Đề Quyền hưởng dụng theo quy định của bộ luật dân sự 2015 Mục Lục A MỞ ĐẦU 1 B NỘI DUNG 1 I Lý luận chung 1 1 Quan hệ tài sản 1 2 Quan hệ vật quyền và quyền khác đối với tài sản 2 II Quyền hưởng dụng.
Trang 1Đề: Quyền hưởng dụng theo quy định của bộ luật dân sự 2015.
M c L c ục Lục ục Lục
A MỞ ĐẦU 1
B.NỘI DUNG 1
I Lý luận chung 1
1.Quan hệ tài sản 1
2.Quan hệ vật quyền và quyền khác đối với tài sản 2
II Quyền hưởng dụng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 2
1.Khái niệm 2
2.Đối tượng, chủ thể 3
3.Căn cứ xác lập 3
4.Hiệu lực 3
5.Thời hạn 3
6.Quyền và nghĩa vụ của người hưởng dụng 4
7.Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu 5
8.Chấm dứt và hoàn trả tài sản khi chấm dứt 5
III So sánh quyền hưởng dụng với các chế định khác 6
1.Quyền hưởng dụng và quyền sử dụng của chủ sở hữu 6
2.Quyền hưởng dụng và hợp đồng thuê khoán tài sản 6
IV Liên hệ thực tiễn 6
1.Thực trạng 6
2.Một số kiến nghị hoàn thiện 6
C KẾT LUẬN 7
Tài liệu tham khảo
C.Kết Luận 7
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội bùng nổ về khoa học công nghệ như hiện nay thì tài sản là bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống của con người.Con người chúng ta muốn tồn tại thì bằng cách nay hay cách khác để đáp ứng được những nhu cầu của bản thân thì đó chính là tài sản Muốn cho người có vật đáp ứng được nhu cầu của mình thì nhà nước bằng pháp luật quy định cho họ những quyền nhất định đối với tài sản của mình Chủ sở hữu cần được công nhận và tôn trọng về quyền sở hữu của mình
và được pháp luật bảo đảm, bảo vệ và tôn trọng Đó là quyền sở hữu- là quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của một người đối với tài sản Tuy nhiền, xã hội ngày càng phát triển mức sống của con người ngày càng cao đời sống của con người ngày càng được cải thiện, nâng cao và thay đổi cho nên không phải người nào cũng có mọi tài sản cũng như điều kiện để sử dụng bình thường tài sản của mình để đáp ứng các nhu cầu của bản thân Do vậy nhu cầu sử dụng tài sản ngày càng nhiều nên các vấn đề của quyền đối với tài sản được nãy sinh, kéo theo đó là các quy định mới được cập nhật để điều chỉnh cho chuẩn mực phù hợp hơn Ở đây các quy định đó chính là các điều luật về các quyền khác đối với tài sản, được quy định lần đầu tiên ở bộ luật dân sự 2015 Các quy định bảo vệ các quyền khác đối với tài sản mà chủ thể không phải là chủ sở hữu đó chính là quyền hưởng dụng, quyền đối với bất động sản liền kề và quyền bề mặt, Việc một sung này có ý nghĩa khá quan trọng trong đời sống xã hội bay giờ phù hợp với Hiến pháp 2013 vàhoàn thành thể chế kinh tế thúc đẩy giao lưu đân sự trên cơ sỏ tôn trọng các quy luật trên thị trường Hiện tại bộ luật dân sự 2015 đã có hiệu lực tuy nhiên thời gian
có hiệu lực không phải là quá dài nên những chế định này chưa được phổ biến rộngrãi,chưa có sự nghiên cứu sâu rộng và những bất cập hạn chế nhất định trong thực
Trang 3tiễn Vậy nên nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề của “các quyền khác đối với tài sản” là vô cùng cần thiết và đảm bảo cho sự nhận thức đây đủ về pháp luật
và áp dụng pháp luật có hiệu quả nhưng do thời gian và nội dung có hạn nên em xin phép chỉ nghiên cứu tìm hiểu một trong ba quyền đó là “Quyền hưởng dụng theo quy định của bộ luật dân sự 2015”
tự chịu trách nhiệm (sau đây gọi chung là quan hệ dân sự)” Từ đó, có thể khẳng định đối tượng điều chỉnh của luật dân sự bao gồm những nhóm quan hệ tài sản và những nhóm quan hệ nhân thân
Quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể với nhau trên
cơ sỏ một lợi ích tinh thần Quan hệ tài sản là quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủthể với nhau trên cơ sở một hoặc các bên hướng tới một lợi ích vật chất nhất định Quan hệ tài sản là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của luật dân sự, quan hệ tài sản baogiờ cũng gắn liền với 1 tài sản và 2 khái niệm này cũng có mối liên quan chặt chẽ với nhau
Như vậy, trước khi tìm hiểu rõ hơn về quan hệ tài sản ta cần biết tài sản là gì? Theo khoản 1 điều 105 bộ luật dân sự 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.”
Quan hệ tài sản do luật dân sự điều chỉnh được chia thành 2 loại cơ bản là quan hệ vật quyền và quan hệ trái quyền
Trang 4Quan hệ vật quyền là quan hệ mà chủ thể trực tiếp tác động lên tài sản, thực hiện trực tiếp tức thì mà không cần vai trò trung gian của một đối tượng khác Ví
dụ : Chủ sở hữu của 1 ngôi nhà hoàn toàn có quyền và có thể tự mình sử dụng ngôi nhà đó, hoặc cho mượn, cho thuê mà không cần đến sự cho phép của bất kì ai khácthì chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt ngôi nhà đó
Quan hệ trái quyền là quan hệ mà chủ thể yêu cầu 1 chủ thể khác thực hiện hành vi nhất định để thu được lợi ích cho mình Tức là để quan hệ trái quyền được diễn ra một cách hoàn hảo thì nhất thiết phải có sự hợp tác của cả chủ thể yêu cầu
và chủ thể được yêu cầu thực hiện hành vi Ví dụ: Miếng đất của nhà ông A bị bao bọc bởi một miếng đất của hàng xóm B thì ông A có quyền yêu cầu hàng xóm phải cho con đường để mình đi ra, tức là mình có quyền nhất định trên mảnh đất của hàng xóm và hàng xóm sẽ tự hạn chế quyền của mình (Vật quyền hạn chế- trái quyền)
2 Quan hệ vật quyền và quyền khác đối với tài sản
Khái niệm vật quyền đã tồn tại từ thời kỳ La Mã (cách đây hơn 1500 năm) Tại
Bộ luật Napoléon (1804) - BLDS đầu tiên trên thế giới thì phần thứ hai đã là vật quyền (quyền trên vật) Đến thời hiện đại, BLDS của Nhật Bản cũng quy định vật quyền tại phần hai; BLDS của Đức, quy định chung về vật quyền tại phần một Tóm lại, đã có BLDS, thì không thể thiếu bộ phận thiết thân của nó: Vật quyền Việt Nam cũng theo xu hướng như vậy Vật quyền là một sản phẩm tất yếu của lịch
sử chứ không phải tư duy ngẫu hứng của các chuyên gia Người chắp bút dự thảo cho khái niệm vật quyền – GS,TS Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân
sự - kinh tế (Bộ Tư pháp) hiện nay là nguyên Vụ trưởng Vụ pháp luật dân sự-kinh
tế (bộ Tư Pháp) đã khẳng định: Lần này, nếu không sử dụng lý thuyết vật quyền, trái quyền thì BLDS sẽ không hoàn chỉnh
Cho nên việc áp dụng lí thuyết vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam là thực sự cần thiết bởi: Chúng giúp giúp chúng ta có cơ sở khoa học vững chắc để xác định đúng bản chất pháp lý của những quyền đối với tài sản đã và đang tồn tại
Trang 5trong nền kinh tế nước ta, khắc phục những tồn tại hạn chế trong các quy đinh hiện hành liên quan đến quyền sở hữu, trên cơ sở đó xây dựng được một hệ thống vật quyền phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Chúng còn giúp chúng ta xây dựng được một hệ thống các quyền đối với vật một cách đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý cho viêc khai thác một cách hiệu quả các nguồn tài sản, tài nguyên thiên nhiên của đất nước, qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Quan hệ vật quyền có tám đặc điểm nổi bật là tính đối vật; tính tuyệt đối; tính đeo đuổi vật; tính không xác định giới hạn cụ thể của vật quyền; việc thực hiện vật quyền không làm chấm dứt vật quyền; tính dịch chuyển được; vật quyền cho phép người có quyền được ưu tiên thực hiện quyền của mình đối với tài sản và tính lợi ích.
Dựa vào trình tự xác lập vật quyền, vật quyền được chia làm 2 loại đó là vật quyền gốc và vật quyền phái sinh Vật quyền gốc chỉ bao gồm quyền sở hữu, chính
là quyền của chủ sở hữu đối với tài sản; vật quyền phái sinh bao gồm quyền hưởng dụng, quyền bề mặt và quyền đối với bất động sản liền kề, chính là quyền của chủ thể khác đối với tài sản vì vậy chúng được gọi chung là quyền khác đối với tài sản.Quyền khác đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác (khoản 1 điều 159 BLDS 2015), bao gồm:quyền hưởng dụng, quyền bề mặt và quyền đối với bất động sản liền kề (quyền địa dịch) Quyền khác đối với tài sản được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu tài sản của chủ thể khác là quyền gần nhất đối với tài sản – quyền “ trực tiếp nắm giữ chi phối tài sản”.; do đó trong thòi hạn có hiệu lực của quyền thì quyền khác đối với tàisản còn mạnh hơn cả quyền của chủ sở hữu đối với tài sản theo nguyên lý “sức mạnh luôn thuộc về người nắm giữ tài sản trong tay”
Các loại vật quyền hạn chế có nhiều điểm khác nhau, nhưng đều có chung các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đều có tính phái sinh từ một quyền sở hữu nào đó Tức là, trước mộtvật quyền hạn chế bao giờ cũng có một vật quyền gốc là quyền sở hữu
Trang 6Thứ hai, nội dung của các quyền khác đối với tài sản mang tính không đầy đủ, không trọn vẹn, chính vì vậy người ta còn gọi quyền này là vật quyền hạn chế.Thứ ba, nội dung của các vật quyền hạn chế khác nhau là khác nhau
Ví dụ: vật quyền địa dịch chỉ có một quyền là quyền sử dụng; vật quyền
hưởng dụng có hai quyền là quyền chiếm hữu và quyền sử dụng; vật quyền bề mặt
có 3 quyền là quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt nhưng việc thực hiện các quyền này là có điều kiện và có mức độ, do đó, tuy có đủ ba quyền năng như quyền
sở hữu nhưng các vật quyền này vẫn phải gọi là vật quyền hạn chế
II Quyền hưởng dụng theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
1.Khái niệm
Được quy định tại 257 Bộ luật Dân sự 2015: “Quyền hưởng dụng là quyền của chủ thể được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác trong một thời hạn nhất định” Từ thời La Mã
cổ đại người ta đã quan niệm quyền hưởng dụng là một vật quyền có thời hạn nhất định trên tài sản của người khác Nó bao gồm quyền được khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức từ vật thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác Một chủ thể là chủ sở hữu của tài sản thì người đó có các quyền: Quyền chiếm giữ, quyền sử dụng
và quyền định đoạt đối với tài sản đó Nếu đối tượng của quyền hưởng dụng là tài sản thì nghĩa là chủ sở hữu đối với tài sản đó chỉ giữ lại quyền định đoạt, còn quyền
sử dụng và hưởng dụng hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó thuộc về quyền hưởng dụng
Dĩ nhiên, việc chiếm hữu đối với tài sản là trạng thái thực tế để thực hiện quyền này Quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc khai thác tài sản Nhưng việc khai thác công dụng và hưởng hoa lợi, lợi tức đó chỉ diễn ra trong một thời hạn nhất định, thời hạn đó có thể do luật định, do thỏa thuận hoặc do pháp lý đơn phương của chủ thể Ví dụ anh A trao cho anh B quyền hưởng dụng một thửa ruộng tức là trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận thì anh B có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi lợi tức từ tài sản đó
2 Đối tượng, chủ thể
Trang 7Thông thường khi cho phép người khác khai thác công dụng đối với tài sản của mình thì đối tượng của giao dịch sẽ là vật không tiêu hao(tài sản qua nhiều lần
sử dụng không mất đi trạng thái vật chất ban đầu), ví dụ: ngôi nhà, chiếc điện thoại,đất đai… Vì nếu là vật tiêu hao(tài sản qua một vài lần sử dụng sẽ làm mất đi trạng thái ban đầu bị hao mòn hoặc bị thay đổi chất), ví dụ:thức ăn, nước uống …sau khi cho phép người khác khai thác công dụng thì cũng đồng nghĩa với việc tài sản đó sẽ
bị tiêu hao dần cho đến khi không còn tồn tại hay không giữ được tính chất, hình dáng và tính năng sử dụng ban đầu của nó Nhưng do pháp luật chưa có quy định
về vấn đề này nên có thể hiểu rằng đối tượng áp dụng của quyền hưởng dụng bao gồm cả vật tiêu hao và vật không tiêu hao Tuy nhiên, theo Khoản 5 Điều 262 về Nghĩa vụ của người hưởng dụng: “Hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu khi hết thời hạn hưởng dụng” và theo quy định về khái niệm quyền hưởng dụng thì người hưởng dụng không có quyền định đoạt đối với tài sản Do đó, đối tượng của quyền hưởng dụng chỉ có thể là vật không tiêu hao thì mới có thể hoàn trả cho chủ sở hữu và không vi phạm quyền định đoạt đối với tài sản không thuộc sở hữu của mình
Bất cứ một giao dịch dân sự nào cũng đểu phải có chủ thể thực hiện.Chủ thể của quyền hưởng dụng có thể là cá nhân và pháp nhân được xác lập theo thỏa thuậnhoặc theo di chúc; tuy nhiên nếu căn cứ xác lập là theo quy định của luật thì tới nayvẫn chưa xác định được rõ ràng chủ thể của quyền hưởng dụng vì pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể, rõ ràng về chủ thể của quyền hưởng dụng
3 Căn cứ xác lập
Căn cứ xác lập quyền hưởng dụng là những sự kiện xảy ra có thực mà theo quy định của pháp luật thì quyền hưởng dụng được xác lập trên tài sản của người khác cho một chủ thể nhất định.Để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các tài sản, các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các chủ thể không phải là chủ sở hữu đối với tài sản của chủ thể khác, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định căn cứ xác lập quyền hưởng dụng tại Điều 258 như sau:
Trang 8“Quyền hưởng dụng được xác lập theo quy định của luật, theo thỏa thuận hoặc theo
di chúc”
Thứ nhất, theo quy định của luật Là trường hợp luật quy định cho một chủ thểtrong những điều kiên nhất định có quyền hưởng dụng đối với tài sản của người khác Vì quyền hưởng dụng là một quyền mới và thời gian có hiệu lực chưa dài nênhiện tại vẫn chưa ghi nhận một văn bản quy phạm pháp luật quy định về căn cứ xáclập này Tuy nhiên có trường hợp quyền sử dụng đất – một loại quyền đặc biệt của quyền khác đối với tài sản có thể xem như là một dạng đặc biệt của quyền hưởng dụng
Thứ hai, theo thỏa thuận Hai bên: bên cho hưởng dụng và bên hưởng dụng sẽ
tự thỏa thuận với nhau(trên tinh thần tự nguyện,không vi phạm điều cấm của luật
và trái đạo đức xã hội) về việc hưởng dụng dựa trên pháp luật và việc giao dịch này
có phải là giao dịch có đền bù hay không cũng tùy quyết định thỏa thuận của hai bên Ví dụ: ông A thỏa thuận cho ông B sử dụng và hưởng hoa lợi một mảnh đất trồng rau muống trong 2 năm
Thứ ba, theo di chúc Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân, được hình thành bằng ý chí đơn phương của người để lại di sản thừa kế, là một bên chủ thể trong giao dịch dân sự về thừa kế, qua đó người lập di chúc định đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người hưởng di sản để xác lập quyền sở hữu cho
họ Pháp luật tôn trọng ý chí của chủ thể trong trường hợp ý chí đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội, khi đó căn cứ xác lập và thực hiện quyền hưởng dụng sẽ được thực hiện theo di chúc Vi dụ ông A lập di chúc để lại ngôi nhà riêng cho con trai là anh B hưởng thừa kế tuy nhiên cho chị C người hàng xóm được quyền
hưởng dụng ngôi nhà đó trong 5 năm
4 Hiệu lực
Hiệu lực của quyền hưởng dụng là quyền được khai thác hưởng hoa lợi, lợi tứcmột cách hợp pháp của người hưởng dụng Hiệu lực này được quy định tại Điều
259 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể:
Trang 9“Quyền hưởng dụng được xác lập từ thời điểm nhận chuyển giao tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
Quyền hưởng dụng đã được xác lập có hiệu lực đối với mọi cá nhân, pháp nhân, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”
Để thực hiện việc khai thác công dụng của tài sản, chủ thể thực hiện phải thực
tế chiếm hữu tài sản đó Cho nên, thời điểm xác lập quyền hưởng dụng là thời điểmbên được hưởng quyền nhận được tài sản, không phải là thời điểm kí thỏa thuận hay thời điểm mở di chúc.Tuy nhiên, nếu các bên có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định thì thời điểm xác lập quyền hưởng dụng sẽ phụ thuộc vào những
sự kiện tương xứng Sau khi quyền hưởng dụng xác lập thì nó có hiệu lực với mọi
cá nhân, tuy nhiên cần phải hiểu cá nhân này phải là một cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Vì giao dịch xác lập quyền hưởng dụng là giao dịch dân sự thì
nó phải tuân thủ mọi quy định về chủ thể như những giao dịch dân sự khác Quyền hưởng dụng khi đã xác lập cho các cá nhân, pháp nhân sẽ hình thành các biện pháp bảo vệ cho loại quyền này bằng công cụ pháp lý Tuy nhiên vẫn có thể có trường hợp ngoại lệ nếu pháp luật có quy định khác
5 Thời hạn
Thời hạn hưởng dụng là khoảng thời gian mà người hưởng dụng có quyền khaithác, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản Trong thời hạn hưởng dụng, chủ sở hữu không được sử dụng tài sản và không được thu bất kì lợi ích vật chất nào từ người hưởng dụng
Theo Điều 260 Bộ luật dân sự 2015:
“1 Thời hạn của quyền hưởng dụng do các bên thỏa thuận hoặc do luật quy định nhưng tối đa đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên nếu người hưởng dụng là cá nhân và đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa 30 năm nếu người hưởng dụng đầu tiên là pháp nhân
2 Người hưởng dụng có quyền cho thuê quyền hưởng dụng trong thời hạn quyđịnh tại khoản 1 Điều này”
Trang 10Khi củ sở hữu đã trao quyền hưởng dụng cho một người nào đó trên tài sản của bản thân thì chủ sở hữu đã bị giảm quyền nhưng nó vẫn quyền sở hữu vĩnh viễn Như vậy thời hạn hưởng dụng sẽ do các bên tự thỏa thuận với nhau dựa trên quy định của luật hoặc do luật có quy định Nhưng đối với cá nhân thì thời hạn hưởng dụng tối đa là đến hết cuộc đời của người hưởng dụng đầu tiên, kể cả trườnghợp quyền hưởng dụng được chuyển giao cho người khác tuy nhiên có trường hợp nhiều cá nhân được hưởng dụng trên một tài sản thì thời gian đời người được xác định theo người hưởng dụng đầu tiên Đối với pháp nhân là đến khi pháp nhân chấm dứt tồn tại nhưng tối đa không quá 30 năm; cũng giống như với cá nhân, nếu quyền hưởng dụng được chuyển giao thì thời gian pháp nhân sau hưởng dụng cũng chỉ trong thời gian là 30 năm
Cũng nằm trong quy định về thời hạn của quyền hưởng dụng, pháp luật cho phép người hưởng dụng cho thuê quyền hưởng dụng.Về nội dung thì quyền hưởng dụng sẽ yếu hơn quyền sở hữu nhưng cơ bản thì cao hơn hơn quyền sử dụng trong hợp đồng thuê,mượn tài sản.Người hưởng dụng có quyền tự mình hoặc cho phép người khác hưởng quyền hưởng dụng mà không cần có sự đồng ý của chủ sở hữu Cần phân biệt việc cho thuê quyền hưởng dụng với cho phép người khác khai thác,
sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng
Ví dụ: Anh A được hưởng dụng mảnh đất của cô B, vì cô B và anh A không
có thỏa thuận nào ràng buộc nên anh A đã cho phép chị C là người yêu của anh cùng trồng rau nuôi cá trên mảnh đất của mình Đây là trường hợp cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối tượng của quyền hưởng dụng Tuy nhiên, anh A được cô B cho hưởng dụng mảnh đất mà anh ấy không có nhu cầu sử dụng, anh ấy cho chị C thuê lại mảnh đất để trồng rau, nuôi cá trong thời gian anh A được hưởng quyền; thì đây là trường hợp cho thuê quyền hưởng dụng
để thu được một khoản lợi tức nhất định