https tailieuluatkinhte com Trình bày định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng hành chính A MỞ ĐẦU 1.https tailieuluatkinhte com Trình bày định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng hành chính A MỞ ĐẦU 1.
Trang 1Trình bày định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng hành
chính
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 2
1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính 2
2 Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính 2
3 Mục đích thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tố tụng hành chính 5
II NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 5
1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát 6
2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên 8
3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên 10
III ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH 11
C KẾT LUẬN 15
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 21
ĐỀ BÀI: Trình bày định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng hành chính
A MỞ ĐẦU
Luật tố tụng hành chính năm 2015 được ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, đồng thời đã có những điểm mới phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong giai đoạn hiện nay
Sự ra đời của Luật tố tụng hành chính năm 2015 là dấu mốc có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực lập pháp nói chung và tố tụng hành chính nói riêng Bên cạnh những quy định mới tạo điều kiện thuận lợi cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, thì pháp luật tố tụng hành chính hiện hành vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế khi áp dụng trong những trường hợp cụ thể
Trong phạm vi nghiên cứu, em xin đi làm rõ các nội dung về: “Định
hướng hoàn thiện pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính”, nhằm nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của pháp luật này trong thực tiễn
Trang 32
B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
1 Khái niệm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính
Để có thể sử dụng được các biện pháp, quyền năng pháp lý quy định trong LTTHC 2015, Nhà nước đã trao cho VKSND những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định Nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng hành chính là những yêu cầu cụ thể
do Nhà nước đặt ra và được quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, LTTHC và các văn bản pháp luật khác mà VKSND phải thực hiện bằng những hình thức, biện pháp nhất định trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
Như vậy, nhiệm vụ của VKSND trong tố tụng hành chính là những công
việc cụ thể do pháp luật quy định đối với VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng hành chính, từ khi Tòa án xử lý đơn khởi kiện đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án, nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng
Dưới góc độ pháp lý, quyền hạn của một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được xác định theo phạm vi nội dung, lĩnh vực hoạt động, cấp và chức vụ, vị trí công tác và trong phạm vi không gian, thời gian nhất định theo luật định
Như vậy, quyền hạn của VKSND trong giải quyết vụ án hành chính là
quyền giải quyết những công việc cụ thể của VKSND trong các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật
2 Cơ sở xác định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính
Trên cơ sở quan điểm, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng hành chính đã được ghi nhận và quy định cụ thể trong các văn bản có giá trị pháp lý
Trang 43
Theo quy định tại Điều 107 - Hiến pháp năm 2013, Điều 2 - Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ hiện pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
So với thuyết tam quyền của Montesquieu coi quyền tư pháp là quyền xét
xử, được thực hiện thông qua cơ quan có chức năng xét xử là Tòa án Quyền tư pháp ở Việt Nam có nghĩa rộng hơn nhiều, xuất phát từ đặc điểm tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước Ở Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân Như vậy, ở Việt Nam không có sự phân chia quyền lực, vì vậy quyền tư pháp và cơ quan tư pháp Việt Nam có nhiều điểm đặc thù so với nhiều quốc gia trên thế giới
Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật của Việt Nam chính thức xác định khái niệm tư pháp có nội hàm gì, cơ quan tư pháp gồm những cơ quan nào, nhưng điều này đã được thể hiện qua chủ trương của Đảng nêu trong các Nghị quyết về cải cách tư pháp và thông qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước cùng với các hoạt động thực thi quyền lực nhà nước Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08-NQ/TW) lần đầu tiên tiếp cận khái niệm pháp và cơ quan tư pháp dưới góc độ đường lối chính sách của Đảng về công tác
tư pháp Theo đó, nội dung của công tác tư pháp và cơ quan tư pháp có phạm vi rất rộng, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án
Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49-NQ/TW) tiếp tục chỉ ra hệ thống các
Trang 54
cơ quan tư pháp mà trọng tâm là Tòa án nhân dân thực hiện quyền xét xử; Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; các cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ điều tra trong tố tụng hình sự và các cơ quan thi hành án
Như vậy, theo các nghị quyết của Bộ Chính trị, các cơ quan tư pháp của Việt Nam gồm cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án Theo đó công tác tư pháp hay hoạt động tư pháp gồm hoạt động điều tra, hoạt động truy tố, hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án Nếu ở nhiều nước, “tư pháp” là xét xử và cơ quan tư pháp là Tòa án, thì ở Việt Nam, “tư pháp” được hiểu theo nghĩa rộng, là sự trộn lẫn toàn bộ hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó hoạt động xét xử của Tòa án là trung tâm
Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính là một trong những hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình giải quyết vụ
án hành chính nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án tuân thủ đúng quy định của pháp luật
Như vậy, kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính là hoạt động của Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng trong giải quyết vụ án hành chính nhằm mục đích phát hiện vi phạm của Tòa án và các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng hành chính, trên cơ sở đó thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm đã xảy ra hoặc có thể xảy ra, góp phần bảo đảm cho Tòa án giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm minh.1
Trong hoạt động tố tụng nói chung và trong tố tụng hành chính nói riêng, pháp luật luôn quy định nhiệm vụ đi đôi với quyền hạn, tạo thành mối liên kết vững chắc làm căn cứ để KSV thực hiện chức năng, công việc
1 Trường ĐH Kiểm sát Hà Nội, Tập bài giảng Kiểm sát hành chính, tr.1-3
Trang 65
Khoản 2 Điều 25 LTTHC năm 2015 đã nêu rõ: “Viện kiểm sát kiểm sát
vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật”
Nhiệm vụ, quyền hạn trên của VKS trong tố tụng hành chính được thực hiện thông qua vai trò của Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên,
mà cụ thể là thông qua việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của những chủ thể này
3 Mục đích thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát trong tố tụng hành chính
Với vai trò là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, VKSND thực hiện các
nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật nhằm: Một là, bảo
đảm cho việc giải quyết các vụ án hành chính ở Tòa án các cấp nhanh chóng,
khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời Hai là, bảo đảm mọi bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng pháp luật Ba là, bảo đảm mọi bản án, quyết
định của của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành đúng pháp luật và kịp thời
II NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
Luật Tố tụng hành chính được Quốc hội khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 10, ngày 25/11/2015 gồm 23 chương, 372 điều với nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng; trong đó, đáng chú ý có nhiều quy định mới, bổ sung về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính
Trước hết, về địa vị pháp lý, LTTHC năm 2015 vẫn tiếp tục kế thừa quy định trước đây của LTTHC năm 2010 trong việc quy định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính cùng với Tòa án nhân dân (Khoản 1 Điều 36) Ngoài ra, tại Khoản 2 Điều 36 LTTHC năm 2015 quy định Viện trưởng Viện
Trang 76
kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên là những người tiến hành tố tụng hành chính cùng với Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án Như vậy, LTTHC năm 2015 đã bổ sung thêm Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng hành chính, thể hiện sự đồng bộ, phù hợp với quy định của Luật Tổ chức VKSND năm 2014
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng hành chính được quy định như sau:
1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng Viện kiểm sát
Điều 42 LTTHC 2015 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng
VKS như sau:
1 Khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, Viện trưởng VKS có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính;
b) Quyết định phân công KSV thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật này và thông báo cho Tòa án biết; phân công KTV tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính bảo đảm đúng nguyên tắc theo quy định tại Điều 14 của Luật này;
c) Quyết định thay đổi KSV, KTV;
d) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Luật này;
đ) Yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Luật này;
e) Giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của Luật này;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này
2 Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, trừ quyền quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này Phó Viện trưởng chịu trách nhiệm trước Viện trưởng về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được ủy nhiệm
Trang 87
So với các quy định của LTTHC 2010, Luật TTHC 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn cho Viện trưởng VKS như sau:
Một là, bổ sung quy định về việc thông báo việc phân công Kiểm sát viên
cho Tòa án Theo đó, tại Điểm b Khoản 1 Điều 42 LTTHC năm 2015 đã bổ sung quy định quyết định phân công KSV thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính phải được thông báo cho Tòa án biết Quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi trong cơ chế phối hợp để kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính giữa Tòa án và VKS mà cụ thể là giữa KSV với những người tiến hành tố tụng khác trong vụ án Ngoài ra, LTTHC 2015 đã bổ sung quy định việc phân công KSV, KTV tiến hành tố tụng đối với vụ án hành chính phải bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng hành chính theo quy định tại Điều 14 LTTHC năm 2015 Đây là quy định mới nhằm giúp cho việc phân công KSV, KTV của Viện trưởng VKS được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, bảo đảm tính vô tư, khách quan của KSV và KTV trong quá trình kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, đồng thời ngăn ngừa sự không vô tư, khách quan của Viện trưởng VKS trong việc phân công Kiểm sát viên và KTV nhằm bảo đảm cho công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính đạt hiệu quả tốt nhất
Hai là, bổ sung quy định thay đổi Kiểm tra viên Theo quy định tại Điểm c
Điều 42 LTTHC 2015 đã bổ sung quy định thay đổi Kiểm tra viên cùng với quy định thay đổi Kiểm sát viên Quy định bổ sung này là hoàn toàn hợp lý vì Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng được LTTHC 2015 bổ sung theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Vì vậy, trong trường hợp KTV rơi vào các trường hợp do pháp luật quy định mà có thể ảnh hưởng đến tính vô tư và khách quan thì Viện trưởng VKS sẽ ra quyết định thay đổi Kiểm tra viên để bảo đảm tính khách quan trong việc giải quyết vụ án hành chính
Ba là, Luật TTHC năm 2015 đã bỏ quy định Viện trưởng VKS kiểm tra
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính của KSV Nếu tiếp tục quy định việc kiểm tra của Viện trưởng VKS đối với hoạt
Trang 98
động kiểm sát của KSV sẽ tạo ra sự can thiệp vào hoạt động kiểm sát giải quyết vụ án hành chính, ảnh hưởng đến tính độc lập của KSV khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật quy định Theo quy định trong tố tụng hành chính, KSV
có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật và họ chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhiệm vụ, công vụ của mình nên đã có cơ chế xử lý nếu KSV sai phạm
mà không cần phải có thêm cơ chế kiểm tra của Viện trưởng VKS
Bốn là, bổ sung quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 42 LTTHC 2015 về
quyền “yêu cầu, kiến nghị theo quy định của Luật này” Việc bổ sung quy định này là cần thiết để bảo đảm sự phù hợp với các quy định khác của LTTHC 2015,
vì pháp luật tố tụng hành chính hiện nay đã quy định cho Viện trưởng VKS được quyền yêu cầu và kiến nghị trong nhiều trường hợp khác nhau Ngoài ra, tại điểm g khoản 1 Điều 42 LTTHC 2015 đã bổ sung quy định Viện trưởng VKS còn “thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này”
Năm là, Luật này bổ sung quy định những trường hợp không được ủy
nhiệm cho Phó Viện trưởng khi Viện trưởng vắng mặt tại Khoản 2 Điều 44, cụ thể là đối với quyền quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án thì Viện trưởng VKS không được ủy nhiệm cho Phó Viện trưởng thực hiện Việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ làm phát sinh việc xét xử phúc thẩm hoặc xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và có thể làm thay đổi quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự trong vụ án hành chính Do đó, kháng nghị theo các thủ tục này là một hoạt động rất quan trọng của VKSND, đòi hỏi trách nhiệm của người ký quyết định đối với quyết định kháng nghị của mình Việc đảm bảo quyền quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án thuộc về Viện trưởng VKS, không được ủy nhiệm cho Phó Viện trưởng VKS là hợp lý
2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên
Điều 43 LTTHC 2015 quy định:
Trang 109
Khi được Viện trưởng Viện kiểm sát phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hành chính, Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1 Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện
2 Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án
3 Nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 của Luật này
4 Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật này
5 Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án
6 Yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Luật này
7 Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản
án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật
8 Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng
vi phạm pháp luật
9 Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này
Quy định này của Luật TTHC năm 2015 thể hiện những điểm mới sau:
Thứ nhất, LTTHC 2015 đã bổ sung cụ thể các nhiệm vụ, quyền hạn của
KSV khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hành chính mà trước đây LTTHC năm 2010 chưa quy định như: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; yêu cầu, kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Luật này; đề nghị với Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật… Việc quy định cụ thể và chi tiết như vậy sẽ giúp KSV thuận lợi trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình