https tailieuluatkinhte com Đề bài Đánh giá tính hợp lí của các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính A Mở đầu 2 B Nội dung 2.https tailieuluatkinhte com Đề bài Đánh giá tính hợp lí của các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính A Mở đầu 2 B Nội dung 2.
Trang 1Đề bài: Đánh giá tính hợp lí của các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
A- MỞ ĐẦU 2
B- NỘI DUNG 2
I- Một số vấn đề lý luận 2
1 Cơ sở pháp lý của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính 2
2 Đặc điểm của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính 3
II- Đánh giá tính hợp lí quy định của Luật tố tụng hành chính về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính 4
1 Về mặt ưu điểm 4
2 Về mặt nhược điểm 9
III- Kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính 13
C- KẾT LUẬN 16
.
Trang 2MỞ ĐẦU
Tố tụng hành chính là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính; nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức có liên quan… Luật tố tụng hành chính 2015 đã có sự thay đổi bổ sung so với Luật tố tụng hành chính 2010 trước đó, thể hiện tinh thần cải cách tư pháp, quyết tâm cải cách nền hành chính của nước Việt Nam Một trong những nội dung mới, quan trọng được đề cập tại Luật Tố tụng hành chính
2015 là chế định đối thoại Do đó, nhóm 3 - lớp K6H đã lựa chọn đề tài “Đánh giá
tính hợp lí của các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính” để nghiên cứu.
A- NỘI DUNG I- Một số vấn đề lý luận
1 Cơ sở pháp lý của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính
Theo từ điển Tiếng Việt, “đối thoại” được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất,
đối thoại là việc nói chuyện giữa hai hay nhiều người với nhau Thứ hai, đối thoại
là việc bàn bạc, thương lượng trực tiếp giữa hai hay nhiều bên với nhau để giải quyết các vấn đề tranh chấp Theo nghĩa thứ nhất, đối thoại chỉ được hiểu là những cuộc trao đổi miệng thông thường của hai hay nhiều người với nhau mà không bắt buộc về một chủ đề nhất định, trong khi đó ở nghĩa thứ hai, đối thoại là sự gặp mặt
để bàn bạc, thương lượng giữa hai hay nhiều bên nhằm mục đích giải quyết các vấn đề tranh chấp “Đối thoại” hiểu theo nghĩa thứ hai chính là một trong các thủ tục trong giải quyết vụ án hành chính
Như vậy đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính có thể hiểu là việc gặp
gỡ, trao đổi thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau giữa các bên trong đó bao
Trang 3gồm bên khởi kiện, bên bị kiện, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và những chủ thể khác có liên quan trong quá trình giải quyết tranh chấp để các bên hiểu rõ và thống nhất xác định sự thật khách quan của vụ vụ án hành chính, biết được quan điểm của nhau về vụ việc và cùng tìm ra một giải pháp để giải quyết vụ
án đó.1
Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính được quy định tại Điều 20 của
Luật tố tụng hành chính 2015 (Luật TTHC 2015) “Tòa án có trách nhiệm tiến
hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này.” Ngoài ra, Luật tố tụng hành
chính 2015 cũng quy định cụ thể trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động đối thoại từ Điều 134 đến Điều 140 tại Chương X – Thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử
2 Đặc điểm của hoạt động đối thoại trong tố tụng hành chính
Đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, bản chất của đối thoại trong giải quyết tranh chấp hành chính là
việc các bên trong quan hệ tranh chấp hành chính gặp gỡ, trao đổi thông tin sự việc
để cùng nhau tìm ra một giải pháp chung nhằm giải quyết tranh chấp hành chính,
từ đó củng cố và đảm bảo sự ổn định về mặt chính trị trong nhân dân, đảm bảo tính công khai dân chủ trong quản lý xã hội
Thứ hai, đối thoại là một hoạt động bắt buộc trong quy trình giải quyết vụ
án hành chính; các chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính sẽ có nghĩa
vụ phải tiến hành giữa các bên tranh chấp Bởi lẽ, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tự giải quyết những mâu thuẫn, xung đột trước khi vụ việc này được giải quyết bởi một bản án được đưa ra và bảo đảm thực hiện bởi các thiết chế trang tính quyền lực nhà nước
1 Giáo trình Luật tố tụng hành chính trường Đại học kiểm sát Hà Nội, trang154.
Trang 4Thứ ba, đối thoại được tiến hành với mục đích tạo cơ hội cho các bên cùng
nhau thống nhất một giải pháp chung nhằm giải quyết vụ án tranh chấp Đây là một đặc trưng cơ bản của đối thoại nhằm phân biệt đối thoại với các hoạt động khác trong quy trình giải quyết tranh chấp hành chính như đối chất hay việc tranh luận tại phiên tòa
Thứ tư, đối thoại trong giải quyết vụ án hành chính phải được tiến hành theo
các quy định của pháp luật tố tụng hành chính Các quy định pháp luật này bao gồm các trường hợp tổ chức đối thoại, thành phần tham gia đối thoại, quy trình tiến hành đối thoại cũng như kết quả của đối thoại đều phải được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật Bởi lẽ, đối thoại được coi là một hoạt động mang tính chất pháp lý và được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Đây là đặc điểm phân biệt cơ bản giữa hoạt động đối thoại trong giải quyết tranh chấp hành chính với việc các bên tranh chấp tự đối thoại hoặc thỏa thuận bên ngoài các phương thức giải quyết tranh chấp hành chính
II- Đánh giá tính hợp lí quy định của Luật tố tụng hành chính về hoạt động đối thoại trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hành chính.
1 Về mặt ưu điểm
Thứ nhất: về tính bắt buộc của thủ tục đối thoại
Căn cứ tại Điều 20 Luật TTHC 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối
thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này” Như vậy đối thoại trong vụ án hành
chính đã được quy định là thủ tục bắt buộc và là nhiệm vụ của thẩm phán khi được
phân công giải quyết vụ án So với Luật TTHC 2010 tại Điều 12 “Trong quá trình
giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các đương sự đối thoại về việc giải quyết vụ án” thì Luật TTHC 2015 có sự sửa đổi bổ sung về trách nhiệm
Trang 5của thẩm phán cao hơn, quy định đây là thủ tục bắt buộc để giúp tạo điều kiện cho các bên tự giải quyết mâu thuẫn trước, đảm bảo cho hoạt động giải quyết vụ án hành chính được tiến hành một cách hiệu quả, tránh sự lãng phí và giúp giảm tải áp lực lên cơ quan nhà nước
Thứ hai: về nguyên tắc đối thoại trong tố tụng hành chính
Luật Tố tụng hành chính 2015 đã xây dựng thủ tục pháp lý rõ ràng với nguyên tắc quy định chặt chẽ tạo xương sống cho hoạt động đối thoại mà Luật TTHC 2010 trước đó không quy định Việc bổ sung ba nguyên tắc nền tảng tại
Khoản 2 Điều 134 “i) Bảo đảm công khai, dân chủ, tôn trọng ý kiến của đương sự;
ii) Không được ép buộc các đương sự thực hiện việc giải quyết vụ án hành chính trái với ý chí của họ; iii) Nội dung đối thoại, kết quả đối thoại thành giữa các đương sự không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội” đảm bảo được tối đa quyền và
lợi ích của đương sự, giúp cho việc giải quyết VAHC được nhanh gọn, chính xác, đúng pháp luật
Thứ ba: quy định về những vụ án không tiến hành đối thoại được.
Việc chỉ ra những hoạt động không được tiến hành đối thoại tại Khoản 1
Điều 134 Luật TTHC 2015 “trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án tiến
hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không tiến hành đối thoại được, vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri,
vụ án xét xử theo thủ tục rút gọn được quy định tại các điều 135, 198 và 246 của Luật này” là rất hợp lý, nhằm đảm bảo lợi ích chung của nhà nước, xã hội, của các
bên đương sự Cụ thể: Đối với những vụ án không tiến hành đối thoại được, có quy định tại Điều 135 Luật TTHC năm 2015 bao gồm 3 trường hợp sau: Người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt; đương sự không thể tham gia đối
Trang 6thoại được vì có lý do chính đáng; các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại Đối với hai trường hợp người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt và đương sự không thể tham gia đối thoại được vì có lý do chính đáng được Luật TTHC năm 2015 quy định thuộc trường hợp vụ án không tiến hành đối thoại được là điều hợp lí Bởi lẽ, bản chất của thủ tục đối thoại là giữa các đương sự phải gặp gỡ nhau cùng trực tiếp thảo luận các vấn đề phát sinh trong tranh chấp hành chính, do vậy, nếu một hoặc các bên vắng mặt vì lí do khách quan lẫn chủ quan thì Tòa án không thể tiến hành đối thoại được Đối với trường hợp các bên đương sự thống nhất đề nghị không tiến hành đối thoại thì Tòa án cũng tôn trọng ý chí và quyền tự định đoạt của các bên trong vụ án hành chính
Những vụ án khiếu kiện về danh sách cử tri tại Điều 198 Luật TTHC năm
2015 quy định không phải tổ chức đối thoại là phù hợp vì xuất phát từ yêu cầu giải quyết khiếu kiện này phải được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời; bởi lẽ mục đích chính của người khởi kiện đối với vụ việc này là để có tên trong danh sách cử tri hoặc tên phải được ghi đúng trong danh sách cử tri, nếu như việc giải quyết vụ án hành chính trải qua thủ tục đối thoại sẽ kéo dài thêm thời gian giải quyết vụ án hành chính
Thủ tục xét xử rút gọn được quy định tại Điều 246 thì không cần phải thực hiện thủ tục đối thoại vì thủ tục rút gọn trong tố tụng hành chính là thủ tục giải quyết vụ án hành chính nhằm rút ngắn về thời gian và thủ tục so với thủ tục giải quyết vụ án hành chính thông thường nên nếu tổ chức đối thoại sẽ không bảo đảm tính chất của thủ tục xét xử rút gọn
Thứ tư: Về trình tự tiến hành phiên họp đối thoại
Trang 7Việc thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
việc thông báo về phiên họp đối thoại nhằm giúp cho đương sự, người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ biết được thời gian, địa điểm và nội dung của phiên họp đối thoại để đến tham dự phiên họp Ngoài ra, thông qua việc thông báo này giúp các bên đương sự có thời gian chuẩn bị trước để có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách tốt nhất
Pháp luật đã quy định cụ thể các chủ thể trong phiên họp đối thoại được quy định tại khoản 4 Điều 138 Luật TTHC 2015 đã giúp cho các bên đối thoại trong tố tụng hành chính hiểu rõ hơn về thủ tục đối thoại và đảm bảo tính khách quan, thận trọng và dân chủ
Có thể thấy, Điều 138 Luật TTHC năm 2015 quy định rất chi tiết về thủ tục phiên họp đối thoại, trong đó Thẩm phán có vai trò rất lớn Theo quy định trên thì tại phiên họp đối thoại Thẩm phán với tư cách là người tiến hành tố tụng và là chủ thể tiến hành đối thoại sẽ cung cấp cho các đương sự biết về các văn bản pháp luật
có liên quan đến việc đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khiếu kiện để họ tự xác định xem khiếu kiện Tòa án đang giải quyết có hợp pháp hay không, đồng thời Thẩm phán có thể phân tích cho các đương sự hiểu đúng về nội dung của quy phạm pháp luật để họ có thể quyết định việc lựa chọn việc giải quyết tranh chấp đang phát sinh giữa các bên
Thứ năm: về xử lý kết quả đối thoại
Điều 140 Luật TTHC năm 2015 đã quy định rõ ràng về xử lý kết quả đối thoại
2 “Trước khi tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại giữa các đương
sự, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.”
Trang 8Thông qua đối thoại người bị kiện đã nhận thức được khiếu kiện do mình ban hành hoặc thực hiện là không đúng với quy định của pháp luật nên đã cam kết sửa đổi, hủy bỏ, bổ sung hoặc thay thế, trong khi đó đối với người khởi kiện mặc
dù vụ án hành chính chưa được giải quyết bằng phán quyết của Tòa án nhưng mục đích tham gia tố tụng đã đạt được nên cam kết rút đơn khởi kiện để sớm chấm dứt
quy định rất hợp lý khi dành khoảng thời gian nhất định để các bên tham gia đối thoại thực hiện cam kết của mình thì Thẩm phán mới ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, tránh trường hợp một trong các bên đối thoại không thực hiện đúng cam kết ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại
Thứ sáu: Thành phần phiên đối thoại
Căn cứ theo khoản 1 điều 137 luật TTHC 2015, thành phần tham gia đối thoại gồm có: thẩm phán chủ trì phiên họp; thư ký phiên họp ghi biên bản; đương
sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có) Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2, trường hợp cần thiết, Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia phiên họp Đây là một quy định phù hợp, bởi lẽ trong những trường hợp cần thiết, những cá nhân, cơ quan và tổ chức được Thẩm phán mời đến phiên họp để hỗ trợ Thẩm phán, các bên đương sự trong việc thống nhất
3 Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc
chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Tòa án lập biên bản về việc cam kết của đương sự Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Tòa án quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Tòa án văn bản rút đơn khởi kiện
Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới hoặc văn bản rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải thông báo cho các đương sự khác biết Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, nếu các đương sự không có ý kiến phản đối thì Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành, đình chỉ việc giải quyết vụ
án và gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp
Trang 9với nhau về việc giải quyết vụ án như người làm chứng, người giám định… Mặc
dù quy định này cho phép Thẩm phán có quyền mời thêm các chủ thể khác không nằm trong sự việc tranh chấp, tuy nhiên lại quy định chỉ trường hợp nào “cần thiết”
Thứ bảy: biên bản đối thoại
thoại, trong đó đáng chú ý là biên bản đối thoại phải có nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất Trên cơ sở ghi nhận ý kiến của các bên đương sự trong quá trình đối thoại, các nội dung mà đương sự đã thống nhất được với nhau cũng như nội dung mà các bên chưa thống nhất được để làm cơ sở cho Thẩm phán tiến hành đối thoại có hướng xử lý tiếp theo của việc giải quyết vụ án hành chính là tiếp tục xét xử hay đình chỉ giải quyết vụ án hành chính Việc quy định như vậy là rất rõ ràng, cụ thể; tạo tiền đề cho Thẩm phán giải quyết VAHC một cách dễ dàng hơn
2 Về mặt nhược điểm
Thứ nhất: Luật TTHC năm 2015 cũng đã bổ sung mới các quy định về
nguyên tắc đối thoại; những vụ án không tiến hành đối thoại được; về thông báo phiên họp đối thoại; thành phần, thủ tục đối thoại; biên bản đối thoại và xử lý kết quả đối thoại (từ Điều 134 đến Điều 140) Mặc dù, những quy định mới này khá rõ ràng, tương đối dễ hiểu, dễ áp dụng, nhưng vẫn còn một số vướng mắc qua thực tiễn áp dụng đã bộc lộ hạn chế nhất định, ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết vụ án
4 Biên bản đối thoại phải có các nội dung sau đây:
a) Nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
b) Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự;
c) Nội dung đã được đương sự thống nhất, không thống nhất.
Trang 10phải kéo dài so với thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án hành chính theo quy định tại Điều 130 Luật TTHC 2015, gây tâm lí “bức xúc” cho đương sự do phải tốn kém nhiều chi phí đi lại và chi phí khác; mất quá nhiều thời gian đeo đuổi vụ kiện chỉ vì
sự vắng mặt nhiều lần của nhiều đương sự, thậm chí có biểu hiện thiếu hợp tác của người bị kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan chỉ xoay quanh phiên họp đối thoại
Thứ hai: quy định về sự vắng mặt của đương sự tại phiên họp đối thoại
- Khoản 3 Điều 137 Luật TTHC năm 2015 quy định rằng: “trong vụ án có
nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng
ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt;… ” Quy định này phải chăng là sự quá dễ dãi cho người bị
khởi kiện; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập tham gia tố tụng với bên bị kiện?
Người bị kiện chủ yếu là UBND, Chủ tịch UBND các cấp, nên việc tham gia
tố tụng phải là Chủ tịch UBND hoặc chỉ ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND theo quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật TTHC 2015, trong khi những người này luôn phải chịu áp lực lớn trong công việc quản lý hành chính nhà nước, do đó trong quá trình giải quyết vụ án, hầu hết những người bị kiện không tham gia Thực tế cho thấy cả người được ủy quyền cũng không tham gia, chỉ có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện tham gia phiên đối thoại Vì thế, việc đối thoại trong vụ án hành chính thường bị kéo dài, làm cho mục đích, ý nghĩa của quy định
về đối thoại không được thực hiện
- Ý thứ 2 Khoản 3 Điều 137 luật TTHC 2015 quy định “……nếu các đương
sự đề nghị hoãn phiên họp để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp và thông báo bằng văn bản việc hoãn phiên họp, mở lại phiên họp cho các đương sự” Theo quan điểm của nhóm, quy định này đã tạo nên