1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đề tài vận dụng quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại vào ngành quản trị kinh doanh quốc tế

24 2 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Tài Vận Dụng Quy Luật Chuyển Hóa Từ Những Thay Đổi Về Lượng Dẫn Đến Những Thay Đổi Về Chất Và Ngược Lại Trong Ngành Quản Trị Kinh Doanh Quốc Tế
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh Quốc tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 237,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 2 1 Đặt vấn đề 2 2 Mục tiêu và nhiệm vụ 3 3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3 4 Phương pháp nghiên cứu 4 5 Nguồn tài liệu tham khảo 4 6 Kết cấu của đề tài 4 PHẦN NỘI DUN[.]

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

1 Đặt vấn đề 2

2 Mục tiêu và nhiệm vụ: 3

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 3

4 Phương pháp nghiên cứu: 4

5 Nguồn tài liệu tham khảo: 4

6 Kết cấu của đề tài: 4

PHẦN NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT: QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI 5

1.1 Nội dung quy luật lượng – chất 5

1.2 Phân tích quy luật lượng – chất 5

1.2.1 Phạm trù “chất” 5

1.2.2 Phạm trù “lượng” 6

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo quy luật lượng – chất: 7

1.3.1 “Độ” 7

1.3.2 “Điểm nút” 7

1.3.3 “Bước nhảy” 8

1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 9

Trang 2

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 9

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO NGÀNH HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ CHẤT LƯỢNG CAO 9

2.1 Mối tương quan giữa các khái niệm phạm trù thuộc quy luật lượng chất với ngành học quản trị kinh doanh quốc tế chất lượng cao 9

2.2 Quy luật lượng chất trong sự chuyển giao từ bậc THPT sang bậc Đại học .10 2.3 Quy luật lượng chất trong việc tích lũy kiến thức 12

2.3.1 Khuynh hướng tả khuynh và khuynh hướng hữu khuynh 12

2.3.2 Tự giác không ngừng tích luỹ kiến thức 13

2.4 Quy luật lượng chất trong xu hướng của ngành học Quản trị Kinh doanh quốc tế Chất lượng cao 13

2.4.1 Hướng góc nhìn ra ngoài thế giới: 13

2.4.2 Đưa góc nhìn trở lại Việt Nam 14

2.4.3 Nhìn nhận chính bản thân người học 15

2.5 Quy luật lượng chất trong vấn đề cân bằng cuộc sống trong ngành QTKDQT 15

2.5.1 Cân bằng trong quá trình học tập 16

2.5.2 Cân bằng tạo nền tảng bền vững cho cuộc sống 16

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 17

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

về chất và ngược lại là một vấn đề cơ bản, phổ biến về phương thức chung và tính chấtcủa quá trình vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội

và trong tư duy của con người Khi nắm được phép biện chứng duy vật nói chung, vàquy luật sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và ngược lại nóiriêng, ta sẽ đề ra các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động lý luận và thực tiễncủa mình theo con đường đúng đắn, gặt hái thành công

Bắt đầu từ nửa sau của thế kỉ XX, cuộc cách mạng Khoa học - Công nghệ vớinhững thành tựu về cả khoa học cơ bản lẫn công nghệ đã mang đến tác động tích cựcnhất là việc hình thành một thị trường thế giới với xu thế toàn cầu hóa Bắt đầu từ thậpniên 80 của thế kỷ trước (đặc biệt sau Chiến tranh lạnh) cho đến nay, toàn cầu hóa vàhội nhập kinh tế quốc tế đã trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Đây là một xu thế kháchquan, một thực tế không thể đảo ngược [2] mà biểu hiện là sự phát triển nhanh chóng

và to lớn của quan hệ thương mại quốc tế, công ty xuyên quốc gia, sự ra đời và sápnhập của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực, các tậpđoàn lớn Trước bối cảnh đó, kinh doanh quốc tế đóng vai trò như một mắt xích khôngthể thiếu trong cỗ máy hội nhập kinh tế quốc tế khổng lồ Bằng việc nắm bắt được trithức của ngành kinh doanh quốc tế, ta có thể vận hành cỗ máy ấy hiệu quả nhất cóthể

Khi xét đến phương diện tri thức, học tập chính là quá trình tích lũy tri thức vôhạn, bản thân nó luôn có sự vận động và biến đổi không ngừng Quá trình tích lũy trithức ở mỗi người không giống nhau mà còn tùy thuộc vào khả năng tiếp thu, mục đích

và điều kiện học tập của mỗi người Bất kể quá trình tiếp thu diễn ra dù nhanh haychậm, dù ít hay nhiều thì sự tích lũy về tri thức ấy đều khiến cho con người đạt đếnnhững thay đổi nhất định, Triết học gọi đó là “sự biến đổi về chất.” Sự vận động, biếnđổi trong quá trình học tập của con người có tính trật tự và mối liên hệ mang tính lặplại diễn ra theo một quy luật, cụ thể là “quy luật lượng - chất”

Trang 4

Từ ba khía cạnh trên, ta thấy được tầm quan trọng của việc nhận thức đúng đắnkhái niệm, mối quan hệ biện chứng và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật lượngchất; của hoạt động học tập nói chung và tri thức về kinh doanh quốc tế nói riêng Vìvậy, trong tiểu luận này tác giả sẽ bàn về đề tài: “Vận dụng quy luật chuyển hóa từnhững thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại vào ngành quảntrị kinh doanh quốc tế.”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ:

Lựa chọn đề tài này cho bài tiểu luận, tác giả mong muốn làm rõ nội dung cùngcác khía cạnh liên quan của quy luật lượng chất để từ đó giải quyết vấn đề sinh viênhiện nay vận dụng quy luật này như thế nào vào ngành học Quản trị kinh doanh quốc

tế Đồng thời định hướng đúng cho sinh viên trong việc lĩnh hội tri thức ngành và ápdụng vào thực tiễn

Muốn làm được điều đó, yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu đề tài bao gồm:

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tế khi tham gia học tập ngànhKinh doanh quốc tế

 Trình bày và phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động học tập của sinh viênngành Quản trị kinh doanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thôngqua góc nhìn đa chiều và số liệu cụ thể có tính chính xác cao

 Đưa ra các giải pháp hiệu quả và khả thi dựa trên cơ sở lý luận về quy luậtlượng chất nhằm nâng cao hoạt động học tập của sinh viên ngành Quản trị Kinhdoanh quốc tế - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Việc vận dụng quy luật lượng chất vào ngànhhọc Quản trị Kinh doanh quốc tế

Phạm vi nghiên cứu:

 Phạm vi về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về quy luật lượng chấtvào hoạt động học tập cho sinh viên ngành Quản trị Kinh doanh quốc tế Chấtlượng cao tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cụ thể tại số 207 Giải Phóng,Đồng Tâm, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam.)

Trang 5

 Phạm vi về mặt thời gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động học tập ngành Quản trịKinh doanh quốc tế Chất lượng cao từ năm 2012 đến nay Năm 2012 là nămViện đào tạo Tiên Tiến, Chất lượng cao và POHE (AEP) trực thuộc Trường Đạihọc Kinh tế Quốc dân mở thêm chương trình Quản trị Kinh doanh Quốc tế Chấtlượng cao

 Phạm vi về mặt nội dung: ?

4 Phương pháp nghiên cứu:

Nhằm thực hiện được các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục tiêu nghiên cứu,tác giả đã sử dụng các phương pháp sau đây:

 Phương pháp luận: sử dụng cơ sở lý luận từ quy luật lượng chất để ứng dụngvào quá trình học tập của sinh viên ngành Từ đó làm rõ định hướng cho sinhviên, phương thức để nắm bắt và ứng dụng kiến thức ngành

 Phương pháp hệ thống hóa tài liệu: tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu đảmbảo chính xác và chất lượng, đáng tin cậy; nhằm làm rõ vấn đề và mang đến cáinhìn toàn diện, bao quát hơn

 Phương pháp quan sát: quan sát từ chính bản thân và các sinh viên xung quanhtrong thực tiễn nhằm mang lại cái nhìn khách quan, sát thực tế, không xa rờithực tế

 Phương pháp

5 Nguồn tài liệu tham khảo:

 Sách

 Thông tin từ các website chính thống

 Bài viết trên các tạp chí chuyên ngành

6 Kết cấu của đề tài:

Số lượng chương

Tóm tắt nội dung triển khai trong từng chương/phần:

Trang 6

Chương 1….: Trong chương này, tác giả…

Chương 2: Nội dung của chương này tập trung…

Chương 3: Trên cơ sở phân tích….tác giả…

Đây là đề tài mang tính lý luận vận dụng thực tiễn, đòi hỏi tầm nhìn tổng quát,khả năng nắm bắt và vận dụng sâu sắc vào quá trình học tập của bản thân nói riêng vàtoàn thể sinh viên nói chung

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT: QUY LUẬT CHUYỂN HOÁ TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

1.1 Nội dung quy luật lượng – chất

Theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, bất cứ một sự vật, hiện tượng nàocũng bao gồm mặt chất và mặt lượng Hai mặt đó thống nhất hữu cơ với nhau trong sựvật, hiện tượng Từ mối liên hệ giữa chất và lượng, hình thành quy luật lượng – chấthay còn gọi là quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thayđổi về chất và ngược lại Đây cũng là một trong ba quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật trong Triết học Mác – Lênin

Quy luật phát biểu rằng: “Bất kỳ sự vật nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng, sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn tới thay đổi căn bản về chất của sự vật thông qua bước nhảy; chất mới ra đời sẽ tác động trở lại tới sự thay đổi của lượng” [3]

Quy luật cho ta thấy sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng quaqua sựthay đổi về lượng trong mỗi sự vật dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa sựvật sang một trạng thái phát triển tiếp theo Theo Ph.Ăng-ghen, ông đã khái quát quy

luật này như sau: “Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất” [3].

1.2 Phân tích quy luật lượng – chất

1.2.1 Phạm trù “chất”

Trang 7

“Chất” là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của

sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ khôngphải là cái khác Đặc điểm cơ bản của chất là nó thể hiện tính ổn định tương đối của sựvật, hiện tượng Bên cạnh đó, mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình tồn tại, phát triểnqua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có những biểu hiện về chất khác nhau Bởi thế,

có thể nói mỗi sự vật có thể có rất nhiều chất [3] Chất và sự vật có mối quan hệ chặtchẽ, không tách rời nhau và trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không

có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật

Những chất vốn có quy định sự vật, hiện tượng được biểu hiện qua tổng hợpnhững thuộc tính cơ bản của nó Các thuộc tính đó có thể là những tính chất, nhữngtrạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật, đã gắn liền với sự vật từ khi sinh ra hoặchình thành trong quá trình phát triển của sự vật Thuộc tính ở đây có thể hiểu là “tínhchất”, như tính dẫn điện, tính co giãn, tính chua, tính ngọt…Trong đó có thuộc tính cơbản và thuộc tính không cơ bản, nhưng chỉ có thuộc tính cơ bản mới tạo thành chất của

sự vật Tuy nhiên, sự phân chia thuộc tính thành cơ bản và không cơ bản chỉ mang tínhtương đối Vì vậy, muốn nhận thức đúng đắn về những thuộc tính của sự vật, chúng taphải thông qua sự tác động qua lại của sự vật đó thông qua các quan hệ, mối liên hệvới các sự vật khác

Đồng thời, việc đặt sự vật, hiện tượng vào các mối liên hệ khác nhau khi phântích giúp ta xác định đúng bản chất của sự vật, hiện tượng Bởi vì, chất của sự vật, hiệntượng không những được quyết định bởi những yếu tố tạo thành mà còn bởi phươngthức liên kết giữa các yếu tố đó, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật Một ví dụ điển hìnhminh họa cho việc này là hiện tượng đồng phân, rất phổ biến trong hóa học Một đồngphân là một loài hóa học có cùng số lượng và các loại nguyên tử như một loài hóa họckhác, nhưng chúng sở hữu các tính chất riêng biệt bởi vì các nguyên tử được sắp xếpthành các cấu trúc hóa học khác nhau [4], tức phương thức liên kết giữa các nguyên tửnày là khác nhau

Ví dụ: C H N là một đồng phân Một hợp chất thuộc đồng phân này chính là₁₀ ₁₅phentermine, rất quen thuộc trong các loại thuốc giảm cân khi có tác dụng ức chế sựthèm ăn, nhưng không hoạt động như một chất kích thích Nhưng khi sắp xếp lại cácnguyên tử giống nhau từ cùng đồng phân C H N, ta lại tạo ra₁₀ ₁₅dextromethamphetamine, một chất kích thích mạnh thuộc họ amphetamine [4] [5], vốn

là chất ma túy tổng hợp nguy hiểm mà hiện nay đã bị cấm [6]

Trang 8

Mỗi sự vật đều có giới hạn tồn tại của mình Khi xem xét sự vật trong tính xácđịnh về chất của nó, ta thường so sánh sự vật đó với các sự vật khác Sự so sánh nàygiúp ta hình thành về giới hạn tồn tại của sự vật, vượt qua giới hạn của mình, sự vậtkhông còn là nó mà trở thành một cái gì đó khác Điều đó có nghĩa, chất của sự vậtđồng nghĩa với tính có hạn của nó.

1.2.2 Phạm trù “lượng”

“Lượng” là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật vềmặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như cácthuộc tính của sự vật [3] Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượngnhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…Trong thực tế, lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lường cụthể, ví dụ: mét, giây, kilogram Bên cạnh đó, có những lượng chỉ có thể biểu thị dướidạng trừu tượng và khái quát, ví dụ: trình độ dân trí, ý thức pháp luật…

Ví dụ: Trong một hình tam giác, lượng chính là số lượng cạnh cấu tạo nên nó,nghĩa là mỗi tam giác bao gồm ba cạnh

Cũng như chất của sự vật, lượng của sự vật cũng mang tính khách quan, đây làđặc điểm cơ bản của lượng vì bản thân lượng chính là biểu hiện của vật chất trongkhông gian hoặc thời gian nhất định Nhưng khác với tính ổn định tương đối của chất,lượng lại mang tính biến đổi Trong sự tồn tại khách quan của mình, sự vật nào cũng

có vô vàn chất, do đó, sự vật nào cũng có vô vàn lượng Lượng đó có thể là yếu tố bêntrong hoặc bên ngoài sự vật, có thể là con số chính xác cụ thể hoặc chỉ bằng nhận thức,khái niệm trừu tượng [3]

Ví dụ một con người, yếu tố bên ngoài là chiều cao, cân nặng, số ngón tay,ngón chân, yếu tố bên trong lại là khả năng nhận thức, chỉ số IQ, nồng độ hồng cầutiểu cầu?

Chất và lượng là hai mặt không thể tách rời và quy định lẫn nhau Một chất nhấtđịnh của sự vật có lượng tương ứng với nó Sự biến đổi tương quan giữa chất và lượngtạo nên tiến trình phát triển của sự vật Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ mang tínhchất tương đối, nó phụ thuộc vào từng mối liên hệ cụ thể [3]

1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất theo quy luật lượng – chất:

Trang 9

Để khái quát nội dung quy luật lượng - chất, người ta đã phát biểu như sau: Mọi đối tượng đều là sự thống nhất của hai mặt đối lập chất và lượng, những sự thay đổi dần dần về lượng vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất thông qua bước nhảy, chất mới ra đời tiếp tục tác động trở lại duy trì sự thay đổi của lượng [3]

Để cụ thể hóa kết luận trên, chúng ta cần nắm bắt được các khái niệm phạm trù

có liên quan Các khái niệm quen thuộc như “Chất”, và “Lượng” đã được làm rõ ở các

đề mục trước, ở các mục tiếp theo thuộc phần này, chúng ta sẽ đến với các khái niệmkhác không kém phần quan trọng

1.3.1 “Độ”

“Độ” là khái niệm dùng để chỉ giới hạn tồn tại của sự vật và hiện tượng màtrong đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất; sự vật, hiện tượng đóvẫn là nó và chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác [3]

1.3.2 “Điểm nút”

“Điểm nút” là điểm giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi

về chất có thể phá vỡ độ cũ, làm cho sự vật hiện tượng thay đổi và chuyển hóa thànhchất mới, thời điểm mà tại đó xảy ra bước nhảy được gọi là điểm nút Độ được giớihạn bởi điểm nút và sự tích lũy về lượng đạt tới điểm nút dẫn đến sinh ra chất mới [3].Chất mới ra đời tạo nên sự thống nhất giữa lượng mới và chất mới tạo ra độ mới vàđiểm nút mới

1.3.3 “Bước nhảy”

“Bước nhảy” là khái niệm dùng để chỉ sự kết thúc của một giai đoạn phát triểncủa sự vật và là điểm khởi đầu của giai đoạn phát triển mới Có thể hiểu bước nhảy làkhi tất cả các hiện tượng sau diễn ra đồng thời, bao gồm: sự chuyển hóa từ chất nàysang chất khác, sự thay đổi về lượng chuyển thành sự thay đổi về chất, sự giải quyếtcác mâu thuẫn đã chín muồi và sự phủ định các hình thức tồn tại trước đó Suy ra, sựvật, hiện tượng mới ra đời là do bước nhảy được thực hiện Tùy vào sự vật, hiệntượng, mâu thuẫn giữa chúng và điều kiện tồn tại khác nhau mà có nhiều hình thứcbước nhảy khác nhau [3]:

Trang 10

Như vậy, chúng ta có thể nhận định chắc chắn rằng: Mọi sự vật, hiện tượngluôn luôn có sự tồn tại của mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt chất và lượng, từ đóchỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng đó Mối quan hệ nàybiện chứng ở chỗ hai mặt đó không tách rời nhau mà luôn song hành với nhau và tácđộng lẫn nhau, quy định sự tồn tại của nhau

Xét “Lượng đổi dẫn đến chất đổi”: lượng là yếu tố động, còn chất tương đối ổnđịnh; lượng biến đổi dần dần và tuần tự, có xu hướng tích lũy đạt tới điểm nút, khi ấydiễn ra sự nhảy vọt, tức sự biến đổi về chất, hay cái cũ mất đi, cái mới ra đời thay thếcái cũ

Tác động ngược trở lại, “Chất đổi dẫn đến chất đổi”: khi chất mới ra đời sẽ quyđịnh lượng mới tương ứng với nó Lượng mới ấy lại biến đổi, tích lũy trong khoảngthời gian gọi là độ mới, đủ để đạt tới điểm nút mới, tại đây thực hiện bước nhảy mớinhanh chóng và toàn diện để cho ra đời một chất mới Cứ như thế quá trình này diễn ramột cách tuần tự và kéo dài vô cùng vô tận

Các trạng thái tồn tại của H2O chính là minh họa rõ nét cho mối quan hệ biệnchứng giữa chất và lượng này:

nào đó của sự vật, hiện tượng

Theo thời gian và cơ chế sự thay đổi về chất

Bước nhảy tức thời: làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận

và các mặt của sự vật, hiện tượng

Bước nhảy dần dần: là quá trình diễn

ra theo sự tích lũy dần dần các yếu

tố của chất mới, đồng thời loại bỏ dần các yếu tố của chất cũ, hình thức này biểu hiện quá trình biến đổi của

sự vật, hiện tượng diễn ra chậm hơn.

Trang 11

1.4 Ý nghĩa phương pháp luận

Trong nhận thức và thực tiễn, phải biết tích lũy về lượng để có biến đổi về chất;không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ [3]

Khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quancủa sự vận động của sự vật, hiện tượng vì vậy tránh chủ quan nóng vội, đốt cháy giaiđoạn cũng như bảo thủ, thụ động [3]

Phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm khi thực hiện bước nhảy,trong lĩnh vực xã hội, bên cạnh điều kiện khách quan, thì còn phải chú ý đến điều kiệnchủ quan [3]

Phải nhận thức được phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu thành sự vật, hiệntượng để lựa chọn được phương pháp phù hợp, đúng trọng tâm để giải quyết vấn đề,tránh lan man, lãng phí thời gian và công sức [3]

Từ quy luật lượng – chất, chúng ta hiểu rằng mọi sự vật, hiện tượng đều vậnđộng và phát triển nhưng cần một quá trình và từ bên ngoài tác động vào, để từ đóchúng ta biết cách bố trí thời gian, cố gắng kiên trì cho bất cứ một kế hoạch hợp lý nào

đó đã được chính bản thân đặt mục tiêu

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, trong Chương I, chúng ta đã làm rõ được các khái niệm phạm trù cơbản thuộc quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vềchất và ngược lại, từ đó nắm được nội dung và ý nghĩa của quy luật và áp dụng nó vàothực tiễn nói chung, mà cụ thể là vào Hoạt động học tập trong ngành Quản trị Kinhdoanh quốc tế Chất lượng cao mà ta sẽ bàn tới ở chương tiếp theo

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG QUY LUẬT LƯỢNG CHẤT VÀO NGÀNH HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ CHẤT LƯỢNG CAO

2.1 Mối tương quan giữa các khái niệm phạm trù thuộc quy luật lượng chất với ngành học quản trị kinh doanh quốc tế chất lượng cao

Vì lượng chất chỉ mang tính tương đối và một vâtj có vô vàn chất, lượng (phapanggen) nên ở đây tác giả xin đề cập những chất và lượng chính nhất, đồng thời mangtính tương đối phù hợp với đối tượng xét đến của vấn đề:

Trang 12

Đối với ngành học Quản trị Kinh doanh quốc tế Chất lượng cao, tương tự nhưtất cả mọi sự vật, hiện tượng khác trong thực tế khách quan, bản thân nó cũng bao gồm

sự tồn tại thống nhất của hai mặt chất và lượng Với phương diện về “chất”: ngành cónhững thuộc tính vốn có để quy định chính bản thân nó chứ không phải một ngành nàokhác, bao gồm: lĩnh vực quản trị, kinh doanh trong bối cảnh quốc tế, đào tạo theochương trình Chất lượng cao, kiến thức nghiệp vụ yêu cầu, cơ hội việc làm sau khi tốtnghiệp,

Với phương diện “lượng”: từ những thuộc tính của ngành, sẽ có những lượngnhất định tương ứng có thể kể đến như: số lượng tín chỉ, thời gian học tập, số lượngchỉ tiêu ngành, học phí ngành, lượng kiến thức yêu cầu, lượng sinh viên có việc làmngay sau khi tốt nghiệp,

Sinh viên theo học ngành QTKDQT CLC vốn là lượng, nhưng bởi vì: “sự phânbiệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối, tùy theo từng mối quan hệ mà xácđịnh đâu là lượng và đâu là chất; cái là lượng trong mối quan hệ này, lại có thể là chấttrong mối quan hệ khác [9].” Thế nên, ta sẽ xét người học ngành QTKDQT CLC nhưmột chất và có những lượng tương ứng Bản chất là những người đã tốt nghiệp bậcTHPT, thi đỗ vào trường Đại học Kinh tế Quốc dân và trúng tuyển hệ Chất lượng cao,

là sinh viên, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và ?? huhu, lượng là lượng kiến thứcnền tảng ở THPT, lượng kĩ năng, lượng chất xám, IQ EQ AQ, lượng thời gian dànhcho môn học, lượng quan hệ, lượng tiền, số lượng sinh viên 1 lớp, 30 tiếng anh

Khi đã nắm bắt rõ được bản chất và cả các tiêu chí cần về lượng, sinh viên sẽhiểu rõ hơn về ngành học của mình, từ đó vạch ra kế hoạch, định hướng tốt để đạt kếtquả toàn diện nhất trong khả năng của mình

list rõ thông tin song song với tiêu chí chất

Như vậy, từ việc phân tích quy luật lượng chất vào ngành học, ta nắm được mộtphần bản chất ngành học, yêu cầu ngành, từ đó giúp định hướng cách thức phát triển,học tập kiến thức ngành và vận dụng kiến thức đó tốt nhất cho sự nghiệp sau này…

Ngày đăng: 17/02/2023, 20:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2021
[2] Lịch sử 12, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2006, pp. 67-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử 12
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2006
[3] Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, 2021, pp. 237-244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2021
[7] Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật, 2021, p. 240 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia sự thật
Năm: 2021
[9] C. W. L. Hill, Kinh doanh quốc tế hiện đại, TP. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2016, p. 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế hiện đại
Tác giả: C. W. L. Hill
Nhà XB: Nhà xuất bản kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2016
[10] Y. N. Harari, Sapiens - Lược sử loài người, Nhà xuất bản Tri thức, 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sapiens - Lược sử loài người
Tác giả: Y. N. Harari
Nhà XB: Nhà xuất bản Tri thức
Năm: 2017
[11] C. w. L. Hill, Kinh doanh quốc tế hiện đại, TP. Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, 2016, pp. 58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh quốc tế hiện đại
Tác giả: C. W. L. Hill
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2016
[14] "Physical Activity," 5 10 2022. [Online]. Available: https://www.who.int/news- room/fact-sheets/detail/physical-activity Sách, tạp chí
Tiêu đề: Physical Activity
Năm: 2022
[15] Plato, "Plato Quotes," [Online]. Available: https://loveexpands.com/quotes/plato- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plato Quotes
Tác giả: Plato
[4] A. M. Helmenstine, "Định nghĩa đồng phân và các ví dụ trong hoá học," [Online].Available: https://vi.eferrit.com/djinh-nghia-djong-phan-va-cac-vi-du-trong-hoa-hoc/ Link
[5] "Phentermine and Amphetamine Compared," [Online]. Available:http://www.phentermine.net/phentermine-and-amphetamin-compared.php Link
[8] "Các chuyên ngành đào tạo," [Online]. Available:https://aep.neu.edu.vn/train/tien-tienud3/ Link
[12] A. J. G. F. Deng W, "New neurons and new memories: how does adult hippocampal neurogenesis affect learning and memory?," 1 10 2010. [Online].Available: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2886712/ Link
[6] N. H. Đức, "Amphetamine thuộc loại gây nghiện rất nguy hiểm," Tuổi Trẻ, 22 6 2018 Khác
[13] O. F. Krueger JM, "A neuronal group theory of sleep function," Journal of Sleep Research, pp. 63-69, 6 1993 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w