“Thiết kế Phiếu học tập Thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú khi học phần Số học môn Toán lớp 6, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống theo chương trình GDPT 2018 ở trường THCS vùng miền núi, dân tộc thiểu số”. Sáng kiến kinh nghiệm Toán lớp 6, Bộ sách Kết nối tri thức.
Trang 11 Trang bìa
2 Mục lục:
I PHẦN MỞ ĐẦU
II PHẦN NỘI DUNG
1 1 Cơ sở lý luận của vấn đề: Dựa vào căn cứ nào? 16
2 2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng vấn đề nghiên cứu) 28
3 3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 38
4 4 Hiệu quả của SKKN: Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 70
STT Ký hiệu chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 21 Bảng 1 Thống kê những vấn đề học sinh lớp 6 quan tâm
2 Bảng 1.3 Hệ thống câu hỏi phù hợp với các mức độ tư duy của Bloom
(1984)
3 Bảng 2.1 Đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng phiếu học tập
4 Bảng 2.2 Tỉ lệ sử dụng phiếu học tập trong dạy học của giáo viên
5 Bảng 2.3 Đánh giá về hình thức sử dụng phiếu học tập
6 Bảng 2.4 Tác dụng của việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học
7 Bảng 2.5 Những khó khăn của việc thiết kế và sử dụng phiếu học tập
8 Bảng 3.1 Các loại hình Phiếu học tập học Toán lớp 6, phần Số học
9 Bảng 3.2 Các loại hình phiếu học tập Toán 6
10 Bảng 3.3 Các loại hình phiếu học tập Toán 6
11 Bảng 4.1 Kết quả trả lời câu hỏi 1
12 Bảng 4.2 Kết quả trả lời câu hỏi 2
13 Bảng 4.3 Kết quả trả lời câu hỏi 3
14 Bảng 4.4 Kết quả trả lời câu hỏi 4
15 Bảng 4.5 Kết quả trả lời câu hỏi 5
16 Bảng 4.6 Kết quả trả lời câu hỏi 6
17 Bảng 4.7 Kết quả bài kiểm tra 15 phút lần 1,2,3,4
18 Bảng 4.8 Kết quả bài kiểm tra 45 phút lần 1,2,3,4
3 Phiếu học tập "TÍNH CHẤT CHIA HẾT CỦA MỘT TỔNG"
5 Phiếu học tập "ƯỚC CHUNG LỚN NHẤT"
6 Phiếu học tập "NHÀ PHÂN TÍCH TÀI BA"
Trang 38 Phiếu học tập "NHỮNG CON SỐ ẤN TƯỢNG FACEBOOK"
3 Nội dung:
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
Trang 4Đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là xu hướng và là nhu cầu tất yếu hiện nay, nhằm tạo ra những con người năng động, sáng tạo tiếp thu được những trithức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra những giải pháp hợp lý cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội
Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ làm chocác quốc gia trên thế giới có những biến đổi sâu sắc, nhanh chóng chuyển dịch từ nền kinh tế hậu công nghiệp sang nền kinh tế tri thức với xu thế toàn cầu hóa Điều này đòi hỏi các quốc gia muốn tồn tại và phát triển thì phải có chiến lược để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Do vậy, ngày nay các quốc gia trên thế giới đã và đang tích cực lựa chọn các giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học Một trong những giải pháp phát triển giáo dục và đào tạo được các nước quan tâm nhiều nhất là phát triển chương trình nhà trường theo hướng tiếp cận năng lực người học Đối với Việt Nam – một nước đang phát triển, việc phát triển giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế càng trở nênhết sức quan trọng Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với mục tiêu tổng quát: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”, “Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc
tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc” Trong thời kì mạng xã hội đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử, đem đến nhiều lợi ích cho người dùng Tuy nhiên, khi người dùng,
Trang 5đặc biệt là người dân tộc thiểu số ở miền núi vốn có “sức đề kháng văn hóa”, nhãn quan nhận diện vấn đề yếu những thông tin xấu, độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc Thực tế là, nhiều trẻ
em, thiếu niên từ thành thị đến nông thôn, thậm chí vùng sâu, vùng xa đang bị “hút hồn” bởi những chiếc điện thoại, máy tính nối mạng internet Đáng nói, không ít học sinh nghiện xem những kênh thông tin có nội dung nhảm nhí, độc hại trên nền tảng mạng xã hội như Tiktok, Youtube… Nội dung độc hại trên mạng, cũng giống như việc bọn trẻ chọn nhầm bạn xấu mà chơi vậy Việc đó có thể dẫn đến sự tổn thương nghiêm trọng về mặt cảm xúc, tâm lý và thể chất của những đứa trẻ đang trong giai đoạn tâm lý phức tạp, chưa hoàn thiện về nhân cách Do đó, nguy cơ các
em bị xâm hại đang hiện hữu mỗi ngày, mỗi giờ
Ngày 01/6/2021, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã ký quyết định phê duyệt Chương trình Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021-2025 Đây là lần đầu tiên Việt Nam ban hành mộtchương trình ở cấp quốc gia về bảo vệ trẻ em an toàn trên môi trường
mạng. Chương trình hướng tới mục tiêu kép: bảo vệ bí mật đời sống riêng tư và ngăn chặn, xử lý các hành vi lợi dụng môi trường mạng để xâm hại trẻ em, trong đóđặc biệt chú trọng đến việc trang bị cho trẻ em kiến thức, kỹ năng phù hợp theo từng lứa tuổi, để trẻ em tự nhận biết và có khả năng tự bảo vệ mình trên môi trườngmạng; duy trì một môi trường mạng lành mạnh, phát triển hệ sinh thái các sản phẩm, ứng dụng Việt cho trẻ em học tập, kết nối, giải trí một cách sáng tạo
Công cụ để thực hiện các đổi mới trên là các phương pháp dạy học tích cực Dạy học tích cực có những đặc trưng thể hiện ở cách tổ chức các hoạt động học tập của học sinh mà nếu được sử dụng thường xuyên sẽ hình thành được cho học sinh những thói quen tư duy trước những vấn đề đặt ra, biết đề ra được các giả thuyết, tìm phương hướng giải quyết và nảy sinh tư duy sáng tạo Trong quá trình dạy học, việc sử dụng các phương tiện dạy học sẽ giảm nhẹ công việc của giáo viên, đồng
Trang 6thời giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi hơn Đặc biệt, với phương tiện nghe nhìn phát triển mạnh như hiện nay, nếu biết khai thác và sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm cho giờ học sinh động hơn, tạo được hứng thú cho ngườihọc Các phương tiện dạy học đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định đến chất lượng của việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học Tuy nhiên, trong thực tế dạy học hiện nay, việc sử dụng các phương tiện dạy học còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Quá trình dạy học các tri thức thuộc một môn khoa học cụ thể được hiểu là quá trình hoạt động của giáo viên và của học sinh trong sự tương tác thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: giáo viên, học sinh và tư liệu hoạt động dạy học Hoạt động học của học sinh bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sự trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với giáo viên Thông qua các hoạt động của học sinh với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà giáo viên thu được những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của giáo viên đối với học sinh Hoạt động của giáo viên bao gồm hành động với tư liệu dạy học
và sự trao đổi, định hướng trực tiếp với học sinh Giáo viên là người tổ chức tư liệu hoạt động dạy học, cung cấp tư liệu nhằm tạo tình huống cho học sinh hoạt động Một trong những phương tiện dạy học tỏ ra khá hiệu quả là Phiếu học tập (PHT) Song song với mục tiêu phát triển chương trình giáo dục và phát triển chương trình nhà trường, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, việc sử dụng PHT trong quá trình truyền thụ tri thức đã thay đổi tích cực các hoạt động của cả giáo viên và học sinh Thực tế đã có không ít các thầy cô giáo đã từng sử dụng phiếu học tập trong quá trình dạy học Tuy nhiên, việc thiết kế và sử dụng về phiếu học tập theo từng chủ
đề chưa có hệ thống đầy đủ Từ những lí do trên, đề tài nghiên cứu được lựa chọn
là “Thiết kế Phiếu học tập - Thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú khi học phần Số học môn Toán lớp 6, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống theo chương trình GDPT 2018 ở trường THCS vùng miền núi, dân tộc thiểu số”.
2 Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
Trang 7Đề xuất biện pháp thiết kế, sáng tạo và sử dụng phiếu học tập như là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho quá trình dạy học Số học, môn Toán lớp 6 (bộ sách KNTTVCS ) ở trường THCS góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học môn Toán THCS, đáp ứng mục tiêu phát triển chương trình nhàtrường, xây dựng môi trường học tập tích cực và nâng cao “sức đề kháng” cho học sinh THCS vùng miền núi, dân tộc thiểu số trong thời đại công nghệ 4.0 nhằm góp phần tạo ra những thế hệ học sinh phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo mỗi cá nhân, năng động, sáng tạo tiếp thu được những tri thức khoa học kỹ thuật hiện đại của nhân loại, biết tìm ra những giải pháp hợp lý cho những vấn đề trong cuộc sống của bản thân và xã hội
3 Tổng quan
3.1. Tổng quan thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu.
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học có sử dụng các loại phiếu học tập sáng tạo, ý nghĩa, vai trò và những vấn đề về phiếu học tập dạy phần Số học 6 môn Toán 6, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường Trung học cơ sở vùng miền núi, đối với học sinh dân tộc thiểu số
b) Khách thể nghiên cứu
Quá trình xây dựng phiếu học tập trong giảng dạy phần Số học, môn Toán 6 bộ sách KNTTVCS ở trường Trung học cơ sở vùng miền núi, đối với học sinh dân tộc thiểu số
c) Các câu hỏi nghiên cứu:
- Xây dựng phiếu học tập trong chương trình Số học 6 môn Toán 6, bộ sách
KNTTVCS có ý nghĩa thế nào trong dạy học phát triển theo chương trình GDPT 2018?
- Làm thế nào để tổ chức dạy học chương trình Số học 6 môn Toán 6, bộ sách KNTTVCS có sử dụng phiếu học tập nhằm thu hút sự chú ý, tạo hứng thú và phát huy năng lực của học sinh?
Trang 8d) Giả thuyết khoa học: Nếu các mẫu PHT được giáo viên trực tiếp thiết kế có sự
sáng tạo về hình thức trình bày, nội dung bám sát và vận dụng linh hoạt thì hệ thống phiếu học tập sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học
3.2 Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm
a) Một số điểm xuất phát Về đối tượng học sinh lớp 6
- Học sinh lớp 6 ở độ tuổi 12-13 bắt đầu có những đặc điểm tâm sinh lý riêng vàkhá khó khăn để người lớn có thể nắm bắt Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt vàquan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ thơsang tuổi trưởng thành, thường được gọi là “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổikhủng hoảng” Ngày nay tuổi trưởng thành của các em ngày càng sớm, các em đã
có những phát triển tâm sinh lý tuổi dậy thì, biết tỏ thái độ yêu ghét thẳng thắn,quan tâm nhiều đến vấn đề xung quanh các em như: quan hệ bạn bè, xã hội (thầntượng, game online, quần áo giày dép…) và nhiều em có thế giới riêng khác biệt rấtnhiều với thế giới của bố mẹ và thầy cô Đối với một số em, tri thức sách vở làmcho các em hiểu biết nhiều nhưng còn các kiến thức trong xã hội, kĩ năng sống thìcác em hiểu biết rất ít Hiểu được thế giới của các em sẽ giúp cho thầy cô có nhữngbài giảng gần gũi, sinh động và thu hút sự chú ý của các em nhiều hơn
- Dựa vào bảng số liệu khảo sát đầu những năm học 2019 – 2020; năm học
2020-2021, tôi nhận thấy các em quan tâm nhiều hơn đến các dịp lễ Tết, vui chơi(Valentine, Hallowen, Noel…), đồ Công nghệ (Iphone, Ipad…), Internet (web,facebook, tiktok, zalo…), trò chơi online/ offline và quan hệ bạn bè
Bảng 1 Thống kê những vấn đề học sinh lớp 6 quan tâm
Trang 9ngoại, khu vực vui chơi, ăn uốngHoạt động trải nghiệm sáng tạo 85% Dịp lễ, Tết, vui chơi… 100%
Hội vui học tập 75% Trò chơi điện tử online và offline 60%Thầy cô, nhà trường 75% Công nghệ (Smartphone, Ipad…) 98%
Sự kiện, chương trình từ thiện 86% Internet (web, facebook, tiktok…) 98%
- Từ bảng số liệu khảo sát ta có thể thấy rõ các em HS lớp 6 quan tâm việc học chỉchiếm 50%, học thêm chiếm 30%, và thực tế giảng dạy qua các tiết học, giáoviên yêu cầu làm nhiều bài tập để củng cố kiến thức và kĩ năng trong giờ học, luyệntập nhiều em cảm thấy buồn tẻ, khó khăn và không muốn học.
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận dạy học về việc sử dụng phương tiện dạy học nói chung, về PHT nói riêng trong dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở
- Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học phần Số học mônToán lớp 6, bộ sách KNTTVCS theo chương trình GDPT 2018 tại một số trường THCS ở miền núi, dân tộc thiểu số
- Đề xuất biện pháp thiết kế, sáng tạo các mẫu phiếu học tập sử dụng linh hoạt trong giảng dạy phần Số học môn Toán lớp 6, bộ sách KNTTVCS theo chương trình GDPT 2018 tại một số trường THCS ở miền núi, dân tộc thiểu số
- Thực nghiệm sư phạm tại trường TH&THCS Quang Trọng, huyện Thạch An nhằm đánh giá tính sáng tạo, khả thi, hiệu quả của quá trình dạy học phần Số học môn Toán lớp 6, bộ sách KNTTVCS có sự hỗ trợ của PHT
3.4 Phạm vi nghiên cứu:
Hệ thống, tập hợp một số mẫu PHT đã được sử dụng hiệu quả trong các tiết dạy phần Số học, môn Toán lớp 6 (bộ sách KNTTVCS) ở trường Trung học cơ sở vùng miền núi, dân tộc thiểu số theo chương trình GDPT 2018 Song song với yêu cầu phát triển chương trình nhà trường cũng như phát huy tối đa năng lực người học, việc bám sát trình tự các bài học trong sách giáo khoa sẽ không thuận lợi trong
Trang 10việc khái quát, tổng hợp kiến thức về từng mảng, từng chủ điểm nội dung hoặc từng thể loại Để khắc phục tình trạng đó, đề tài đi sâu nghiên cứu thiết kế sáng tạo các mẫu phiếu học tập trong dạy học phần Số học, môn Toán lớp 6 (bộ sách
KNTTVCS) cấp Trung học cơ sở vùng miền núi, dân tộc thiểu số để có cơ sở so sánh và nhận xét, đúc kết kinh nghiệm áp dụng trong quá trình chuyển giao, đổi mới SGK theo chương trình GDPT 2018
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Sử dụng các phương pháp: hệ thống hóa, phân tích tổng hợp các thông tin để phục
vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
4.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp: Quan sát, điều tra, phỏng vấn, phân tích, tổng hợp số liệu, lấy ý kiến chuyên gia để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn Dùng các phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu, kết quả điều tra và các kết quả thực nghiệm để rút ra những nhận xét và đánh giá xác thực
4.3 Phương pháp thực nghiệm
Soạn thảo KHBD, kèm thiết bị dạy học và học liệu có sử dụng các mẫu PHT tự thiết kế, giảng dạy trực tiếp trên lớp, quan sát phản ứng thao tác của HS, thái độ diễn biến tâm lý của HS lớp 6 khi tiếp nhận nhiệm vụ GV hỗ trợ quá trình HS thựchiện nhiệm vụ trên PHT, ghi chép, nhận định, rút kinh nghiệm từ hình thức, nội dung, thời gian áp dụng cho mỗi PHT trong chương trình Số học, môn Toán 6, bộ sách KNTTVCS với đối tượng tiến hành thực nghiệm là HS lớp 6 trường
TH&THCS Quang Trọng, huyện Thạch An
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận của vấn đề: Dựa vào căn cứ nào?
1.1 Tổng quan về phương tiện dạy học
a) Khái niệm phương tiện dạy học
Trang 11- Phương tiện dạy học (PTDH) là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên và người học sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học Theo đó, chức năng PTDH là khơi dậy, dẫn chuyền và làm tăng sức mạnh tác động của giáo viên cũng như và người học đến đối tượng dạy học.
- Định nghĩa về PTDH: “PTDH là một tập hợp các đối tượng vật chất được giáo viên và học sinh sử dụng với tư cách là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Đối với học sinh đó là nguồn tri thức phong phú, đa dạng, sinh động, là các phương tiện giúp cho các em lĩnh hội và rèn luyện kĩ năng, hình thành kỹ xảo”
- Khái niệm PTDH: “PTDH là những đối tượng, đồ vật, vật chất tự nhiên hoặc nhân tạo, có chức năng tạo điều kiện, hỗ trợ, chuyển tải các hoạt động, quan hệ của giáo viên và người học, làm công cụ phục vụ các nhiệm vụ giảng dạy và học tập, thể hiện một cách vật chất những ảnh hưởng sư phạm của nội dung học vấn, của các hoạt động giáo dục và hoạt động của người học, của các quan hệ sư phạm trên lớp theo những tư tưởng và cách thức nhất định, để những hoạt động này tác động đến người học và hoạt động của họ”
Từ những quan niệm, định nghĩa về PTDH của một số tác giả trên, PTDH cóthể được xem là những vật thể có khả năng chứa đựng, chuyển tải những thông tin
về nội dung dạy học hoặc về sự điều khiển quá trình dạy học mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong quá trình học tập Phương tiện học tập tạo thuận lợi cho việc tiếp thu kiến thức của học sinh trong quá trình học và cũng giúp cho công việc của giáo viên được giảm tải trong quá trình dạy Chính nhờ những tính năng nổi trội những năng lực sáng tạo của giáo viên sẽ được phát huy trong công tác giảng dạy, qua đó giúp cho hoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo ra cho người học có
sự hưng phấn và có những ấn tượng tốt đẹp với khoa học Trong quá trình dạy học,
Trang 12nếu giáo viên sử dụng những phương tiện phù hợp sẽ giúp học sinh phát huy tính tích cực, sáng tạo và hoạt động độc lập để từ đó nâng cao hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng.
Tuy nhiên việc sử phương tiện dạy học phải thật sự đúng lúc, đúng chỗ và phù hợp với từng tình huống cụ thể thì mới có tác dụng tích cực đến hoạt động nhận thức của học sinh Nếu sử dụng phương tiện dạy học không đúng với những yêu cầu sư phạm cụ thể thì không những không có tác dụng mà có khi lại có tác dụng theo chiều hướng tiêu cực, làm cho học sinh ỉ lại, đùn đẩy, hoang mang, tiếp thu kém hiệu quả Do vậy, giáo viên cần linh hoạt sử dụng các phương tiện dạy họcmột cách hợp lý nhất dựa trên khả năng đáp ứng của trường mình và các ưu khuyết điểm của từng phương tiện Để có hiệu quả cao khi sử dụng phương tiện trong dạy học thì người giáo viên phải thành thạo trong việc sử dụng phương tiện, biết phối kết hợp các phương tiện và biết tạo ra những phương tiện mới
b) Phân loại phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học thường được phân thành các loại sau:
* Sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo
Đây là loại phương tiện dạy học chính, có từ lâu đời và có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh Loại phương tiện dạy học nàycũng rất phong phú, bao gồm các dạng sau đây
- Sách giáo khoa: Sách giáo khoa được xem như pháp lệnh chuẩn của một Quốc gia
về kiến thức, là tài liệu thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập và là một kênh cung cấp thông tin có tính chuẩn mực cho mọi đánh giá và thi cử trong các nhà trường Ngoài ra, sách giáo khoa còn được xem là phương tiện phục vụ giúp học tự học để nắm kiến thức ngoài thời gian lên lớp Sách giáo khoa là cơ sở, căn cứ để giáo viên bổ sung kiến thức cho người học khi muốn yêu cầu người học làm bài tập
ở nhà
- Sách bài tập: Là phương dạy học bổ trợ, được giáo viên sử dụng trong quá trình truyền thụ tri thức Trong quá trình dạy học, giáo viên thực hiện việc hướng dẫn
Trang 13các bài tập mẫu cho học sinh và để học sinh làm các bài tập cùng dạng Việc sử dụng sách bài tập của học sinh phải đúng cách, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, tránh tình trạng người học sử dụng sách bài tập để giải quyết các yêu cầu của giáo viên một cách đối phó.
- Sách tham khảo: Là loại phương tiện dạy học có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và quá trình học nhằm đào sâu, mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho học sinh Sách tham khảo còn có tác dụng phát triển tính hứng thú học tập của học sinh, tích cực hóa hoạt động nhận thức, qua đó rèn luyện được thói quen, kỹ năng làm việc với sách như là một nguồn kiến thức cho cuộc sống
- Các loại sách báo: Là những tài liệu có tác dụng làm phong phú thêm cho quá trình nhận thức của mỗi cá nhân nói riêng và cho sự phát triển của xã hội loài ngườinói chung
- Thư viện điện tử: Ngày nay thư viện điện tử là nguồn cung cấp thông tin và tri thức khoa học của nhân loại một cách đầy đủ và được cập nhật thường xuyên Thư viện điện tử đặc biệt đóng vai trò quan trọng ở bậc giáo dục Đại học, bởi khả năng
tự học và tự nghiên cứu khoa học độc lập của người học đã đạt được ở một tầm cao
* Các đồ dùng dạy học
- Bảng viết: Đây là một phương tiện lâu đời, gần gũi và quan trọng nhất đối với giáo viên, là cầu nối giao tiếp rất thuận tiện và linh hoạt giữa người dạy và người học Bảng đen với phấn trắng cũng là biểu tượng của nghề dạy học Bảng giúp cho giáo viên trình bày các vấn đề cần truyền đạt một cách linh hoạt Kỹ năng trình bày bảng là một trong những kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của giáo viên, thông qua cách trình bày bảng có thể đánh giá được trình độ kỹ thuật và nghệ thuật dạy học của giáo viên
- Tranh ảnh, hình vẽ, sơ đồ: Việc sử dụng tranh ảnh trong dạy học được sử dụng khá phổ biến trong việc giảng dạy ở mọi cấp học Đây là loại phương tiện giúp cho
Trang 14giáo viên truyền đạt kiến thức một cách sinh động và trực quan, giảm thời gian và
có hiệu quả cả với những đối tượng khó quan sát trực tiếp Trong quá trình truyền thụ tri thức, người giáo viên là người chỉ dẫn và nêu vấn đề, sau đó người học có thể dùng tranh ảnh để tự học Căn cứ vào nội dung bài học cũng như dụng ý sư phạm, giáo viên sử dụng linh hoạt từng loại tranh ảnh hình vẽ sơ đồ, có thể treo khi giảng bài hoặc treo cố định ở một vị trí thích hợp trong lớp học Để học sinh thực hành nhóm ngoài giờ lên lớp hoặc tự học ở nhà thì giáo viên có thể sử dụng các bộ tranh học có chú thích một cách tỉ mỉ và có sự phối hợp với các phương tiện dạy học khác để tăng tính hiệu quả
- Mô hình: Trong một số trường hợp, khi dạy học mà các nội dung không thể dùng được vật thật hoặc vật thật rất khó quan sát thì giáo viên có thể sử dụng mô hình Yêu cầu của mô hình là càng giống vật thật càng tốt về các đặc điểm của nó
- Mẫu vật: Đây là loại phương tiện có tính xác thực và nguyên bản để học sinh có thể quan sát một cách chân thực nhất, từ đó hình thành nhận thức cho bản thân
* Các phương tiện kỹ thuật dạy học: Đây là các phương tiện hỗ trợ cho giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh Đây thường là các phương tiện hiện đại đòi hỏi giáo viên phải có kỹ năng sử dụng thuần thục trong quá trình giảng dạy
để tiết kiệm thời gian và tăng hiệu quả
Một số phương tiện kỹ thuật dạy học thường được sử dụng: Máy vi tính, máy chiếu(Overhead), máy ảnh, camera, máy ghi âm, tivi
* Các thí nghiệm dạy học: Thường được sử dụng trong một số môn học đặc thù như hóa học, vật lý giúp cho học sinh dễ hiểu bài, nhớ bài lâu, có ấn tượng và có hứng thú trong quá trình học
c) Tác dụng của phương tiện dạy học
Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật cũng như yêu cầu thực tế về chất lượng giáo dục, phương tiện dạy học đóng vai trò to lớn và là thành tố không thể thiếu trong quá trình truyền thụ cũng như lĩnh hội tri thức Phương tiện dạy học thực hiện chức năng trực quan hóa hoạt động nhận thức của học sinh, dùng làm vật
Trang 15thay thế cho các đối tượng và các quá trình của chúng trong thực hiện mà giáo viên
và học sinh không thể trực tiếp tiếp cận được Phương tiện dạy học có tác dụng giúp giáo viên biết cách tiến hành huy động được sự hoạt động của các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức kỹ năng, kỹ xảo làm cho sự nhận thức của các em về hiện thực khách quan được diễn ra một cách dễ dàng Các phương tiện dạy học không chỉ hỗ trợ tích cực vào việc thể hiện tính trực quan của nội dung dạy học của giáo viên mà còn giúp người học làm quen được với các yếu
tố, các mối liên hệ bên ngoài, bên trong của đối tượng nhận thức, giúp họ hiểu sâu sắc vấn đề các lĩnh vực chuyên môn mà mình yêu thích
Phương tiện dạy học có những tác dụng cụ thể sau:
- Nhờ phương tiện dạy học mà học sinh hiểu bài một cách nhanh chóng và nhớ bài lâu hơn
- Nhờ phương tiện dạy học mà những cái trìu tượng được cụ thể hóa và những cái phức tạp được đơn giản hóa nên quá trình nhận thức sẽ dễ dàng hơn
- Sử dụng phương tiện dạy học sẽ giúp cho nội dung học tập được sinh động và họcsinh sẽ hứng thú hơn trong học tập
- Học sinh có thể quan sát trực tiếp các đối tượng một cách thuận lợi nhờ vào việc
sử dụng phương tiện dạy học, điều mà phương pháp truyền thống không thực hiện được
- Phương tiện dạy học là công cụ để giáo viên giảm thiểu được nhiều thời gian, từ
đó góp phần nâng cao hiệu suất lao động Đồng thời phương tiện dạy học cũng sẽ giúp giáo viên có được một công cụ tiên tiến trong việc điều khiển quá trình nhận thức của học sinh và đánh giá kết quả học tập
- Phát huy được tính tích cực chủ động, tự lực, sáng tạo, phát triển tư duy và khả năng suy luận của học sinh
- Hỗ trợ học sinh trong tự học
d) Nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học
Trang 16- Sử dụng đúng phương tiện dạy học sẽ có tác dụng làm tăng hiệu quả quá trình nhận thức của học sinh, tuy nhiên nếu sử dụng không hợp lý phương tiện dạy học thì không những hiệu quả sư phạm không được tăng lên mà còn làm cho học sinh khó hiểu, căng thẳng Do vậy, để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng phương tiện dạy học các nhà sư phạm đã nêu ra ba nguyên tắc là “đúng lúc, đúng chỗ và đúng cường độ”.
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng lúc: Phương tiện dạy học phải được sử dụng vào lúc cần thiết, thời điểm mà học sinh mong muốn quan sát nhất và được gợi mở trong trạng thái tâm sinh lý thuận lợi nhất (thường là lúc học sinh được giáo viên dẫn dắt, gợi mở, nêu vấn đề)
- Phương tiện dạy học cần phải được xuất hiện đúng lúc mà nội dung, phương phápgiảng dạy cần đến nó và cũng phải được cất giấu đúng lúc, đúng thời điểm Để sử dụng phương tiện có hiệu quả thì giáo viên phải biết sử dụng đúng thời điểm và phù hợp với hoàn cảnh sử dụng
- Linh hoạt trong việc sử dụng phương tiện vào theo trình tự bài giảng, tránh việc trưng các phương tiện theo nghĩa “trưng bày lấy thành tích” Có kế hoạch về lịch trình sử dụng các loại phương tiện một cách hợp lý nhất để tăng hiệu quả của phương tiện
- Bố trí, sắp đặt hợp lí phương tiện dạy học trong không gian lớp học: Việc bố trí các phương tiện dạy học một cách hợp lý giúp học sinh có thể đồng thời sử dụng nhiều giác quan nhất để tiếp thu bài giảng một cách đồng đều ở mọi vị trí trong lớp
- Tìm vị trí để sắp đặt các phương tiện dạy học trên lớp sao cho toàn thể lớp có thể quan sát được một cách dễ dàng là rất quan trọng, đặc biệt là những học sinh ngồi hai bên tường và cuối lớp Vị trí lắp đặt các phương tiện phải đảm bảo các yêu cầu chung và riêng của từng phương tiện như các điều kiện về ánh sáng, độ ẩm, thông gió và các yêu cầu kỹ thuật khác
- Ngoài ra, các phương tiện khi lắp đặt phải đảm bảo tuyệt đối an toàn cho giáo viên và học sinh trong và ngoài giờ giảng, không ảnh hưởng đến việc học tập của
Trang 17các lớp bên cạnh Khi cần sử dụng các phương tiện phải dễ lấy, không mất thời gian và dễ cất đi khi không còn sử dụng để không làm ảnh hưởng hay phân tán sự quan sát của học sinh.
- Sử dụng phương tiện dạy học đúng cường độ: Tùy thuộc tính năng, tác dụng của mỗi loại phương tiện mà người giáo viên cân đối, có mức độ sử dụng tại lớp khác nhau Không nên quá lạm dụng việc sử dụng một loại phương tiện, bởi điều đó gây nên sự nhàm chán, giảm hiệu quả trong quá trình truyền thụ và lĩnh hội tri thức
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu về phiếu học tập (PHT)
a) Một số khái niệm liên quan đến phiếu học tập
* Khái niệm phiếu học tập
Theo Từ điển Tiếng Việt, phiếu có 3 nghĩa:
- Một là: Tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất
định nhằm phân loại, sắp xếp theo một hệ thống nào đó như: phiếu điều tra, phiếu tra cứu
- Hai là: Tờ ghi nhận quyền lợi nào đó cho người sử dụng.
- Ba là: Tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết.
Từ ý nghĩa và tính năng của phiếu, có thể nhận thấy: PHT được hiểu là tờ giấy rời
cỡ nhỏ, ghi chép những nội dung kiến thức nhất định, phục vụ cho việc dạy và học mọi cấp học
Một định nghĩa khác về PHT: “PHT là những tờ giấy rời, in sẵn những công tác độc lập hay làm theo nhóm nhỏ, được phát cho học sinh để học sinh hoàn thành trong một thời gian nhất định Mỗi PHT có ghi rõ một vài nhiệm vụ nhận thức nhằm hướng tới hình thành kiến thức, kĩ năng hay rèn luyện thao tác tư duy để giao cho học sinh”.
“PHT là một PTDH hỗ trợ giáo viên trong quá trình truyền thụ tri thức, giúp người giáo viên đặt ra các yêu cầu mà học sinh cần thực hiện trên lớp hay ở nhà Về nội dung, PHT chứa đựng các bài tập, câu hỏi Về hình thức, PHT thường được in
Trang 18trên giấy, viết trên bảng phụ hoặc chiếu trên màn hình nhờ các phương tiện trình chiếu”.
Như vậy, PHT là một phương tiện dạy học được giáo viên chuẩn bị sẵn khi soạn bài chuẩn bị cho tiết học PHT được thiết kế trên tờ giấy rời hoặc trên máy vi tính, trên đó ghi các câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ học tập kèm theo các gợi ý, hướng dẫn của giáo viên, từ đó người học thực hiện, hoặc ghi các thông tin cần thiết để lĩnh hội hoặc củng cố kiến thức PHT còn là kênh thông tin giúp giáo viên có thể tổng hợp một cách nhanh chóng những ý kiến trả lời của học sinh
b) Vai trò phiếu học tập
- PHT giúp cho học sinh có thể hoạt động độc lập hoặc hoạt động nhóm trong quá trình nhận thức Thông qua PHT, người học có thể tự mình khám phá tri thức mới cũng như củng cố kiến thức đã học
- Các nội dung trong PHT chính là những thông tin cung cấp cho học sinh một cáchtrực tiếp và sinh động để làm cơ sở cho hoạt động nhận thức của học sinh
- PHT là công cụ giao tiếp giữa giáo viên và học sinh nhờ vào các câu hỏi, bài tập hay các yêu cầu hoạt động, những yêu cầu cần phải thực hiện và các gợi ý cách làmhay hướng dẫn
- PHT giúp người học chủ động trong các hoạt động tìm tòi, khám phá, qua đó rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
- PHT giúp người dạy vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực thay vì
sử dụng phương pháp thuyết trình truyền thống, đồng thời người học được tham giacác hoạt động tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức
- Trong quá trình sử dụng PHT, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá được khả năngnhận thức cũng như thái độ trong học tập của học sinh, qua đó giúp người dạy điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với đối tượng và tăng hiệu quả dạy học
c) Phân loại phiếu học tập
PHT có một số cách phân loại sau:
- Dựa vào mục đích dạy học, PHT có thể được phân ra thành 3 loại:
Trang 19+ Loại 1: PHT dùng để hình thành kiến thức mới
Nội dung của phiếu loại 1 đề cập tới các vấn đề trọng tâm của bài học Trong khi hình thành kiến thức mới, giáo viên cần cho học sinh rèn luyện các thao tác trong từng hoạt động học tập Các PHT này được phát cho học sinh sau khi viết đề mục của bài lên bảng
+ Loại 2: PHT dùng để củng cố, hoàn thiện, hệ thống hóa kiến thức
Là những PHT với mục đích khắc sâu kiến thức trọng tâm của bài học, tăng cường khả năng vận dụng các kiến thức của học sinh Dạng PHT này có tác dụng rất tốt khi muốn giúp học sinh khái quát được bức tranh toàn diện về kiến thức sau khi học xong một chương hay một học kỳ
+ Loại 3: PHT dùng để kiểm tra bài
- Dựa vào mục đích sử dụng và cách thức sử dụng
- Dựa vào nội dung:
+ Loại 1: Phiếu thông tin
Nội dung chính của PHT loại này bao gồm các thông tin bổ sung, mở rộng, minh họa cho các kiến thức cơ bản của bài
+ Loại 2: Phiếu bài tập
+ Loại 3: Phiếu yêu cầu
Trang 20- Bước 2: Học sinh tiến hành hoàn thành các nội dung trong phiếu học tập, giáo viên quan sát và giám sát kết quả Giáo viên có thể hướng dẫn cho học sinh một số nội dung chưa rõ hoặc gợi ý những nội dung khó.
- Bước 3: Sau khi học sinh hoàn thành các nội dung của phiếu học tập, giáo viên sẽ chỉ định hoặc học sinh xung phong trình bày kết quả làm việc của mình
- Bước 4: Giáo viên điều hành cả lớp thảo luận, bổ sung các nội dung để hoàn thành phiếu học tập Qua quá trình trao đổi, thảo luận giáo viên có thể đánh giá kết quả thực hiện phiếu học tập của các cá nhân hoặc nhóm
e) Cấu trúc, yêu cầu và chức năng của phiếu học tập
- Phần quy định thời gian thực hiện: Tùy thuộc khối lượng công việc cần hoàn thành được ghi trong PHT, giáo viên định ra khoảng thời gian nhất định Khoảng thời gian này cũng có thể căn cứ vào trình độ của người học, thời gian tiết học
- Phần đáp án: Giáo viên thường tách biệt phần này với các phần trên để thuận tiện trong việc chỉnh sửa, bổ sung cho học sinh hay căn cứ đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức cho học sinh
* Yêu cầu của PHT
- PHT phải được trình bày mạch lạc, ngắn gọn, rõ ràng với ngôn ngữ dễ hiểu, bố cục chặt chẽ và các hoạt động, công việc cần hoàn thành một cách phù hợp nhất
Trang 21- Giáo viên thiết kế PHT sao cho dự kiến đa số học sinh có thể hoàn thành được Muốn vậy thì PHT phải có khối lượng công việc phù hợp với khả năng của học sinh và thời gian cho phép.
- Phải có những khoảng trống thích hợp trong PHT ở phần hoạt động để học sinh ghi chép kết quả thực hiện hoặc quá trình thực hiện của mình một cách vắn tắt theo yêu cầu của giáo viên Việc sắp xếp vị trí của các khoảng trống cũng cần phải cân nhắc sao cho hợp lí và có dụng ý sư phạm định trước Chẳng hạn, để học sinh phát hiện ra mối quan hệ giữa hai kết quả nào đấy thì nên sắp xếp để hai kết quả đó ở vị trí gần nhau để thuận lợi cho việc so sánh; việc bố trí các công thức sao cho các đường liên hệ ít bị chồng chéo, rắc rối
- Trước khi làm việc với nội dung mới của bài học, giáo viên cần tìm hiểu trình độ của học sinh, các quan điểm, nhận thức mà học sinh đã có và PHT chính là công cụhữu ích
- PHT có thể giúp tìm ra tri thức mới, kĩ năng mới dựa vào vai trò qui nạp, làm cơ
sở để suy luận, phân tích
- PHT là phương tiện giúp giáo viên nắm bắt được thông tin phản hồi về tình hình học tập của mỗi học sinh hoặc mỗi nhóm học sinh để từ đó điều chỉnh PPDH của mình
- Nhờ PHT mà giáo viên giúp học sinh mở rộng, củng cố, hệ thống hóa hay đào sâukiến thức một cách hữu ích
Trang 22- PHT là phương tiện để giáo viên dạy học phân hóa.
- Có thể phối hợp PHT với các PTDH phù hợp khác
1.3 Lý luận về cấp độ tư duy và cách thức tiếp cận:
- Các hoạt động tích cực hóa học tập cho học sinh ngoài việc thiết lập dựa trên yêucầu về chuẩn kiến thức và kĩ năng còn được thiết lập dựa trên các nghiên cứu khoahọc của các nhà làm giáo dục trên thế giới như:
Bảng 1.3 Hệ thống câu hỏi phù hợp với các mức độ tư duy của Bloom (1984) Cấp độ
tư duy
Mục tiêu Tác dụng Cách thức tiếp cận
Biết Nhằm kiểm tra trí nhớ
của học sinh về các dữliệu, số liệu, các địnhnghĩa, định luật, quytắc, khái niệm, tênngười, địa phương…
Giúp học sinh ônlại những gi đãbiết, đã trải qua…
Khi hình thành câu hỏigiáo viên có thể sửdụng các từ sau đây:Ai…?, Cái gì …?, Ởđâu…?, Thế nào…?,Khi nào…?, Hãy địnhnghĩa…?, Hãy môtả…?
Hiểu Nhằm kiểm tra học
sinh cách liên hệ kếtnối các dữ kiện, sốliệu, các đặc điểm…
khi tiếp nhận thông tin
Giúp học sinh cókhả năng nêu rađược những yếu tố
cơ bản trong bàihọc Biết cách sosánh các yếu tố,các sự kiện…
trong bài học
Khi hình thành câu hỏigiáo viên có thể sửdụng các từ: Vì sao…?,Hãy giải thích…?, Hãy
so sánh…, Hãy liênhệ…
Áp dụng Nhằm kiểm tra khả
năng áp dụng của họcsinh đối với những
* Giúp học sinhhiểu được nội dungkiến thức, các khái
* Khi dạy học GV cầntạo ra các tình huốngmới, các bài tập, các ví
Trang 23thông tin đã tiếp thuđược (các dữ kiện, sốliệu, các đặc điểm…)vào tình huống mới.
niệm, định luật
* Biết cách lựachọn nhiều phươngpháp để giải quyếtvấn đề trong cuộcsống
dụ, giúp học sinh vậndụng các kiến thức đãhọc
* Giáo viên có thể đưa
ra nhiều câu trả lời khác
để học sinh lựa chọnmột câu trả lời đúng.Chính việc so sánh cáclời giải khác nhau làmột quá trình tích cực
Phân
tích
Nhằm kiểm tra khảnăng phân tích, lý giảinhững nội dung đượchọc, từ đó tìm ra mốiliên hệ, hoặc chứngminh luận điểm, hoặc
đi đến kết luận về mộtvấn đề gì đó
Giúp học sinh tìm
ra được mối quan
hệ trong hiện thực,học sinh có thể đưa
ra dự đoán, cáchgiải quyết vấn đề,các câu trả lời hoặc
đề xuất có tínhsáng tạo
Câu hỏi phân tíchthường đòi hỏi học sinhphải trả lời: Tại sao?(khi giải thích nguyênnhân) Em có nhận xétgì? (khi đi đến kếtluận) Em hãy lý giải/giải thích (khi chứngminh luận điểm)
1.4 Những công trình ở trong và ngoài nước về phiếu học tập
Việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ở nước ta đã được triển khai
từ lâu Đội ngũ giáo viên ngày nay đã luôn có ý thức học tập nâng cao trình độ về mọi mặt và sự đầu tư cơ sở vật chất của toàn xã hội đối với ngành giáo dục, việc đổi mới PTDH ngày càng được nâng cao Hiện nay, một bộ phận giáo viên đã tự giác tìm tòi, học hỏi về chuyên môn nghiệp vụ và cố gắng đổi mới phương pháp góp phần nâng cao chất lượng giờ học, chất lượng học sinh Đổi mới PPDH đã pháthuy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong nhà trường Tuy nhiên, trước
Trang 24nhu cầu phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay thì việc đổi mới PPDH vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc đổi mới PPDH để giải quyết tình trạng này và đã được vận dụng trong các nhà trường phổ thông Các nghiên cứu đều đi theo hướng tăng cường vai trò chủ động, tích cực của học sinh bằng cách sử dụng các phương tiện dạy học, trong đó có việc thiết kế và sử dụng PHT như là một nội dung cần thiết.
Nguyễn Hữu Hậu (2012) đề xuất các PHT để học sinh củng cố tính chất đồ thị hàm số lôgarit và các PHT hỗ trợ học sinh phát hiện định lí về dấu tam thức bậc hai;
Tác giả Nguyễn Văn Thái Bình đã thiết kế và sử dụng phiếu học tập trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông; Bùi Thị Hạnh Lâm (2009) sử dụng PHT để học sinh tự đánh giá kết quả học tập môn Toán ở trường THPT
Việc sử dụng hiệu quả PHT trong giảng dạy bậc Trung học cơ sở được các nhà Giáo dục học quan tâm sâu sắc Tác giả Phí Thị Thùy Vân (2014) đề xuất các PHT để gợi hứng thú, gợi động cơ học tập cho học sinh từ những hình ảnh trực quan và các PHT nhằm hỗ trợ học sinh củng cố, vận dụng, phát triển khái niệm hoặc trải nghiệm cắt ghép hình trong dạy học toán Trung học cơ sở (THCS); Võ Thành Phước (2008) đề xuất các PHT để HS tiếp cận khái niệm trong dạy học Toán6; Outhay Bannavong (2013) đề xuất các PHT để học sinh THCS ở nước Cộng hòadân chủ nhân dân Lào thực hành các hoạt động học tập
Trang 25Có thể nhận thấy PHT là một trong những phương tiện dạy học hữu ích, được nghiên cứu và áp dụng trong giảng dạy ngay từ bậc tiểu học Trong luận án Tiến sĩ năm 2001, Vũ Thị Thái (2001) đề xuất các PHT dùng cho học sinh lớp 3 nhận dạng, tô màu; Nguyễn Thị Kim Thoa (2007) đề xuất các PHT để học sinh Tiểu học thực hành nhận biết các hình; Phan Thị Tú (2013) đề xuất các PHT để HSlớp 3, 4, 5 tiểu học tiếp cận khái niệm “lớn hơn, nhỏ hơn”; Lê Nga Sơn (2002) đề xuất các PHT củng cố kĩ năng, giải quyết vấn đề; Nguyễn Mạnh Tuấn (2013) đề xuất các PHT để trẻ mẫu giáo nhận biết các hình phẳng.
Bên cạnh đó, PHT cũng đã được các nhà giáo dục học nghiên cứu và triển khai giảng dạy ở một số môn học khác, có thể kể tới như:
- Tác giả Đậu Thị Hòa (2007) đã đưa ra hình thức sử dụng PHT trong dạy học môn Địa lí lớp 10
- Tác giả Nguyễn Thị Dung (1994) trong môn Văn học đã đề xuất các mẫu giáo án
có sử dụng PHT trong dạy học văn nghị luận Việt Nam trung đại ở THPT
- Tác giả Lê Thị An (2012) đã đề xuất PHT như là công cụ để giáo viên tổ chức hoạt động khai thác và lĩnh hội kiến thức theo định hướng trước của giáo viên
Như vậy có thể thấy được PHT đã nhận được sự quan tâm từ các chuyên gia,các nhà nghiên cứu cho tới đông đảo nhiều giáo viên là những người trực tiếp giảngdạy, ở tất cả các môn học cũng như ở tất cả các bậc học Điểm chung nhất nổi bật ởđây là các tác giả đều xem PHT như là một phương tiện dạy học có thể khai thác góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Chính vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lí luận như PHT là gì? PHT có vai trò gì trong quá trình dạy học môn Toán? Cấu trúc, hình thức và yêu cầu của PHT như thế nào? Chức năng của PHT, các loại PHT? cách thức thiết kế và sử dụng PHT trong quá trình dạy học nội dung
cụ thể môn Toán là một nhu cầu thực tiễn cần được làm sáng tỏ
b) Trên thế giới
Các nhà nghiên cứu Giáo dục trên thế giới đã quan tâm và đặt nền móng từ rất sớm cho những nghiên cứu sử dụng PHT trong dạy học, được áp dụng ở tất cả
Trang 26các lớp học, bậc học PHT có thể giảm thiểu sự phụ thuộc của học sinh vào giáo viên và tăng nhu cầu thông tin của học sinh.
White (2001) đã sử dụng các PHT trong các đợt tập huấn giáo viên ở Úc: Các giáo viên tham gia sẽ có cơ hội để làm việc với một tập hợp các PHT thích hợp
để sử dụng trong lớp học
Các PHT được thiết kế để hỗ trợ học sinh trong việc phân tích các tình hình hiện tại, xác định một dự kiến trong tương lai và sau tạo ra một kế hoạch hành độngđược Medwetz và cộng sự (1999) đề xuất trong nghiên cứu của mình
Đặc biệt, trong công bố của mình vào năm 2011, Dhoruri và cộng sự quan tâm tới các PHT toán học hướng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
Như vậy có thể thấy rằng, các PHT được thiết kế như những trò chơi điện tử hoặc các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, PHT có thể sử dụng trong dạy học các tình huống điển hình trong môn Toán
Những lợi ích tích cực này có được là do sự tương tác của học sinh với nội dung và với nhau được tăng lên Để việc học theo nhóm hợp tác đạt được những kết quả tích cực đó, nó phải được thiết lập qua việc thực hiện các nội quy và quy tắc thích hợp Giáo viên có thể sử dụng phiếu ghi chép quá trình học tập của học sinh dành cho giáo viên nhằm phân hóa học sinh để lập kế hoạch học tập cho mỗi học sinh, yêu cầu học sinh mô tả việc học của mỗi cá nhân (dựa trên PHT) ở mỗi buổi học, ghi lại các ví dụ về việc học sinh đã nhận được sự giúp đỡ từ các thành viên trong nhóm như thế nào và có thể giúp đỡ nhau tốt hơn như thế nào Trước khibắt đầu học, học sinh đọc cho các thành viên trong nhóm những ghi chép của mình
về buổi làm việc trước
Kết quả chủ yếu khi nghiên cứu những tài liệu trên là hầu hết những PHT đã được thiết kế cụ thể Về cách thức thiết kế các PHT chúng tôi cũng chưa thấy tài liệu nào bàn đến, chỉ có một số tài liệu quan tâm đến khái niệm và đề cập đến ý nghĩa, tác dụng của PHT
Trang 27Qua tham khảo về nội dung của các PHT, chúng tôi thấy nội dung chủ yếu tập trung vào ba loại:
- PHT đưa ra các thông tin và yêu cầu học sinh xử lí các thông tin
Các nhà nghiên cứu Giáo dục nước ngoài quan tâm tới PHT ở mức độ: Đưa ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan hoặc các yêu cầu hoạt động tương tác để kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh hoặc tìm ra một số kết quả nào đó theo mong đợi của những người tạo ra PHT
- Thông qua ngữ cảnh, hoạt động, kết luận PHT đóng vai trò giải quyết một vấn
đề đặt ra từ thực tiễn
Trong khuôn khổ đề tài sáng kiến kinh nghiệm, tôi quan tâm nghiên cứu nhiều hơn đến biện pháp thiết kế, sáng tạo các mẫu PHT và quá trình sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học, theo định hướng chương trình GDPT
2018 tại trường THCS vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu số
1.5 Ý nghĩa lí luận của đề tài
- Bổ sung thêm phần cơ sở lý luận về lí luận dạy học, phương pháp dạy học vàphương pháp dạy học môn Toán Sự thay đổi SGK trong chương trình dạy học,đồng nghĩa với các lý luận về PPDH, PTDH (Thiết bị dạy học và học liệu số) cũngphải đổi mới, nhằm giúp học sinh trang bị kiến thức, kĩ năng thích ứng với cuộccách mạng công nghệ 4.0 (Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) diễn ra tại hầu hếtcác nước phát triển trên thế giới, với 4 đặc trưng cơ bản người học đang hướng đếntìm hiểu:
1 Sự kết hợp công nghệ cảm biến mới, phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây vàkết nối internet vạn vật là nền tảng thúc đẩy sự phát triển của máy móc tự động hóa
và hệ thống sản xuất thông minh.
2 Sử dụng công nghệ in 3D để sản xuất sản phẩm một cách hoàn chỉnh nhờ nhất thể hóa các dây chuyền sản xuất không phải qua giai đoạn lắp ráp các thiết bị phụ trợ
3 Công nghệ nano và vật liệu mới ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực.
Trang 284 Trí tuệ nhân tạo và điều khiển học cho phép con người kiểm soát từ xa, không giới hạn về không gian, thời gian, tương tác nhanh hơn, chính xác hơn.
- Lý giải được một số vấn đề mâu thuẫn giữa PPDH và thực tế áp dụng SGK mới trong quá trình dạy học môn Toán 6, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS vùng miền núi, học sinh dân tộc thiểu số
- Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở lí luận những vấn đề cơ bản về xây dựng hệ thống phiếu học tập trong dạy học Số học môn Toán 6, bộ sách
KNTTVCS ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối với học sinh dân tộc thiểu số
2 Cơ sở thực tiễn (Thực trạng vấn đề nghiên cứu)
2.1 Thực trạng tình hình của vấn đề:
a) Khái quát về chức trách, nhiệm vụ được giao.
- Bản thân tôi vào ngành từ 01/10/2020, trong giai đoạn chuyển đổi sách giáo khoamới theo chương trình GDPT 2018, tôi được nhà trường phân công giảng dạy bộmôn Toán Bên cạnh việc học tập kinh nghiệm, tìm hiểu phương pháp giảng dạymới, thì việc học hỏi, không ngừng trau dồi kĩ năng thiết kế tài liệu và học liệu số,
sử dụng PHT linh động áp dụng vào bộ môn Toán theo chương trình GDPT 2018 làcần thiết
- Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Đa số học sinh chăm ngoan, ham học và cầu tiến
- Giáo viên dạy bộ môn Toán tâm huyết, vững về tay nghề, có kiến thức xã hội và
kỹ năng sống chuẩn mực
- Bản thân nhiệt tình, có ý chí vươn lên Có ý thức tự giác trong công tác học tập vànâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm
Trang 29- Được tham gia bồi dưỡng chuyên môn hè về chương trình chuẩn kiến thức, kỹnăng; nắm bắt khá vững chắc về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy
- Được sự chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường về công tác chuyên môn
- Được sự quan tâm của các cấp, chính quyền địa phương, Ban đại diện cha mẹ họcsinh đối với công tác giáo dục
+ Khó khăn:
- Toán học hay toán là ngành nghiên cứu trừu tượng về những chủ đề như: lượng
(các con số), cấu trúc, không gian, những ngôn ngữ và kí hiệu toán học thườngngắn gọn nhưng chứa đựng nhiều thông tin và lượng kiến thức môn Toán cấpTHCS nói chung, môn Toán lớp 6 nói riêng, trong chương trình GDPT 2018 cónhiều thay đổi, khiến người học dễ nản lòng
- Xã Quang Trọng, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng là một xã thuộc vùng miền núi,đặc biệt khó khăn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số với phong tục tập quán cònnhiều lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nhận thức của nhân dân còn nhiều hạn chế, đờisống của bà con tuy có cải thiện nhưng còn không ít khó khăn
- Nhận thức xã hội giữa vùng khó khăn so với các vùng thuận lợi khác khoảng cáchcòn rất lớn, kỹ năng sống của con em vùng khó nói riêng còn nhiều hạn chế, yếukém
- Sự quan tâm đến việc học hành, giáo dục con em của phần lớn bà con địa phươngchưa được chú trọng, chủ yếu giao trắng cho nhà trường
- Sự đầu tư trang thiết bị của nhà nước đối với trường học thuộc các xã vùng sâuvùng xa còn rất hạn chế ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng tiếp thu kiến thức củacác em cũng như khả năng phát triển các năng lực tư duy, các kỹ năng sống cầnthiết khác
- Chế độ đãi ngộ đối với giáo viên chưa kịp thời ảnh hưởng không nhỏ đối với côngtác giảng dạy và giáo dục học sinh
b) Mục đích, phương pháp và tổ chức điều tra
Trang 30- Mục đích điều tra: Nhằm tìm hiểu thực trạng sử dụng PHT trong quá trình dạy học dạy học môn Toán 6 phần Số học, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu số, tìm hiểu những khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng PHT để từ đó có cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp thiết kế và
sử dụng PHT trong dạy học tại đơn vị công tác, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn toán
- Phương pháp điều tra: Các phiếu câu hỏi được thiết kế và sử dụng để gửi xin ý kiến của các giáo viên (phụ lục 1) trong khoảng thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 03/2022
- Địa điểm điều tra: Điều tra 32 giáo viên tại trường THCS vùng miền núi trên địa bàn huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng
c) Các câu hỏi nghiên cứu thực tiễn
Một số nội dung cần tìm hiểu trong phiếu điều tra:
- Các giáo viên có sử dụng PHT không, tần suất sử dụng PHT như thế nào? Giáo viên thường sử dụng PHT trong các tình huống nào nhiều nhất: kiểm tra bài cũ, gợi
ý tìm tòi, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề, luyện tập, củng cố kiến thức
- Quan điểm của giáo viên về tình huống sử dụng PHT đạt kết quả tốt nhất trong các tình huống kể trên
Song song với quá trình điều tra, chúng tôi tiến hành phỏng vấn và xin ý kiến của các giáo viên về những nội dung:
- Quan điểm của cá nhân về PHT, chức năng của PHT
- Ý nghĩa và vai trò của PHT trong quá trình dạy học môn Toán 6 phần Số học, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu
số
- Các vấn đề về hình thức cũng như cấu trúc của PHT
- Quy trình thiết kế và cách sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6 phần Số học,
bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu số
Trang 31- Những thuận lợi và khó khăn khi thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6 phần Số học, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu số
d) Đánh giá kết quả điều tra
Từ kết quả điều tra, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích và rút ra được những kết luận sau đây:
- Câu hỏi 1 Theo ý kiến của mình, thầy/cô đánh giá thế nào về mức độ cần thiết của việc sử dụng PHT trong dạy môn Toán, ở nhà trường THCS ở vùng miền núi, đối tượng HS dân tộc thiểu số?
Bảng 2.1 Đánh giá mức độ cần thiết của việc sử dụng phiếu học tập
tư thời gian của giáo viên trong việc thiết kế PHT khi chuẩn bị bài
- Câu hỏi 2 Mức độ sử dụng PHT của thầy/cô trong dạy học môn Toán 6, phần Số học?
Bảng 2.2 Tỉ lệ sử dụng phiếu học tập trong dạy học của giáo viên
Trang 32Nhận xét: Kết quả thăm dò cho thấy, mặc dù nhận thức được vai trò quan trọng của PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học nhưng việc sử dụng loại phương tiện này vẫn còn rất khiêm tốn Số lượng giáo viên sử dụng thường xuyên chỉ chiếm một lượng nhỏ (15,62%) Phần lớn giáo viên chỉ thỉnh thoảng sử dụng (53,13%), một số không nhỏ giáo viên không sử dụng PHT (12,50%) Điều này chothấy hiện nay còn khá nhiều giáo viên tiếp cận với loại phương tiện này.
- Câu hỏi 3 Xin thầy/cô cho biết ý kiến của mình về các hình thức sử dụng PHT?
Bảng 2.3 Đánh giá về hình thức sử dụng phiếu học tập
Nhận xét: Căn cứ vào bảng số liệu trên ta có thể thấy, giáo viên sử dụng PHTnhiều nhất trong các tiết ôn tập, củng cố kiến thức (37,50%) hay khi dạy các bài luyện tập (43,75%) Các hình thức khác giáo viên ít sử dụng PHT
- Câu hỏi 4 Theo ý kiến của thầy/cô, việc sử dụng PHT khi dạy học môn Toán 6, phần Số học có tác dụng gì?
Bảng 2.4 Tác dụng của việc sử dụng phiếu học tập trong dạy học
2 Tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh 71,88
3 Giúp học sinh tiếp thu bài tốt hơn 57,58
4 Khối lượng kiến thức được truyền tải nhiều hơn 65,63
5 Tăng cường khả năng tự học của học sinh 40,63
6 Đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh 37,50
7 Tăng hiệu quả cho thảo luận nhóm 84,38
Trang 33Nhận xét: Qua kết quả từ bảng 1.4 ta thấy có tới 75% giáo viên cho rằng sử dụng PHT có thể tiết kiệm được thời gian trên lớp, 65,63% giáo viên nhận thấy có thể truyền tải được nhiều kiến thức hơn với thời gian ngắn của một tiết dạy.
Sử dụng PHT có tác dụng tốt với khả năng tự học của học sinh, tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh (chiếm 71,88%) Đặc biệt đa số giáo viên cho rằng, sử dụng PHT làm tăng tính hiệu quả của việc thảo luận nhóm (chiếm
2 Chưa có kinh nghiệm thiết kế và sử dụng PHT 28,13
5 Khó kết hợp PHT trong giờ học với các hoạt động khác 43,75
6 Thao tác học sinh vùng miền núi khi thực hiện PHT còn
chậm, khiến việc hoạt động nhóm bị quá thời gian
50%
Nhận xét: Đa phần giáo viên cho rằng khó khăn lớn nhất khi sử dụng PHT là tốn kém thời gian và kinh phí để thiết kế và sử dụng (chiếm 56,25%) Điều này có thể xuất phát từ đời sống của giáo viên còn khó khăn, giáo viên còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc nên thời gian để chuẩn bị bài còn ít
Vẫn còn một số giáo viên chưa hiểu rõ về PHT (chiếm 18,75%) hoặc chưa
có nhiều kinh nghiệm trong thiết kế và sử dụng PHT (chiếm 28,13%) Điều này sẽ
có ảnh hưởng không nhỏ đến việc lựa chọn và sử dụng PHT vào trong quá trình dạy học một cách hợp lý, hiệu quả nhất Có 37,5% giáo viên cho rằng trình độ học sinh không đồng đều cũng là một yếu tố cản trở đến việc giáo viên sử dụng PHT trong dạy học
Trang 34Thông qua việc phỏng vấn giáo viên, chúng tôi thu được một số kết quả chính sau đây:
- Đa phần giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình trong quá trình dạy học môn Toán 6, phần Số học (chiếm 26/32 giáo viên), còn lại 6/32 giáo viên thỉnh thoảng
có sử dụng PHT Việc không sử dụng PHT, các giáo viên đều cho rằng việc chuẩn
bị PHT khó khăn, tốn thời gian, tốn kém về kinh phí Thường giáo viên chỉ sử dụngPHT khi có đồng nghiệp, cấp trên tới dự hoặc là các giờ thao giảng
- Qua kết quả điều tra và phỏng vấn giáo viên về sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học ở một số trường THCS chúng tôi rút ra được những vấn đề sau: Đa số giáo viên chưa có thói quen sử dụng PHT trong dạy học môn Toán, trong khi họ vẫn quen với việc sử dụng phương pháp thuyết trình, trình bày bảng
- Giáo viên chưa có kinh nghiệm trong thiết kế các PHT trong quá trình dạy học như các quan điểm cơ bản về thiết kế PHT, chức năng và tác dụng của PHT, khi nào thì sử dụng PHT có hiệu quả Điều này là cần thiết và quan trọng đối với giáo viên trong dạy học Toán, chẳng hạn như khi nào thì sử dụng PHT? Ưu nhược điểm của việc sử dụng PHT trong từng tình huống? Cần phải làm gì để phát huy tác dụng
và hạn chế được các nhược điểm khi sử dụng PHT?
- Khi sử dụng PHT trong quá trình dạy học, giáo viên gặp không ít khó khăn về mặtthời gian, chẳng hạn như: Tốn khá nhiều thời gian và công sức khi thiết kế PHT, thời gian sử dụng PHT trên lớp Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch dạy học của một tiết học cũng như kế hoạch dạy học chung
Như vậy, qua việc tổng hợp số liệu từ phiếu điều tra và tham khảo ý kiến củacác giáo viên chúng tôi nhận thấy việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học là rất cần thiết và hữu ích Hệ thống PHT là tư liệu chuyên môn giúp giáo viên có thể sử dụng để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh, từ
đó góp phần nâng cao kết quả và chất lượng học tập môn Toán Tuy nhiên, việc thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học hiện nay chưa được quan tâm đúng mực Giáo viên đã thiết kế và sử dụng PHT để hướng dẫn học
Trang 35sinh học tập, nhưng mục đích và hình thức sử dụng máy móc, chưa thực sự phát huy được tính tích cực, tác động yếu ớt, không đủ sức thu hút để HS chú ý Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến học sinh chưa thực sự hứng thú với công cụ hỗ trợ này dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao.
Từ những tìm hiểu, đánh giá trên đây về nguyên nhân và thực trạng sử dụng PHT trong dạy học môn Toán 6, phần Số học chúng tôi thấy rằng cần phải nghiên cứu, thiết kế và sử dụng PHT để cung cấp cho giáo viên dạy cấp THCS về lý luận
và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực thông qua việc dạy học có sử dụng PHT
e) Định hướng và quy trình thiết kế, sử dụng phiếu học tập ở trường Trung học
cơ sở
* Định hướng thiết kế phiếu học tập
Từ những cơ sở lý luận đã được trình bày trên đây về PHT, đặc biệt là nhữngvấn đề cơ bản như ý nghĩa, tác dụng của PHT, cấu tạo, yêu cầu của PHT, việc định hướng thiết kế và sử dụng PHT được xác định như sau:
+ PHT phải có nội dung phù hợp với mục tiêu của bài học cần giảng, bám sát với trình độ của học sinh, không quá khó hoặc quá dễ
+ PHT phải phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất hiện có, phù hợp với thời gian chophép để đa số học sinh có thể hoàn thành được PHT
+ PHT phải chuyển tải được nội dung của toàn bài hoặc một phần của bài học tùy theo mục đích của giáo viên
+ Các nội dung được thể hiện trong PHT phải rõ ràng, chính xác, dễ hiểu
+ Khi đánh giá kết quả của học sinh qua PHT, giáo viên cần kèm theo những nhận xét, góp ý xác đáng và chủ yếu mang tính động viên, khuyến khích tinh thần, thái
độ học tập của người học
* Quy trình thiết kế phiếu học tập
Trình tự các thao tác để tạo ra PHT thường tuân thủ theo các bước sau:
Trang 36- Bước 1: Xác định trường hợp cụ thể của việc sử dụng phiếu học tập trong bài dạy học, xác định mục tiêu, nắm vững nội dung bài học.
- Bước 2: Từ thực tế bài học và dụng ý sư phạm, giáo viên tìm ra những thời điểm, nội dung cần hỗ trợ hoạt động học tập của HS, bố trí hợp lí về thời gian dành cho những hoạt động và sử dụng PHT hỗ trợ cho HS;
- Bước 3: Nội dung của phiếu học tập được xác định dựa vào một số cơ sở sau: mục tiêu của bài học, phân bố thời gian, kiến thức cơ bản, môi trường lớp học, phương pháp và PTDH Thông qua đó giáo viên tư duy về cách trình bày nội dung của phiếu học tập và hình thức thể hiện trong phiếu học tập
- Bước 4: Viết phiếu học tập, ghi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, chính xác các thông tin, yêu cầu trên phiếu học Nội dung và hình thức của PHT phải đảm bảo tính khoahọc, thẩm mĩ
- Bước 5: Nghiêm túc nghiên cứu việc dự kiến sử dụng PHT trong toàn bộ quá trình dạy học của bài học ở trên lớp
* Quy trình sử dụng phiếu học tập
Quy trình sử dụng phiếu học tập thường được diễn ra theo các bước sau:
- Bước 1: Trước tiên giáo viên quán triệt nhiệm vụ học tập, phát phiếu học tập cho học sinh Tùy theo hình thức tổ chức hoạt động của giáo viên mà học sinh có thể nhận mỗi em một phiếu học tập để hoạt động cá nhân hoặc mỗi nhóm một phiếu đểhoạt động nhóm
- Bước 2: Giáo viên xác định yêu cầu, nội dung, các hoạt động học sinh cần thực hiện trên PHT
- Bước 3: Giám sát, hướng dẫn và hỗ trợ học sinh thực hiện PHT khi cần thiết
- Bước 4: Tổ chức nghiệm thu PHT
g) Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Xây dựng và triển khai hiệu quả hệ thống Phiếu học tập theo từng chủ đề trong dạy học môn Toán 6 phần Số học, bộ sách KNTTVCS ở nhà trường THCS vùng miền núi, đối với học sinh dân tộc thiểu số, có thể góp phần nâng cao chất
Trang 37lượng dạy học Toán trong nhà trường phổ thông và có thể được ứng dụng rộng rãi tại tất cả các trường Trung học cơ sở, đáp ứng được yêu cầu đổi mới của việc dạy học Toán hiện nay.
2.2 Kết luận
Từ mục 1 Cơ sở lí luận của vấn đề tôi đã đưa ra khái niệm về PHT, vai trò
của PHT trong dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng Đây là một phương tiện dạy học rất có hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho giáo viên và học sinh trongviệc đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường tính tích cực chủ động trong học tập của học sinh
Trong dạy học môn Toán 6 phần Số học, bộ sách KNTTVCS, PHT đã được giáo viên sử dụng nhưng với tỷ lệ còn thấp và tập trung chủ yếu vào phần luyện tập và củng cố bài Một số vấn đề mang tính lý luận như vai trò của PHT trong dạy môn Toán 6, bộ sách KNTTVCS? Cấu trúc, hình thức và yêu cầu của PHT như thế nào? Phương thức thiết kế và sử dụng PHT trong dạy học Toán 6 ra sao? Sự sáng tạo trong các mẫu PHT để dạy phần Số học môn Toán 6 thì chưa có công trình nào nhắc đến
Từ mục 2.1 Thực trạng tình hình của vấn đề tôi đã khái quát kết quả điều
tra, khảo sát 32 giáo viên tại 3 trường THCS vùng miền núi, trên địa bàn huyện Thạch An, có sử dụng PHT để dạy phần Số học môn Toán 6 trong phần luyện tập
và củng cố bài Hầu hết giáo viên cho rằng PHT có tác dụng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong các tiết học môn Toán Tuy nhiên, có rất ít giáo viên sử dụngPHT trong việc gợi mở vấn đề, gợi ý tìm tòi và dẫn dắt học sinh giải quyết vấn đề.Dựa vào các cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu việc thiết kế sáng tạo và sử dụng PHT trong dạy để dạy phần Số học môn Toán 6, ở các trường THCS vùng miền núi, đối tượng chủ yếu là HS dân tộc thiểu số và để nhữngmẫu PHT phát huy được giá trị nội dung, truyền cảm hứng sâu sắc đến HS, sự sángtạo trong việc thiết kế PHT là không có giới hạn nhằm tạo hứng thú học toán cho học sinh, đòi hỏi chúng ta phải chịu khó suy nghĩ và sáng tạo, phân tích những tồn
Trang 38tại, bất cập từ thực tiễn công tác so với yêu cầu thực tế, chúng ta tìm cách giải quyết, đưa ra những biện pháp phù hợp với định hướng chương trình GDPT 2018,
để quá trình giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn
3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
a) Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phiếu học tập thu hút sự chú ý, tạo hứng thú đối với học sinh lớp 6, phần Số học môn Toán 6 bộ sách KNTTVCS phù hợp với chương trình GDPT 2018.
* Cơ sở lí luận:
Đã có những quan điểm của các tác giả giúp chúng ta thấy việc sử dụng phương tiện dạy học như PHT trong hỗ trợ gợi vấn đề, phát hiện vấn đề, tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề rất có ý nghĩa Đối với động cơ hoạt động, nếu học sinhtạo được động lực cho mình và có ý thức về những mục tiêu đặt ra thì sẽ thúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt các mục tiêu đó Gợi động cơ có tác dụng làm cho những mục tiêu sư phạm biến thành những mục tiêu của cá nhân, chứ không phải chỉ là sự vào bài, đặt vấn đề một cách hình thức Phương pháp dạy học nêu vấn đề
là phương pháp mà trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu học tập trong chương trình Vấn đề đặt ra cho học sinh phải phù hợp với khả năng trí tuệ của họ, có thể đánh giá mức độ khó khăn của bài làm nêu vấn đề đặt ra theo hai tiêu chí chính: theo mức độ khái quát cao hơn của những tri thức và cách thức hành động (Leene) Với ý nghĩa đó, PHT có thể hỗ trợ trong quá trình dạy học để gợi vấn đề, phát hiện vấn đề, tiếp cận vấn đề và giải quyết vấn đề
Để tiếp cận khái niệm có thể vận dụng 3 con đường (con đường suy diễn, con đường quy nạp, con đường kiến thiết) và có 2 con đường hình thành định lí (con đường suy diễn, con đường có khâu suy đoán) Trong mỗi con đường đó, giáo viên có thể thiết kế PHT một cách thích hợp nhằm hỗ trợ học sinh tiếp cận, hình thành tri thức mới Mỗi con đường không chỉ sử dụng với một PHT, mà có thể sử
Trang 39dụng nhiều PHT trong một chuỗi những hoạt động liên tiếp theo dụng ý của giáo viên.
Biện pháp 1 Đưa các ứng dụng của công nghệ thông tin trong thiết kế và trình chiếu phiếu học tập
Công nghệ thông tin là một công cụ có vai trò to lớn trong mọi ngành khoa học hiện nay Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy toán có tác dụng rất lớn, đặc biệt trong việc thiết kế và sử dụng PHT bởi những ưu điểm sau đây
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết kế PHT sẽ làm cho nội dung được phong phú, đa dạng hơn, hình thức hấp dẫn và sinh động
- Công nghệ thông tin có thể giúp cho giáo viên cung cấp được nhiều kiến thức thực tế mà sách giáo khoa không truyền tải hết được
- Giáo viên có thể lưu lại, cập nhật thêm, chỉnh sửa để làm cho PHT ngày càng hoàn thiện và chất lượng hơn
- Dựa vào công nghệ thông tin, các giáo viên có thể trao đổi thông tin, chia sẽ kinh nghiệm với nhau một cách thuận lợi
- Để thiết kế PHT, giáo viên có thể sử dụng phần mềm Microsoft office Word và đểtrình chiếu PHT hoặc đáp án, giáo viên sử dụng phần mềm
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên soạn và lưu hệ thống PHT theo từng bài, chương, lớp và khối để tiện trong việc sử dụng
Biện pháp 2: Tận dụng các cơ sở vật chất có sẵn
Một trong những khó khăn của giáo viên trong quá trình thiết kế và sử dụng PHT là phải đầu tư nhiều công sức và tốn kém về mặt tài chính Thu nhập của giáo viên còn rất hạn chế, do vậy việc tiết kiệm là hết sức cần thiết Để khắc phục, giáo viên có thể tận dụng những vật dụng, máy móc có sẵn, rẻ tiền để thiết kế PHT như: Máy tính, máy in của nhà trường, mặt sau các tờ lịch, các loại giấy in một mặt, tranh ảnh
Đối với các giáo viên có năng khiếu vẽ tranh, có thể dùng màu vẽ phác họa hình ảnh trực quan, đề bài tập trên khổ giấy lớn thực hiện thiết kế PHT treo dán
Trang 40bảng từ, khi quan sát HS bị thu hút bởi sắc màu, biểu tượng vui nhộn, giải tỏa tâm
lý miễn cưỡng thực hiện nhiệm vụ trên PHT… Đây cũng là phương án linh động vàhiệu quả để giáo viên lựa chọn phòng trường hợp mất điện, không thể thực hiện theo KHBD trình chiếu trên máy chiếu, TV
Biện pháp 3: Tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của dạy học nói chung, đặc biệt là dạy học có sửdụng PHT Trong giờ học, giáo viên phải gợi mở, kích thích tính chủ động, tích cựchọc tập của học sinhtrong suốt quá trình diễn ra tiết học cũng như các giai đoạn sử dụng PHT
Ngay từ thời điểm chuẩn bị phát PHT, giáo viên phải nêu vấn đề, kích thích khả năng tìm hiểu, sáng tạo của học sinh, đồng thời giao nhiệm vụ cho học sinh một cách đầy đủ, rõ ràng theo chiều hướng từ dễ đến khó Khi học sinh đã nhận PHT, giáo viên phải tích cực kiểm tra việc hoàn thành nội dung PHT thường xuyên,nhận những thông tin phản hồi từ phía học sinh để có hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ
Biện pháp 4: Sử dụng phiếu học tập phù hợp với từng đối tượng học sinh
Một trong những khó khăn khi sử dụng PHT là trình độ của học sinh không đồng đều Chính điều này làm cho nhiều giáo viên chưa thật mạnh dạn sử dụng PHT trong quá trình dạy học Để PHT phù hợp với những học sinh có trình độ khácnhau thì giáo viên phải khéo léo đưa ra những câu hỏi thích hợp Trước hết giáo viên phải nắm rõ từng đối tượng học sinh mà mình dạy, từ đó lựa chọn nội dung kiến thức để đưa vào PHT cho phù hợp
- Đối với học sinh yếu, kém: Trong PHT phải chứa những câu hỏi về những kiến thức cơ bản, cốt lõi và thiết yếu để học sinh nắm được những kiến thức cơ bản của bài học Tránh tuyệt đối việc đưa ra những kiến thức khó, rườm rà, phức tạp và không được tham kiến thức Việc trình bày PHT phải đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, cố gắng khơi dậy sự tự tin trong mỗi học sinh để khuyến khích các em trả lời và tích cực trong học tập