1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Câu hỏi thảo luận Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

24 303 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 1 Tổng Quan Về Tư Pháp Quốc Tế
Trường học https://www.university.vn
Chuyên ngành Luật Tư Pháp Quốc Tế
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 46,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TƯ PHÁP QUỐC TẾ I CÂU HỎI TỰ LUẬN 1 Phân tích các căn cứ để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự CHỦ THỂ, SỰ KIỆN PHÁP LÝ, ĐỐI TƯỢNG Theo quy định tại khoản 2 Điều.

Trang 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TƯ PHÁP QUỐC TẾ

I CÂU HỎI TỰ LUẬN

1 Phân tích các căn cứ để xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân

sự CHỦ THỂ, SỰ KIỆN PHÁP LÝ, ĐỐI TƯỢNG.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 663 BLDS thi quan hệ dân sự có yếu tốnước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân

nước ngoài:

- Cá nhân nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam

- Pháp nhân nước ngoài (Xác định dựa vào quốc tịch của phápnhân) Điều 676 BLDS quy định về pháp nhân có yếu tố nướcngoài, quốc tịch của pháp nhân được xác định theo pháp luật củanước nơi pháp nhân thành lập

- QG (CTĐB)

Thứ hai, Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt

Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra

tại nước ngoài Trường hợp này được hiểu là mọi giao dịch dân sự xảy ra ở

nước ngoài mà các bên là người Việt Nam hay tổ chức Việt Nam đều thuộc vềquan hệ có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Trong đó:

- Xác lập được hiểu các bên là người Việt Nam, tổ chức Việt Nam

bắt đầu thiết lập quan hệ với nhau, cam kết với nhau bằng hợpđồng miệng, bằng văn bản hoặc bằng các hình thức khác tươngđương ở nước ngoài Xác lập luôn luôn thể hiện các quyền vànghĩa vụ dân sự của các bên thì mới thuộc về xác lập quan hệ cóyếu tố nước ngoài

- Thay đổi QHDS có yếu tố nước ngoài khi đã được các chủ thể là

cá nhân, pháp nhân Việt Nam xác lập quyền và nghĩa vụ trước đótại nước ngoài Thay đổi quyền và nghĩa vụ trên cơ sở nguyên tắcchung bởi ý chí tự nguyện của các bên, không bên nào ép buộcbên nào, trong thực tiễn thường thống nhất cách hiểu chung đó làphụ lục hợp đồng đã được xác lập

- Thực hiện QHDS có yếu tố nước ngoài xảy ra ở nước ngoài là

thực hiện các quyền và nghĩa vụ được các bên là công dân ViệtNam, pháp nhân Việt Nam xác lập ở tại nước ngoài Việc thựchiện phải theo đúng pháp luật của nước sở tại Nếu việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch dân sự giữa côngdân, tổ chức Việt Nam ở nước ngoài không tuân thủ theo đúngquy định của nước sở tại thì việc thực hiện QHDS đó khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật nước ta liên quan đếnQHDS có yếu tố nước ngoài

Trang 2

- Chấm dứt QHDS có yếu tố nước ngoài là việc các bên là công

dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam chấm dứt quyền và nghĩa vụcủa mình trong QHDS có yếu tố nước ngoài tại nước ngoài theoquy định của nước đó chứ không theo quy định pháp luật củaViệt Nam

Thứ ba, Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt

Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài Các bên tham giađiều là công dân VN, PNVN và việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấmdứt quan hệ đó xảy ra ở VN nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nướcngoài thì được xác định là QHDS có YTNN (Tài sản ở NN, Công việc cụ thể

Cụ thể: “những quan hệ dân sự” là đối tượng điều chỉnh của luật dân sự hoặc

“yếu tố nước ngoài” còn có thể xuất hiện trong các ngành luật khác như hành chính, hình sự.

3 Việc xác định yếu tố nước ngoài trong các quan hệ dân sự có ý nghĩa như thế nào?

Việc xác định YTNN trong các quan hệ dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng,bởi khi xác định được quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài thì khả năng quan hệ chịu

sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, khiến cho việc giải quyết cácvấn đề pháp lý trong quan hệ giữa các bên trở nên phức tạp, nhất là khi các hệ thốngpháp luật có cách tiếp cận và quy định cụ thể thường rất khác nhau

Các quan hệ DS sẽ thuộc (trang 20)

- Phân biệt TPQT với các ngành luật khác

- Xác định pháp luật áp dụng phù hợp

- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

- Là cơ sở để xác định thẩm quyền của TAQG đối vụ việc DS có yếu tố nướcngoài

- Là cơ sở để giải quyết vấn đề công nhận và cho thi hành một bản án, QDDScủa TANN

4 Anh (chị) hãy phân biệt hai phương pháp điều chỉnh của Tư pháp quốc tế.

- phương pháp giải quyết

Trang 3

tham gia quan hệ Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở áp dụng các quyphạm pháp luật thực chất được xây dựng trong pháp luật quốc gia, điều ướcquốc tế và tập quán quốc tế có liên quan.

Ưu điểm:

Thứ nhất, QPTC là quy định giúp giải quyết trực tiếp các quan hệ và nó

chỉ áp dụng trong các quan hệ, lĩnh vực cụ thể Do đó, phương pháp này sẽgiúp cho việc giải quyết các xung đột được nhanh chóng hơn, do không phảiqua giai đoạn chọn hệ thống pháp luật và các quy phạm của hệ thống luật đó đểgiải quyết

Thứ hai, các phương pháp thực chất chỉ sử dụng đối với các bên tham

gia quan hệ cụ thể mà trong không gian giới hạn và đôi khi chỉ áp dụng với cácchủ thể cụ thể Vì thế, các chủ thể này thường biết trước các điều kiện pháp lý

đó, để hợp tác với nhau trong các quan hệ, tránh được các xung đột xảy ra

Thứ ba, phương pháp này còn điều chỉnh trực tiếp bằng cách các quốc

gia ký kết điều ước quốc tế mà trong các điều ước quốc tế đó tồn tại các quyphạm thực chất thống nhất, vì vậy nó đã làm tăng khả năng điều chỉnh hữu hiệucủa luật pháp, tính khả thi cao hơn, loại bỏ được sự khác biệt, thậm chí mâuthuẫn trong luật pháp giữa các nước với nhau

Hạn chế:

Thứ nhất, số lượng các ĐƯQT ký kết thì chưa nhiều và số lượng quy

phạm thực chất trong mỗi điều ước lại không nhiều, do đó, cơ sở áp dụng cònhạn chế, nhất là trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một

số nước

Thứ hai, không có khả năng thay đổi ứng biến linh hoạt để thích ứng

được với tốc độ phát triển của các quan hệ dân sự quốc tế Do quy định thựcchất chỉ áp dụng cho các quan hệ cụ thể nên khi có quan hệ mới phát sinh thìkhông thể áp dụng nó để giải quyết

Thứ ba, việc xây dựng, ký kết khá phức tạp, tốn nhiều thời gian, công

sức Quan hệ dân sự đang ngày càng gia tăng về số lượng, thay đổi về nộidung; trong khi đó, điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội của mỗi quốc gia lạikhác gia nên việc thống nhất được các quy phạm giải quyết trực tiếp cho từngquan hệ cụ thể giữa các nước là không hề đơn giản

Thứ tư, do QPTC là sự nhất trí giữa các quốc gia nên phạm vi ràng buộc

của các điều ước chỉ với các quốc gia có liên quan

Ưu điểm:

Thứ nhất, giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết được nhiều vấn đề,

có tính thích ứng cao Bản chất của phương pháp xung đột là dẫn chiếu đến

Trang 4

một hệ thống pháp luật cụ thể khi chưa có các quy phạm pháp luật thống nhấtgiữa các quốc gia để giải quyết Do đó, phương pháp này góp phần khắc phụctình trạng chưa có quy định để điều chỉnh ngay, từ đó giúp cho các cơ quan linhhoạt, mềm dẻo hơn khi lựa chọn hệ thống pháp luật trong việc giải quyết cácquan hệ.

Thứ hai, không cần nhiều QPXĐ để thích ứng với từng quan hệ, thậm

chí có thể sử dụng một QPXĐ cho một hay nhiều nhóm quan hệ Không giốngquy phạm pháp luật thực chất là quy định rõ ràng, trực tiếp cách giải quyết vụviệc dân sự có yếu tố nước ngoài, quy phạm pháp luật xung đột chỉ cần quyđịnh sao cho các chủ thể có thể lựa chọn một hệ thống pháp luật rồi áp dụngcác quy định cụ thể liên quan của hệ thống pháp luật đó trong giải quyết quan

hệ Vì vậy, QPXĐ mang tính chung chung, có thể áp dụng với nhiều quan hệ

Thứ ba, việc xây dựng QPXĐ khá đơn giản, hiệu quả, linh hoạt QPXĐ

chỉ đưa ra lựa chọn hệ thống pháp luật nào đó để áp dụng giải quyết quan hệpháp luật phát sinh, nó không phải là quy định cụ thể trực tiếp quyền và nghĩa

vụ cho các bên liên quan Mặt khác, pháp luật cũng như điều kiện kinh tế – xãhội của mỗi quốc gia khác nhau nên việc cùng nhau xây dựng các quy định cụthể thống nhất để điều chỉnh quan hệ dân sự có nước ngoài là rất khó khăn Do

đó, xây dựng QPXĐ sẽ đơn giản, hiệu quả hơn

Hạn chế:

Thứ nhất, QPXĐ chỉ giải quyết gián tiếp vấn đề cho các đối tượng thuộc

phạm vi điều chỉnh của TPQT, lòng vòng mất thời gian Giải quyết gián tiếp làviệc QPXĐ chỉ đưa ra quyền lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh Theo đó,các chủ thể phải thống nhất một hệ thống pháp luật của một nước để áp dụng

Tuy nhiên, các bên lại phải tiếp tục xem xét các quy định cụ thể nào của

hệ thống pháp luật đó là liên quan, phù hợp để giải quyết quan hệ Có thể thấy,quy trình này rất phức tạp, và đôi khi các chủ thể cũng khó chọn ra được một

hệ thống pháp luật để áp dụng

Thứ hai, không phải lúc nào cũng giúp ta xác định được hệ thống pháp

luật cần áp dụng mà có thể dẫn đến các trường hợp dẫn chiếu ngược và dẫnchiếu đến pháp luật của nước thứ ba hay các nước áp dụng bảo lưu trật tự côngcộng

Thứ ba, bản chất của QPXĐ là chức năng dẫn chiếu cho nên có khả

năng dẫn chiếu đến pháp luật nước ngoài và dễ kéo theo những hệ quả như làlẩn tránh pháp luật, gây khó khăn trong việc áp dụng (xác định nội dung, giảithích…)

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài sẽ sử dụngmột số thủ đoạn để áp dụng hệ thống pháp luật có lợi cho mình, tránh áp dụng

hệ thống pháp luật lẽ ra phải được áp dụng vì nó bất lợi cho mình Để áp dụng

hệ thống pháp luật có lợi cho mình và tránh áp dụng hệ thống pháp luật bất lợi,chủ thể của quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể áp dụng các thủ đoạnsau:

Trang 5

Lợi dụng sự khác nhau của các QPXĐ trong hệ thống pháp luật cácnước Các QPXĐ của các nước khác nhau dẫn đến việc lựa chọn luật thực chấtkhác nhau khi cùng giải quyết một vấn đề Nói rộng hơn, đây là thủ đoạn lợidụng sự khác nhau giữa tư pháp quốc tế các nước

Lợi dụng sự khác nhau trong QPXĐ của chính nước có QPXĐ được ápdụng để chọn luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài

Thứ tư, quy tắc giải quyết xung đột ở các nước khác nhau trong cùng

một vấn đề gây khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp

5 Tại sao Tư pháp quốc tế sử dụng cả hai phương pháp điều chỉnh là phương pháp xung đột và phương pháp thực chất.

Phương pháp thực chất là phương pháp điều chỉnh cơ bản của mọi hệ thốngpháp luật, tuy nhiên, với TPQT, chỉ phương pháp thực chất thôi không đủ khả nănggiải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh mà cần phối hợp thêm phương pháp xung đột,

vì những lý do sau đây:

- Đặc thù của tư pháp quốc tế là sự xung đột pháp lý giữa các quốc gia, tư pháp quốc tếlàm nhiệm vụ chọn ra hệ thống pháp luật được áp dụng trong quan hệ dân sự (nghĩarông), vì vậy phương pháp xung đột ra đời để giải quyết vấn đề này Phương phápxung đột được hình thành và xây dựng trên nền tảng hệ thống các quy phạm xung độtcủa quốc gia (kể cả các quy phạm xung đột trong các điều ước quốc tế mà quốc gia đó

là thành viên) Điều này có nghĩa là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phải chọn phápluật của nước này hay nước kia có liên đới tới các yếu tố nước ngoài để xác địnhquyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự

- Các quy phạm thực chất tuy có ưu điểm giải quyết nhanh chóng và rõ ràng các vấn đềpháp lý, tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế (Việc xây dựng QPTC thống nhất cònkhó hơn Do đó không nhiều QPTC Hơn nữa trong ĐƯQT, không phải QG nào cũng

là thành viên của ĐƯQT nên cũng hạn chế việc giải quyết XĐPL), cần sử dụng đếnphương pháp xung đột: Các quan hệ dân sự trong tư pháp quốc tế ngày càng phức tạp(về chủ thể, phạm vi, quyền và nghĩa vụ…), điều này làm các quan hệ thực chất trởnên kém linh hoạt và pháp luật nhanh chóng lạc hậu, không theo kịp quá trình pháttriển của xã hội, đòi hỏi cần có phương pháp giải quyết linh hoạt và hiệu quả hơn

6 Đọc và nhận xét về nội dung quy phạm và hình thức quy phạm tại Phần năm – Bộ luật Dân sự Việt Nam về điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

7 Tại sao Tư pháp quốc tế sử dụng cả ba loại nguồn là điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia và tập quán quốc tế?

Thứ nhất, Điều ước quốc tế là hệ thống những quy phạm pháp luật được xáclập bởi hai hoặc nhiều chủ thể của tư pháp quốc tế thỏa thuận và ký kết nhằm làm phátsinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ giữa các bên trong quan hệ quốc tế Điều ướcquốc tế mang ý nghĩa vô cùng thiết thực, được ký kết điều chỉnh ở nhiều lĩnh vựcquan trọng như thương mại, hàng hải quốc tế, các hiệp định tương trợ tư pháp về dân

sự, dân sự và gia đình, …

Thứ hai, do điều kiện đặc thù riêng của mỗi quốc gia cả về kinh tế, xã hội vàchính trị,…Đồng thời cùng với tính chất đặc thù của tư pháp quốc tế là điều chỉnh mốiquan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài Đây là các mối quan hệ có tính

Trang 6

chất đa dạng và phức tạp Do vậy, để đảm bảo toàn diện việc điều chỉnh của tư phápquốc tế, mỗi quốc gia đều tự ban hành trong hệ thống pháp luật của nước mình nhữngquy phạm để điều chỉnh các vấn đề này.

Cuối cùng, tập quán quốc tế được hình thành trong quan hệ giữa các quốc giavới nhau, lúc đầu được thể hiện thành những quy tắc xử sự chung, do một hay một sốquốc gia đưa ra, có thể thông qua tuyên bố của các cơ quan nhà nước hoặc nhữngngười lãnh đạo cao nhất của quốc gia, sau đó được các quốc gia cùng áp dụng, cùngthừa nhận và trở thành tập quán pháp lý quốc tế

Chính vì thế, tư pháp quốc tế sử dụng cả ba loại nguồn là điều ước quốc tế,pháp luật quốc gia và tập quán quốc tế

8 Hãy liệt kê những văn bản pháp lý là nguồn của Tư pháp quốc tế Việt Nam.

– Công ước La Haye 1971 về luật áp dụng đối với tai nạn giao thông

– Công ước La Haye 1978 về luật áp dụng đối với chế độ tài sản hôn nhân

– Công ước La Haye 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốctế

– Hiệp định TRIPs 1994 về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT.– Công ước Beme 1886 về bảo hộ quyền tác giả

– Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN

– Thoả ước Madrid 1891 và Nghị định thư Madrid 1989 về đăng ký quốc tế nhãn hiệuhàng hoá

– Hiệp ước Washington 1970 về hợp tác đối với sáng chế (PCT)

– Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nướcngoài

– Công ước Vienna 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế

– Nghị định (Regulation) số 593/2008 của Liên minh châu Âu ngày 17/6/2008 về luật

áp dụng đối với các nghĩa vụ hợp đồng (Rome I)

– Công ước Paris 1883 về bảo hộ quyền SHCN (Việt Nam gia nhập năm 1981)

– Thoả ước Madrid 1891 về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá (Việt Nam gia nhậpnăm 1981)

– Hiệp ước Washington 1970 về hợp tác đối với sáng chế (Việt Nam gia nhập năm1993)

– Công ước năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá(Việt Nam gia nhập năm 1982)

– Công ước năm 1966 của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị (Việt Namgia nhập năm 1982)

– Công ước Vienna 1961 về quan hệ ngoại giao và Công ước Vienna 1963 về quan hệlãnh sự (Việt Nam gia nhập năm 1980)

Trang 7

– Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (Việt Nam ký kết cùng các nước thuộcHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1998) ….

– Các Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý ký kết giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩaviệt Nam với các nước như: với Tiệp Khắc năm 1982 (Cộng hoà Séc và Cộng hoàSlovakia kế thừa), Cu Ba năm 1984, Hungary năm 1985, Bungari năm 1986, Ba Lannăm 1993, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào năm 1998, Cộng hoà Liên bang Nga năm

1998, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1998, Cộng hoà Pháp năm 1999, Ucrainanăm 2000, Mông cổ năm 2000, Belarus năm 2000, Cộng hoà dân chủ nhân dân TriềuTiên năm 2002, …

– Các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài như: với Italia năm

1990, Vương quốc Thái Lan năm 1991, Cộng hoà Liên bang Đức 1993, Namibia năm

1993, Ba Lan năm 1994, Cu Ba tế là nguồn của tư pháp quốc tế xuất hiện chủ yếutrong lĩnh vực thương mại và hàng hải

Về đối tượng điều chỉnh, TPQT điều chỉnh theo hai phương pháp điều chỉnh thực chất

và xung đột; CPQT sử dụng phương pháp bình đẳng, thỏa thuận và tự do ý chí của các chủthể Vì CPQT là một hệ thống độc lập giữa các chủ thể là các quốc gia nên không thể sử dụng

áp đặt một phương pháp nào mà phải dựa vào sự tự do tự nguyện của các bên

Về nguồn, TPQT có ba nguồn chính là ĐƯQT, TQQT và PLQG Nguồn của CPQTbao gồm: những điều ước quốc tế; tập quán quốc tế; các nguyên tắc pháp luật chung được cácdân tộc văn minh thừa nhận; quyết định của Tòa án; học thuyết của các luật gia có trình độcao của các nước khác nhau Ngoài ra, nghị quyết của các tổ chức quốc tế cũng là một trongcác nguồn của pháp luật quốc tế

Qua các yếu tố được phân tích ở trên có thể thấy rằng TPQT và CPQT thuộc hai phạm

vi khác nhau, chúng không cùng là một bộ phận của ngành luật quốc tế TPQT là một ngành

của pháp luật quốc gia, CPQT là cả một hệ thống pháp luật quốc tế Quan điểm “Tư pháp quốc tế và Công pháp quốc tế là hai bộ phận của ngành luật quốc tế” là hoàn toàn không

đúng

10 Phân biệt phạm vi điều chỉnh của Tư pháp quốc tế với các ngành Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình -lựa chọn pháp luật áp dụng

-thẩm quyền tòa án

-công nhận và cho thi hành quyết định, bản án

Trang 8

11 Trình bày mối quan hệ giữa Tư pháp quốc tế với các ngành luật khác như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình.

Tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh cácquan hệ dân sự theo nghĩa rộng và có yếu tố nước ngoài

Tư pháp quốc tế có mối quan hệ rất chặt chẽ, không thể tách rời với các ngành luậtkhác như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình, đượcxây dựng trên nền tảng chung là pháp luật quốc gia

Chủ thể của tư pháp quốc tế trước hết là các chủ thể của các ngành luật trong nước,chỉ có thêm yếu tố nước ngoài

Tư pháp quốc tế điều chỉnh những vấn đề như: Thẩm quyền của Tòa án quốc gia;Pháp luật áp dụng; Ủy thác tư pháp, công nhận và cho thi hành Các ngành luật khác nhưLuật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Lao động, Luật Hôn nhân và gia đình không điều chỉnhcác vấn đề này mà chỉ có Tư pháp quốc tế điều chỉnh

Tư pháp quốc tế Việt Nam không thể hiện ở một văn bản pháp quy như Bộ luật dân

sự, Bộ luật hình sự hay các bộ luật, luật khác Tư pháp quốc tế Việt Nam nằm trong nhiềuvăn bản khác nhau như trong Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Đầu tư năm 2020;

Hầu như trong văn bản nào cũng xuất hiện các quy phạm pháp luật của tư pháp quốctế

12 Ngoài tên gọi Tư pháp quốc tế, các quốc gia trên thế giới còn sử dụng tên gọi nào khác để chỉ ngành luật này? Nêu ý nghĩa của các tên gọi đó.

Tại Hoa Kỳ: ban đầu đặt tên là Luật Xung đột (Conflict of Law), do Hoa Kỳ lànhà nước liên bang có hiện tượng xung đột pháp luật trong và ngoài nước

Tại các QG có chế độ đơn nhất: TPQT (private international law), hạn chế là sẽkhông giải quyết được vấn đề như nhiều văn bản PL trong cùng 1 nước điều chỉnh cho

1 mối quan hệ dân sự cụ thể

13 Phân biệt nguyên tắc Đối xử quốc gia và nguyên tắc Tối huệ quốc.

- Nguyên tắc đối xử quốc gia: người nước ngoài được hưởng quyền dân sự và phảithực hiện nghĩa vụ ngang hoặc tương đương với quyền và nghĩa vụ của công dân nước

sở tại được hưởng hoặc sẽ được hưởng trong tương lai (trừ ngoại lệ)

- Nguyên tắc tối huệ quốc: người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài được hưởng mộtchế độ mà nước sở tại dành cho người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài của bất kỳnước thứ ba nào đang được hưởng và sẽ được hưởng trong tương lai

Trang 9

Khái niệm Đối xử quốc gia là một trong những

nguyên tắc cơ bản và phổ biến trongTPQT, theo đó người nước ngoàiđược hưởng quyền dân sự và phảithực hiện nghĩa vụ ngang hoặc tươngđương với quyền và nghĩa vụ củacông dân nước sở tại được hưởnghoặc sẽ được hưởng trong tương lai(trừ ngoại lệ)

Tối huệ quốc là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản và phổ biếntrong TPQT, theo đó người nướcngoài, pháp nhân nước ngoài đượchưởng một chế độ mà nước sở tạidành cho người nước ngoài, phápnhân nước ngoài của bất kỳ nướcthứ ba nào đang được hưởng và sẽđược hưởng trong tương lai

Đối tượng áp

dụng Người nước ngoài Người nước ngoài, pháp nhânnước ngoài

Nội dung

nguyên tắc Người nước ngoài được hưởngquyền, nghĩa vụ ngang hoặc tương

đương với quyền và nghĩa vụ củacông dân nước sở tại

Người nước ngoài, pháp nhânnước ngoài được hưởng một chế

độ mà nước sở tại dành cho ngườinước ngoài, pháp nhân nước ngoàicủa một nước thứ ba bất kỳ

Nguồn luật

14 Trình bày khái niệm, phân nhóm người nước ngoài Ý nghĩa của việc phân

nhóm người nước ngoài.

Khái niệm người nước ngoài:

- Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có

quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch (Điều 3, Luật Nhập cảnh, xuất

cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014; Khoản 5, Điều 3, Luật

Quốc tịch năm 2014)

Phân nhóm người nước ngoài:

- Căn cứ vào quốc tịch: người nước ngoài bao gồm người có quốc tịch nước

ngoài và người không có quốc tịch

- Thời gian cư trú: người nước ngoài thường trú tại VN (có vợ/chồng là người

VN; có công với VN…) và người nước ngoài tạm trú tại VN

- Quy chế pháp lý:

● Những người được hưởng quy chế ngoại giao

Trang 10

● Những người được hưởng quy chế người nước ngoài theo ĐƯQT nhưng

ko thuộc quy chế ngoại giao: chuyên gia, du học sinh, NĐT nướcngoài…

● Những người nước ngoài không thuộc 2 nhóm trên

Ý nghĩa của việc phân nhóm người nước ngoài:

15 Anh (chị) trình bày mục đích của việc xác định quốc tịch của pháp nhân.

Việc xác định quốc tịch của pháp nhân nhằm mục đích xây dựng mối liên hệpháp lý lâu dài, bền vững giữa pháp nhân với quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch

Xác định quốc tịch của pháp nhân giúp xác định pháp luật áp dụng để chi phốicác hoạt động của pháp nhân đó Cụ thể, các vấn đề pháp lý liên quan đến thành lập,giải thể, cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân phải tuân theo quy địnhcủa nhà nước mà pháp nhân đó mang quốc tịch cho dù pháp nhân đó hoạt động trongnước hoặc ở nước ngoài

Khi pháp nhân hoạt động tại nước ngoài sẽ được quốc gia mà mình mang quốctịch bảo vệ về mặt ngoại giao khi các quyền và lợi ích hợp pháp của pháp nhân bị xâmphạm tại nước ngoài

Việc xác định chính xác quốc tịch của pháp nhân nước ngoài còn giúp choquốc gia sở tại kiểm soát hoạt động của các pháp nhân, góp phần bảo vệ chủ quyền anninh quốc gia và lợi ích kinh tế – xã hội của chính quốc gia đó

16 Trình bày nội dung của các quyền miễn trừ quốc gia.

1 Miễn trừ tư pháp

*Quyền miễn trừ xét xử

Thứ nhất nếu không được sự đồng ý của quốc gia thì không có Tòa án nước nàođược quyền thụ lý và giải quyết các vụ việc mà QG là bị đơn Thứ hai ngay cả khiquốc gia đồng ý để cho Tòa án của 1 QG khác xem xét vụ việc mà QG là bị đơn thìkhông đồng nghĩa với việc là QG bị đơn phải chấp nhận phán quyết của Tòa án đốivới vụ việc đó Trường hợp QG là nguyên đơn trong 1 vụ kiện dân sự thì không ápdụng nguyên tắc miễn trừ này

*Quyền miễn trừ các biện pháp bảo đảm cho vụ kiện

Để đảm bảo cho hoạt động tố tụng thì thường có các quy định về các biện phápbảo đảm như: tịch thu, kê biên, niêm phong tài sản,… tuy nhiên trong trường hợp cáctài sản liên quan đến vụ kiện là tài sản của quốc gia, cơ quan tư pháp của 1 nước sẽkhông áp dụng các biện pháp bảo đảm nêu trên, trừ trường hợp quốc gia là bị đơnđồng ý

Trang 11

*Quyền miễn trừ các biện pháp cưỡng chế thi hành án

Thông thường khi Tòa án ra phán quyết đối với 1 vụ việc DS, nếu đã đến thờihiệu thi hành mà bên phải thi hành không tự giác thực hiện theo phán quyết của Tòathì sẽ có cơ chế cưỡng chế thi hành án Tuy nhiên đối với trường hợp bên phải thihành là quốc gia thì ngay cả khi QG đồng ý để cơ quan tư pháp áp dụng các biện phápđảm bảo sơ bộ cho vụ kiện thì cơ quan thi hành án cũng không thể áp dụng biện phápcưỡng chế thi hành án đối với QG

2 Miễn trừ tài sản QG

*Quyền miễn trừ tài sản thuộc sở hữu của QG

Đối tượng tài sản được đề cập trong quyền miễn trừ này thuộc nhóm tài sản củaquốc gia ở nước ngoài Đối với các tài sản mà được xác định là tài sản thuộc quyền sởhữu của nhà nước, sẽ không áp dụng theo nguyên tắc “nơi có tài sản” thông thường

mà sẽ hoặc tuân thủ theo các điều ước quốc tế hoặc các thỏa thuận mang tính quốc tếkhác

17 Trình bày các quan điểm về quyền miễn trừ quốc gia Theo quan điểm các nhân, anh (chị) ủng hộ quan điểm nào? Vì sao?

Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền miễn trừ của quốc gia là tuyệt đối, nghĩa là

quốc gia phải được hưởng quyền này trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốcgia tham gia và trong bất kỳ trường hợp nào Những người theo quan điểm này xuấtphát từ chủ quyền quốc gia là tuyệt đối và bất khả xâm phạm, bất kỳ chủ thể nào cũngkhông có quyền vượt lên trên chủ quyền quốc gia Thậm chí, quyền miễn trừ này cònđược mở rộng cho người đứng đầu của quốc gia khi tham gia vào các mối quan hệ với

tư cách người đứng đầu quốc gia hay tư cách cá nhân Cần nhận thức rõ vấn đề ở đây,khi thừa nhận quyền miễn trừ của quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc

tế là tuyệt đối thì điều này có nghĩa là quốc gia sẽ được hưởng quyền miễn trừ trongtất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự quốc tế và trong tất cả các trường hợp mà quốc giatham gia với tư cách là một bên chủ thể trong quan hệ dân sự quốc tế

Quan điểm thứ hai, Thuyết quyền miễn trừ tương đối do các học giả của các nước

theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa khởi xướng và xây dựng nhằm loại trừ khả nănghưởng quyền miễn trừ của các công ty thuộc sở hữu nhà nước của các nước theo chế

độ chính trị XHCN khi tham gia vào các quan hệ kinh tế thương mại quốc tế Họcthuyết này nhanh chóng được các nước khác ủng hộ và cụ thể hóa vào các đạo luậtquốc gia Theo học thuyết này, quốc gia khi tham gia vào các quan hệ dân sự quốc tế

sẽ được hưởng quyền miễn trừ về tài phán và quyền miễn trừ về tài sản trong tất cảcác lĩnh vực quan hệ dân sự Tuy nhiên, có những trường hợp quốc gia sẽ không đượchưởng quyền này mà phải tham gia với tư cách một chủ thể dân sự như các chủ thể

Trang 12

thông thường khác Như vậy, Thuyết quyền miễn trừ tương đối chấp nhận cho quốcgia được hưởng quyền miễn trừ trong tất cả các lĩnh vực quan hệ dân sự mà quốc giatham gia, nhưng lại hạn chế những trường hợp mà quốc gia sẽ không được hưởngquyền miễn trừ Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sảncủa quốc gia cũng dành nhiều điều quy định về các trường hợp quốc gia không đượchưởng quyền miễn trừ trong các lĩnh vực giao dịch thương mại, hợp đồng lao động,thiệt hại về người và tài sản,…

Theo quan điểm thuyết miễn trừ tuyệt đối.

Phần lớn các quan điểm hiện nay

đều tán đồng Thuyết quyền miễn trừ tuyệt đối của quốc gia, phản đối Thuyết quyềnmiễn trừ tương đối Theo Giáo trình TPQT của Trường Đại học Luật Hà Nội “nộidung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản củacông pháp quốc tế cũng như của TPQT, không có lợi cho việc thúc đẩy giao lưu dân

sự quốc tế”1 Tương tự, theo giáo trình của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội “nộidung thuyết miễn trừ theo chức năng hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản củacông pháp quốc tế cũng như của TPQT” “Pháp luật Việt Nam cũng như thực tiễn tưpháp Việt Nam luôn luôn bảo đảm tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của nhànước nước ngoài bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp nhà nước đó đồng ýtham gia tố tụng tại tòa án Việt Nam”2 Dường như về mặt lý luận, Việt Nam chỉ chấpnhận Thuyết quyền miễn tuyệt đối, công khai bác bỏ Thuyết quyền miễn trừ tương đốicủa quốc gia

Thực tiễn đời sống pháp lý quốc tế cho thấy, nếu chấp nhận Thuyết quyền miễn trừtuyệt đối của quốc gia sẽ có những trường hợp không bảo vệ được một cách hữu hiệulợi ích của các pháp nhân và thể nhân của quốc gia đó khi tham gia vào quan hệ dân

sự với một quốc gia khác và ngược lại, quốc gia chấp nhận Thuyết quyền miễn trừtuyệt đối sẽ bất lợi khi tham gia vào mối quan hệ dân sự với quốc gia hay pháp nhân,thể nhân của quốc gia chấp nhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối Chính vì vậy, chấpnhận Thuyết quyền miễn trừ tương đối cả về lý luận lẫn quy định trong pháp luật thựcđịnh là xu thế không thể đảo ngược của TPQT Thực tiễn đời sống pháp lý Việt Namcũng cho thấy việc coi Thuyết miễn trừ tương đối là trái với các nguyên tắc cơ bản củaCông pháp quốc tế hay của TPQT là thiếu thuyết phục Tiến sĩ Đỗ Văn Đại đã dẫn ramột trường hợp cụ thể để chứng minh cho quan điểm này là vụ tàu Cần Giờ được rấtnhiều người biết đến

Năm 1999, một doanh nghiệp có tên là Mohamed Enterprises của Tanzania ký hợp đồng và thanh toán trước toàn bộ số tiền khoảng 1,4 triệu USD để mua 6.000 tấn gạo của Công ty Thanh Hòa ở Tiền Giang Sau đó, Công ty Thanh Hòa đã thuê một tàu chở gạo để thực hiện hợp đồng trên Nhưng con tàu mà Công ty Thanh Hòa thuê lại

là một con tàu “ma”, trên đường chở gạo đã trốn bặt tăm Không nhận được gạo, Công ty Mohamed Enterprises đã khởi kiện đối tác của Việt Nam… Sự việc cứ kéo dài không được xử lý dứt điểm Bốn năm sau (2003), tàu Sài Gòn của Công ty SEA Saigon cập cảng Tanzania đã bị bắt giữ làm con tin nhằm tạo áp lực buộc phía Việt Nam thanh toán số nợ năm 1999 Ngày 22/7/2005, Tòa án Tanzania tuyên phạt phía Việt Nam gần 2 triệu USD bao gồm tiền bồi thường thiệt hại từ hợp đồng gạo với Công ty Mohamed Enterprises và tiền lãi phát sinh Phán quyết ghi rõ, Chính phủ Việt Nam là bị đơn thứ 12 của vụ án Theo tòa án, quyền miễn trừ tư pháp của nhà

Ngày đăng: 17/02/2023, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w