1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập giám định tư pháp (tailieuluatkinhte com)

15 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vật Tày Và Các Thương Tích Do Vật Tày Gây Ra Trên Cơ Thể Người
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Pháp Y
Thể loại Bài tập giám định tư pháp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 56,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

https tailieuluatkinhte com ĐỀ BÀI Câu 1 Vật tày có thể để lại các loại thương tích nào trên cơ thể người? Việc nghiên cứu các thương tích này có ý nghĩa gì trong công tác giám định pháp y? Câu 2 T.https tailieuluatkinhte com ĐỀ BÀI Câu 1 Vật tày có thể để lại các loại thương tích nào trên cơ thể người? Việc nghiên cứu các thương tích này có ý nghĩa gì trong công tác giám định pháp y? Câu 2 T.

Trang 1

ĐỀ BÀI:

Câu 1: Vật tày có thể để lại các loại thương tích nào trên cơ thể người?

Việc nghiên cứu các thương tích này có ý nghĩa gì trong công tác giám định pháp y?

Câu 2: Trình bày vai trò, ý nghĩa của công tác giám định pháp y trong việc

giải quyết các vụ án hình sự tại địa phương nơi Anh/chị đang sinh sống?

BÀI LÀM:

Câu 1:

Các loại thương tích do vật tày để lại trên cơ thể người:

Vật tày là những vật thể rắn có bề mặt tròn hoặc tù, không có mũi nhọn,

không có cạnh sắc Ví dụ: mặt bàn, tường, mặt đường,

Về phân loại, có 04 loại vật tày đó là:

Một là, vật tày phẳng (mặt bàn phẳng, thước, )

Hai là, vật tày hình cầu (quả tạ, quả địa cầu, búa đinh tròn, )

Ba là, vật tày có góc cạnh (cạnh bàn là, cạnh của phần đế của đèn học để

bàn, )

Bốn là, vật tày có hình không xác định (mặt đường gồ ghề, hòn đá có bề

mặt gồ ghề, )

Các thương tích do vật tày gây ra trên cơ thể người có những đặc điểm sau: Đối với phần cứng, đặc điểm nhận biết đó là xuất hiện vết rạn xương, vết vỡ xương, vết lún, Đối với phần mềm, đặc điểm nhận biết là xuất hiện vết sây sát, vết bầm máu, vết tụ máu, vết dập nát, vỡ tạng,

Mức độ nghiêm trọng và hình thái của vết thương do vật tày gây nên còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố Cụ thể là:

 Lực tác động vào cơ thể

 Thời gian tác động

 Cấu trúc của vùng bị tác động

 Bề mặt bị tác động

Trang 2

 Bản chất của vật tày Ví dụ: Nếu vật tày gây gãy hoặc biến dạng phần cơ

thể bị tác động thì lực tác động vào cơ thể để gây ra tổn thương sẽ ít hơn bởi vì một phần lực đã được sử dụng để gây gãy hay biến dạng Vì vậy, vết thương này

sẽ ít nghiêm trọng hơn so với những vết thương cùng một lực tác động mà không gây biến dạng hay gãy Với bất kì lực tác động nào, diện tích tiếp xúc càng lớn thì mức độ tổn thương càng ít Diện tích tiếp xúc phụ thuộc phụ thuộc vào bản chất vật tày và phần cơ thể bị tác động Với những vật tày có bề mặt phẳng rộng, như tấm bảng/mặt bàn, thì lực tác động sẽ được phân bố đều ra cả

bề mặt nên tổn thương ít hơn so với vết thương do một vật có bề mặt tác động nhỏ, như là thanh kim loại, với cùng một lực tấn công Nếu tác động vào những phần cơ thể có hình tròn như đầu nạn nhân thì chấn thương sẽ nặng nề hơn so với tác động vào phần cơ thể có bề mặt phẳng như lưng bởi có bề mặt tiếp xúc lớn nên phân tán được lực tác động

Như vậy, tổn thương cơ thể do vật tày gây ra rất đa dạng, phức tạp và hay gặp nhiều hơn so với các tổn thương khác vì vật tày rất phổ biến trên thực tế, có nhiều loại và nhiều hình dạng khác nhau Một vật tày có thể gây ra nhiều thương tích, có thể cùng một cơ chế hình thành nhưng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau (người đứng, ngồi, chạy, hoặc ở phần cơ thể khác nhau như đầu, ngực, tay, ) thì thương tích gây ra sẽ khác nhau

Khi tác động vào cơ thể người, vật tày có thể để lại các loại thương tích trên cơ thể như sau:

Phần mềm:

Thứ nhất, vết sây sát da Vết sây sát da hình thành trên bề mặt da do một

phần cơ thể bị va quệt/chà sát/đè ấn bởi vật tày Thương tích này thường ít nguy hiểm đến tính mạng Trước khi chết, vết sây sát thường có màu đỏ nâu, sau khi chết có màu vàng nhạt Đây là căn cứ quan trọng để khi giám định có thể xác định vết thương hình thành trước hay sau khi chết Đặc điểm vết sây sát còn cho manh mối về vật gây sây sát, chiều hướng di động của nó

Trang 3

Thứ hai, vết bầm tụ máu Khi vật tày tác động để lại vết bầm tụ máu trên

cơ thể người (thường ở dưới da hay trong các tạng như tim, phổi, gan, lách, thận, ruột, dạ dày, bàng quang) sẽ làm vỡ các mạch máu nhỏ, gây ra hiện tượng chảy máu trong các mô Trong đó, bầm máu là hiện tượng tổn thương mao mạch máu nhỏ, lượng máu chảy vào trong các mô không nhiều, không làm căng phồng bề mặt da nhưng sẽ làm thay đổi về màu sắc Còn tụ máu là hiện tượng tổn thương mao mạch lớn hơn (chủ yếu là tĩnh mạch) chảy máu vào trong các mô, xoang, tạo thành u cục và có thể làm phồng Vùng bị tổn thương có thể không tương ứng với vùng bị bầm tụ máu mà có thể lan sang vùng khác Vết bầm tụ máu ở trên da sẽ dễ quan sát, còn trong tạng sẽ khó hơn vì có thể trong tạng tổn thương rất nhiều nhưng ngoài da vẫn còn nguyên vẹn

Vết bầm tụ máu có sự thay đổi về màu sắc theo thời gian Quá trình thay màu sắc này là do hiện tượng thoái hóa của huyết sắc tố Do đó, dựa vào sự thay đổi màu sắc của vết bầm máu ta có thể ước đoán được thời gian xảy ra thương tích

Đặc điểm của vết bầm tụ máu là da vẫn phẳng nhưng có màu tím nhạt hay sẫm Nếu xác định được có vết bầm máu trên cơ thể thì chứng tỏ thương tích có

từ khi người đó còn sống Bầm tụ máu được phân biệt với vết hoen tử thi dựa vào đặc tính không biến mất khi bị đè ép, trong khi hoen tử thi thì biến mất Phân biệt vết hoen và vết bầm tụ máu là dùng dao nhỏ mỏng rạch ngay vào vết nghi vấn, sau đó dùng bông sạch để lau hoặc dùng nước để rửa Vết hoen tử thi

sẽ sạch máu và trắng còn vết bầm tụ máu sẽ không sạch các yếu tố tụ máu

Thứ ba, vết thương dập rách da Cơ chế hình thành vết thương dập rách

da là do bị giằng xé hoặc bị đè ép bởi vật tày và nền cứng phía dưới da (xương)

Bờ mép vết thương nham nhở, có thể kèm bầm tụ máu, có sây sát da ở bờ miệng vết thương, đáy vết thương có thể còn sót lại một phần của vật tày Vết rách thường xuất hiện ở các vùng xương nhô lên như vùng đầu, là những vùng da cố định, dễ bị căng ra và xé rách Đáy vết rách sẽ có cầu tổ chức nối từ bên này sang bên kia mép vết thương, đây là một đặc điểm để phân biệt với vết cắt

Trang 4

Phần cứng: Tổn thương ở phần cứng tồn tại được rất lâu.

Thứ nhất, gãy vỡ xương Trong đó, gãy xương (trực tiếp hoặc gián tiếp do

tác động của vật tày) thường gặp ở các xương dài, là tổn thương làm mất tính liên tục của xương, có thể bị gãy làm hai hoặc nhiều mảnh, tách rời hoặc dính liền nhau Còn vỡ xương là tổn thương xảy ra khi vật tày tác động mạnh tạo nên nhiều mảnh xương

Thứ hai, vết rạn xương Vết rạn xương là tổn thương thường gặp khi vật

tày tác động gây thương tích cho phần cứng trên cơ thể người Vết rạn có các đặc điểm như: tạo thành một đường ngắn hoặc dài; hoặc có thể vết rạn tạo thành nhiều đường bắt chéo nhau; hoặc vết rạn tạo thành hình nan hoa/nan quạt Khi vật tày tác động vào cơ thể người gây ra vết rạn có thể kèm theo vỡ xương và lún xương

Thứ ba, vết lún xương Vết lún xương do vật tày gây nên là tổn thương có

đặc điểm là mảnh xương vỡ sẽ bị đẩy thụt vào bên trong (như lún sọ)

Thứ tư, trật khớp Loại tổn thương này có đặc điểm là đầu xương bị trật

ra khỏi ổ khớp đối với xương dài hoặc các mảnh xương chồng lên nhau đối với xương dẹt

 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các thương tích ác loại thương tích do vật tày để lại trên cơ thể người trong công tác giám định pháp y

Việc nghiên cứu các thương tích này có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giám định pháp y Cụ thể, căn cứ vào các thương tích đó, giám định viên có thể xác định được một hoặc nhiều nội dung sau: cơ chế hình thành thương tích, thời điểm hình thành thương tích, vị trí tổn thương, chiều hướng tác động của vật tày lên cơ thể người, định hướng cho việc chỉ ra đặc điểm của vật gây thương tích, ước chừng khoảng thời gian nạn nhân tử vong,

Câu 2:

Pháp y là bộ môn y học nghiên cứu và giải quyết các vấn đề Y - Sinh học

nảy sinh ở các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét

xử các vụ án hình sự và dân sự

Trang 5

 Giám định pháp y trong việc giải quyết các vụ án hình sự là việc người

giám định pháp y sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, hoạt động giám định pháp y trong việc giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả và chất lượng của hoạt động tố tụng Thực hiện giám định pháp y là một biện pháp hữu hiệu trong việc giải quyết các vụ án, hướng hoạt động tố tụng theo cơ chế minh bạch, đúng người đúng tội, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm

Kết luận giám định pháp y là một trong các nguồn chứng cứ được quy định tại Điều 87 BLTTHS 2015 Trưng cầu giám định nói chung và giám định pháp y nói riêng chính là một biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng, làm căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng có hướng điều tra phù hợp, cũng như giúp ích cho việc

ban hành kết luận điều tra Ví dụ: Lời khai không phù hợp với kết quả giám định

thì điều tra viên có thể sử dụng để đấu tranh với bị can, tiếp tục lấy lời khai để

mở ra hướng điều tra chính xác cho vụ án

Trong việc giải quyết các vụ án hình sự, đối tượng của giám định pháp y có

thể là:

Một là, giám định trên người sống như giám định tổn hại sức khỏe do

thương tích gây nên, giám định hiếp dâm, giám định tình trạng sức khỏe, tiền hôn nhân, giám định độ tuổi, xác định giới tính, giả thương giả bệnh, Thông qua việc khám, xem xét người đang sống là nạn nhân để xác định thương tích trên cơ thể nạn nhân, tỷ lệ thương tật do di chứng của chấn thương làm căn cứ

để định tội, định khung hình phạt Giám định trên cơ thể của thủ phạm, người tình nghi là thủ phạm nhằm xác định thương tích để lại trên cơ thể do quá trình thực hiện tội phạm để lại Hay xác định tuổi thực khi có gian lận về tuổi giữa vị thành niên và thành niên để tăng giảm mức hình phạt

Trang 6

Ví dụ 1: Tại Bản án số 89/2018/HS-PT ngày 09/02/2018 của TAND TP.Hà

Nội đã nêu rõ: Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 782 ngày 6/9/2017 của Trung tâm pháp y Hà Nội kết luận thương tích của bị hại Thân Anh Hoạt đã kết luận tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 9% Do đó, TAND TP Hà Nội đã

tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại

Khoản 1 Điều 104 BLHS 1999 (Không thay đổi so với tội danh mà Tòa án cấp

sơ thẩm đã tuyên)

Ví dụ 2: Tại Bản án số 222/2017/HS-ST ngày 28/07/2017 của TAND TP.

Hà Nội:

Tại bản kết luận giám định số 15 ngày 06/01/2017 của Trung tâm pháp y

-Sở y tế Hà Nội kết luận tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành vết thương của anh

Vũ Văn Hai đã kết luận Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 63% - Tính theo phương pháp cộng lùi

Tại bản kết luận giám định số 2801 ngày 10/8/2016 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận dấu vết thu trên tang vật: Dấu vết màu nâu đỏ thu trên con dao chuôi gỗ, lưỡi kim loại ghi thu ở hiện trường gửi giám định là máu của Vũ Văn Hai

Tại kết luận giám định số 305 ngày 22/9/2016 của Viện pháp y tâm thần Trung Ương kết luận: Tại thời điểm phạm tội và thời điểm giám định Phạm Tuân có bệnh rối loạn nhân cách, hành vi di chứng và khởi phát muộn do sử dụng nhiều loại ma túy Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 có mã bệnh F19.71 5 - Tại các thời điểm trên bị cáo đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi

Căn cứ vào các kết quả giám định trên, TAND TP Hà Nội đã tuyên bị cáo

Phạm Tuân phạm tội “Giết người” theo quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 93;

Điểm p khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự, cũng như xác định trách nhiệm dân sự đối với bị cáo bởi những thương tích bị cáo đã gây ra

Hai là, giám định pháp y đối với người chết (tử thi) nhằm xác định

nguyên chết, thời gian chết, các bệnh lý kèm theo và quan trọng là xác định thương tích trên nạn nhân (thương tích trước chết, thương tích sau chết, thương

Trang 7

tích gây tử vong) cùng với giám định các loại hung khí gây ra các thương tích Qua đó, có thể so sánh với lời khai của nhân chứng xem có phù hợp với kết luận giám định không, xác định được nguyên nhân dẫn tới tử vong, tìm ra các manh mối liên qua đến hung khí gây án,

Ba là, giám định mẫu vật có nguồn gốc cơ thể người như vết máu, tinh

dịch, lông tóc, AND, hung khí, để xác định đó có phải của nạn nhân không hay của người khác có mặt tại hiện trường, làm cơ sở cho việc xác định nghi phạm

và tiến hành lấy lời khai của họ

Bốn là, giám định dựa trên hồ sơ tài liệu là việc giám định thông qua các

hồ sơ tài liệu, sổ sách, ghi chép, bản nháp, dự thảo có liên quan (bản ảnh pháp

y, hồ sơ bệnh án, biên bản giải phẫu tử thi, bản ghi lời khai, nhật ký, thư tuyệt mệnh ) có thể xác định nguyên nhân chết, cơ chế gây tổn thương, vật gây thương tích, động cơ, mục đích phạm tội

Như vậy, giám định pháp y có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội Trước hết, hoạt động này hục

vụ cho công công tác điều tra, truy tố, xét xử, bào chữa, kết án Các kết luận của giám định viên là chứng cứ pháp lý, thậm chí là những bằng chứng đanh thép mang tính quyết định để vạch mặt kẻ phạm tội Các nhận xét của giám định viên pháp y tại hiện trường nhiều khi có ý nghĩa quan trọng phục vụ kịp thời cho công tác truy xét, điều tra theo dấu vết nóng, nhanh chóng tìm ra thủ phạm Những kết luận này có thể mở ra cho cơ quan điều tra hướng điều tra và khoanh vùng tình nghi

Bên cạnh việc kết tội, kết luận của giám định viên là cơ sở để minh oan cho người không phạm tội bị nghi oan, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, không làm oan người vô tội Giám định pháp y còn có vai trò trong việc phòng ngừa tội phạm, điều này có nghĩa là qua việc giám định mà nhận thấy có vấn đề gì mới trong phương thức, thủ đoạn gây án, những quan niệm, tập tục sai trái dẫn đến nguy hại đến tính mạng, tài sản thì cần phải thông tin đến người dân để có biện pháp phòng tránh

Trang 8

ĐỀ BÀI:

Câu 1: Vật tày có thể để lại các loại thương tích nào trên cơ thể người?

Việc nghiên cứu các thương tích này có ý nghĩa gì trong công tác giám định pháp y?

Câu 2: Trình bày vai trò, ý nghĩa của công tác giám định pháp y trong việc

giải quyết các vụ án hình sự tại địa phương nơi Anh/chị đang sinh sống?

BÀI LÀM:

Câu 1:

Các loại thương tích do vật tày để lại trên cơ thể người:

Vật tày là những vật thể rắn có bề mặt tròn hoặc tù, không có mũi nhọn,

không có cạnh sắc Ví dụ: mặt bàn, tường, mặt đường,

Về phân loại, có 04 loại vật tày đó là:

Một là, vật tày phẳng (mặt bàn phẳng, thước, )

Hai là, vật tày hình cầu (quả tạ, quả địa cầu, búa đinh tròn, )

Ba là, vật tày có góc cạnh (cạnh bàn là, cạnh của phần đế của đèn học để

bàn, )

Bốn là, vật tày có hình không xác định (mặt đường gồ ghề, hòn đá có bề

mặt gồ ghề, )

Các thương tích do vật tày gây ra trên cơ thể người có những đặc điểm sau: Đối với phần cứng, đặc điểm nhận biết đó là xuất hiện vết rạn xương, vết vỡ xương, vết lún, Đối với phần mềm, đặc điểm nhận biết là xuất hiện vết sây sát, vết bầm máu, vết tụ máu, vết dập nát, vỡ tạng,

Mức độ nghiêm trọng và hình thái của vết thương do vật tày gây nên còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố Cụ thể là:

 Lực tác động vào cơ thể

 Thời gian tác động

 Cấu trúc của vùng bị tác động

Trang 9

 Bề mặt bị tác động

 Bản chất của vật tày Ví dụ: Nếu vật tày gây gãy hoặc biến dạng phần cơ

thể bị tác động thì lực tác động vào cơ thể để gây ra tổn thương sẽ ít hơn bởi vì một phần lực đã được sử dụng để gây gãy hay biến dạng Vì vậy, vết thương này

sẽ ít nghiêm trọng hơn so với những vết thương cùng một lực tác động mà không gây biến dạng hay gãy Với bất kì lực tác động nào, diện tích tiếp xúc càng lớn thì mức độ tổn thương càng ít Diện tích tiếp xúc phụ thuộc phụ thuộc vào bản chất vật tày và phần cơ thể bị tác động Với những vật tày có bề mặt phẳng rộng, như tấm bảng/mặt bàn, thì lực tác động sẽ được phân bố đều ra cả

bề mặt nên tổn thương ít hơn so với vết thương do một vật có bề mặt tác động nhỏ, như là thanh kim loại, với cùng một lực tấn công Nếu tác động vào những phần cơ thể có hình tròn như đầu nạn nhân thì chấn thương sẽ nặng nề hơn so với tác động vào phần cơ thể có bề mặt phẳng như lưng bởi có bề mặt tiếp xúc lớn nên phân tán được lực tác động

Như vậy, tổn thương cơ thể do vật tày gây ra rất đa dạng, phức tạp và hay gặp nhiều hơn so với các tổn thương khác vì vật tày rất phổ biến trên thực tế, có nhiều loại và nhiều hình dạng khác nhau Một vật tày có thể gây ra nhiều thương tích, có thể cùng một cơ chế hình thành nhưng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau (người đứng, ngồi, chạy, hoặc ở phần cơ thể khác nhau như đầu, ngực, tay, ) thì thương tích gây ra sẽ khác nhau

Khi tác động vào cơ thể người, vật tày có thể để lại các loại thương tích trên cơ thể như sau:

Phần mềm:

Thứ nhất, vết sây sát da Vết sây sát da hình thành trên bề mặt da do một

phần cơ thể bị va quệt/chà sát/đè ấn bởi vật tày Thương tích này thường ít nguy hiểm đến tính mạng Trước khi chết, vết sây sát thường có màu đỏ nâu, sau khi chết có màu vàng nhạt Đây là căn cứ quan trọng để khi giám định có thể xác định vết thương hình thành trước hay sau khi chết Đặc điểm vết sây sát còn cho manh mối về vật gây sây sát, chiều hướng di động của nó

Trang 10

Thứ hai, vết bầm tụ máu Khi vật tày tác động để lại vết bầm tụ máu trên

cơ thể người (thường ở dưới da hay trong các tạng như tim, phổi, gan, lách, thận, ruột, dạ dày, bàng quang) sẽ làm vỡ các mạch máu nhỏ, gây ra hiện tượng chảy máu trong các mô Trong đó, bầm máu là hiện tượng tổn thương mao mạch máu nhỏ, lượng máu chảy vào trong các mô không nhiều, không làm căng phồng bề mặt da nhưng sẽ làm thay đổi về màu sắc Còn tụ máu là hiện tượng tổn thương mao mạch lớn hơn (chủ yếu là tĩnh mạch) chảy máu vào trong các mô, xoang, tạo thành u cục và có thể làm phồng Vùng bị tổn thương có thể không tương ứng với vùng bị bầm tụ máu mà có thể lan sang vùng khác Vết bầm tụ máu ở trên da sẽ dễ quan sát, còn trong tạng sẽ khó hơn vì có thể trong tạng tổn thương rất nhiều nhưng ngoài da vẫn còn nguyên vẹn

Vết bầm tụ máu có sự thay đổi về màu sắc theo thời gian Quá trình thay màu sắc này là do hiện tượng thoái hóa của huyết sắc tố Do đó, dựa vào sự thay đổi màu sắc của vết bầm máu ta có thể ước đoán được thời gian xảy ra thương tích

Đặc điểm của vết bầm tụ máu là da vẫn phẳng nhưng có màu tím nhạt hay sẫm Nếu xác định được có vết bầm máu trên cơ thể thì chứng tỏ thương tích có

từ khi người đó còn sống Bầm tụ máu được phân biệt với vết hoen tử thi dựa vào đặc tính không biến mất khi bị đè ép, trong khi hoen tử thi thì biến mất Phân biệt vết hoen và vết bầm tụ máu là dùng dao nhỏ mỏng rạch ngay vào vết nghi vấn, sau đó dùng bông sạch để lau hoặc dùng nước để rửa Vết hoen tử thi

sẽ sạch máu và trắng còn vết bầm tụ máu sẽ không sạch các yếu tố tụ máu

Thứ ba, vết thương dập rách da Cơ chế hình thành vết thương dập rách

da là do bị giằng xé hoặc bị đè ép bởi vật tày và nền cứng phía dưới da (xương)

Bờ mép vết thương nham nhở, có thể kèm bầm tụ máu, có sây sát da ở bờ miệng vết thương, đáy vết thương có thể còn sót lại một phần của vật tày Vết rách thường xuất hiện ở các vùng xương nhô lên như vùng đầu, là những vùng da cố định, dễ bị căng ra và xé rách Đáy vết rách sẽ có cầu tổ chức nối từ bên này sang bên kia mép vết thương, đây là một đặc điểm để phân biệt với vết cắt

Ngày đăng: 17/02/2023, 16:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w