp quốc tế điều chỉnh làcác quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Do đó trong rất nhiều trường hợp khi một quan

hệ của Tư pháp quốc tế phát sinh đã làm phát sinh tình trạng pháp luật của các nước liênquan đều có thể được áp dụng và làm nảy sinh vấn đề chọn luật của một nước cụ thể để

áp dụng Từ đó mới phát sinh ra hiện tượng xung đột pháp luật, vậy nên việc áp dụngđiều ước quốc tế chỉ có thể giải quyết hiện tượng xung đột pháp luật chứ không làm mất

đi, triệt tiêu được hiện tượng đó

9 Khi pháp luật được dẫn chiếu có nhiều hơn một hệ thống pháp luật thì áp dụng pháp luật như thế nào?

Trong quá trình áp dụng pháp luật nước ngoài, Toà án có thể gặp tình trạng quyphạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài nhưng tại quốc gia có hệ thống phápluật nước ngoài đó tồn tại các hệ thống pháp luật khác nhau Ví dụ, trong Nhà nước liênbang, bên cạnh pháp luật của liên bang, mỗi một bang đều có pháp luật của mình Vì vậyđối với những Nhà nước liên bang, ví dụ như Hoa Kỳ, cần xác định quy phạm xung độtdẫn chiếu đến pháp luật của liên bang hay pháp luật của tiểu bang? Về nguyên tắc, xungđột pháp luật được nghiên cứu trong Tư pháp quốc tế dưới góc độ chọn luật áp dụng giữacác hệ thống pháp luật của các quốc gia có chủ quyền Do đó, cần tôn trọng các nguyêntắc giải quyết xung đột pháp luật trong nội bộ của các quốc gia đối với các nhà nước liênbang và đối với các quốc gia cho phép tồn tại nhiều hơn một hệ thống pháp luật Trongtrường hợp này, việc xác định hệ thống pháp luật nào được áp dụng cần tuân theo nguyêntắc xác định pháp luật do chính quốc gia nước ngoài đó quy định Vấn đề này được ghinhận tại Điều 669 BLDS 2015 “Trường hợp pháp luật của nước có nhiều hệ thống phápluật được dẫn chiếu đến thì pháp luật áp dụng được xác định theo nguyên tắc do pháp luậtnước đó quy định.”

10 Phân tích vai trò của Lex fori trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự có yếu

tố nước ngoài Cuu toi voi

Lex fori là hệ thuộc luật Tòa án - 1 trong những nguyên tắc giải quyết khi có xungđột pháp luật trong tư pháp quốc tế, theo đó tòa án áp dụng pháp luật của nước mình đểgiải quyết những tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài Nguyên tắc này được ghi nhậntrong pháp luật của mỗi QG và trong các điều ước quốc tế

Vai trò:

- Giải quyết XĐPL trong tranh chấp DS có YTNN: khi áp dụng Lex fori, TA có

thẩm quyền khi giải quyết VVDS có YTNN sẽ áp dụng pháp luật nước mình

Trang 8

Trong các HĐTTTP các bên có thể cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng nướcmình trong những chừng mực nhất định được áp dụng luật tố tụng của nước ngoài.(VD: ……… )

- Giúp giải quyết kịp thời và đảm bảo lợi ích của 2 bên: Tùy trường hợp mà tòa

án mỗi QG sẽ áp dụng luật hình thức hoặc áp dụng cả luật nội dung và luật hìnhthức khi giải quyết các vụ việc dân sự có YTNN Về mặt tố tụng thì TA có thẩmquyền chỉ áp dụng luật tố tụng của nước mình, trừ trường hợp ngoại lệ sẽ áp dụng

cả luật nội dung, TH ngoại lệ được quy định trong pháp luật từng QG hoặc trongcác ĐƯQT mà QG đó tham gia Khi áp dụng hệ thuộc luật tòa án, đương sự khởikiện tại tòa án QG nào thì PL tố tụng của QG đó được áp dụng giúp giải quyết kịpthời vụ án dân sự có YTNN, giúp việc đảm bảo lợi ích của các đương sự không bịtrì trệ, gián đoạn; trường hợp HĐTTTP quy định áp dụng cả PL nội dung của QG

đó cũng sẽ đảm bảo kịp thời lợi ích tối đa của các đương sự bởi vì HĐTTTP đượcthành lập dựa trên sự thỏa thuận, đánh giá, xác lập kỹ càng, thấu đáo giữa các QGsao cho việc chọn luật nội dung áp dụng là phù hợp nhất, mang lại lợi ích cao nhấtcho các chủ thể trong quan hệ dân sự có YTNN

(VD Điều 2.3 BLTTDS 2015 quy định mang ý nghĩa khi giải quyết các VVDS cóYTNN thì về mặt nguyên tắc, TA VN chỉ AD luật TTDS VN, tuy nhiên nếu VN tham giaĐƯQT hay HĐTTTP thì TA VN còn có thể AD PL của QG ký kết với điều kiện PLQG

đó ko mâu thuẫn vs PLVN)

3 Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tốnước ngoài; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

11 Tại sao phải giải quyết xung đột pháp luật?

XĐPL là hiện tượng có 2 hay nhiều hệ thống PL cùng có thể được AD để điềuchỉnh 1 quan hệ DS có YTNN Các hệ thống PL này có cùng đối tượng điều chỉnh; và nộidung điều chỉnh các đối tượng này có thể khác nhau do có sự khác biệt giữa pháp luật củatừng QG, mang kết quả khác nhau Điều đó đặt ra yêu cầu phải giải quyết hiện tượngXĐPL và điều chỉnh quan hệ dân sự này (bằng cách lựa chọn 1 hoặc nhiều trong số các

hệ thống pháp luật có thể được áp dụng đó để giải quyết; với phương pháp xung đột vàphương pháp thực chất) Phục vụ nhu cầu hội nhập thế giới của các quốc gia - nhu cầutham gia vào các quan hệ quốc tế

12 Hệ thuộc luật là gì?

Trang 9

a Kiểu hệ thuộc luật là những quy tắc chọn luật được thừa nhận rộng rãi tại các

nước trong việc chọn luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Một

số kiểu hệ thuộc luật cơ bản:

● Hệ thuộc luật nhân thân

● Hệ thuộc luật nơi có tài sản

● Hệ thuộc luật nơi thực hiện hợp đồng

● Hệ thuộc luật có mối liên hệ chặt chẽ nhất

● Hệ thuộc luật lựa chọn

● Hệ thuộc luật Tòa án

b Cơ cấu của quy phạm xung đột gồm 2 phần là phần phạm vi và phần hệ thuộc.

Trong đó:

● Phần phạm vi: chỉ ra quan hệ xã hội mà quy phạm hướng tới điều chỉnh.

● Phần hệ thuộc: đưa ra quy tắc để xác định hệ thống pháp luật áp dụng.

13 Hãy cho biết trong những trường hợp nào Tòa án Việt Nam cần phải áp dụng pháp luật nước ngoài khi giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.

Trường hợp 1: Khi quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế dẫn chiếu đến pháp

luật nước ngoài

Trường hợp 2: Khi quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến

pháp luật nước ngoài

Trường hợp 3: Khi các bên trong hợp đồng lựa chọn pháp luật nước ngoài để điều

chỉnh hợp đồng của họ và sự lựa chọn này thỏa mãn điều kiện chọn luật

Trường hợp 4: Khi không thuộc các trường hợp trên và pháp luật nước ngoài có

mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó

Trang 10

pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài Như vậy, với quy địnhtrên có thể khẳng định rằng pháp luật nước ngoài chỉ có thể được áp dụng tại Việt Namnếu thuộc 1 trong 3 trường hợp:

(i) quy phạm xung đột trong Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định ápdụng pháp luật nước ngoài

(ii) quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam quy định áp dụng pháp luật nước ngoài(iii) các bên thỏa thuận lựa chọn pháp luật nước ngoài (664 blds 2015)

Thứ hai, pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng nếu thỏa mãn điều kiện nếu hậuquả của việc áp dụng pháp luật nước ngoài không được trái với các nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật Việt Nam (điểm a khoản 1 điều 670 blds 2015)

Trường hợp 1: Khi quy phạm xung đột trong điều ước quốc tế dẫn chiếu đến pháp

luật nước ngoài

Trường hợp 2: Khi quy phạm xung đột trong pháp luật Việt Nam dẫn chiếu đến

pháp luật nước ngoài : không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Trường hợp 3: Khi các bên trong hợp đồng lựa chọn pháp luật nước ngoài để điều

chỉnh hợp đồng của họ và sự lựa chọn này thỏa mãn điều kiện chọn luật : Đáp ứng điềukiện chọn luật

Trường hợp 4: Khi không thuộc các trường hợp trên và pháp luật nước ngoài có

mối liên hệ gắn bó nhất với quan hệ đó: không được trái với các nguyên tắc cơ bản củapháp luật Việt Nam

15 Khi áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án cần phải tuân thủ theo những nguyên tắc nào? Vì sao?

Theo quy định của pháp luật Việt nam, việc áp dụng pháp luật nước ngoài tuân thủ theohai nguyên tắc:

Thứ nhất, không áp dụng pháp luật nước ngoài có nội dung hoặc hệ quả trái với cácnguyên tắc cơ bản của pháp luật việt nam (670 blds)

Thứ hai, việc áp dụng phải thống nhất trong mối quan hệ tổng thể của hệ thống pháp luật

nước xây dựng các quy phạm đó (tr217 GT)

16 Theo pháp luật Việt Nam, ai là chủ thể có nghĩa vụ phải xác định nội dung pháp luật nước ngoài? Theo anh (chị) quy định này phù hợp hay không?

Trang 11

Điều 481 Xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết vụ việc dân sự

có yếu tố nước ngoài

Trường hợp Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì trách nhiệm xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện như sau:

1 Trường hợp đương sự được quyền lựa chọn pháp luật áp dụng là pháp luật nước ngoài và đã lựa chọn áp dụng pháp luật nước ngoài đó thì có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án đang giải quyết vụ việc dân

sự Các đương sự chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của pháp luật nước ngoài đã cung cấp.

Trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về pháp luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc thông qua Bộ ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài;

2 Trường hợp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định phải áp dụng pháp luật nước ngoài thì đương sự có quyền cung cấp pháp luật nước ngoài cho Tòa án hoặc Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài;

3 Tòa án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước ngoài;

4 Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Tòa án yêu cầu cung cấp pháp luật nước ngoài theo quy định tại Điều này mà không có kết quả thì Tòa án áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự đó.

Như vậy, trong từng trường hợp cụ thể, có các chủ thể có nghĩa vụ xác định nộidung pháp luật nước ngoài là:

- Đương sư trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài đó

- Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ở nước ngoài

- Cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về pháp luật nước ngoài

Quy định này là phù hợp, vì: Liên quan đến pháp luật nước ngoài, Tòa Án VNkhông thể nắm rõ hết, vì vậy cần yêu cầu các chủ thể nêu trên thực hiện nghĩa vụ xácđịnh nội dung pháp luật nước ngoài Bởi lẽ, khi thực hiện công việc, chức năng của mình,các chủ thể nêu trên đương nhiên cần nắm rõ nội dung của pháp luật nước ngoài có liênquan, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện xác định nội dung PLNN

17 Khi Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật nước ngoài, những vấn đề pháp lý nào

có thể phát sinh?

Có thể phát sinh những vấn đề pháp lý sau đây: BLTTDS 2015

1 Điều 472 Trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân

sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ

Trang 12

quan khác có thẩm quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.

2 Điều 473 Yêu cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương

sự ở nước ngoài

3 Điều 474 Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho

đương sự ở nước ngoài

4 Điều 475 Thu thập chứng cứ ở nước ngoài

5 Điều 477 Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước

ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập chứng cứ

6 Điều 478 Công nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài

gửi cho Tòa án Việt Nam

7 Điều 480 Tống đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông

báo văn bản tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài

8 Điều 481 Xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong

việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

18 Anh chị hiểu thế nào về “trật tự công cộng”? Mục đích của việc bảo lưu trật tự công cộng là gì?

- Trật tự công cộng được hiểu là tổng thể các nguyên tắc thành văn hoặc bất thànhvăn trong một trật tự pháp lý, được coi là các nguyên tắc mang tính nền tảng màcác chủ thể không thể vi phạm hoặc có thỏa thuận khác Các quy định này có tìnhchất loại trừ pháp luật nước ngoài và cả văn bản pháp luật của cơ quan công quyềnnước khác Ở VN, khái niệm “trật tự công cộng” không được quy định rõ trong hệthống văn bản pháp luật, tuy nhiên theo tinh thần chung, “trật tự công cộng” cóthể được hiểu là “các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật VN”

- Mục đích của việc bảo lưu “trật tự công cộng” trong tư pháp quốc tế là:

Khi áp dụng pháp luật nước ngoài theo nguyên tắc của tư pháp quốc tế, cơ quan cóthẩm quyền có thể không lường trước được hết các hệ quả pháp lý sinh ra từ nộidung pháp luật đó Như vậy, khi pháp luật nước ngoài có nội dung trái với trật tựcông công hay các nguyên tắc cơ bản của VN hoặc thậm chí không có quy địnhliên quan thì vấn đề bảo lưu trật tự công cộng được đặt ra

Như vậy việc bảo lưu trật tự công cộng trong tư pháp quốc tế nhằm mục đích bảo

vệ các nguyên tắc nền tảng không thể xâm phạm của pháp luật VN khi có sự xungđột pháp luật như: khác biệt trong nội dung quy định pháp luật cụ thể, khác biệt vềgiá trị, đường lối, hoặc lợi ích căn bản… Xuất phát từ sự khác biệt về trình độ phát

Trang 13

triển, văn hóa, chính trị… khác nhau nên các quốc gia có mục đích bảo vệ khácnhau Vì vậy, nhu cầu bảo lưu trật tự công cộng được phái sinh Theo đó, mục đíchcủa việc bảo lưu trật tự công cộng là để không ảnh hưởng đến trật tự công cộngcủa quốc gia mình.

19 Pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về hiện tượng dẫn chiếu ngược trở lại

và dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba.

Về dẫn chiếu ngược, theo quy định của PLVN tại Khoản 1 Điều 668 Bộ luật dân

sự 2015: “Pháp luật được dẫn chiếu đến bao gồm quy định về xác định pháp luật áp dụng và quy định về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, trừ trường hợp nêu tại khoản 4 Điều này” Như vậy, Việt Nam theo quan điểm chấp nhận dẫn chiếu

ngược, bởi pháp luật được dẫn chiếu đến gồm cả quy định về xác định pháp luật áp dụnghay còn gọi là quy định về xung đột luật, đây chính là cơ sở để có thể xảy ra hiện tượngdẫn chiếu ngược

VN -> HÀN (bao gồm: xung đột (dấn chiếu) + thực thất)

Về dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, theo quy định của PLVN tại khoản 3

Điều 668: “Trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba thì quy định của pháp luật nước thứ ba về quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự được áp dụng” Theo quy định trên TPQT của VN cho phép dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ

ba khi xảy ra trường hợp dẫn chiếu đến pháp luật nước thứ ba thì pháp luật của nước thứ

ba – phần quy định quyền, nghĩa vụ hay còn gọi là phần luật thực định – được áp dụng đểđiều chỉnh quan hệ

Về dân chiếu đến PL của nước thứ 3 theo quan điểm cá nhân thì không nên thừanhận hiện tượng này Vì khi thừa nhận hiện tượng này dẫn đến việc cơ quan có thẩmquyền giải quyết rất khó khăn trong việc nghiên cứu nội dung PL được dẫn chiếu ban đầu

và PL thứ ba được dẫn chiếu đến

Trang 14

II Câu hỏi nhận định đúng, sai và giải thích tại sao

1 Xung đột pháp luật là hiện tượng xảy ra ở tất cả các lĩnh vực trong Tư pháp quốc tế.

Theo PLVN, luật lựa chọn còn được áp dụng để giải quyết các quan hệ về BTTHngoài hợp đồng (Điều 687), thực hiện công việc không có ủy quyền (Điều 686),quyền sử hữu và quyền khác đối với động sản đang trên đường vận chuyển (Điều678)

3 Chỉ khi nào quy phạm xung đột được áp dụng thì mới có xung đột pháp luật phát sinh.

- Nhận định: Sai

- Giải thích: vì XĐPL xảy ra khi có 2 hay nhiều hệ thống pháp luật của các QGcùng có thể được áp dụng để điều chỉnh một QHDS có YTNN Còn quy phạmxung đột chỉ là phương pháp để giải quyết XĐPL chứ không phải là nguyên nhânlàm phát sinh XĐPL

4 Quy phạm xung đột có thể không có phần hệ thuộc.

Trang 15

Giải thích: Quy phạm xung đột một bên (quy phạm xung đột một chiều) là quy phạm quyđịnh áp dụng pháp luật của chính quốc gia đã ban hành ra quy phạm đó Vì áp dụng chínhpháp luật quốc gia đó cho nên đây là quy phạm xung đột không dẫn chiếu đến pháp luậtnước ngoài Còn quy phạm xung đột mệnh lệnh là quy phạm quy định nhất thiết phải ápdụng một hệ thống pháp luật nào đó mà không có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật để

áp dụng Vì quy phạm xung đột một bên quy định chỉ áp dụng pháp luật của chính quốcgia đã ban hành ra quy phạm đó, không được dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài nên quyphạm xung đột một bên là quy phạm xung đột mệnh lệnh

6 Sự tồn tại của quy phạm thực chất trong điều ước quốc tế làm mất đi hiện tượng xung đột pháp luật.

Nhận định: sai

Giải thích: Sự tồn tại của quy phạm thực chất trong ĐƯQT chỉ giải quyết được xung độtpháp luật nhưng hiện tượng xung đột pháp luật vẫn còn tồn tại vì các hệ thống pháp luậtkhác nhau vẫn đều điều chỉnh đối tượng đó

7 Chỉ cần áp dụng một hệ thuộc trong việc giải quyết xung đột pháp luật

(TRƯỜNG LÂM SỬA LẠI SAO CHO LỜI VĂN HAY HƠN)

8 Khi các bên trong hợp đồng thỏa thuận chọn pháp luật áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng của họ thì pháp luật đó đương nhiên được áp dụng.

- Nhận định: SAI

- CSPL: Điều 683 BLDS 2015

- Giải thích: Theo Điều 683 BLDS 2015 quy định thì các bên trong quan hệ hợpđồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trườnghợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này Trường hợp hợp đồng có đối tượng

là bất động sản, trường hợp pháp luật do các bên lựa chọn trong hợp đồng lao

Trang 16

động, trường hợp các bên có thể thỏa thuận thay đổi pháp luật áp dụng đối với hợpđồng thì pháp luật do các bên thỏa thuận không đương nhiên được áp dụng

Không đương nhiên mà phải đáp ứng được điều kiện chọn luật.

9 Khi pháp luật các nước quy định khác nhau về một vấn đề cụ thể sẽ làm phát sinh hiện tượng xung đột pháp luật

- Nhận định: Sai

- CSPL:

- Giải thích: Hệ thống pháp luật các nước quy định khác nhau về một vấn đề cụ thể

là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật Ví dụ:tuổi kết hôn, theo luật pháp Việt Nam là nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trởlên thì mới có quyền kết hôn Trong khi tại Pháp độ tuổi này là 18 không phân biệtnam hay nữ

XẢY RA TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YTNN

10.Phương pháp xung đột là phương pháp giải quyết xung đột pháp luật một cách trực tiếp.

-Nhận định đúng

CSPL

Phương pháp xung đột là phương pháp áp dụng quy phạm xung đột để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của TPQT Quy phạm xung đột là quy phạm không trực tiếp giải quyết các quan hệ PL cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc chọn luật của nước này hay nước kia để giải quyết quan hệ dân sự có

Ngày đăng: 17/02/2023, 22:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w