1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản, phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản (tailieuluatkinhte com)

14 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản, phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản (tailieuluatkinhte com)
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Bài viết nghiên cứu
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 51,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https tailieuluatkinhte com A PHẦN MỞ ĐẦU Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại quyền sở h.https tailieuluatkinhte com A PHẦN MỞ ĐẦU Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại quyền sở h.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại quyền sở hữu về tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, thậm chí xâm phạm cả quyền nhân thân Các tội xâm phạm sở hữu là loại tội phạm xảy ra khá phổ biến trong thực tế, ví dụ như tội cướp tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Việc nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc các tội phạm sở hữu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng trong đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm này

Nhận thức được tầm quan trọng đó, bài viết về đề tài: “Phân tích các dấu

hiệu pháp lý của tội cướp tài sản? Phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản?” là kết quả nghiên cứu, tìm kiếm thông tin cũng như quá trình học

tập, tiếp thu kiến thức của em trong thời gian vừa qua

Bài viết được trình bày bao gồm các nội dung sau:

Phần I Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản.

Phần II Phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản.

Các phân tích, phân biệt các tội danh trong bài là sự lý giải một cách cụ thể, rõ ràng kết hợp với việc đan xen các ví dụ dễ hiểu để chứng minh, làm rõ vấn đề

1

Trang 2

B PHẦN NỘI DUNG

I PHÂN TÍCH CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN

*Cơ sở pháp lý: Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm

20171

1 Khái niệm tội cướp tài sản

Cướp tài sản là một trong các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong

Bộ luật hình sự Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân và quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con người

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi

bổ sung năm 2017, có thể hiểu: “Tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa

1 Điều 168 Bộ luậ hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: “1 Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực

ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng

tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

2

Trang 3

dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản”

Mà trước đó hành vi cướp tài sản được quy định là tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa tại Điều 129 và tội cướp tài sản của công dân quy định tại Điều 151

Bộ luật hình sự năm 1985 Quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 và tới nay là Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 so với các quy định cũ đã có nhiều sửa đổi bổ sung, nhất là đối với các tình tiết là yếu

tố định khung hình phạt, quy định cụ thể hơn, dễ áp dụng hơn và đã bỏ hình phạt

tử hình đối với tội danh này

2 Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản

2.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân và quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con người Như vậy, có thể hiểu khách thể của cướp tài sản bao gồm cả quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân, hay nói cách khác, tội cướp tài sản là tội phạm cùng một lúc xâm phạm hai khách thể, nhưng khách thể bị xâm phạm trước là quan hệ nhân thân, thông qua việc xâm phạm đến nhân thân

mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản (dùng vũ lực,… nhằm chiếm đoạt tài sản), nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội cướp tài sản không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được Đây cũng là đặc trưng cơ bản của tội cướp tài sản, nếu chỉ xâm phạm đến một trong hai quan hệ

xã hội thì chưa phản ảnh đầy đủ bản chất của tội cướp tài sản, đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội cướp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác và các tội

mà người phạm tội có hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản

Do tội cướp tài sản cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể, nên trong cùng một vụ án có thể có thể có một người bị hại, nhưng cũng có thể có nhiều người bị hại, có người bị hại chỉ bị xâm phạm đến tài sản; có người bị hại bị

3

Trang 4

xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự; có người bị hại bị xâm phạm đến cả tài sản, tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự

2.2 Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội cướp tài sản thể hiện ở hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng sức mạnh

vật chất2 gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản Người phạm tội có thể sử dụng công cụ, phương tiện tác động vào thân thể của người khác Đối tượng tác động có thể là chủ tài sản hoặc bất kỳ người nào mà người phạm tội cho rằng có thể ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản của mình

Hành vi dùng vũ lực tấn công nạn nhân ở tội cướp tài sản có thể làm cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết, nhưng cũng có thể

chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật) Ví dụ: Làm cho

người bị tấn công bị thương tích, bị trói lại, bị nhốt lại thậm chí bị giết chết nhằm chiếm đoạt tài sản Khi người bị tấn công đã (bị trói, bị thương, bị chết, bị

tước tự do ) như vậy chính là họ đã "lâm vào tình trạng không thể chống cự được" mà điều luật quy định Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt hành vi dùng

vũ lực trong tội cướp tài sản có tính chất nguy hiểm cao so với hành vi dùng vũ lực nhưng người có hành vi không nhằm “đương đầu” và cũng không làm tê liệt

ý chí của người bị tấn công mà chỉ để dễ dàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng trong tội cướp giật tài sản (Điều 171 Bộ luật hình sự) như đánh vào tay cho rời tài sản rồi nhanh chóng chiếm đoạt, xô ngã người khác

2 Xem: Trường Đại học Luật Hả Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2009, tr 14 – 15: Sức mạnh vật chất là việc người phạm tội “có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm

tội như dao, súng trợ giúp) tác động đến thân thể người bị tấn công (thường là người chủ tài sản hoặc người

có trách nhiệm quản lí, bảo vệ tài sản làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm Bằng hành vi tấn công như vậy, người phạm tội không chỉ nhằm(mong muốn) mà trên thực tế thường đã làm tê liệt sự chống cự của người bị tấn công, làm cho khả năng thực tế của sự chống cự không thể xảy ra hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt về ý chí, không dám kháng cự”

4

Trang 5

rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát Vì vậy nếu hành

vi dùng vũ lực mà không làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không

thể chống cự được, "không đến mức làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân hoặc làm cho sự phản kháng không thể xảy ra nhằm chiếm đoạt tài sản như định (mong muốn) đánh, bắn, chém  bị thương người khác nhằm chiếm đoạt

tài sản của họ nhưng lại bắn chệch hoặc bị người này tránh được và ngăn chặn hay chống lại được và cũng không chiếm đoạt được tài sản là trường hợp phạm tội chưa đạt

Đối với những vụ cướp có nhiều người cùng tham gia (đồng phạm), không nhất thiết tất cả những người tham gia đều phải dùng vũ lực, mà chỉ cần một hoặc một số người dùng vũ lực, còn những người khác có thể không dùng

vũ lực hoặc chỉ đe doạ dùng vũ lực, nhưng tất cả những người cùng tham gia đều bị coi là dùng vũ lực3. 

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản là

hành vi đe dọa dùng ngay lập tức, tại chỗ sức mạnh vật chất với ý thức làm cho người bị đe dọa có căn cứ để lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện ngay nếu không để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản Ví dụ: Dí dao vào cổ, dí súng vào đầu yêu cầu người bị hại giao ngay tài sản nếu không sẽ bị đâm, bị bắn ngay lập tức

Việc xác định thế nào là đe doạ dùng vũ lực không khó bằng việc xác

định thế nào là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc Đây là dấu hiệu rất quan trong

để phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản, nếu đe doạ dùng vũ lực nhưng không ngay tức khắc thì đó là là dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản Ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội Đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc, cũng có nghĩa là

3 Luật sư Phạm Tuấn Anh, Tội cướp tài sản.

5

Trang 6

nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện

Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi khác ngoài hành vi dùng vũ

lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc có khả năng làm cho người khác lâm vào tình trạng tê liệt sức phản kháng Ví dụ: Dùng thuốc độc, thuốc mê làm cho người khác mê man, bất tỉnh để chiếm đoạt tài sản

Lưu ý:

- Hậu quả của hành vi cướp là có lấy được tài sản hay không, giá trị tài sản ít hay nhiều không làm ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội mà chỉ có ý nghĩa về mặt định khung hình phạt

- Thời điểm hoàn thành của tội phạm này được xác định từ lúc người phạm tội thực hiện hành vi một trong các hành vi nêu trên

2.3 Mặt chủ quan của tội phạm

Tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý Với mục đích phạm tội là chiếm đoạt tài sản của người khác và động cơ phạm tội là vụ lợi Như vậy, ý thức chiếm đoạt tài sản của người phạm tội phải có trước khi thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được Nếu có hành vi tấn công nhưng vì động cơ và mục đích khác chứ không nhằm chiếm đoạt tài sản, nhưng sau đó người bị tấn công bỏ chạy, để lại tài sản và người có hành vi tấn công lấy tài sản đó thì không phải là tội cướp tài sản mà tuỳ vào trường hợp

cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi tấn công theo các tội tương ứng, riêng hành vi chiếm đoạt của người có hành vi tấn công có thể là hành vi phạm tội công nhiên chiếm đoạt hoặc chiếm giữ trái phép tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể Tuy nhiên, thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy còn nhiều hạn chế về vấn đề này, hầu hết những trường hợp khi tấn công người phạm tội

6

Trang 7

không có ý định chiếm đoạt tài sản mà vì động cơ, mục đích khác như để trả thù, nhưng sau khi đã thực hiện hành vi tấn công, người bị tấn công bỏ chạy để lại tài sản, người có hành vi tấn công lấy tài sản đó đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự

về tội cướp tài sản Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội về tội cướp tài sản trong trường hợp này rõ ràng là không chính xác

Ngoài ra, trên thực tiễn xét xử cũng có nhiều trường hợp tuy lúc đầu người phạm tội không có ý định chiếm đoạt tài sản, nhưng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, người phạm tội đã nảy sinh ý định chiếm đoạt và sau đó tiếp tục có hành vi dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng được tài sản thì hành vi chiếm đoạt tài sản vẫn bị coi là hành vi phạm tội cướp tài sản Khoa học luật hình sự coi trường hợp này là trường hợp

“chuyển hoá” từ tội phạm này sang tội phạm khác…

2.4 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 144 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự5

II PHÂN BIỆT TỘI CƯỚP TÀI SẢN VỚI TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Về mặt lý luận và thực tiễn cho thấy “Tội cướp tài sản” và “Tội cưỡng đoạt tài sản” là hai tội danh rất dễ nhầm lẫn trong quá trình áp dụng Bởi lẽ hai

tội danh này có nhiều điểm giống nhau về khách thể, mặt chủ quan và chủ thể,

cụ thể như: Cả hai tội cướp và cưỡng đoạt tài sản đều xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân và quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con người; đều được thực hiện do lỗi cố ý, với mục đích của tội phạm đều nhằm chiếm đoạt tài sản; Chủ

4 Xem Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Thì có liệt kê Tội cướp tài sản là tội danh

mà người phạm tội là người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được thực hiện do lỗi cố ý.

5 Có nghĩa là khi thực hiện hành vi phạm tội người phạm không mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

7

Trang 8

thể của tội phạm đều là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự6

Tuy hai tội danh này có nhiều điểm giống nhau, nhưng chúng cũng có sự khác nhau cơ bản và có thể giúp ta phân biệt được đâu là “Tội cướp tài sản” và

“Tội cưỡng đoạt tài sản” thông qua các tiêu chí như:

Thứ nhất, về hành vi trong yếu tố khách quan của cấu thành tội phạm:

Tội cướp tài sản được thực hiện bằng hành vi dung vũ lực, đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản

Tội cưỡng đoạt tài sản được thực hiện bằng hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản(buộc người có trách nhiệm về tài sản giao nộp tài sản nếu không giao nộp tài sản họ sẽ bị áp dụng vũ lực hoặc sẽ bị gây thiệt hại đến nhân thân) Tội cướp tài sản và tội

cưỡng đoạt tài sản đều có hành vi đe dọa dùng vũ lực nhưng tính chất đe dọa ở hai tội khác nhau cơ bản Tội cướp tài sản đe dọa dụng vũ lực ngay tức khắc còn tội cưỡng đoạt tài sản chỉ là đe dọa sẽ dung vũ lực (có nghĩa là sẽ dùng vũ

lực trong tương lai), nếu bị hại không giao tài sản, khác với hành vi đe doạ dùng

vũ lực trong tội cướp tài sản, việc đe doạ này không mang tính mãnh liệt và tức thời, người bị hại (người chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) hoàn toàn có điều kiện chuẩn bị đối phó và chưa đến mức làm tê liệt chí ý kháng cự của họ,

mà chỉ hạn chế ở chỗ làm cho họ lo sợ ở mức độ nhất định, đồng thời họ vẫn có thời gian để lựa chọn giữa việc kháng cự hay chấp nhận giao tài sản (đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản)

Trường hợp đe dọa ngay tức khắc sử dụng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì định tội là cướp tài sản (ví dụ: A dí súng vào bụng yêu cầu B giao ngay chiếc điện thoại Iphone 11 Pro trên tay cho hắn nếu không sẽ bị bắn ngay lập tức, B vì

lo sợ nếu không đưa điện thoại cho A thì sẽ bị A bắn ngay lập tức nên đã đưa

6 Xem Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

8

Trang 9

điện thoại cho A); còn đe dọa sẽ dung vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản thì định tôi là cưỡng đoạt tài sản (ví dụ: Lê Minh Th viết thư cho chị Trần Thị Thu H với nội dung: “Nếu không giao cho Th 20.000.000 đồng thì Th sẽ chặn đường đánh cháu Trần Đức Tr (con chị H) hoặc sẽ bắt cóc cháu Tr đem bán ra nước ngoài”

Vì sợ Th thực hiện lời đe doạ nên chị H đã phải giao cho Th số tiền mà Th yêu cầu

Thứ hai, hai tội cướp và cưỡng đoạt tài sản có hình phạt khác nhau vì tội

cướp tài sản có mức độ nguy hiểm hơn so với tội cưỡng đoạt tài sản

Khoản 1 Điều 168 về tội cướp tài sản quy định phạt tù từ 3 năm đến 10 năm; Khoản 1 Điều 170 về tội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt tù từ 1 năm đến

5 năm Khoản 2 Điều 168 về tội cướp tài sản quy định phạt tù từ 7 năm đến 15 năm; Khoản 2 Điều 170 về tội cưỡng đoạt tài sản quy định phạt tù từ 3 năm đến10 năm Hình phạt tù cao nhất của tội cướp tài sản quy đinh tại Khoản 3 Điều 168 là phạt tù đến 20 năm; Hình phạt tù cao nhất của tội cưỡng đoạt tài sản quy đinh tại Khoản 3 Điều 170 là phạt tù đến 15 năm Hình phạt cao nhất của tội cướp tài sản là phạt tù 20 năm hoặc chung thân; hình phạt phạt cao nhất của tội cưỡng đoạt tài sản là phạt tù đến 20 năm

Thứ ba, về việc chịu trách nhiệm hình sự: Tuy hai tội danh này có điểm

tương đồng về chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự được quy đinh tại Điều 12

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Nhưng lại có sự khác nhau về giai đoạn chịu trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 14 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người chuẩn bị phạm tội cưỡng đoạt tài sản không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này Cũng theo quy định tại Điều 14 và Khoản 5 Điều 168 Bộ luật hình sự người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này, hình phạt áp dụng đối với giai đoạn này là từ 1 đến 5 năm tù

9

Trang 10

C PHẦN KẾT LUẬN

Trên đây là một số tìm hiểu và nhận định, phân tích của em về đề tài nêu trên Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tham khảo tài liệu, so sánh, đối chiếu và liên hệ thực tiễn để làm rõ vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, bài viết khó tránh khỏi những thiếu sót nên rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy(cô) để bài viết được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

10

Ngày đăng: 17/02/2023, 19:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Công ty luật TNHH số 1 Bắc Ninh, lĩnh vực hoạt động, hình sự, Tội cướp tài sản – Các dấu hiệu cấu thành tội phạm, ngày 14/11/2016, tham khảo ngày 29/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cướptài sản – Các dấu hiệu cấu thành tội phạm
4. Luật Hoàng Phi, Trang chủ, hình sự, hỏi đáp hình sự, Thế nào là tội cướp tài sản theo Bộ luật hình sự 2015, ngày 24/5/2016, tham khảo ngày 29/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế nào là tội cướp tàisản theo Bộ luật hình sự 2015
5. Luật Giải Phóng, bình luận tội danh, Bình luận BLHS 2015: Tội cướp tài sản, tham khảo ngày 30/10/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận BLHS 2015: Tội cướp tàisản
6. Luật Hoàng Phi, Trang chủ, hình sự, hỏi đáp hình sự, Bình luận về tội cưỡng đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 2015, ngày 24/05/2016, tham khảo ngày 02/11/017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận về tội cưỡngđoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 2015
7. Luật Minh Khuê, Trang chủ, Hình sự, Kiến thức luật hình sự, Tội cưỡng đoạt tài sản, ngày 05/08/2012, tham khảo ngày 02/11/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội cưỡngđoạt tài sản
8. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, tập 1, NXB. ĐHQGHN, Hà Nội, năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phầncác tội phạm
Nhà XB: NXB. ĐHQGHN
9. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam  (tập 2), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình "sự "Việt Nam 
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
10.Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam: Phần các tội phạm, Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự ViệtNam: Phần các tội phạm
11. TS. Trần Văn Biên, TS. Đinh Thế Hưng, Bình luận khoa học bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB. Hồng Đức, năm 2017 Khác
12. TS. Lê Đăng Doanh, Định tội danh đối với các tội xâm phạm sở hữu, NXB Tư pháp, Hà Nội, năm 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w