1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết nghiên cứu bước đầu sử dụng Bevacizumab (Avastin) điều trị tân mạch hắc mạc không thoái hoá hoàng điểm tuổi già

4 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết Nghiên Cứu Bước Đầu Sử Dụng Bevacizumab (Avastin) Điều Trị Tân Mạch Hắc Mạc Không Do Thoái Hóa Hoàng Điểm Tuổi Già
Tác giả Đặng Trần Đạt, Đỗ Như Hơn
Trường học Bệnh Viện Mắt Trung Ương
Chuyên ngành Y học mắt
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 658,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 777 số 8/2011 30 Kết quả nghiên cứu bước đầu sử dụng Bevacizumab Avastin điều trị tân mạch hắc mạc không do thoái hoá hoàng điểm tuổi già Đặng Trần Đạt, Đỗ Như Hơn Bệ

Trang 1

Y học thực hành (777) số 8/2011

30

Kết quả nghiên cứu bước đầu sử dụng Bevacizumab (Avastin)

điều trị tân mạch hắc mạc không do thoái hoá hoàng điểm tuổi già

Đặng Trần Đạt, Đỗ Như Hơn

Bệnh viện Mắt Trung ương

TểM TẮT

Mục tiờu: Đỏnh giỏ kết quả bước đầu của phương

phỏp tiờm nội nhón bevacizumab điều trị tõn mạch hắc

mạc khụng do thoỏi hoỏ hoàng điểm tuổi già về chức

năng và giải phẫu và cỏc biến chứng

Đối tượng và phương phỏp: Nghiờn cứu mụ tả tiến

cứu trờn 20 mắt trờn 20 bệnh nhõn được chẩn đoỏn tõn

mạch hắc mạc khụng do thoỏi hoỏ hoàng điểm tuổi già

và điều trị tại Khoa Đỏy mắt –Màng bồ đào Bệnh viện

mắt Trung ương từ 6/2007 đến 6/2008 Cỏc bệnh nhõn

được tiờm nội nhón 1,25mg/0,05ml Bevacizumab, theo

dừi sau tiờm 1 tuần, 1 thỏng/lần Cỏc tiờu chớ chớnh theo

dừi là thị lực, độ dày vừng mạc trung tõm và cỏc biến

chứng đi kốm

Kết quả: Nhúm nghiờn cứu gồm 11 nữ và 9 nam cú

độ tuổi trung bỡnh 50,55, thời gian theo dừi trung bỡnh

6,22 thỏng Số mũi tiờm trung bỡnh là 1,75 Thị lực trước

tiờm trung bỡnh là 0,2219 và cú xu hướng cải thiện dần

trong thời gian theo dừi với thị lực trung bỡnh lần khỏm

cuối là 0,3857, sự khỏc biệt cú ý nghĩa thống kờ (t test,

t= -4,75 p<0,05) Độ dày vừng mạc trung tõm trước tiờm

là 516,75±47,48àm và giảm xuống 382,20± 39,82àm

Sự khỏc biệt này là cú ý nghĩa thống kờ (t test, t=4,82,

p< 0,005) Nghiờn cứu khụng ghi nhận cú biến chứng

nặng nào như tăng nhón ỏp, đục thể thuỷ tinh, xuất

huyết dịch kớnh, bong vừng mạc hay viờm mủ nội nhón

Kết luận: Việc sử dụng Bevacizumab tiờm nội nhón

điều trị tõn mạch hắc mạc khụng do thoỏi hoỏ hoàng

điểm tuổi già cho kết quả ban đầu cải thiện thị lực khả

quan, giảm độ dày vừng mạc trung tõm Thuốc dễ dung

nạp và khụng gõy biến chứng nặng Tuy nhiờn do số

lượng bệnh nhõn ớt thười gian theo dừi chưa đủ dài nờn

cần cú nghiờn cứu qui mụ hơn để đỏnh giỏ hiệu quả lõu

dài của phương phỏp

Từ khúa: bevacizumab, hoàng điểm

SuMmary

Purpose: To evaluate the short-term anatomical and

functional responses after intravitreal injection of

Bevacizumab for choroidal neovascularization (CNV) not

secondary to age-related macular degeneration as well

as its complications

Method: 20 eyes of 20 patients with CNV not

secondary to AMD treated by intravitreal injection of

Bevacizumab (1,25mg) in Fundus department, VNIO

from 6/2007-6/2008 The follow-up times is at 1 week

and monthly The main outcomes were visual acuity,

central retinal thichness (CRT) and complication

Result: There were 11 females and 9 males with mean

age is 50.55 year olds The average of injection is 1.75

Mean visual acuity improved from 0.2219 at base-line to

0.3857 at the last visit The difference is statistically

significant (t test, t= -4.75 p<0.05) The second main

outcome- mean CRT- reduced significant from

516.75±47.48àm at base-line to 382.20± 39.82àm at the

last visit (t test, t=4.82, p< 0.005) No severe complications

as IOP raising, cataract, vitreous haemorrage, retinal detachment or endophthalmitis were noted

Conclusion: Intravitreal injection of bevacizumab for CNV not secondary to AMD appears to be beneficial and well tolerated in the treatment of CNV not secondary to AMD in short-term Further comprehensive study to confirm the long-term effects of this treatment is warranted

Keywords: Bevacizumab, choroidal neovascularization

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tõn mạch hoàng điểm là một bệnh lý dịch kớnh vừng mạc gõy giảm thị lực trầm trọng ảnh hưởng nhiều tới sinh hoạt của người bệnh Bệnh gõy ra do nhiều nguyờn nhõn khỏc nhau như thoai hoỏ hoàng điểm tuổi già, cận thị nặng, rạn màng Bruch sau chấn thương, bệnh biểu

mụ sắc tố toả lan hoặc vụ căn Trước đõy cỏc phương phỏp điều trị như laser quang đụng, laser quang động(PDT) thường chỉ tập trung điều trị trực tiếp vào tõn mach nờn gặp rất nhiều khú khăn và thường chỉ để bảo tồn thị lực Từ những khú khăn và kết quả điều trị thấp của cỏc phương phỏp điều trị đó cú đặt ra nhu cầu cần

cú một hướng điều trị mới hướng vào nguồn gốc sinh tõn mạch Cỏc nghiờn cứu mụ bệnh học cho thấy cú nhiều yếu tố tăng sinh ảnh hưởng đến quỏ trỡnh phỏt triển tõn mạch Yếu tố tăng sinh tế bào nội mạc (VEGF) được phỏt hiện năm 1983 đúng vai trũ quan trọng trong quỏ trỡnh bệnh lý tạo màng tõn mạch

Trờn lõm sàng, một số thuốc chống VEGF đó được chứng minh cú giỏ trị tớch cực trong việc điều trị tõn mạch hoàng điểm Pegaptanib (Macugen) là một aptamer gắn và ức chế isoform 165 của VEGF-A là chế phẩm thế hệ đầu đó ổn định được thị lực của cỏc mắt được điều trị Cỏc chế phẩm tiếp theo như Bevacizumab (Avastin) là một khỏng thể toàn phần cú khả năng ức chế mọi isoform của VEGF-A đó cho những kết quả điều trị cải thiện thị lực rừ rệt sau điều trị và đó được sử dụng điều trị tõn mạch hoàng điểm phổ biến khắp trờn toàn thế giới từ năm 2005 Nhiều nghiờn cứu đó cho thấy hiệu quả điều trị tốt của phương phỏp mà khụng cú cỏc tỏc dụng phụ nghiờm trọng và giỏ thành điều trị cũng khỏ rẻ Ranibizumab (Lucentis) là một khỏng thể người cắt đoạn trờn cơ sở thuốc Bevacizumab để gắn và ức chế mọi isoform VEGF-A cũng cho thấy hiệu quả điều trị tớch cực trong cỏc nghiờn cứu khỏc nhau và đó được FDA chấp nhận điều trị tại mắt từ 6/2006 Tuy nhiờn giỏ thành điều trị ranibizumab khỏ đắt

Tại Việt Nam, nhận thức được những thỏch thức trong điều trị tõn mạch nờn Bệnh viện Mắt trung ương-

cơ sở nhón khoa đầu ngành của cả nước- từ nhiều năm qua đó tiến hành một số nghiờn cứu về đăc điểm hỡnh thỏi của bệnh AMD trờn người Việt nam và từng bước thực hiện một số phương phỏp điều trị Cựng với sự hội nhập với nhón khoa thế giới và khu vực và đún đầu cỏc hướng điều trị mới của bệnh AMD thể tõn mạch, Bệnh viện là đơn vị đầu tiờn trong cả nước đó thử nghiệm

Trang 2

Y häc thùc hµnh (777) sè 8/2011 31

điều trị một số trường hợp tân mạch do AMD từ năm

2007 và cũng cho những kết quả điều trị ban đầu rất khả

quan Trên cơ sở những thành công bước đầu chúng tôi

tiến hành nghiên cứu nhằm đánh gía hiệu quả về chức

năng và giải phẫu sau điều trị và các biến chứng của

phương pháp

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân có chẩn

đoán tân mạch vùng hoàng điểm đến khám và điều trị tại

khoa Đáy mắt màng bồ đào, Bệnh viện Mắt Trung ương

từ tháng 6/2007 đến 6/2008 Loại trừ các bệnh nhân có

các bệnh lý cấp tính tại mắt kèm theo; các bệnh nhân có

bệnh lý toàn thân nặng, già yếu hay trẻ em dưới 16 tuổi

Phương pháp nghiên cứu:

- Thiết kế

Nghiên cứu mô tả tiến cứu không có đối chứng

- Chọn mẫu

Nghiên cứu tiến hành dựa trên ca bệnh lâm sàng

hiếm gặp, số lượng thu thập tối đa có thể có trong suốt

thời gian theo dõi (Có bao nhiêu ca lấy bấy nhiêu)

- Các bước tiến hành

Tất cả các bệnh nhân được đo thị lực nhãn áp, chụp

mạch ký huỳnh quang và chụp OCT để chẩn đoán tân

mạch hoàng điểm trước điều trị

Các bệnh nhân được giải thích kỹ và hiểu về

phương pháp điều trị và tự nguyện ký cam kết tham gia

điều trị

Các bệnh nhân đều được tiêm nội nhãn

Bevacizumab 1,25mg/0,05ml theo quy trình chuẩn:

o Thực hiện tại phòng tiêm vô khuẩn của khoa

o Tra thuốc tê bề mặt và sát khuẩn trước tiêm 3 lần

cách nhau 5 phút

o Cố định mắt bằng vành mi vô khuẩn và tiêm nội

nhãn 1,25mg/0,05ml Bevacizumab bằng xylanh gắn kim

30G qua vùng pars plana phía thái dương dưới

o Tra mỡ kháng sinh và băng che sau tiêm

Các bệnh nhân được theo dõi tái khám sau tiêm sau

1 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng và lần tái khám sau

cùng về thị lực, nhãn áp, đo chiều dày võng mạc trung

tâm bằng OCT

- Các tiêu chuẩn đánh giá

Về thị lực, chiều dày võng mạc trung tâm (đo bằng

OCT) và các biến chứng của phương pháp

Tiêu chuẩn đánh giá thị lực:

Đánh giá và phân loại thị lực theo các mức độ sau:

o Kém: dưới ĐNT 3m

o Trung bình: ĐNT 3m-3/10

o Tốt: trên 3/10

Các bệnh nhân được tiêm bổ xung khi có giảm thị

lực 1 bậc hay độ dày trung tâm võng mạc tăng trên

100µm ở lần thăm khám kế tiếp

Các số liệu thu thập được xử lý theo phần mềm

thống kê y học

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung

Trong thời gian nghiên cứu có tổng số 20 mắt của 20

bệnh nhân gồm 9 nam và 11 nữ có độ tuổi trung bình là

50,55 tuổi Thời gian theo dõi trung bình là 6,22 tháng

Số mũi tiêm trung bình là 1,75 mũi

Về nguyên nhân gây tân mạch hoàng điểm gồm có 4

mắt bị cận thị nặng, 2 mắt bị rách màng Bruch do chấn

thương, 1 mắt bị bệnh biểu mô sắc tố toả lan và 13 mắt

vô căn

Biểu đồ 1: Phân bố theo nguyên nhân tân mạch nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Kết quả thị lực:

Thị lực trung bình trước điều trị của nhóm bệnh là 0,2219 Thị lực này đã chứng tỏ tính chất trầm trọng của bệnh lý tân mạch hoàng điểm Tuy vậy sau khi điều trị thị lực trung bình của nhóm nghiên cứu đã tăng lên ở mức 0,3857 ở lần tái khám sau cùng Sự khác biệt về mặt thị lực này có ý nghĩa thống kê (t test, t= -4,75, p<0,005)

Biểu đồ 2 : Sự khác biệt về thị lực theo bậc trước và sau điều trị

22

45 38.9

10.0

0%

20%

40%

60%

80%

100%

Thị lực trước tiêm

Thị lực sau tiêm

xấu trung bình tốt

So sánh về các nhóm thị lực giữa trước và sau điều trị cũng có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Pearson chi2 test, p= 15,4, p<0,05) Nhóm có thị lực xấu đã giảm

từ 38,9% xuống 10% tương ứng thì nhóm có thị lực tốt

và trung bình cũng tăng lần lượt từ 38,9% lên 45% và 22% lên 45%

Kết quả giải phẫu :

Bảng 1 : kết quả theo dõi độ dày võng mạc trung tâm

Đơn vị : µm

Số thứ

tự

Trước điều trị

Sau 1 tuần

Tháng

1

Tháng

2

Tháng

3

Khám sau cùng

1 410 375 317 323 309

2 327 287 225 217 213

3 445 433 427 437 422 427

4 302 291 288 256 261 203

8 804 756 711 642 623 637

10 773 635 521 433 381 362

11 566 550 535 501 491 432

12 428 401 417 409 433 414

20%

10%

5%

65%

Cận thị Chấn thương ERD

Vô căn

Trang 3

Y häc thùc hµnh (777) sè 8/2011

32

14 231 200 194 197 188 190

15 219 192 188 195 187 185

16 258 218 205 215 195

17 348 302 244 235 227

18 799 681 692 651 618

19 691 632 658 669 58 671

20 701 488 409 317 301

Độ dày võng mạc trung tâm trước điều trị là

516,75±47,48µm Sau khi điều trị độ dày võng mạc có

xu hướng giảm dần theo thời gian và tại thời điểm tái

khám sau cùng độ dày võng mạc trung tâm trung bình

giảm xuống 382,20± 39,82µm Sự khác biệt này là có ý

nghĩa thống kê (t test, t=4,82, p< 0,005) Kết quả này có

được là do giảm phù nề, giảm dịch dưới võng mạc sau

khi tân mạch bị thoái triển do tác dụng của thuốc

Các biến chứng của phương pháp điều trị :

Trong suốt quá trình theo dõi của nghiên cứu chúng

tôi không gặp những biến chứng toàn thân của thuốc

như tăng huyết áp, rối loạn đông máu

Bảng 2 : Các biến chứng tại mắt

Xuất huyết dưới kết mạc 2

Chạm thể thuỷ tinh 0

Rách và bong võng mạc 0

Viêm mủ nội nhãn 0

Xuất huyết dịch kính 0

Qua thời gian theo dõi chúng tôi thấy chỉ có 2 trường

hợp bị xuất huyết kết mạc tại vùng tiêm và một trường

hợp xước giác mạc nhẹ Cả 3 trường hợp trên đều hoàn

toàn trở lại bình thường ở lần tái khám tiếpp theo và

không để lại di chứng gì Các bệnh nhân này đều là

những bệnh nhân trẻ và gặp tai biến khi tiêm lần đầu do

kém hợp tác trong quá trình tiêm Các biến chứng nặng

như xuất huyết dịch kính, viêm mủ nội nhãn hay bong

võng mạc chúng tôi đều không gặp trong suốt thời gian

theo dõi

BÀN LUẬN

Tân mạch hoàng điểm không do thoái hoá hoàng

điểm tuổi già (AMD) thường gặp ở nhóm người có độ

tuổi trẻ dưới 55 tuổi Điều này hoàn toàn phù hợp trong

nghiên cứu của chúng tôi Trong các nghiên cứu về tân

mạch hoàng điểm không do thoái hoá hoàng điểm tuổi

già thì tân mạch vô căn thường hiếm từ 45-65% các

trường hợp Ở nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ tân mạch

hoàng điểm vô căn là 13 ca(65%) tươngtự như tỉ lệ trên

Tân mạch hoàng điểm không do AMD trước kia

được điều trị với laser quang đông nhưng theo

Soubrane theo dõi sau 5 năm không có sự khác biệt về

thị lực giữa nhóm có và không có điều trị Thậm chí ở

nhóm được điều trị có xu hướng mở rộng sẹo laser Kết

quả điều trị với PDT cũng chỉ cho kết quả ổn định thị lực

sau 1 năm và mất dần ý nghĩa điều trị sau 2 năm theo

dõi ở nghiên cứu VIP Từ khi phát hiện ra vai trò đặc biệt

quan trọng của VEGF-A trong quá trình tăng sinh tân

mạch và đặc biệt sau khi có sự ứng dụng vào lâm sàng

có hiệu quả của Bevacizumab năm 2005 đã mở ra một

hướng điều trị mới khả quan hơn Việc đưa thuốc vào

nội nhãn sẽ giúp đạt được nồng độ thuốc cao và dễ

thấm nhanh, nhiều vào vào vùng hố hoàng điểm-đích của quá trình điều trị Kết quả là tân mạch hoàng điểm

sẽ thoái triển Điều này sẽ làm giảm phù nề võng mạc, rút dịch dưới võng mạc qua đó hạn chế quá trình tạo các

mô sẹo xơ phá huỷ cấu trúc và chức năng của hoàng điểm Nguyen QD và Shah S là người đầu tiên tiêm nội nhãn 1,25mg Bevacizumab điều trị tân mạch hoàng điểm do cận thị đã cho thấy kết quả điều trị thành công

cả về giải phẫu và thị lực và kết quả ổn định trong suốt 1 năm theo dõi Điều này càng đươc chứng minh trong nghiên cứu tiếp theo của Arias và cộng sự trên 17 mắt bị tân mạch cận thị đã cho cải thiện về thị lực trên 41% và không có ca nào giảm thị lực trầm trọng Kết quả này cũng tương tự như của nghiên cứu của chúng tôi không

có ca nào bị giảm thị lực trầm trọng trong quá trình theo dõi với tỉ lệ thị lực tốt là 45% số ca Kết quả thị lực này

có được từ việc giảm độ dày võng mạc trung tâm Nghiên cứu Arias có độ giảm là 79,6 µm còn trong nghiên cứu của chúng tôi là 134,55 cao hơn Điều này

có được có thể là do số mũi tiêm trung bình của chúng tôi là 1,75 mũi cao hơn so với nghiên cứu của Arias là 1 mũi nên tác dụng của thuốc được duy trì nhiều hơn Mặt khác trong nghiên cứu của Arias các bệnh nhân đều bị cận thị nên độ dày võng mạc đã mỏng sẵn còn trong nghiên cứu của chúng tôi tân mạch do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó bệnh nhân cận thị chỉ chiếm 20%

Các tác dụng không mong muốn của Bevacizumab khi dùng toàn thân như tăng huyết áp, rối loạn đông máu cũng đã không thấy khi chuyển sang dùng đường tiêm nội nhãn do thuốc được tập trung cao tại chỗ mà chỉ phải sử dụng một lượng thuốc thấp hơn rất nhiều so với đường toàn thân Hơn nữa, mắt là cơ quan tương đối kín nên việc sử dụng một lượng nhỏ thuốc sẽ có ít thuốc khuếch tán vào hệ tuần hoàn và do đó có ít tác dụng phụ toàn thân hơn.Với nghiên cứu toàn cầu về mức độ

an toàn của tiêm nội nhãn Bevacizumab trên 70 trung tâm nhãn khoa của 12 nước trên 4 châu lục cho thấy với

7113 mũi tiêm trên 5228 bệnh nhân các biến chứng toàn thân có thể gặp nhiều nhất là tăng huyết áp nhẹ chiếm khoảng 0,21% với 15 ca, thiếu máu thoáng qua với 1 bệnh nhân (0,01%) Các biến chứng tại mắt do quá trình tiêm như xước giác mạc, tổn thương thể thuỷ tinh, xuất huyết kết mạc hay khó chịu mắt nhẹ đều rất thấp với 1-3

ca (0,01%-0,03%) Các biến chứng nặng do tiêm như bong võng mạc 3 ca (0,04%) viêm nội nhãn 1 ca (0,01%) Các biến chứng liên quan đến thuốc đáng kể nhất là phản ứng viêm màng bồ đào với 10 ca (0,14%)

và đục thuỷ tinh thể tiến triển 1 ca Nghiên cứu đã đưa

ra kết luận tiêm nội nhãn Bevacizumab an toàn trong thời gian nghiên cứu bước đầu Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi thì kết luận này hoàn toàn phù hợp Mặc dù thời gian theo dõi chỉ 6 tháng nhưng chúng tôi thấy thuốc rất dễ dung nạp và không có biến chứng nặng nào xảy ra

KẾT LUẬN

Với việc điều trị đột phá bệnh lý tân mạch hoàng điểm không do AMD bằng tiêm nội nhãn Bevacizumab

đã mở ra một hướng điều trị khả quan mới cho bệnh lý nhãn khoa nặng này Thuốc bước đầu đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt về thị lực và giải phẫu, dễ dung nạp và ít các biến chứng, đem lại hi vọng cho bệnh nhân Tuy nhiên do những hạn chế về thời gian theo dõi và cỡ mẫu

Trang 4

Y häc thùc hµnh (777) sè 8/2011 33

nhỏ nên cần thiết tiến hành những nghiên cứu quy mô

hơn nhằm đánh giá hiệu quả lâu dài của thuốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyen QD, Shah S, Tatlipinar S, Do DV, Anden

EV, Campochiaro PA (2005) Bevacizumab suppresses

choroidal neovascularisation caused by pathological

myopia Br J Ophthalmol 89:1368–1370

2 Treatment of Age-Related Macular Degeneration

with Photodynamic Therapy (TAP) Study Group,

Verteporfin in Photodynamic therapy Study Group

(2003) Photodynamic therapy of subfoveal choroidal

neovascularization with verteporfin: fluorescein

angiographic guidelines for evaluation and treatment—

TAP and VIP report no 2 Arch Ophthalmol 121:1253–

1268

3 Luke M, Warga M, Ziemssen F, Gelisken F, Grisanti

S, Schneider T, Luke C, Partsch M, Bartz-Schmidt KU,

Szurman P, Tuebingen Bevacizumab Study Group (2006) Effects of bevacizumab on retinal function in isolated vertebrate retina Br J Ophthalmol 9:1178–1182

4 L Arias, N Planas, S Prades, J M Caminal, M Rubio, O Pujol, G Roca (2008) Intravitreal bevacizumab (Avastin) for choroidal neovascularisation secondary to pathological myopia: 6-month results Br J Ophthalmol 92:1035-1039

5 Manzano RP, Peyman GA, Khan P, Kivilcin M (2006) Testing intravitreal toxicity of bevacizumab (Avastin) Retina 26:257–261

6 Adamis AP, Shima DT (2005) The role of vascular endothelial growth factor in ocular health and disease Retina 25:111–118

7 Niemeyer M, Hefner L, Jochmann C, Wiedemann

P (2006) Intravitreal Bevacizumab for recurring choroidal neovascularisation Ophthalmologe (in press)

Nghiªn cøu ph©n bè c¸c lo¹i ung th­ da t¹i BÖnh viÖn Da LiÔu Trung ­¬ng giai ®o¹n 2007-2010

Vò Th¸i Hµ, NguyÔn H÷u S¸u, Lª §øc Minh, TrÇn HËu Khang, NguyÔn Sü Ho¸, Ng« V¨n Toµn

ĐH Y Hà Nội, BV Da Liễu Trung ương, BV Da Liễu Hà Nội

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát tình hình ung thư da Bệnh viện Da

liễu Trung ương (BVDLTW) Đối tượng và phương pháp

nghiên cứu: Phương pháp mô tả cắt ngang dựa trên dữ

liệu của 856 bệnh nhân ung thư da đến khám và điều trị

tại BVDLTW Kết quả : Trong thời gian 4 năm từ 1/2007

đến 12/2010 đã có 856 bệnh nhân được chẩn đoán là ung

thư da, trong đó 58,8% là ung thư tế bào đáy, 32,2% ung

thư tế bào vảy , 4,8% ung thư hắc tố cũng và 4,2% là các

ung thư da khác Số bệnh nhân ung thư da năm 2010 gấp

hơn 2,6 lần so với số bệnh nhân năm 2007 Tỷ lệ nam/nữ

là 1,2 Có 64,25% bệnh nhân trên 60 tuổi và 61% bệnh

nhân sống ở nông thôn Kết luận: Số lượng bệnh nhân

ung thư da đến khám và điều trị tại Bệnh viện Da liễu

Trung ương ngày càng tăng Ung thư tế bào đáy gặp

nhiều nhất trong các loại ung thư da Gần 2/3 số bệnh

nhân trên 60 tuổi Bệnh gặp ở nam nhiều hơn nữ và phần

lớn bệnh nhân sống ở nông thôn

Từ khóa: Ung thư da, ung thư tế bào đáy, ung thư tế

bào vảy, ung thư tế bào hắc tố

Summary:

Distribution of skin cancer at the National

Dermatology Hospital 2007-2010

Objective: To study the skin cancers at the National

Dermatology Hospital Study subjects and method: The

cross sectional study design was applied based on the

data of 856 patients with skin cancers who were

checked up and treated at the National Dermatology

Hospital Results: During preriod of January, 2007-

December, 2010 there were 856 patients with skin

cancers, in which 58.8% of patients suffering from basal

cell carcinoma, 32.2% patents with squamous cell

carcinoma, 4.8% of patients with malignant melanoma

and 4.2% patients with other skin cancers Number of

patients in 2010 was 2.6 times higher than that in 2007

Male/ female ratio was 1.2 There was 64.25% patients

with skin cancer over 60 years old and 61 % of them lives in rural areas Conclusion: The number of patients with skin cancers at the National Hospital of Dermatology was increased in recent years The basal cell carcinoma was the most common skin cancer Nearly 2/3 of patients with skin cancers was over 60 years old The pathology was more frequent in men than among female and most of patients live in rural areas

Keywords: Skin cancer,basal cell carcinoma, Squamous cell carcinoma, malignant melanoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư da gồm nhiều loại u ác tính khác nhau xuất phát từ các tế bào biểu mô của da Ba loại ung thư da thường gặp nhất là ung thư tế bào đáy (Basal cell carcinoma -BCC), ung thư tế bào vảy (Squamous cell carcinoma -SCC) và ung thư tế bào hắc tố (Malignant melanoma) Một số loại ung thư da hiếm gặp hơn như ung thư tế bào Merkel, ung thư tế bào xơ, angio-fibrosarcoma

Ở Mỹ ung thư da cao gấp 5 lần ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến [10] Ở Úc ung thư da chiếm khoảng 1% dân số và cao gấp 3 lần ung thư khác cộng lại [8] Ở Việt Nam, theo ghi nhận ung thư ở Hà Nội từ 1992 –

1996, cho thấy tỷ lệ mắc ung thư da là 2,9-4,5/100.000 dân [4] Theo báo cáo của Lê Trần Ngoan năm 2005 –

2006, tỷ lệ chết do ung thư da ở nước ta từ 0,2-0,4/100.000 dân [2]

Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương trong những năm gần đây, số bệnh nhân ung thư da đến khám và điều trị ngày càng tăng Tuy nhiên, những nghiên cứu về tình hình ung thư da và các yếu tố liên quan còn rất hạn chế

Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài với mục tiêu khảo sát một số đặc điểm dịch tễ ung thư da đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 1 năm 2007 đến tháng

12 năm 2010

Ngày đăng: 17/02/2023, 06:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w