1 GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ (Phần chung) Chương IV HÀNH VI PHÁP LÝ Người viết PGS TS Ngô Huy Cương Trường Đại học Luật Đại học Quốc gia Hà Nội KẾT CẤU CHƯƠNG IV Nhập chương Mục 1 Khái niệm và phân loại h[.]
Trang 1GIÁO TRÌNH LUẬT DÂN SỰ (Phần chung)
Chương IV HÀNH VI PHÁP LÝ
Người viết: PGS TS Ngô Huy Cương Trường Đại học Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2quá trình xây dựng Bộ luật này và là một dấu ấn rõ ràng nhất về bản chất khoa học của Bộ luật này1
Cho đến nay, Việt Nam đã có tới bảy Bộ luật Dân sự: Bộ luật Dân sự Giản yếu 1886; Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931; Bộ luật Dân sự Trung Kỳ 1936; Bộ luật Dân sự của Việt Nam Cộng hòa 1972; Bộ luật Dân sự 1995; Bộ luật Dân sự 2005;
và Bộ luật Dân sự 2015 Bốn Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ nói trên được xây dựng theo mô hình Pháp Ba Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nói trên được xây dựng theo mô hình Đức có đan xen với nhiều yếu tố của
mô hình Pháp
Việc lựa chọn mô hình luôn là vấn đề quan trọng trong pháp điển hóa Tranh luận khoa học là rất cần thiết và không thể tránh khỏi trong quá trình lựa chọn mô hình, xây dựng mô hình và soạn thảo cũng như thông qua Bộ luật Dân
sự Tuy nhiên việc xây dựng các Bộ luật Dân sự ở Việt Nam dường như thiếu thốn
sự tranh luận khoa học thực sự Do đó chúng ta khó có thể tìm kiếm được những tài liệu thể hiện rõ lý do tại sao chúng ta đã lựa chọn hay xây dựng mô hình pháp điển hóa luật dân sự như hiện nay để lý giải cho ý đồ và quan niệm liên quan tới chương nói về hành vi pháp lý (giao dịch dân sự) trong các Bộ luật Dân sự 1995,
Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015
Hành vi pháp lý phản ánh tự do cá nhân của con người2, và là một vấn đề pháp lý trung tâm, rất rộng lớn, chuyên biệt và đầy kỹ thuật pháp lý Vì vậy trong thực tiễn pháp điển hóa cũng như trong việc giới thiệu hay nghiên cứu về hành vi pháp lý ở phần chung hay quyển chung của luật dân sự, người ta khó nhất trí với nhau hoàn toàn về việc xác định phạm vi của nó
Thông thường chương nói về hành vi pháp lý của phần chung hay của quyển chung của Bộ luật Dân sự đề cập tới những vấn đề lớn như: Hành vi pháp lý
là gì và được phân loại như thế nào? Làm thế nào để xác lập được một hành vi
1
Sir Basil Markesinis, Hannes Unberath, and Angus Johnston, The German Law of Contract- A
Comparative Treatise, Second Edition, Hart Publishing, Oxford and Portland, Oregon, 2006, pp 19-20
2
Sir Basil Markesinis, Hannes Unberath, and Angus Johnston, The German Law of Contract- A
Comparative Treatise, Second Edition, Hart Publishing, Oxford and Portland, Oregon, 2006, p 26
Trang 3pháp lý và cấp cho nó một hiệu lực? Tại sao nó bị vô hiệu và hậu quả của vô hiệu
là gì? Thế nhưng những câu hỏi như vậy khó có thể có câu trả lời đủ bao quát bởi mối liên hệ nội tại và khăng khít của chúng với các vấn đề khác về nội dung và về
sự thúc buộc của hành vi pháp lý nói chung và của mỗi loại hành vi pháp lý nói riêng… Vì vậy chương giáo trình này cố gắng tách bạch như có thể để chuyển tải các câu trả lời cho các câu hỏi trên một cách đầy đủ nhất như có thể
Mục 1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI HÀNH VI PHÁP LÝ
1.1 Khái niệm hành vi pháp lý
Quy tắc pháp luật thường được cấu tạo bởi một công thức tư duy chung- đó
là “nếu…, thì…”, tức là nếu có một nguồn gốc pháp lý hay một căn cứ pháp lý, thì
sẽ làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý nào đấy
Ví dụ: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu
lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của người đó được giải quyết như đối với người đã chết.” (Điều 72, khoản 1, Bộ luật Dân sự 2015); “Trường hợp theo thỏa thuận, bên bán giao tài sản cho bên mua thành nhiều lần mà bên bán thực hiện không đúng nghĩa vụ ở một lần nhất định thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến lần vi phạm đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” (Điều 436, khoản 2, Bộ luật Dân sự 2015); “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.” (Điều 652, Bộ luật Dân sự 2015)
Nguồn gốc pháp lý mà ở Việt Nam thường được gọi là căn cứ pháp lý đôi khi còn được gọi là điều kiện pháp lý Luật La Mã tổng kết có năm nguồn gốc làm phát sinh ra quan hệ nghĩa vụ (một loại hệ quả pháp lý), bao gồm: hợp đồng;
Trang 4chuẩn hợp đồng hay gần như hợp đồng; vi phạm; chuẩn vi phạm hay gần như vi phạm3; và nghĩa vụ pháp định4 Lưu ý: nghĩa vụ nói ở đây là một quan hệ pháp lý
(quan hệ đối nhân) mà theo đó một bên (người có quyền hay trái chủ) có quyền yêu cầu bên kia (người có nghĩa vụ hay người thụ trái) phải thực hiện một đối tượng nào đó có thể trị giá được bằng tiền vì lợi ích của người có quyền Gaius từ xưa đã có sự phân biệt giữa “hành vi tự nguyện” và “hành vi không tự nguyện” để
sử dụng có hệ thống và từ đó kéo theo hai loại quy tắc pháp lý khác nhau để áp dụng cho việc thực hiện lời hứa và những hành vi sai trái5
Ngày nay, khoa học pháp lý thường nhắc tới ba căn cứ làm phát sinh ra hệ quả pháp lý nói chung, bao gồm: (1) hành vi pháp lý; (2) sự kiện pháp lý; và (3) hiệu lực của pháp luật Cách phân loại thứ hai này xuất hiện rõ hơn trong pháp điển hóa luật dân sự theo trường phái Pandectists (trường phái pháp điển hóa hiện đại) mà điển hình là Bộ luật Dân sự Đức, Bộ luật Dân sự Hy Lạp và Bộ luật Dân
sự Nhật Bản… hiện hành Giáo sư (Đức) Friedrich Carl von Savigny là người đầu tiên đưa ra học thuyết bao quát về hành vi pháp lý mà tại đó quan niệm rằng một người có thể chỉ bởi ý chí của mình làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý với người khác hoặc với vật6
Hành vi pháp lý là sự biểu lộ ý chí của con người dự định làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý được thừa nhận bởi pháp luật7 Hành vi pháp lý được chia thành hai loại là hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Tuy nhiên không phải bất kỳ sự biểu lộ ý chí nào dự định làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý đều được thừa nhận bởi pháp luật Thông thường pháp luật đặt ra các điều kiện hoặc đòi hỏi
Xem Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo, Quyển II- Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ
Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr 23- 24
5
Xem Reinhard Zimmerman, The Law of Obligations- Roman Foundations of the Civilian Tradition,
Oxford University Press, 1996, pp 10-11
6
Lưu ý: “Vật” nói ở đây là một phạm trù của luật dân sự chỉ những bộ phận khác nhau của thế giới vật chất
mà đã được quan hệ xã hội hóa và có thể đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
7
Ernest J Schuster, The Principles of German Civil Law, Oxford at the Clarendon Press, London and New
York, 1907, p 80
Trang 5sự biểu lộ phải được bổ sung thêm bởi một hoặc một số hành động nhất định (ví
dụ: hành động chuyển giao tài sản hoặc đăng ký…)
Sự kiện pháp lý là sự kiện làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý ngoài ý chí
của đương sự (ví dụ: bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…) Hiệu lực của luật là việc làm phát sinh ra hệ quả pháp lý bởi ý chí của nhà làm luật (Ví dụ: thủ đắc
quyền sở hữu do thời hiệu hoặc nghĩa vụ cấp dưỡng…)
Hành vi pháp lý (juridical act) khác với sự kiện pháp lý (juridical fact) ở mấy điểm chủ yếu sau: hành vi pháp lý là hành vi có tính tự nguyện mà phải được chứng minh và có thể bị chấm dứt nếu có khuyết tật (tì ố hay hà tì) hoặc vi phạm qui tắc bắt buộc của pháp luật, trong khi đó sự kiện pháp lý xảy ra (ngoài ý muốn)
và được xem xét bởi pháp luật, và không chấm dứt8
Hành vi pháp lý được Bộ luật Dân sự 2015 gọi là “giao dịch dân sự”, và còn được khoa học pháp lý gọi là “giao dịch pháp lý” Từ “giao dịch” trong cuộc sống thường nhật được dùng để chỉ một loại hoạt động sống của con người mà tại
đó người ta gặp gỡ nhau một cách trực tiếp hoặc thông qua một phương tiện giao tiếp nào đó để trao đổi, bàn thảo với nhau về một vấn đề nào đó, nhất là trong kinh doanh, thương mại Thế nhưng trong luật học, thuật ngữ “giao dịch” đứng đơn lẻ như vậy trong một ngữ cảnh pháp lý cụ thể thường ngụ ý về việc biểu lộ ý chí và thống nhất ý chí làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý nào đó Tuy nhiên Bộ luật Dân sự 2015 xây dựng thuật ngữ “giao dịch dân sự” không thực sự thích hợp để chỉ chung tất cả các loại hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương của luật tư mà trong đó có cả hợp đồng thương mại Khi phân loại hợp đồng, dù có nhiều cách phân loại hợp đồng khác nhau (sẽ nói dưới đây), nhưng người ta thường đề cập đến phân loại hợp đồng thành hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại để tìm kiếm quy chế pháp lý thích ứng áp dụng cho những tranh chấp phát sinh
Hệ quả pháp lý có thể được phân chia thành ba dạng, bao gồm: làm phát sinh, làm thay đổi, hoặc làm chấm dứt một quan hệ pháp lý hay một quyền lợi nào
8
Nikolaos A Davrados, “A Louisiana Theory of Juridical Acts” (pp 1119 - 1284), Louisiana Law Review,
Volume 80-Number 4 Summer 2020 - Article 7, p 1122
Trang 6đó Ví dụ: Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam định nghĩa: “Hợp đồng là sự thỏa
thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 358) Mặc dù định nghĩa này có vẻ như thu hẹp phạm vi của hệ quả pháp lý, nhưng cũng cho thấy hợp đồng là căn cứ pháp lý làm phát sinh, làm thay đổi hoặc làm chấm dứt quan hệ pháp lý hay quyền lợi Các bên giao kết một hợp đồng mua bán có thể dẫn tới sự ràng buộc các bên vào một quan hệ mà theo đó bên bán phải chuyển giao cho bên mua quyền sở hữu vật bán và vật bán, còn bên mua phải nhận vật bán và trả giá bán cho bên bán Nếu hai bên giao kết một hợp đồng mà theo đó một bên cho bên kia quyền hưởng dụng một bất động sản của mình, thì bên được cho quyền đó có thể thực hành trực tiếp quyền sử dụng và quyền thu hoạch hoa lợi trên bất động sản đó Một người bởi ý chí của chính mình vứt bỏ một tài sản, thì có thể được coi như chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản
đó (từ bỏ một vật quyền), và tài sản được xem là vật vô chủ Một người thừa nhận một đứa con ngoài giá thú có thể bị ràng buộc vào nghĩa vụ cấp dưỡng cho đứa con đó Pháp luật thường thiết lập nhiều qui chế pháp lý khác nhau cho các loại hệ quả pháp lý phong phú khác nhau
Hợp đồng là sự thỏa thuận hay sự thống nhất ý chí giữa các bên giao kết nhằm làm phát sinh ra một hệ quả pháp lý nào đó Hợp đồng còn được gọi là khế ước, giao kèo, giao ước hay thỏa thuận… Còn hành vi pháp lý đơn phương (unilateral act) là việc biểu lộ ý chí của chỉ một người nhằm làm phát sinh ra một
hệ quả pháp lý nào đó
Hành vi pháp lý là một loại nguồn của pháp luật Khi tranh chấp hợp đồng xảy ra, việc trước tiên người ta phải xem xét là các bên tranh chấp có quan hệ hợp đồng với nhau không Nếu đã xác định được mối quan hệ hợp đồng, thì giải pháp giải quyết tranh chấp đó phải được tìm kiếm từ chính hợp đồng đó trước khi tìm kiếm từ các loại nguồn pháp luật khác Bộ luật Dân sự 2015, tại Điều 6 (khoản 1), coi thỏa thuận giữa các bên (hợp đồng) là một loại nguồn của luật dân sự Thế nhưng, tại Điều này, Bộ luật Dân sự 2015 không nói tới hành vi pháp lý đơn phương có phải là một loại nguồn của luật dân sự hay không Tuy nhiên, thực tiễn
Trang 7pháp lý ở Việt Nam vẫn coi hành vi pháp lý đơn phương là một loại nguồn của
pháp luật Cụ thể hơn, Điều 624 của Bộ luật này định nghĩa “Di chúc là sự thể hiện
ý chí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác sau khi chết” Định nghĩa này nói lên rằng di chúc là một hành vi pháp lý đơn phương Điều 609 và Điều 659 của Bộ luật này khẳng định quyền để lại thừa kế theo di chúc và quyền được hưởng thừa kế theo di chúc, và phân chia tài sản theo di chúc
Vì vậy di chúc phải được xem là một loại nguồn của pháp luật dù rằng khi liệt kê các loại nguồn của luật dân sự tại Điều 6 (khoản 1) nói trên, Bộ luật Dân sự 2015 không nhắc tới hành vi pháp lý đơn phương
Ngày nay, hành vi pháp lý đơn phương do quốc gia xác lập cũng có thể được xem là một loại nguồn của công pháp quốc tế Giáo sư Erik Suy nói: “Những hành vi đơn phương của các quốc gia dưới dạng tuyên bố liên quan tới một hoàn cảnh thực tế hay pháp lý có thể tạo ra những nghĩa vụ pháp lý của quốc gia tuyên
bố như vậy, khi tuyên bố đó được lập ra với ý định bị ràng buộc”9
Các hành vi pháp lý đơn phương rất phong phú và đa dạng (ví dụ: lập di
chúc; đơn phương chấm dứt một hợp đồng; thừa nhận một đứa con ngoài giá thú; thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; xác nhận hợp đồng vô hiệu; đề nghị giao kết hợp đồng; từ bỏ một vật quyền…) Do đó người ta không thể thiết lập được lý thuyết chung cho chúng Trong khi đó, mặc dù hợp đồng là
vô hạn định bởi được tạo lập nên bởi sự thống nhất của các ý chí gắn với sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội, nhưng người ta vẫn có thể xây dựng được một lý thuyết chung cho hợp đồng Vì vậy luật hợp đồng có phần chung và phần riêng Phần chung của luật hợp đồng trong thực tiễn lập pháp bao gồm các nguyên tắc và qui tắc áp dụng chung cho các loại hợp đồng Còn phần riêng bao gồm các qui tắc về những loại hợp đồng cụ thể
1.2 Phân loại hành vi pháp lý
9
Erik Suy, Some unfinished new thoughts on unilateral acts of states as a source of international law (pp
1-11), 2001 Journal for Juridical Science 26(3), p.1
Trang 8Hành vi pháp lý, như trên đã nói, trước hết được phân loại thành hợp đồng
và hành vi pháp lý đơn phương Có quan niệm cho rằng: ngoài hợp đồng và hành
vi pháp lý đơn phương, còn có “hành vi tập thể” được xem là sự liên kết ý chí của nhiều người nhằm một mục đích chung, ví dụ như thành lập công ty10 Tuy nhiên tác giả viết chương này (Ngô Huy Cương) cho rằng loại hành vi tập thể đó cũng chỉ là một loại hợp đồng nhưng các bên giao kết chúng có sự biểu lộ và thống nhất
ý chí cùng hướng, khác với sự biểu lộ và thống nhất ý chí khác hướng (đối lại nhau) của các bên trong giao kết những loại hợp đồng khác như hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ…
vi pháp lý có điều kiện như một trường hợp đặc biệt
Điều kiện nói ở đây là một biến cố hoặc một sự kiện nhất định nào đó mà khi nó xẩy ra thì có thể làm phát sinh hệ quả pháp lý của hành vi pháp lý đó (được gọi là điều kiện phát sinh) hoặc làm hủy bỏ hệ quả pháp lý của hành vi pháp lý đã phát sinh (được gọi là điều kiện hủy bỏ) Điều kiện làm phát sinh (condition precedent) còn được gọi là điều kiện treo11 hay điều kiện đình chỉ Điều kiện hủy
bỏ (condition subsequent) còn được gọi là điều kiện giải tiêu Ví dụ: Sóng cam kết
trả lương cho Sánh 20 triệu đồng một tháng khi Sánh đoạt giải nhất cuộc thi luật gia trẻ thì đó là Sóng đã làm một cam kết phụ thuộc vào điều kiện phát sinh; nếu Sóng cam kết hỗ trợ cho Sánh 10 triệu đồng một tháng cho tới khi Sánh đoạt giải nhất cuộc thi luật gia trẻ thì đó là Sóng đã làm một cam kết phụ thuộc vào điều kiện hủy bỏ
10
Bộ Tư pháp- Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 117
11
Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự, Khoa Luật- Trường Đại học Mở, Nxb Đại học Quốc gia
TP Hồ Chí Minh, tr 137- 139
Trang 9Luật La Mã đã có sự phân biệt giữa kỳ hạn (thời gian) với điều kiện Kỳ hạn là một biến cố hay một sự kiện “chắc chắn” xảy ra trong tương lai Còn điều kiện là một biến cố hay một sự kiện “không chắc chắn” xảy ra trong tương lai Các bên giao kết hợp đồng mua bán một chiếc máy tính nhưng thỏa thuận với nhau giao hàng vào một ngày trong tương lai khác với thỏa thuận chỉ thi hành nghĩa vụ khi bên mua thi đỗ đại học Thời điểm xảy ra biến cố hay sự kiện (mà là điều kiện của hành vi pháp lý) là thời điểm làm phát sinh ra hệ quả pháp lý đã nói Tuy nhiên các bên trong quan hệ có thể thỏa thuận về hồi tiền hiệu lực (hiệu lực trở về trước)
Điều kiện không được đưa vào hành vi pháp lý đơn phương nếu có thể gây thiệt hại cho bên kia hoặc cho người khác Việc đưa điều kiện vào hành vi pháp lý đơn phương có thể bị vô hiệu Tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện chưa làm rõ được vấn đề pháp lý phức tạp này
1.2.2 Phân loại hành vi pháp lý đơn phương
Hành vi pháp lý đơn phương rất phong phú và đa dạng như trên đã nói, do
đó khó có thể nhóm họp chúng trong các nhóm khác nhau như hợp đồng Tuy nhiên người ta có thể chia hành vi pháp lý đơn phương thành hai loại chủ yếu căn
cứ vào việc có hay không cần sự biểu lộ ý chí phải chuyển tới bên kia Loại thứ
nhất, biểu lộ ý chí đơn phương tạo thành hành vi pháp lý có hiệu lực khi sự biểu lộ
ý chí này được chuyển hay truyền đạt tới bên kia (ví dụ: đề nghị giao kết hợp đồng; bãi bỏ sự ủy quyền…) Loại thứ hai, biểu lộ ý chí đơn phương tạo thành
hành vi pháp lý có hiệu lực khi sự biểu lộ ý chí này không cần chuyển hay truyền
đạt tới bên kia (ví dụ: từ bỏ một vật quyền; lập di chúc; thừa nhận cha, mẹ, con…)
Pháp luật có thể quy định cụ thể về các trường hợp này
Có những cách phân loại hành vi pháp lý đơn phương khác rất ít gặp nhưng
có ý nghĩa nhất định trong việc điều chỉnh pháp luật hay trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, cũng như tiến hành nghề luật
Căn cứ vào việc có hay chưa được quy định bởi pháp luật, hành vi pháp lý đơn phương được chia thành hành vi pháp lý đơn phương do luật định và hành vi
Trang 10pháp lý đơn phương không do luật định Như trên đã nói, hành vi pháp lý đơn phương rất phong phú, do đó các văn bản quy phạm pháp luật khó có thể bao quát đầy đủ
Căn cứ vào hệ quả pháp lý làm phát sinh hệ quả pháp lý là quan hệ sản nghiệp hay quan hệ ngoại sản nghiệp, các hành vi pháp lý đơn phương được chia thành hai loại bao gồm: (1) các hành vi pháp lý đơn phương có tính chất sản nghiệp, như: chấp nhận thừa kế hay từ bỏ một quyền lợi…; và (2) các hành vi pháp lý đơn phương có tính chất ngoại sản nghiệp, như thừa nhận một đứa con ngoài giá thú
1.2.3 Phân loại hợp đồng
Đối với hợp đồng, người ta có thể sử dụng nhiều cách thức phân loại khác nhau dựa trên những căn cứ nhất định Hợp đồng được chia theo ngành luật bao gồm hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại và hợp đồng hành chính Cách phân loại theo ngành luật như vậy ở những nước có truyền thống pháp điển hóa (như Civil Law và Soviet Law) không có nhiều ý nghĩa thực tiễn, ngoài việc xác định thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp, lựa chọn các quy tắc pháp lý chuyên biệt để áp dụng (nếu có)… Thế nhưng nền tảng của luật hợp đồng nói chung luôn nằm ở luật dân sự Những cách phân loại hợp đồng cơ bản và thường gặp sau đây
có ý nghĩa lớn về học thuật và thực tiễn pháp lý mà cần phải hiểu biết:
(1) Hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh, hợp đồng hỗn hợp
Căn cứ vào vấn đề giải thích hợp đồng hoặc cấu trúc hợp đồng, người ta chia hợp đồng thành hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh, hợp đồng hỗn hợp
Có rất nhiều hợp đồng khác nhau được sáng tạo ra trong đời sống của con người Thế nhưng người ta có thể nhóm họp chúng trong từng nhóm khác nhau và đặt tên riêng cho từng nhóm Mỗi nhóm được nhóm họp với những đặc điểm riêng giống nhau của các hợp đồng trong nhóm đó để điều chỉnh bởi qui chế pháp lý
riêng thích hợp (ví dụ: hợp đồng mua bán; hợp đồng tặng cho; hợp đồng thuê; hợp
đồng gửi giữ; hợp đồng vận chuyển…) Những hợp đồng trong các nhóm đã định như vậy gọi là hợp đồng hữu danh
Trang 11Tuy nhiên trong đời sống thực tiễn, đôi khi các bên tranh chấp với nhau về một hợp đồng nào đó mà hợp đồng này không có các đặc điểm giống hoàn toàn với các đặc điểm của bất kỳ loại hợp đồng hữu danh nào mà đã được pháp luật dự liệu trước Hợp đồng như vậy được gọi là hợp đồng vô danh
Loại hợp đồng mà không xác định được chính xác thuộc loại hợp đồng hữu danh nào và chứa đựng nội dung của một số loại hợp đồng hữu danh khác nhau được gọi là hợp đồng hỗn hợp
(2) Hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ
Căn cứ vào dung lượng pháp lý giữa các bên trong mối quan hệ hợp đồng, người ta phân loại hợp đồng thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ Đây là cách phân loại cơ bản, thường được nhắc đến
Hợp đồng song vụ là hợp đồng làm phát sinh ra nghĩa vụ qua lại giữa các
bên giao kết (ví dụ: hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ…) Còn hợp đồng đơn
vụ là loại hợp đồng chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một bên giao kết hợp đồng
(ví dụ: hợp đồng tặng cho, hợp đồng gửi giữ không có đền bù…)
Đối với hợp đồng song vụ, pháp luật có thể thiết kế một vài chế tài đặc trưng Bởi tính chất có đi có lại của hợp đồng song vụ, những vấn đề pháp lý sau thường xuất hiện: (i) một bên có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ nếu bên kia không thực hiện nghĩa vụ; (ii) một bên có thể huỷ bỏ hợp đồng khi bên kia không thực hiện nghĩa vụ; (iii) một bên không còn bị ràng buộc bởi hợp đồng nếu bên kia
do gặp phải trường hợp bất khả kháng mà không thực hiện được nghĩa vụ
(3) Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù
Căn cứ vào lợi ích được trao đổi hay không được trao đổi, khoa học pháp
lý, đặc biệt ở truyền thống Civil Law, phân loại hợp đồng thành hợp đồng có đền
bù (hợp đồng hữu thường) và hợp đồng không đền bù (hợp đồng vô thường hay hợp đồng hảo tâm)
Hợp đồng có đền bù là loại hợp đồng mà theo đó mỗi bên đều nhận được
lợi ích nào đó tương ứng từ phía bên kia (ví dụ: hợp đồng mua bán, hợp đồng thuê
tài sản…) Còn hợp đồng không có đền bù là loại hợp đồng mà theo đó một bên
Trang 12không nhận lại được một lợi ích gì nhưng phải thực hiện một đối tượng nào đấy vì
lợi ích của bên kia (ví dụ điển hình là hợp đồng tặng cho không kèm theo điều kiện
nào)
Hợp đồng không có đền bù thường phải gánh chịu một qui chế pháp lý ngặt
nghèo hơn so với hợp đồng có đền bù Chẳng hạn pháp luật qui định các điều kiện
rất chặt chẽ cho việc giao kết hợp đồng này như về hình thức hợp đồng, về đối tượng của hợp đồng, về các trường hợp không có năng lực giao kết hợp đồng12… Trong khi đó các qui tắc của các hợp đồng thương mại không được áp dụng cho các hợp đồng không có đền bù bởi luật thương mại là luật áp dụng cho các hành vi thương mại (các hành vi có mục tiêu lợi nhuận) Như vậy các hợp đồng thương mại đều là các hợp đồng có đền bù
Sự nhầm lẫn về người trong hợp đồng không có đền bù là một nguyên nhân
dẫn đến hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu, ví dụ: trường hợp giao kết hợp đồng
tặng cho một tài sản nào đó cho một đứa con ngoài giá thú, nhưng sau đó người tặng cho phát hiện ra người thụ tặng không phải là con mình
(4) Hợp đồng thương lượng và hợp đồng gia nhập
Căn cứ vào sự tự do thương lượng thuần túy tạo lập nên các điều kiện của hợp đồng, khoa học pháp lý chia các hợp đồng thành hai loại là hợp thương lượng
và hợp đồng gia nhập
Hợp đồng gia nhập được chú ý nhiều hơn trong cặp phân loại này bởi tính chất khác biệt của nó Đó là một dạng hợp đồng được tiêu chuẩn hoá để đề nghị tới người tiêu dùng hàng hoá hoặc dịch vụ chủ yếu dựa trên cơ sở “chọn nó hoặc
từ bỏ nó”, không cho người tiêu dùng cơ hội thực tế để thoả thuận và theo những điều kiện rõ ràng rằng người tiêu dùng không thể có được sản phẩm hoặc dịch vụ trừ khi chấp nhận hợp đồng theo mẫu13 Pháp luật thường can thiệp sâu hơn vào
12
Trong cuốn sách phổ thông nhất về hợp đồng, khi nói về phân loại hợp đồng này, người ta cũng thường
giảng giải ngắn gọn về các qui chế pháp lý ngặt nghèo đối với nó Chẳng hạn: Đoàn Bá Lộc, Dân- luật
thực- hành, Sài Gòn, 1961, tr 127- 128; Corinne Renault- Brahinsky, Đại cương về pháp luật hợp đồng,
Nxb Văn hoá- Thông tin, Hà Nội, 2002
13
Deluxe Black’s Law Dictionary, West Publishing Co, 1990, tr 23
Trang 13hợp đồng gia nhập nhằm bảo vệ người yếu thế trong quan hệ hợp đồng, hạn chế tác hại của độc quyền và bảo đảm cho việc cung cấp các dịch vụ công cộng…
(5) Hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức
Căn cứ vào hình thức của hợp đồng và việc phát sinh hiệu lực của hợp đồng, khoa học pháp lý phân loại các hợp đồng thành các loại là hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế và hợp đồng trọng hình thức Tuy nhiên nhiều khi cách phân loại này chỉ được ngầm định trong các Bộ luật Dân sự 14
Hợp đồng ưng thuận có hiệu lực khi các bên đạt được sự thoả thuận với nhau Hợp đồng thực tế có hiệu lực vào thời điểm các bên thực tế đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng Còn hợp đồng trọng hình thức có hiệu lực khi các bên đã hoàn tất thủ tục theo qui định của pháp luật
Việc phát sinh hiệu lực của các hợp đồng này phụ thuộc vào việc chúng có tuân thủ hay không các hình thức theo qui định của pháp luật hay chuyển giao tài sản, hoặc không cần thiết phải có các điều kiện như vậy Nếu có qui định của pháp luật hợp đồng phải tuân thủ hình thức nhất định hoặc đối tượng của hợp đồng phải được chuyển giao mà không được thực hiện, thì hợp đồng không có hiệu lực, đồng nghĩa với việc không có thời điểm phát sinh hiệu lực nào cả
Sự ưng thuận là căn bản của hợp đồng, có nghĩa là khi các bên thống nhất được ý chí là hợp đồng có hiệu lực hay có giá trị ràng buộc Tuy nhiên do nhiều nhu cầu khác nhau mà nhà làm luật xếp đặt các hình thức đặc biệt trong việc giao kết hợp đồng và chủ trương vô hiệu hoá các hợp đồng không tuân thủ các hình
thức do pháp luật đòi hỏi, do đó làm phát sinh ra loại hợp đồng trọng hình thức (ví
dụ: hợp đồng mua bán bất động sản, hợp đồng hôn nhân, hợp đồng mua bán sản
nghiệp thương mại, hợp đồng thành lập công ty…) Các hình thức đặc biệt có thể
Trang 14được pháp luật qui định như: hình thức trọng thể, hình thức dẫn chứng, hình thức cấp tư năng và hình thức công bố15
Hợp đồng thực tế bao gồm hợp đồng vay, mượn, gửi giữ, cầm cố và tặng cho Các hợp đồng này không được hình thành cho tới khi động sản hữu hình là đối tượng được chuyển giao cho bên vay, bên mượn, bên nhận giữ, bên nhận cầm
cố và bên thụ tặng Trước khi chuyển giao, thoả thuận giữa các bên chỉ đơn thuần
là một lời hứa về việc cho vay, cho mượn, gửi, cầm cố hay tặng cho16
cả các thuận lợi và mất mát, hoặc với tất cả các bên hoặc bất kỳ bên nào đó trong
số họ, phụ thuộc vào một sự kiện không chắc chắn”17
Bộ luật Dân sự Pháp 1804, Điều 1964 quy định (nhưng nay đã bị bãi bỏ) như sau:
“Hợp đồng may rủi là một giao ước có đi có lại mà hiệu lực, về lợi ích và tổn thất đối với tất cả các bên hoặc đối với một hay nhiều bên, phụ thuộc vào một
Hợp đồng về hưởng lợi suốt đời
Hai loại đầu tiên do đạo luật về hàng hải điều chỉnh”
15
Vũ Văn Mẫu, Việt Nam dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước, In lần thứ nhất, Bộ quốc gia
giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1963, tr 63
16
John E C Brierley, Roderick A Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law,
Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p 397
17
Deluxe Black’s Law Dictionary, West Publishing Co, 1990
Trang 15(7) Hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng
Cặp phân loại hợp đồng cá nhân và hợp đồng cộng đồng còn được gọi là hợp đồng cá nhân và hợp đồng tập thể Hợp đồng cộng đồng đã xuất hiện từ lâu, nhất là trong lĩnh vực thương mại Có nhiều loại hợp đồng thể hiện các yếu tố của hợp đồng cộng đồng rất rõ nét như: thoả ước lao động tập thể; hợp đồng trong
pháp nhân (Chẳng hạn: nghị quyết của đại hội đồng cổ đông của công ty cổ phần;
nghị quyết của hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn…) hoặc pháp nhân giao kết với người thứ ba; các nghị quyết của hội nghị chủ nợ…
Khác với hợp đồng cá nhân mà ở đó hợp đồng có hiệu lực đối với người tham gia giao kết, hợp đồng cộng đồng có hiệu lực đối với nhiều người kể cả trong trường hợp họ không tham gia giao kết, thậm chí họ không nhất trí với hợp đồng
đó (toàn bộ hay một phần) Nhiều nhà phê bình cho rằng không thể coi hợp đồng tập thể là một phần của lý thuyết chung về hợp đồng18
Mục 2 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA HÀNH VI PHÁP LÝ
Hành vi pháp lý là một chế định của luật tư, do đó phải tuân thủ các nguyên tắc chung của luật tư
Luật tư của hầu hết các nước đều thừa nhận hoặc ghi nhận những nguyên tắc bao trùm, bao gồm: tự do ý chí; thiện chí trung thực; bảo vệ trật tự công và thuần phong mỹ tục Tuy nhiên cách thức quy định hay cách thức ghi nhận các nguyên tắc có thể khác nhau Có những bộ luật không quy định rõ ràng các nguyên
tắc trong một điều khoản riêng, ví dụ như Bộ luật Dân sự Đức 2002, trong khi đó
theo mô hình của Bộ luật Dân sự này, Bộ luật Dân sự Nhật Bản 2005 lại quy định ngay tại Điều 1 các nguyên tắc của luật dân sự bao gồm: (1) các quyền lợi tư phải phù hợp với lợi ích công; (2) thực hiện các quyền và nghĩa vụ phải thiện chí; (3)
18
John E C Brierley, Roderick A Macdonald, Quebec Civil Law- An Introduction to Quebec Private Law,
Emond Montgomery Publications Limited, Toronto, Canada, 1993, p 398
Trang 16không được phép lạm dụng các quyền Bộ luật Dân sự Trung Quốc 2020 được pháp điển hóa theo mô hình Đức nhưng lại có say mê quy định nhiều nguyên tắc theo kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa Do đó một loạt các nguyên tắc của luật dân
sự được quy định khó xếp theo thứ bậc (khó xác định thứ tự ưu tiên) và phản ánh hiện trạng xã hội chưa ổn định, bao gồm: các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể luật dân sự được pháp luật bảo hộ và không bị xâm phạm bởi bất cứ cá nhân,
tổ chức nào (Điều 3); tất cả các chủ thể của luật dân sự bình đẳng về địa vị pháp lý khi tiến hành các giao lưu dân sự (Điều 4); chủ thể của luật dân sự tiến hành giao lưu dân sự phù hợp với ý chí của mình (Điều 5); chủ thể của luật dân sự phải theo nguyên tắc công bằng và làm rõ một cách hợp lý quyền và nghĩa vụ của mỗi bên (Điều 6); chủ thể luật dân sự phải theo nguyên tắc thiện chí, thực tâm và tận tâm (Điều 7); khi tiến hành tiến hành giao lưu dân sự, không chủ thể của luật dân sự nào được vi phạm pháp luật, hoặc xâm phạm trật tự công hoặc đạo đức (Điều 8);
và khi tiến hành giao lưu dân sự, chủ thể của luật dân sự phải hành động theo cách thức tạo điều kiện để gìn giữ tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái (Điều 9) Sau các nguyên tắc này, hàng loạt các nguyên tắc khác về áp dụng luật được quy định Trong khi đó Bộ luật Dân sự Pháp 2018 quy định: “Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới chính sách công và đạo đức không thể bị làm tổn hại bởi các thỏa thuận tư” (Điều 6)
“Hành vi pháp lý” là một thuật ngữ pháp lý quan trọng của truyền thống Civil Law và của pháp luật ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi (từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường) nhưng vẫn theo đuổi truyền
thống Soviet Law (ví dụ như Việt Nam hiện nay) bởi “hành vi pháp lý” dựa trên
nền tảng và gắn chặt với học thuyết tự do ý chí (will autonomy) Ngay khi nghiên cứu chỉ riêng về hợp đồng, người ta cũng không thể quên nói tới “tự do hợp đồng” hay “tự do khế ước” Nguyên tắc tự do ý chí có hạt nhân lý luận là con người chỉ
bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình và có quyền định đoạt tất cả những gì thuộc
về mình Đây chính là nền tảng triết lý quan trọng của hành vi pháp lý nói riêng và của luật tư nói chung Do đó pháp luật nói chung và luật tư nói riêng phải thừa
Trang 17nhận và cho thi hành các hành vi pháp lý (sự biểu lộ ý chí làm phát sinh ra hệ quả pháp lý) và tôn trọng sự tự định đoạt của con người Vì vậy luật về hành vi pháp lý nói chung hay luật về hợp đồng nói riêng có ba đặc điểm khác biệt với các lĩnh vực pháp luật khác: (1) thể hiện tính chất của luật tư (bởi nó xác lập và giới hạn quyền lợi tư); (2) là loại luật hỗ trợ (bởi nó giúp cho người biểu lộ ý chí tạo lập hệ quả pháp lý, giúp cho các bên giao kết hợp đồng tạo ra luật của họ với nhau); và (3) là một luật giải thích (bởi nó góp phần giải thích cho ý chí của người biểu lộ ý chí)
Tuy nhiên lợi ích của tư nhân phải nhường bước trước lợi ích của cộng đồng Vì vậy các hành vi pháp lý phải bị áp dụng chế tài vô hiệu hóa nó nếu nó vi phạm trật tự công và đạo đức dù rằng tự do ý là một nguyên tắc nền tảng Trật tự công là một vấn đề trừu tượng và phải được tòa án cân nhắc giải thích cho các trường hợp cụ thể Bộ luật Dân sự 2015 không sử dụng thuật ngữ trật tự công mà thay trật tự công bằng “điều cấm của luật” Vì vậy Điều 117 của Bộ luật này quy định một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là “mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.” (khoản 1, điểm b) Điều cấm luôn phải được quy định rõ ràng, minh thị trong một đạo luật nào đó Vì vậy thay “trật tự công” bằng “vi phạm điều cấm của luật” làm cho vấn đề trở nên sơ cứng hơn và ít bảo vệ được cộng đồng hơn bởi rất khó để bao phủ điều cấm hết các quan hệ pháp lý cần phải làm như vậy, trong khi lợi ích của cộng đồng cần được bảo vệ Nhưng quy định như vậy tại Bộ luật Dân sự 2015 lại tạo điều kiện nhiều hơn cho tự do và ít giới hạn hơn đối với các hành vi pháp lý Pháp luật không thỏa đáng có thể dẫn người ta tới hành vi vi phạm trật tự công Chẳng hạn Luật Bán đấu giá tài sản 2016 nhẽ ra phải xác định bản chất pháp lý của bán đấu giá là giao kết hợp đồng, nhưng lại xác định bản chất của bán đấu giá lựa chọn người để giao kết hợp đồng Vì vậy thực trạng có những hành vi trả giá cao đến mức độ không thể tưởng tượng nổi cho quyền sử dụng một hoặc một vài thửa đất nhất định để trúng đấu giá, nhưng sau đó người trúng đấu giá bỏ không giao kết hợp đồng mua quyền sử dụng thửa đất đó nữa Hành vi này
Trang 18nhằm mục đích làm rối loạn giá quyền sử dụng đất tại khu vực đó để trục lợi bằng cách bán các thửa đất khác bên cạnh với giá rất cao Rõ ràng hành vi này chống lại trật tự công, nhưng pháp luật không cấm
Mặt khác nhiều thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng thuần phong mỹ tục hiện đang tồn tại trong xã hội mà khó có thể nắm bắt kịp thời để có các quy định cấm
thích hợp (ví dụ: thỏa thuận trao đổi vợ, chồng của các cặp đôi; thỏa thuận cấm
một bên thực hiện một số hoạt động nào đó để hạn chế tự do cá nhân; thỏa thuận sinh nở để sau đó mang con đi cho người khác…)
Thực tiễn ở Nhật Bản cho thấy không thể thống kê một cách có hệ thống nội dung cụ thể của khái niệm trật tự công và đạo đức xã hội, vì vậy cần xem xét chúng trong mối quan hệ với án lệ và khoa học pháp lý trong sự thay đổi không ngừng của hệ tư tưởng xã hội và giá trị đạo đức19 Trật tự công và đạo đức là tấm
lá chắn quan trọng để cản lại những gì có thể gây bất ổn trong cộng đồng Chúng còn được sử dụng rất linh động trong việc công nhận và cho thi hành các bản án của tòa án nước ngoài
Bộ luật Dân sự 2015 thiết kế riêng Điều 3 bao gồm 05 khoản để qui định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (ngụ ý luật tư) với những ý tưởng và làm phát sinh ra các vấn đề chủ yếu như sau:
+ Nguyên tắc bình đẳng có nội dung chủ yếu được Bộ luật này quy định là
mọi cá nhân, pháp nhân không bị phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào và được bảo
hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản Bộ luật này coi cá nhân và pháp nhân như nhau, hầu như không có sự phân biệt nào về ý niệm Tuy nhiên thực tế khi định nghĩa khái niệm quyền nhân thân tại Điều 25 (khoản 1), Bộ luật này không nói tới pháp nhân
+ Nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bảo vệ trật tự công, bảo vệ đạo đức
xã hội và nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của hành vi pháp lý được Bộ luật này hòa
trộn làm một như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
19
Xaca Vacaxum, Tori Aridumi, Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1995, tr 127
Trang 19nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.” (Điều
3, khoản 2)
Nguyên tắc bảo vệ trật tự công nói trên lại dường như được tách ra một phần quan trọng nhất để tạo ra một nguyên tắc khác quy định tại Điều 3 (khoản 4) như sau: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.” Tuy nhiên các quy định này gắn việc bảo vệ lợi ích công với lợi ích của người khác (lợi ích tư)
+ Nguyên tắc thiện chí, trung thực được quy định tại Điều 3 (khoản 4) của
Bộ luật này dường như không đề cập tới thiện chí, trung thực liên quan tới các quyền lợi khác ngoài nghĩa vụ dân sự
+ Nguyên tắc tự chịu trách nhiệm chỉ được xem là một nguyên tắc dành cho
“việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Điều 3 (khoản 5) của Bộ luật này
Nguyên tắc pháp lý có tính chất bao trùm, xuyên suốt cả hệ thống pháp luật hay một đại phân ngành luật hay một ngành luật, một tiểu ngành luật hay một lĩnh vực pháp luật Vì vậy người ta thường viết nó theo cách dành chỗ cho các giải thích tư pháp khi giải quyết những vụ việc cụ thể liên quan
Mục 3 BIỂU LỘ Ý CHÍ
Hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương chỉ có một điểm chung là sự biểu
lộ ý chí làm phát sinh ra hệ quả pháp lý Mỗi một giao dịch pháp lý hay một hành
vi pháp lý đều có ít nhất một sự biểu lộ ý chí, có nghĩa là một số hành vi pháp lý chỉ cần một sự biểu lộ ý chí, còn một số hành vi pháp lý khác cần nhiều sự biểu lộ
Trang 20ý chí20 Hợp đồng được đòi hỏi về mặt pháp lý là phải có hai hoặc nhiều ý chí của các bên biểu lộ đồng thời (nói cách khác là sự gặp gỡ của các ý chí) nhằm tạo lập
ra một hệ quả pháp lý nào đấy Tuy nhiên về mặt kỹ thuật đơn thuần, hợp đồng cũng có thể tạo thành khi một người giao kết hợp đồng với chính mình trong một
vài trường hợp rất hiếm, chẳng hạn người được ủy thác bán một tài sản, rồi lại
mua chính tài sản đó
Khi pháp điển hóa luật dân sự theo trường phái Pandectists, điển hình là Bộ luật Dân sự Đức và Bộ luật Dân sự Nhật Bản…, người ta thường xây dựng một chương nói về sự biểu lộ ý chí để áp dụng chung cho cả hợp đồng và hành vi pháp
lý đơn phương
Thông qua sự biểu lộ một cách nghiêm túc và đúng đắn, ý chí biểu lộ đó của một người làm phát sinh ra sự ràng buộc chính người biểu lộ ý chí đó vào một quan hệ pháp lý nhất định Những quyền và nghĩa vụ trong đó được xác lập và bị
buộc thi hành bởi pháp luật Ví dụ: (1) khi một người gửi một đề nghị giao kết hợp
đồng tới một người khác thì người gửi này bị ràng buộc vào chính lời đề nghị đó (trong phạm vi nhất định) nếu người được gửi tới đã nhận được đề nghị đó; (2) khi một người thành lập ra một công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (một pháp nhân), thì người này bị ràng buộc vào mối quan hệ pháp lý với công ty đó21; (3) khi ông A biểu lộ ý chí về việc bán một tài sản nào đó gặp gỡ sự biểu lộ ý chí của ông B về việc mua tài sản đó để tạo thành một hợp đồng mua bán, thì theo đó A (người bán) phải chuyển giao tài sản bán cho B (người mua), và B phải trả tiền cho A; (4) khi A, B và C cùng nhau biểu lộ và thống nhất ý chí (thỏa thuận) thành lập một công ty X của họ, thì họ đều bị ràng buộc vào mối quan hệ với nhau liên quan tới sự thành lập đó, và mỗi người trong số họ đều bị ràng buộc với công ty X
đó
20
Sir Basil Markesinis, Hannes Unberath, and Angus Johnston, The German Law of Contract- A
Comparative Treatise, Second Edition, Hart Publishing, Oxford and Portland, Oregon, 2006, p 27
21
Đây là một loại hành vi pháp lý rất phức tạp, nhất là về mối quan hệ, có qui chế pháp lý riêng mà sẽ được nghiên cứu tại môn luật thương mại
Trang 21Đối với biểu lộ ý chí, người ta thường quan tâm tới các yếu tố như: năng lực biểu lộ ý chí; hình thức chứng cứ của biểu lộ ý chí; kết cấu nội dung của biểu
lộ ý chí Trong thực tiễn, khi giải quyết những tranh chấp về hành vi pháp lý, người ta cũng không thể không chú ý đến ba câu hỏi quan trọng có tính chất lý thuyết- đó là: (1) người biểu lộ ý chí có ý chí đối với một hệ quả pháp lý nhất định
đó không? (2) người này có ý chí biểu lộ ý chí về hệ quả pháp lý đó không? và (3)
sự biểu lộ ý chí đó có tuân thủ quy trình biểu lộ ý chí hợp pháp không?
3.1 Năng lực biểu lộ ý chí
Biểu lộ ý chí để xác lập hành vi pháp lý hay giao dịch pháp lý đòi hỏi người biểu lộ ý chí phải có năng lực xác lập hành vi pháp lý Trước hết người ta dựa vào phân loại hành vi pháp lý thành hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương để xác định năng lực xác lập hành vi pháp lý, sau đó dựa trên căn bản việc xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ của một cá nhân để phân loại năng lực giao kết hợp đồng
Bộ luật Dân sự Đức 2002 tại Điều 111 quy định:
“Một hành vi pháp lý đơn phương được xác lập bởi một vị thành niên mà không có sự chấp thuận cần thiết của đại diện pháp lý thì vô hiệu Nếu vị thành niên xác lập hành vi pháp lý như vậy liên quan đến một người khác với sự chấp thuận đó, thì giao dịch bị vô hiệu nếu vị thành niên không đưa ra văn bản chấp thuận và người nào khác phản đối hành vi pháp lý đó
vì lý do này mà không chậm trễ quá đáng Sự phản đối là không thể nếu người đại diện đã thông báo cho người phản đối về sự chấp thuận.”
Bộ luật Dân sự 2015 không có sự phân loại như vậy, nhưng cũng dựa vào việc xác định năng lực hành vi dân sự đầy đủ của một cá nhân để phân loại năng lực giao kết hợp đồng Điều 21 của Bộ luật này xác định: (1) người chưa đủ sáu tuổi thì không được xác lập và thực hiện giao dịch dân sự mà phải do người đại diện theo pháp luật của người này xác lập và thực hiện; (2) người từ sáu tuổi cho tới mười lăm tuổi khi xác lập và thực hiện giao dịch dân sự thì phải được sự chấp thuận của người đại diện theo pháp luật của người này, trừ những giao dịch phục
Trang 22vụ sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; (3) còn người từ đủ mười lăm tuổi được xác lập và thực hiện tất cả các giao dịch, trừ những tài sản liên quan tới bất động sản và động sản phải đăng ký cũng như các tài sản khác theo quy định của pháp luật mà đòi hỏi phải có sự chấp thuận của người đại diện theo pháp luật của người này Giao dịch dân sự nói trong điều này bao gồm cả hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương Như vậy pháp luật Việt Nam không có sự phân biệt giữa hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương để xác định năng lực xác lập hành vi pháp lý Nhưng mặt khác, pháp luật Việt Nam không chỉ xác định năng lực xác lập hành vi pháp lý, mà còn xác định cả “năng lực thực hiện” hành vi pháp lý
3.2 Hình thức chứng cứ của biểu lộ ý chí
Ý chí là mong muốn nằm bên trong tâm lý của chủ thể mà người khác chỉ
có thể hiểu biết về nó khi nó được bộc lộ ra bên ngoài với những nội dung nhất định thông qua một hình thức vật chất nhất định Đây có thể hiểu là sự biểu lộ ý chí Sự biểu lộ ý chí có thể thông qua phương thức tích cực (như: lập văn bản, chuyển giao vật, chiếm hữu vật…) hay có thể thông qua phương thức tiêu cực (như: im lặng hoặc ngầm chấp nhận có cân nhắc)
Luật La Mã cổ đại, theo chủ nghĩa trọng hình thức, đã có những công thức
nhất định cho việc thể hiện ý chí, chẳng hạn stipulatio được dùng như một khuôn
mẫu để giao kết hợp đồng Theo khuôn mẫu này việc giao kết hợp đồng giữa
người hỏi (stipulator) và người trả lời (promissor) phải được tiến hành làm sao để câu trả lời phải ăn khớp với câu hỏi như: Anh có hứa không (spondesne)? Người kia phải trả lời: Tôi hứa (spondeo), có nghĩa là người trả lời phải dùng chính động
từ đã dùng trong câu hỏi Hỏi đáp như vậy phải được thực hiện trực tiếp bằng lời nói và không được dùng cử chỉ Do đó người bị khuyết tật câm hoặc điếc không
thể dùng stipulatio22
Ngày nay xuất phát từ tự do ý chí, quan niệm và quy định của pháp luật tiến
bộ hơn nhiều liên quan tới hình thức của hành vi pháp lý bởi nếu chỉ có ý chí của
22
Khảo cứu về Luật La Mã cổ đại ở đây là của Vũ Tam Tư, Luật Rôma: Khế ước & Nghĩa vụ, Trường đại
học tổng hợp TP Hồ Chí Minh, Lưu hành nội bộ, tr 79- 80
Trang 23con người mới có giá trị ràng buộc con người thì sự biểu lộ ý chí ràng buộc không thể bị gò bó theo một cách thức nhất định Tuy nhiên sự biểu lộ ý chí không thể vượt qua sự giới hạn của các hình thức vật chất mà ý chí có thể được biểu lộ Các hình thức thường được pháp luật nhắc tới bao gồm: văn bản; lời nói; cử chỉ Sự phát triển của khoa học và công nghệ khiến người ta cũng phát triển thêm quan niệm về hình thức của hành vi pháp lý Dữ liệu điện tử cũng được xem là một hình thức văn bản
Tuy nhiên chủ nghĩa trọng hình thức vẫn được pháp luật duy trì đối với một
số loại hành vi pháp lý Pháp luật có thể đòi hỏi việc xác lập một số loại hành vi
pháp lý nào đấy phải tuân theo một thể thức đặc biệt (ví dụ: thành lập công ty, cho
tặng mô, tạng…) hoặc phải tuân theo một sự cho phép đặc biệt của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền (ví dụ: đầu tư, chuyển quyền sử dụng đất, nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài…) hoặc phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ví
dụ: kết hôn…) hoặc phải công chứng, chứng thực (ví dụ: mua bán bất động
sản…) Sự đòi hỏi này của pháp luật có thể nhằm những mục đích khác nhau đối với từng loại hành vi pháp lý như: bảo vệ trật tự công hay đạo đức; bảo đảm tính nghiêm túc, thận trọng hay sự an toàn, ổn định của hành vi pháp lý; bảo vệ cho những chủ thể đặc biệt hay đối tượng đặc biệt; hoặc xác lập bằng chứng xác thực
về hành vi pháp lý… Tùy theo từng loại hành vi pháp lý để pháp luật đòi hỏi hình thức thích hợp Nhưng theo nguyên lý chung xuất phát từ tự do ý chí thúc đẩy sự phát triển của giao lưu dân sự, từ đó làm kinh tế, xã hội phát triển, thì sự trói buộc
về hình thức đối với các hành vi pháp lý phải suy tính rất cẩn trọng về sự cần thiết
Ngoài ra, do chính tính chất của hành vi pháp lý nào đó, pháp luật đòi hỏi ngoài việc xác lập hành vi pháp lý còn phải bổ sung thêm một hoặc một số hành
động nào đấy (ví dụ: những hợp đồng thực tế)
3.3 Kết cấu nội dung của biểu lộ ý chí
Việc biểu lộ ý chí nhằm tới một hệ quả pháp lý nào đó Do đó nội dung của
nó là yếu tố không thể thiếu bởi thiếu yếu tố đó thì khó có thể xác định được hệ quả mà người biểu lộ ý chí nhằm tới Một di chúc không thể không nói tới di
Trang 24chuyển cái gì (tài sản) cho ai Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.” (Điều 624) Tiếp đó Điều 631 của Bộ luật này yêu cầu di chúc phải nói rõ
họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản, và di sản để lại và nơi có di sản
Tùy theo loại hành vi pháp lý mà nội dung và kết cấu nội dung của nó được đòi hỏi khác nhau Việc thiếu nội dung chủ yếu liên quan tới hệ quả pháp lý có thể làm hành vi pháp lý đó vô hiệu Tuy nhiên nội dung đó có thể được giải thích bởi quy định của văn bản qui phạm pháp luật hoặc tập quán hay thói quen tùy từng trường hợp cụ thể
Hành vi pháp lý đơn phương như đã nói rất phong phú và không thể đúc rút được lý thuyết chung về chúng Tuy nhiên trong lý thuyết chung về hợp đồng vấn
đề này được đề cập khá rõ
Hợp đồng phải hướng tới mục đích của sự thoả thuận Yếu tố này đặt ra vấn
đề những người tham gia giao kết hợp đồng không nhất thiết phải thoả thuận về tất
cả các điều khoản của hợp đồng, nhưng phải thoả thuận tối thiểu về bản chất và mục đích của hợp đồng Còn đối với những điều khoản khác, thì đã có các quy định của pháp luật dự liệu cho ý chí của các bên Tính chất của luật tư, nhất là luật hợp đồng, được biểu hiện như vậy
Đối tượng mà hành vi pháp lý nhằm tới phải hợp pháp Khối tài sản có được từ tham nhũng hay bằng con đường bất hợp pháp khác có thể trở thành di sản thừa kế không nếu di chúc đề cập tới nó là câu hỏi khá nóng hiện nay
3.4 Giải thích hành vi pháp lý
Luật tư, nhất là luật về hành vi pháp lý, luôn hỗ trợ việc xác lập và thực hiện các hành vi pháp lý, cũng như giải thích cho ý chí của người xác lập hành vi pháp lý Nhưng nếu hành vi pháp lý có những điều kiện hay nội dung thiếu rõ ràng, mơ hồ hoặc khiếm khuyết thì cần phải giải thích, tức là làm rõ điều kiện đó hoặc bổ khuyết điều kiện cần thiết Hai nhà luật học so sánh nổi tiếng của Đức Konrad Zeigert và Hein Koetz giảng giải về khái niệm giải thích hợp đồng là quy
Trang 25trình thực hiện nhiệm vụ của thẩm phán xác định ý nghĩa mơ hồ hoặc không hoàn chỉnh của sự diễn đạt quyền lợi của các bên trong quan hệ hợp đồng được gọi là giải thích hợp đồng23 Tuy nhiên giải thích hành vi pháp lý nói chung hay giải thích hợp đồng nói riêng có nhiều trường phái khác nhau Một hệ thống pháp luật
có thể ghi nhận một trường phái nào đó ở một mức độ nhất định nào đó Chẳng
hạn: Bộ luật Dân sự Đức 2002 quy định tại Điều 133 như sau: “Khi một biểu lộ ý
chí được giải thích, cần thiết xác định ý định thực, chứ không phải bám vào nghĩa đen của sự biểu lộ.” Pháp luật của Pháp yêu cầu khi giải thích những quy định không rõ ràng của hợp đồng thì phải theo một cách thức khách quan để xác định ý định chủ quan thực của các bên, chứ không giải thích thông thường theo lời lẽ thực của hợp đồng Trong khi đó Họ pháp luật Anh- Mỹ có nguyên tắc giải thích các quy định mơ hồ theo cách một người bình thường (a reasonable person) hiểu
về chúng như thế nào
Bộ luật Dân sự 2015 quy định giải thích hành vi pháp lý ở nhiều chỗ khác nhau trong đó khá rõ về mặt nội dung nhưng chưa thực sự bảo đảm tính hệ thống Điều 121 của Bộ luật này quy định giải thích hành vi pháp lý (giao dịch dân sự)
“Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lập giao dịch”; “Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giao dịch”; “Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập” (khoản 1), tuy nhiên lại quy định tại khoản 2 là “Việc giải thích hợp đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 404 của Bộ luật này” và “việc giải thích nội dung di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 648 của Bộ luật này” Vậy là 03 nguyên tắc giải thích hành vi pháp lý quy định tại Điều 121, khoản 1 thuộc Phần chung của
Bộ luật Dân sự 2015 chỉ áp dụng cho việc giải thích các hành vi pháp lý đơn phương còn lại ngoài di chúc, trong khi đó hợp đồng là loại hành vi pháp lý lớn nhất và di chúc là một trong các loại hành vi pháp lý đơn phương được chú ý nhất Điều 404, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về cách thức tìm ý chí thực của các bên giao kết hợp đồng và bênh vực bên yếu thế trong quan hệ hợp Điều 648, Bộ luật
23
Konrad Zweigert and Hein Koetz, An Introduction to Comparative Law, Clarendon Press, Oxford, 1998,
p 400