BỘ MÔN LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT Họ và tên sinh viên Mã sinh viên GIÁ TRỊ KẾ THỪA CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1946 VÀO CÁC BẢN HIẾN PHÁP RA ĐỜI SAU ĐÓ Bài tập môn Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Mã lớ. Có danh mục tài liệu tham khảo, footnote đầy đủ
Trang 1BỘ MÔN LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT
Họ và tên sinh viên:
Mã sinh viên:
GIÁ TRỊ KẾ THỪA CỦA HIẾN PHÁP NĂM
1946 VÀO CÁC BẢN HIẾN PHÁP RA ĐỜI
SAU ĐÓ
Bài tập môn: Lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã lớp học phần:
Giảng viên giảng dạy:
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP NĂM 1946 2
1.1 Bối cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1946 2
1.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946 3
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ KẾ THỪA CỦA BẢN HIẾN HIẾN PHÁP NĂM 1946 7
2.1 Hiến pháp năm 1946 thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh 7
2.2 Hiến pháp năm 1946 xác lập quyền độc lập, tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam 9
2.3 Hiến pháp năm 1946 khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam 10
2.4 Hiến pháp năm 1946 là nền tảng của nhà nước pháp quyền ở Việt Nam 11
2.5 Hiến pháp năm 1946 đặt ra những nguyên tắc cho việc tổ chức bộ máy nhà nước 12
2.6 Hiến pháp năm 1946 ghi nhận và đảm bảo các quyền con người 13
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
1
Trang 3MỞ ĐẦU
Hiến pháp có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống pháp luật và đời sống chính trị của mỗi quốc gia Hiến pháp là văn kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội và chủ quyền của mỗi quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của nhà nước và chế độ Hiến pháp còn là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của Nhà nước Các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước Lịch sử lập hiến của Việt Nam đã từng biết đến với 5 bản Hiến pháp, đó là: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và gần đây nhất là Hiến pháp năm
2013, mỗi bản Hiến pháp ra đời đều gắn liền với một giai đoạn phát triển của cách mạng dân tộc Trong đó, Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà – được ra đời trong hoàn cảnh lịch sử đầy khó khăn phức tạp với giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm cùng một lúc đe doạ nền độc lập dân tộc mới giành được Đây thực sự là công cụ đặc biệt quan trọng
và có hiệu lực nhất để bảo vệ nền độc lập dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng và thực hiện quyền lực nhân dân Ngoài ra, bản Hiến pháp này còn mang rất nhiều ý nghĩa, không chỉ mang lại giá trị lịch sử to lớn mà còn để lại nhiều giá trị kế thừa và kinh nghiệm để lại cho những bản Hiến pháp của nước ta sau này
2
Trang 4NỘI DUNG
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP NĂM 1946
1.1 Bối cảnh ra đời của Hiến pháp năm 1946
Sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” ngày 02/09/1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 03/09/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định việc xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ” Rõ ràng, khẳng định việc thiết lập chế độ Dân chủ Cộng hoà, “Tuyên ngôn độc lập” đã tạo ra cơ sở pháp lý cho sự ra đời của Hiến pháp 1946 Đây là những viên gạch đặt nền móng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Ngày 20/09/1945, Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh thành lập Ban dự thảo hiến pháp gồm 7 người, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Đến tháng 11/1945, Bản dự thảo được công bố cho toàn dân thảo luận Hàng triệu người Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo với những nội dung về khát vọng bao đời về độc lập và tự do Ngày 02/03/1945, trên cơ sở Ban
dự thảo hiến pháp của Chính phủ, Quốc hội khoá I đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người, đại diện cho nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Ban dự thảo có nhiệm vụ tổng kết các ý kiến tham gia đóng góp của nhân dân và xây dựng Bản dự thảo cuối cùng để đưa ra Quốc hội xem xét
Và bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được
ra đời vào ngày 09/11/1946 với sự nhất trí của 240/242 đại biểu 9h16 phút ngày
09/11/1946, ông Đỗ Đức Dục đã thay mặt Quốc hội tuyên bố: “Bản Hiến pháp
3
Trang 5Việt Nam được Quốc hội quy định ngày xong ngày 08/11/1946 đã được Quốc hội trong phiên họp ngày 09/11/1946 công nhận là chính thức”.1
1.2 Nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 là một bản hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam nhưng đã để lại một mốc son lịch sử quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp xây dựng và phát triển dân tộc Việt Nam nói cung và trong lịch sử xây dựng chính quyền nói riêng Lần đầu tiên trong lịch sử, mọi người dân đều có quyền bình đẳng ngang nhau trong việc tham gia vào các công việc nhà nước Hiến pháp gồm 7 chương, chia làm 70 điều nói về chính thể nhà nước ta là nhà nước dân chủ cộng hoà, nghĩa vụ cơ bản của nhân dân Việt Nam, quy định tổ chức bộ máy nhà nước, đoàn kết toàn dân, bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân và xây dựng chính quyền vững mạnh, trong đó:
Chương I quy định về chính thể, theo đó Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà, thống nhất, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, quốc kỳ lá cờ đỏ sao vàng, quốc ca là bài Tiến quân ca, thủ đô được đặt ở Hà Nội
Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng
về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; bình đẳng giữa nam và nữ; bình đẳng trước pháp luật; quyền được tham gia chính quyền và công việc kiến quốc tuỳ theo tài đức; quyền được tự do ngôn luận, hội họp, cư trú, di lại, tín ngưỡng; quyền bầu cử, bãi miễn, phúc quyết; quyền đảm bảo thân thể,…; nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc; tuân theo Hiến pháp và pháp luật
Chương III quy định về Nghị viện nhân dân (Quốc hội), theo đó cơ quan lập pháp tối cao là Nghị viện nhân dân Nghị viện nhân dân chỉ gồm một viện, là
“cơ quan có quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”
1 1 TS Nguyễn Văn Quân, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội (2017), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 412, 417.
2 Xem thêm tại: Thông tấn xã Việt Nam, “Hiến pháp Việt Nam gắn liền với những dấu mốc lịch sử của đất
nước”,
https://tuyengiao.phuyen.gov.vn/tuyen-truyen/hien-phap-viet-nam-gan-lien-voi-nhung-dau-moc-lich-su-cua-dat-nuoc-2365.html, Trang thông tin điện tử Ban tuyên giáo Tỉnh uỷ Phú Yên, Truy cập ngày: 07/06/2022.
4
Trang 6Chương IV quy định về Chính phủ, theo đó Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của quốc gia, gồm Chủ tịch nước, Thủ tướng, các bộ trưởng và thứ trưởng Chính phủ dược lập ra và chịu trách nhiệm trước Nghị viện
Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định
về cơ quan hành chính các cấp (Hội đồng nhân dân và uỷ ban hành chính) Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra và phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Uỷ ban hành chính là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, thực hiện những quyết định của hội đồng nhân dân và các cơ quan cấp trên
Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bap gồm toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp với trách nhiệm xét xử các vụ án hình sự và dân sự
Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó: Hiến pháp chỉ được sửa đổi khi không có dưới 2/3 tổng số Nghị viện yêu cầu, Nghị viện bầu ra Ban Dự thảo những điều thay đổi và toàn dân phúc quyết những điều thay đổi đã được Nghị viện tán thành.2
Trong phần Lời nói đầu, Hiến pháp 1946 đã khẳng định: “Cuộc Cách
mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà” Điều này cho thấy nguồn gốc của quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân Hiến pháp 1946 đã có hẳn cơ chế để “đuổi Chính phủ làm hại dân” Cụ thể hoá tư tưởng này, Điều 54 bản Hiến pháp này đã nêu rất rõ:
“Nội các mất tín nhiệm phải từ chức” Quy định ấy cho thấy, dù Chính phủ nào
được lập nên mà không nhận được sự tín nhiệm của nhân dân thì đều phải từ chức
2 1 Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua ngày
09/11/1946), https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Hien-phap-1946-Viet-Nam-Dan-Chu-Cong-Hoa-36134.aspx, truy cập ngày 08/06/2022
2 Xem thêm tại: “Nội dung và ý nghĩa của Hiến pháp 1946”,
http://quan11.hochiminhcity.gov.vn/tintuc/Lists/Posts/Post.aspx?List=f73cebc3%2D9669%2D400e%2Db5fd
%2D9e63a89949f0&ID=3000, Báo điện tử thành phố Hồ Chí Minh, truy cập ngày: 08/06/2022.
5
Trang 7Hiến pháp 1946 ghi nhận thành quả của Cách mạng Việt Nam, thể hiện rõ
nguyên tắc đoàn kết toàn dân: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể
nhân dân Việt Nam, không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của Nhà nước Việt
Nam: lần đầu tiên một Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập ở nước ta, với hình thức chính thể cộng hoà
Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp có nhiều giá trị cả về phương diện lịch
sử, chính trị và pháp lý Một trong những điểm sáng của bản Hiến pháp này là
đã phần nào thể hiện được cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực, với mục đích đúng như Lời nói đầu của Hiến pháp này dã nêu là: “kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”, “một chính quyền nhân dân” Đọc Hiến pháp này, không
ai có thể phủ nhận được rằng ý đồ của những nhà lập hiến thể hiện trong Hiến pháp 1946 là cách tiếp cận vấn đề theo tư duy “tổ chức một nền hành pháp mạnh, đề cao trách nhiệm cá nhân của các thành viên Chính phủ, đề cao vị trí chính trị - pháp lý của người đứng đầu nhánh quyền lực hành pháp”
Hiến pháp năm 1946 còn chú trọng đặc biệt đến việc bảo đảm quyền lợi dân chủ cho nhân dân Hiến pháp đã xây dựng một chương riêng về chế định công dân Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân được đảm bảo các
quyền về tự do dân chủ Điều 10 Hiến pháp ghi nhận “Công dân Việt Nam có
các quyền: Tự do ngôn luận; Tự do xuất bản; Tự do tổ chức và hội họp; Tự do tín ngưỡng; Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”
Hiến pháp 1946 còn là bản Hiến pháp thể hiện tinh thần “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” rõ nét nhất Hiến pháp 1946 không có một điều nào quy định về quyền lập hiến thuộc về Quốc hội Trong chương cuối
cùng về sửa đổi hiến pháp, có một điều kiện bắt buộc về thủ tục, đó là: “Sau khi
đã được Nghị viện ưng chuẩn, Hiến pháp phải đưa ra toàn dân phúc quyết”.
Điều này cho thấy Hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước Chỉ bằng một bản hiến pháp mà quyền lực nhà nước bị giới hạn thực sự, thì khi đó một xã hội dân
6
Trang 8sự hợp pháp, phi chính trị, phi lợi nhuận, mới có cơ sở để hình thành Chính xã hội dân sự đó mới là động lực phản biện đẩy nhà nước và xã hội cùng tiến bộ Tuy nhiên, do tình hình chiến tranh nên Hiến pháp 1946 chưa được Chủ tịch nước công bố cho toàn dân thực hiện Nhưng dựa trên sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuỳ tình hình cụ thể mà tinh thần của các quy định Hiến pháp được thực hiện trên thực tế.3
CHƯƠNG II: GIÁ TRỊ KẾ THỪA CỦA BẢN HIẾN HIẾN PHÁP NĂM
1946
Hiến pháp năm 1946 đánh dấu thắng lợi lịch sử đã giành được trong Cách mạng Tháng Tám, phát triển cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp Mục tiêu chiến lực của Hiến pháp là hoàn thành độc lập dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ nhân dân, chuẩn bị tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Đây là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, là bản Hiến pháp dân chủ và tiến bộ nhất ở Đông Nam Á thời bấy giờ Nó ghi nhận thành quả vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh giành lại độc lập,
tự do cho dân tộc và thống nhất lãnh thổ Hiến pháp 1946 đã đề ra những nhiệm
vụ cơ bản của Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn trước mắt, chỉ rõ những đường lối thực hiện nhiệm vụ ấy Đồng thời, nó đặt nền móng cho một bộ máy nhà nước kiểu mới – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hiến pháp 1946 còn công nhận, đảm bảo quyền dân chủ thiêng liêng của công dân, phù hợp với tình hình, đặc điểm cách mạng Việt Nam và xu hướng tiến bộ, văn minh trên thế giới
Bản Hiến Pháp năm 1946 tuy ngắn gọn, súc tích nhưng lại chứa đựng rất nhiều giá trị cốt lõi: những tư duy đảm bảo quyền tự do dân chủ tương đối mẫu mực, nhiều nội dung vẫn còn tiến bộ đặc biệt là về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước Các quyền tự do dân chủ của người dân, tự do cá nhân tuy quy định ít nhưng rất sâu sắc Điều đó thể hiện rằng bản Hiến pháp này không chỉ mang lại
3 TS Nguyễn Văn Quân, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội (2017), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 418-427.
7
Trang 9giá trị lịch sử cùng ý nghĩa to lớn mà còn để lại nhiều giá trị kế thừa cho những lần sửa đổi và hoàn thiện những bản Hiến pháp kế tiếp
2.1 Hiến pháp năm 1946 thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh
Đầu tiên, không thể phủ nhận rằng Hiến pháp năm 1946 thể hiện tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh Tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ảnh hưởng sâu sắc đến lịch sử lập hiến Việt Nam, đặc biệt đã có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của Hiến pháp 1946 Ngay trong lời nói đầu của Hiến pháp đã nêu rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”
Với tư tưởng về một “nhà nước của số đông, quyền giao cho dân chúng số nhiều”, các quy định của Hiến pháp đã thể hiện nhiều quan điểm của Hồ Chí Minh về nền lập hiến Hiến pháp đã xác định “nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Chính thể đó không chỉ là chế độ chính trị tiến bộ mà còn là sự thống nhất về lãnh thổ Trung Nam Bắc không thể phân chia
Tư tưởng đề cao vai trò của hiến pháp trong hệ thống pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được thể hiện rõ nét trong Hiến pháp 1946 Điều 4 Chương II Hiến pháp 1946 quy định: “Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ Quốc, Tôn trọng Hiến pháp, Tuân theo pháp luật”
Tư tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh còn được thể hiện trong việc nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân Các quyền cơ bản mà người dân Việt Nam trước đó chưa từng ghi nhận, nay cũng được đặt trang trọng trong Hiến pháp Để đảm bảo dân quyền, Hiến pháp năm 1946 đã dành toàn bộ Chương II để quy định nghĩa vụ và quyền lợi của công dân Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, các quyền tự do dân chủ của Nhân dân được ghi nhận và cũng là lần đầu tiên người lao động Việt Nam được xác nhận tư cách người chủ của một nhà nước độc lập, lần đầu tiên người phụ nữ được ngang
8
Trang 10quyền với nam giới trên mọi phương diện và được pháp luật bảo vệ Các quy định này của Hiến pháp năm 1946 đã mở ra cơ sở xã hội rộng rãi để người dân
có thể tham gia vào việc xây dựng chính quyền và thực hiện các công việc của đất nước, thể hiện tư tưởng tiến bộ trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân Điều này thể hiện rất rõ tư tưởng của người Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Người sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Bảo đảm quyền công dân, bảo đảm sự bình đẳng giữa con người với con người luôn là vấn đề mà Người chú trọng, quan tâm và đặt lên hàng đầu, bởi suy cho cùng mục đích cao cả của sự độc lập
tự do chính là mang lại hạnh phúc cho Nhân dân
Tinh thần chung bao quát Hiến pháp 1946 chính là tính dân chủ Dân chủ được thể hiện trong quyền làm chủ của người dân và cả trong mối quan hệ của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước Có thể nói, Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp thể hiện rõ nhất tinh thần cơ bản tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là tiền đề cho sự phát triển tư tưởng này theo xu hướng tiến bộ và hoàn thiện hơn trong các bản Hiến pháp sau này
2.2 Hiến pháp năm 1946 xác lập quyền độc lập, tự do và bình đẳng của dân tộc Việt Nam
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã mở ra một kỷ nguyên mới trong tiến trình lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập tự do Quyền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là sản phẩm cho cuộc đấu tranh cách mạng để thực hiện quyền dân tộc thiêng liêng của mình
Quyền dân tộc thiêng liêng của nhân dân Việt Nam là độc lập tự do, chính thể dân chủ cộng hoà, quyền lực cuả toàn dân và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đã được quy định thành các điều quan trọng hàng đầu của Hiến pháp 1946:
“Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà”
9