MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tàiLogistics là hoạt động tối ưu hóa việc lưu trữ, vận chuyển hai chiều các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin... từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các khâu của quá trình sản xuất, các nhà xưởng, các xí nghiệp, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến người tiêu dùng. Thực chất logistics là các hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất vàlưu thông hàng hóa, ra đời và gắn liền với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp từ hàng trăm năm nay. Logisticsngày càng phát triển với trình độ cao hơn, gồm nhiều hoạt động đa dạng hơn, phức tạp hơn, được chuyên môn hóa thành một ngành dịch vụ độc lập và nổi lên như là một vấn đề mới của nền kinh tế thế giới thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp và các chính phủ từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX cho đến nay. Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông và phân phối. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm 10% - 15% GDP ở hầu hết các nước tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương. Vì vậy, cải thiện hiệu quả hoạt động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia. Phát triển hệ thống logistics sẽ đảm bảo giải quyết hợp lý các vấn đề về giao thông vận tải, dịch vụ kho bãi, trung chuyển, hệ thống kiểm soát giá cả và tăng khả năng cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế. Đối với doanh nghiệp, logistics giúp các nhà sản xuất tối ưu hóa mọi thao tác để tiết kiệm nguồn lực, chi phí và thời gian. Hơn nữa, trong quá trình cạnh tranh giữa những người sản xuất, khi máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và phổ cập, người có chi phí cho hoạt động logistics thấp nhất và thỏa mãn được nhu cầu khách hàng nhanh nhất sẽ là người chiếm ưu thế trong cạnh tranh. Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hóa, việc sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm có liên quan đến nhiều quốc gia xa cách về không gian và thời gian đã làm cho quá trình sản xuất và sự vận động của hàng hóa trở nên phong phú và phức tạp hơn thì hoạt động logistics càng trở nên quan trọng, nó trở thành mối liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu.Vì thế, các nhà quản lý coi logistics như là một công cụ, phương tiện để kết nối hiệu quả các lĩnh vực khác khau trong chiến lược của doanh nghiệp.Từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã chủ động và tích cực từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam nhưng nó cũng tạo ra rất nhiều thách thức. Với áp lực cạnh tranh ngày cànggay gắt, không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả trên sân nhà. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế, cắt giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh, Việt Nam cần phải khai thác và phát triển logistics.Tuy nhiên, logistics còn là lĩnh vực khá mới mẻ đối với Việt Nam: những công ty có tên gọi Logistics mới chỉ xuất hiện vào năm 2007 và ngay cả cách hiểu về logistics vẫn còn chưa thống nhất. Hoạt động logistics chưa hiệu quả, nhiều bất cập và dịch vụ logistics mới phát triển ở trình độ thấp. Trong khi chi phí logistics so với GDP của Mỹ chỉ là 7,7%; của Singapore là 8%; các nước châu Âu khoảng 10%; Nhật – 11%; Trung Quốc – 18%, thì của Việt Nam chiếm tới 25% GDP [14,tr.86], là một tỉ lệ quá cao. Chi phí logistics cao là một nguyên nhân quan trọng làm giảm sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nói riêng và cản trở tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam, nói chung. Bởi vậy, nếu không chú trọng phát triển logistics, Việt Nam sẽ không chỉ tổn thất về lợi ích kinh tế mà các ngành sản xuất trong nước còn có nguy cơ khó có thể tồn tại, phát triển khi sản phẩm trong nước không thể cạnh tranh với sản phẩm của các công ty nước ngoài. Vì vậy, bài toán xây dựng và phát triển hệ thống logistics ở Việt Nam thực sự cần có lời giải đáp. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, do đó, lời giải cho bài toán này dường như vẫn còn bỏ ngỏ.Muốn có giải pháp xác đáng, tối ưu cho bài toán trên, ngoài việc nghiên cứu thực trạng phát triển của logistics ở Việt Nam, tìm ra những hạn chế, những vấn đề còn tồn tại để khắc phục, Việt Nam cần phải tham khảo kinh nghiệm phát triển logistics của những nước đi trước, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN- là những quốc gia không chỉ có nhiều nét tương đồng mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình phát triển logistics ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và toàn cầu. Đề tài lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm phát triển logistics ở Singapore, Malaysia và Thái Lan, là những nước có sự phát triển logistics khá đa dạng và ở các nấc thang phát triển khác nhau từ kiến tạo đến hoàn thiện và phát triển bền vững. Việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển logistics từ các quốc gia này có thể giúp Việt Nam có được định hướng và giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển logistics quốc gia trong quá trình mở cửa nền kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-NCS VŨ THỊ QUẾ ANH
PHÁT TRIỂNLOGISTICS Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
-NCS VŨ THỊ QUẾ ANH
PHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á - BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1 GS TS Nguyễn Xuân Thắng
2 PGS TS Phạm Thị Thanh Bình
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu nêu trong luận án là trung thựcvà có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận án
Vũ Thị Quế Anh
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 1
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài Luận án 3
3.Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của Luận án 10
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5.Phương pháp nghiên cứu 12
6.Đóng góp mới của Luận án .12
7.Kết cấu nội dung Luận án 13
CHƯƠNG 1 14
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LOGISTICS 14
VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS QUỐC GIA 14
1.1.Một số vấn đề lý luận cơ bản về logistics 14
1.2.Sự hình thành và phát triển ngành dịch vụ logistics trong nền kinh tế 35
1.3.Phát triển logistics quốc gia 38
CHƯƠNG 2 55
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở SINGAPORE, MALAYSIA VÀ THÁI LAN 55
2.1.Thực trạng phát triển logistics ở Singapore 55
2.2.Thực trạng phát triển logistics ở Malaysia 69
2.3.Thực trạng phát triển logistics ở Thái Lan 85
2.4.Nguyên nhân của những thành công và hạn chế trong phát triển logistics tại Singapore, Malaysia và Thái Lan 102
CHƯƠNG 3 112
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ĐỀ XUẤT NHẰMPHÁT TRIỂN LOGISTICS Ở VIỆT NAM 112
3.1.Thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam 112
3.2.Bài học rút ra cho Việt Nam từ kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore, Malaysia, Thái Lan 130
3.3.Định hướng phát triển logistics ở Việt Nam 143
3.4.Một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam 146
KẾT LUẬN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU BẢNG 2.1: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA SINGAPORE 56 BẢNG 2.2: SO SÁNH ĐIỂM SỐ HẠ TẦNG CƠ SỞ CỦA SINGAPORE VÀ MỘT
SỐ NƯỚC TRONG ĐÁNH GIÁ LPI CỦA WORLD BANK 59 BẢNG 2.3: ĐÁNH GIÁ VỀ CHI PHÍ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HẠ TẦNG CƠ SỞ LOGISTICS CỦA SINGAPORE 60 BẢNG 2.4: ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG TRUY XUẤT ĐƠN HÀNG CỦA SINGAPORE 67 BẢNG 2.5: CHỈ SỐ LPI CỦA SINGAPORE CÁC NĂM 2007, 2010 VÀ 2012 69 BẢNG 2.6: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA MALAYSIA 70 BẢNG 2.7: SO SÁNH SỰ THAY ĐỔI MỨC PHÍ HẠ TẦNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA MALAYSIA GIAI ĐOẠN 2007-2012 76 BẢNG 2.8: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HẠ TẦNG CƠ SỞ CỦA MALAYSIA 76 BẢNG 2.9: ĐÁNH GIÁ NHỮNG THAY ĐỔI TRONG MÔI TRƯỜNG LOGISTICS
VÀ TÍNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC QUY TRÌNH LOGISTICS CỦA MALAYSIA 79 BẢNG 2.10: KHẢ NĂNG CUNG ỨNG CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ LOGISTICS 3PL Ở MALAYSIA (2004) 80 BẢNG 2.11: NHU CẦU THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ LOGISTICS 3PL Ở MALAYSIA (2004) 82 BẢNG 2.12: SO SÁNH CHỈ SỐ NĂNG LỰC LPI CỦA MALAYSIA VỚI SINGAPORE VÀ THÁI LAN 83 BẢNG 2.13: MỘT SỐ CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ DỊCH VỤ LOGISTICS MALAYSIA, 2007-2012 84 BẢNG 2.14: MỘT SỐ CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CỦA THÁI LAN 86 BẢNG 2.15: TỔNG ĐẦU TƯ CỦA THÁI LAN PHÂN BỔ THEO LĨNH VỰC, GIAI ĐOẠN 2005-2009 87 BẢNG 2.16: NGUỒN HUY ĐỘNG VỐN CHO ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC, 2005- 2009 88 BẢNG 2.17: ĐÁNH GIÁ VỀ CHI PHÍ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HẠ TẦNG CƠ
SỞ CỦA THÁI LAN 91 BẢNG 2.18: THỐNG KÊ SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI VÀ INTERNET CỦA THÁI LAN NĂM 2010 92
Trang 6BẢNG 2.19: KẾT QUẢ KHẢO SÁT SỬ DỤNG INTERNET TRONG CÁC NGÀNH KINH TẾ THÁI LAN, 2010 93 BẢNG 2.20: ĐÁNH GIÁ VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN, THÔNG QUAN CỦA THÁI LAN, 2010-2012 96 BẢNG 2.21: SO SÁNH THỦ TỤC HẢI QUAN, THÔNG QUAN CỦA THÁI LAN VỚI VIỆT NAM - SINGPORE – MALAYSIA, 2012 97 BẢNG 2.22: TỶ TRỌNG CHI PHÍ LOGISTICS TRONG GDP CỦA THÁI LAN, 2001-2010 99 BẢNG 2.23: CHỈ SỐ LPI CỦA THÁI LAN CÁC NĂM 2007, 2010 VÀ 2012 100 BẢNG 3.1: TRỌNG TẢI TÀU CHO PHÉP VÀ NĂNG LỰC XẾP DỠ CỦA 5 CẢNG LỚN NHẤT VIỆT NAM, NĂM 2011 114 BẢNG 3.2:KHỐI LƯỢNG HÀNG TIẾP NHẬN Ở MỘT SỐ CẢNG CHÂU Á, NĂM 2008-2009 116 BẢNG 3.3: SO SÁNH CHI PHÍ, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ HẠ TẦNG CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC, NĂM 2012 120 BẢNG 3.4: SO SÁNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC QUY TRÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM VỚI SINGAPORE, MALAYSIA VÀ THÁI LAN, NĂM 2012 123
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ
HÌNH 1.1: VAI TRÒ CỦA LOGISTICS TRONG CÁC DOANH NGHIỆP QUY MÔ
LỚN VÀ TRUNG BÌNH Ở PHẦN LAN (2009) 29
HÌNH 1.2: HỆ THỐNG LOGISTICS QUỐC GIA 38
BIỂU ĐỒ 2.1 - CHỈ SỐ LPI SINGAPORE, 2012 69
BIỂU ĐỒ 2.3 - CHỈ SỐ LPI CỦA MALAYSIA 2007 - 2010 – 2012 83
BIỂU ĐỒ 2.4: CHỈ SỐ LPI THÁI LAN 2007 - 2010 – 2012 101
BIỂU ĐỒ 3.1: SO SÁNH CHỈ SỐ LPI 2012 CỦA VIỆT NAM - SINGAPORE - THÁI LAN - MALAYSIA 128
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1PL : The First Party Logistics Logistics bên thứ nhất
2PL : The Second Party Logistics Logistics bên thứ hai
3PL : The Third Party Logistics Logistics bên thứ ba
4PL : Fourth Party Logistics Logistics bên thứ tư
ADB : Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN : Association of South East Asia
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CIF : Cost, Insurance and Freight Giá trên cơ sở incoterm bao gồm Giá + Vận
chuyển + Bảo hiểm trả tới điểm đến (Bên bán chịu các chi phí vận chuyển, bảo hiểm)DWT : Deadweight Tonnage Đơn vị quốc tế thể hiện trọng tải trong vận
chuyển (tàu thủy) tương đương 1 tấn
: E- Commerce Thương mại điện tử
EDI : Electronic Data Interchange Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử
: E – Logistics Logistics điện tử
FOB : Free On Board (Trước đây và
tại một số nơi vẫn hiểu là
Freight On Board với ý nghĩa
tương tự)
Giá giao hàng lên tàu (theo incoterm 2010), theo đó bên mua phải chịu chi phí vận chuyển, bảo hiểm
JIT : Just in time Giao hàng đúng thời điểm
GDP : Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội
ICD : Inland Clearance Depot Cảngthông quan nội địa (cảng cạn)
LPI : Logistics Performance Index Chỉ số hiệu quả logistics
LSP : Logistics service provider Nhà cung cấp dịch vụ logistics
MTO : Multimodal Transport Operator Người kinh doanh vận tải đa phương thức
PD : Physical Distribution Phân phối vật chất
TEU : Twenty-foot Equivalent Unit Đơn vị áp dụng trong vận tải container
1 TEU = dung tích một container tiêu chuẩn
có chiều dài 20 feet
SCM : Supply Chain Management Quản trị chuỗi cung ứng
SWOT : Strengths, Weaknesses,
Opportunities, Threats
Mô hình phân tích SWOT: Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức
WB : World Bank Ngân hàng thế giới
WTO : World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
WMS : Warehouse Management
System Hệ thống quản lý kho bãi
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Logistics là hoạt động tối ưu hóa việc lưu trữ, vận chuyển hai chiều các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các khâu của quá trình sản xuất, các nhà xưởng, các xí nghiệp, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến người tiêu dùng Thực chất logistics là các hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất vàlưu thông hàng hóa, ra đời và gắn liền với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp từ hàng trăm năm nay Logisticsngày càng phát triển với trình độ cao hơn, gồm nhiều hoạt động đa dạng hơn, phức tạp hơn, được chuyên môn hóa thành một ngành dịch
vụ độc lập và nổi lên như là một vấn đề mới của nền kinh tế thế giới thu hút sự quan tâm đặc biệt của các doanh nghiệp và các chính phủ từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX cho đến nay
Đối với nền kinh tế quốc dân, logistics đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong sản xuất, lưu thông và phân phối Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chỉ riêng hoạt động logistics đã chiếm 10% - 15% GDP ở hầu hết các nước tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á – Thái Bình Dương Vì vậy, cải thiện hiệu quả hoạt động logistics sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội cho mỗi quốc gia Phát triển hệ thống logistics sẽ đảm bảo giải quyết hợp lý các vấn đề về giao thông vận tải, dịch vụ kho bãi, trung chuyển, hệ thống kiểm soát giá cả và tăng khả năng cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế
Đối với doanh nghiệp, logistics giúp các nhà sản xuất tối ưu hóa mọi thao tác để tiết kiệm nguồn lực, chi phí và thời gian Hơn nữa, trong quá trình cạnh tranh giữa những người sản xuất, khi máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và phổ cập, người có chi phí cho hoạt động logistics thấp nhất và thỏa mãn được nhu cầu khách hàng nhanh nhất sẽ là người chiếm ưu thế trong cạnh tranh Đặc biệt, trong quá trình toàn cầu hóa, việc sản xuất, kinh doanh
và tiêu thụ sản phẩm có liên quan đến nhiều quốc gia xa cách về không gian và thời gian đã làm cho quá trình sản xuất và sự vận động của hàng hóa trở nên phong phú và phức tạp hơn thì hoạt động logistics càng trở nên quan trọng, nó trở thành mối liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu.Vì thế, các nhà quản lý coi
Trang 10logistics như là một công cụ, phương tiện để kết nối hiệu quả các lĩnh vực khác khau trong chiến lược của doanh nghiệp.
Từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã chủ động và tích cực từng bước hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam nhưng nó cũng tạo ra rất nhiều thách thức Với áp lực cạnh tranh ngày cànggay gắt, không chỉ trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả trên sân nhà Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế, cắt giảm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh, Việt Nam cần phải khai thác và phát triển logistics
Tuy nhiên, logistics còn là lĩnh vực khá mới mẻ đối với Việt Nam: những công ty có tên gọi Logistics mới chỉ xuất hiện vào năm 2007 và ngay cả cách hiểu
về logistics vẫn còn chưa thống nhất Hoạt động logistics chưa hiệu quả, nhiều bất cập và dịch vụ logistics mới phát triển ở trình độ thấp Trong khi chi phí logistics so với GDP của Mỹ chỉ là 7,7%; của Singapore là 8%; các nước châu Âu khoảng 10%; Nhật – 11%; Trung Quốc – 18%, thì của Việt Nam chiếm tới 25% GDP [14,tr.86], là một tỉ lệ quá cao Chi phí logistics cao là một nguyên nhân quan trọng làm giảm sức cạnh tranh
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nói riêng và cản trở tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam, nói chung Bởi vậy, nếu không chú trọng phát triển logistics, Việt Nam sẽ không chỉ tổn thất về lợi ích kinh tế mà các ngành sản xuất trong nước còn có nguy cơ khó có thể tồn tại, phát triển khi sản phẩm trong nước không thể cạnh tranh với sản phẩm của các công ty nước ngoài Vì vậy, bài toán xây dựng
và phát triển hệ thống logistics ở Việt Nam thực sự cần có lời giải đáp Tuy nhiên, hiện nay có rất ít nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, do đó, lời giải cho bài toán này dường như vẫn còn bỏ ngỏ
Muốn có giải pháp xác đáng, tối ưu cho bài toán trên, ngoài việc nghiên cứu thực trạng phát triển của logistics ở Việt Nam, tìm ra những hạn chế, những vấn đề còn tồn tại để khắc phục, Việt Nam cần phải tham khảo kinh nghiệm phát triển logistics của những nước đi trước, đặc biệt là các nước trong khu vực ASEAN- là những quốc gia không chỉ có nhiều nét tương đồng mà còn có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình phát triển logistics ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế khu vực và toàn cầu Đề tài lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm phát triển logistics
ở Singapore, Malaysia và Thái Lan, là những nước có sự phát triển logistics khá đa dạng và ở các nấc thang phát triển khác nhau từ kiến tạo đến hoàn thiện và phát
Trang 11triển bền vững Việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển logistics từ các quốc gia này có thể giúp Việt Nam có được định hướng và giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển logistics quốc gia trong quá trình mở cửa nền kinh tế Vì
vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Phát triển logistics ở một số nước Đông Nam Á - Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận
án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan
đến đề tài Luận án
Khoảng 20 năm trở lại đây, với vai trò ngày càng quan trọng trong việc quyết định khả năng cạnh tranh, Logistics đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trên thế giới, các nghiên cứu về logistics khá phong phú, liên quan đến nhiều khía cạnh của logistics vàđược thực hiện dưới nhiều góc độ khác nhau
Một số nghiên cứu chung về logistics tiêu biểu là:
Các tác giả Douglas M Lambert, James R Stock, Lisa M Ellram (1988)
trong công trình nghiên cứu “Fundermental of Logistics Management” đã trình bày những vấn đề lý luận nền tảng của quản trị logistics trong doanh nghiệp (khái niệm logistics, các khâu hoạt động của logistics liên quan đến dịch vụ khách hàng, mua sắm, gia công, quản lý tồn kho, đóng gói, vận chuyển) và đề cập đến vấn đề logistics toàn cầu khi doanh nghiệp thâm nhập thị trường nước ngoài, các vấn đề liên quan đến vận tải, tài chính, chiến lược, xây dựng, quản lý hệ thống thông tin
và tổ chức thực hiện có hiệu quả hoạt động logistics Nhóm tác giả Donald F Wood, Anthony Barone, Paul Murphy, Daniel L Wardlow (2002) trong công trình
“International Logistics”nghiên cứu về logistics quốc tế liên quan đến dịch chuyển hàng hóa giữa các bên ở hai hay nhiều quốc gia, phân tích lợi ích của chính phủ trong thương mại và vận tải quốc tế, lưu ý sự khác biệt quốc gia trong logistics quốc tế (khác biệt về quản lý, giá trị, thủ tục hải quan ) và đề cập đến các vấn đề liên quan đến hoạt động logistics quốc tế của doanh nghiệp: vận tải quốc tế, điều
khoản thanh toán, điều kiện bán và giao hàng, các kênh phân phối Tác giả James
S Keebler (1999) trong công trình “Keeping Score: Measuring the Business Value
of Logistics in the Supply Chain” đã đề cập đến những nhân tố cốt lõi của logisticsvi mô, đo lường giá trị những hiệu quả mà logistics mang lại cho doanh nghiệp thông qua Chỉ số hoạt động chủ yếu KPI (Key Performance Indicator)
Trang 12Các nghiên cứu chung về logistics chủ yếu được thực hiện dưới góc độ vi
mô luận giải những vấn đề liên quan đến logistics của doanh nghiệp như: các hoạt
động logistics của doanh nghiệp, kỹ thuật tác nghiệp một khâu hoặc các khâu của logistics, logistics doanh nghiệp khi thâm nhập thị trường nước ngoài, đo lường, tính toán chi phí và hiệu quả logistics,
Theo các nghiên cứu trên, logistics được quan niệm rất khác nhau và cho đến nay còn nhiều tranh cãi xung quanh việc định nghĩa khái niệm logistics Một trong những mục tiêu mà Luận án này hướng tới là, trên cơ sở tổng hợp, phân tích các định nghĩa logistics hiện có, chỉ ra một khái niệm chuẩn, tường minh, rõ ràng, chính xác, lột tả được nội hàm của khái niệm logistics và phù hợp với sự phát triển của logistics hiện nay Ngoài ra, các nghiên cứu trên đều đi đến thống nhất rằng
logistics có vai trò quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh (Ma Shou (1999), Donald F Wood, Anthony Barone, Paul Murphy, Daniel L Wardlow (2002)) và tăng thêm giá trị cho chuỗi cung ứng hoặc làm giảm chi phí (James S Keebler (1999), Edward Frazelle“Supply Chain Strategy” (2001) Trước đó, (1965) Peter
F Drucker đã ví logistics là “thềm lục địa tiềm ẩn” (dark continental) có nhiều giá trị để khai thác Douglas M Lambert, James R Stock, Lisa M Ellram (1998) đã cụ
thể hóa vai trò của logistics là đảm bảo tính sẵn sàng của các yêu cầu vật chất: nguyên liệu, hàng tồn kho, bán thành phẩm, thành phẩm trong chu trình sản xuất sao cho thỏa mãn khách hàng với chi phí thấp nhất, vì thế logistics cũng tạo khả năng sản xuất lớn và tăng trưởng thương mại.Các nghiên cứu ở Việt Nam cũng cho
rằng logistics có vai trò quan trọng ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô (Hoàng Văn Châu (2009), giáo trình “Logistics và vận tải quốc tế”,Phạm Thị Thanh Bình (2009) -
“Phát triển dịch vụ hậu cần (Logistics) trong tiến trình hình thành cộng đồng kinh
tế ASEAN”, Đặng Đình Đào, Nguyễn Minh Sơn (2012) –“Dịch vụ logistics ở Việt
Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”) Logistics có vai trò quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh và tăng thêm giá trị cho chuỗi cung ứng hoặc làm giảm chi phí Song, bên cạnh sự thống nhất, vẫn còn những bất đồng quan điểm xoay quanh quan niệm về vị trí, vai trò, sự hình thành và phát triển của dịch vụ logistics Đây cũng là một trong những nội dung lý luận cơ bản mà Luận án tập trung phân tích
và làm rõ
Trang 13Ngoài những nghiên cứu chung về logistics còn có những nghiên cứu chuyên sâu về logistics trong bối cảnh cụ thể của một quốc gia
Về Logistics Singapore, một số nghiên cứu tiêu biểu là:
Hội đồng nghiên cứu kinh tế Singapore (ERC) đã thực hiện nghiên cứu tổng
thể với tiêu đề “Developing Singapore into a Global Integrated Logistics Hub” năm 2002 Trên cơ sở phân tích SWOT thực trạng logistics Singapore và phân tích trường hợp kinh nghiệm London, nghiên cứu này đã đưa ra những chiến lược cơ bản và các kiến nghị để tăng cường năng lực cạnh tranh của Singapore trở thành
một Trung tâm Logistics toàn cầu Tác giả Hum Sin Hoon (2008) trong công trình
“Building a Logistics Supply Chain Hub- Singapore” đã điểm lại một số thành quả của hệ thống Logistics Singapore và qua phân tích SWOT gợi ý về mặt chiến lược
nhằm xây dựng Trung tâm Tích hợp Logistics toàn cầu Tác giả Pek Hooi Soh và James Ang (1997) trong nghiên cứu “The Role of the Singapore Government in
National Computerisation” đã phân tích vai trò của Chính phủ Singapore trong
việc tạo dựng xã hội thông tin Tác giả Zheng Yanchao (2010) trong nghiên cứu
“Use of Information Technology inShipping Logistics - Case of Singapore” đã thực hiện đánh giá tổng quan về tình trạng sử dụng công nghệ thông tin trong các dịch vụ logistics vận tải, khẳng định rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin có tác động gia tăng tính hữu ích (PU) và tính thuận tiện (Peou) Nghiên cứu cũng chỉ ra các thuận lợi, khó khăn đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời tìm hiểu những xu hướng phát triển của công nghệ thông tin để từ đó đề xuất các khuyến nghị cho việc nghiên cứu phát triển công nghệ thông tin trong logistics vận tải của Singapore
Tại Diễn đàn Logistics và Dịch vụ cảng biển Việt Nam trong bối cảnh Hội
nhập kinh tế quốc tế, (3/2011) Aloysius Lim đã trình bày nghiên cứu về “Chiến
lược phát triển dịch vụ logistics và cảng biển: Kinh nghiệm từ quốc đảo Singapore” Theo tác giả, sở dĩ logistics và ngành cảng biển Singapore phát triển là
do các chính sách khuyến khích phát triển của Chính phủ Singapore Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đề cập đến những ưu đãi của Chính phủ trong những chính sách về
thuế, hỗ trợ tài chính và nhân lực trong lĩnh vực hàng hải, vận tải biển.Liên đoàn Logistics và Mua bán Trung Quốc (China Federation of Logistics and Purchasing)
cũng có nhiều nghiên cứu về hệ thống logistics của Singapore như hệ thống cảng
Trang 14biển, sân bay, dịch vụ hải quan (đăng tải trên website http:/www Cflp.org.com của Liên đoàn).
Qua các nghiên cứu trên có thể nhận thấy, ngay từ những năm 80 của thế kỷ
XX, Singapore đã rất chú trọng đến việc phát triển logistics để trở thành một Trung tâm Logistics Toàn cầu và việc phát triển công nghệ thông tin được Chính phủ coi trọng nhằm phát triển logistics quốc gia Các nghiên cứu cũng đề cập đến vai trò của Chính phủ Singapore trong việc hỗ trợ, tạo điều kiện thúc đẩy các yếu tố của
hệ thống logistics phát triển Sự thành công của Singapore về phát triển logistics đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các quốc gia khác, trong đó có Trung Quốc
Về Logistics Thái Lan, một số nghiên cứu tiêu biểu là:
Ruth Banomyong (2011), “Logistics Performance Measurement in
Thailand” Theo tác giả, Thái Lan bắt đầu ưu tiên lĩnh vực logistics từ năm 2001
và chính sách phát triển logistics Thái Lan được thông qua trong “đánh giá phát triển logistics Thái Lan giai đoạn 2001- 2005 và chiến lược phát triển logistics của Thái Lan giai đoạn 2006-2010” Tác phẩm này chỉ ra một số hạn chế trong tình hình nghiên cứu hiện nay về logistics ở Thái Lan nói riêng và trên thế giới nói chung và xây dựng chỉ số Hiệu quả Logistics dựa trên 3 tiêu chí: chi phí, thời gian,
độ tin cậy Kết quả cho thấy có sự khác biệt giữa chỉ số Hiệu quả logistics ở Thái Lan và chỉ số LPI của Thái Lan theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới (World Bank) Tuy nhiên, sự khác biệt này là không nhiều
Liu Xianghui (2012), “The Impact of Logistics Cost on the Economic
Developmment - The case of Thailand” Nghiên cứu này phân tính tình hình chi phí dành cho logistics của Thái Lan trong giai đoạn 2001 - 2010; sự liên quan và ảnh hưởng của chi phí dành cho logistics đến quy mô và sự phát triển kinh tế của Thái Lan; đánh giá bản chất của mức chi phí logistics rất cao và đưa ra khuyến nghị về chính sách logistics của Thái Lan
Về Logistics Malaysia, không có nhiều nghiên cứu chuyên sâu
Trong tác phẩm “Logistics and Supply Chain in Malaysia: Issues and
Challenges”của 3 nhà nghiên cứu Rosena Md Ali, Harlina Suzana Jaafar và Sabariah Mohamad năm 2008 cũng chỉ ra rằng, “mặc dù có sự bùng nổ đáng kể
của logistics, nhưng có rất ít những nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực logistics
và chuỗi cung ứng, đặc biệt ở Malaysia” Trong công trình nghiên cứu của mình,
Trang 15các tác giả chỉ ra rằng dù trải qua 2 thập kỷ phát triển, lĩnh vực logistics ở Malaysia đang còn tồn tại nhiều vấn đề như: chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng thương mại quốc gia, chi phí logistics còn cao do hạ tầng cơ sở chưa phát triển cao, dịch vụ logistics và vận tải chưa hiệu quả, các thủ tục hành chính liên quan đến xuất nhập khẩu còn chậm và tốn kém Nghiên cứu “The Development of Third
Party Logistics in Malaysia: An Overview” của Salina binti Umar (2004) cũng chỉ
ra rằng các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bên thứ 3 (3PL) ở Malaysia đến năm
2004 vẫn mang tính chất của 3PL cổ điển - tức là chủ yếu chỉ cung cấp dịch vụ vận chuyển, kho bãi và thủ tục hải quan Nghiên cứu “Reverse Logistics Adoption
among Malaysian Manufacturers” của Nik Ab Halim Nik Abdullah, Sabariah Yaakub và Haim Hilman Abdullah năm 2011 về logistics ngược chiều của các
luồng sản phẩm trả lại liên quan đến việc tái chế, phục hồi đóng gói Nghiên cứu
đã kết luận, logistics “ngược chiều” đem lại ích lợi đối với nhà sản xuất và nó có tác dụng lan tỏa: hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đến quản trị logistics ngược song ở vùng phía bắc củaMalaysiavà thung lũng K’Lang còn nhiều doanh nghiệp ít quan tâm đến vấn đề này
Việc nghiên cứu về kinh nghiệm của Malaysia là hữu ích giúp cho những nước đi sau, trong đó có Việt Nam nhận thức được về tiến trình phát triển logistics
và rút ra bài học để thúc đẩy ngành logistics còn non trẻ của Việt Nam phát triển
Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu về logistics ASEAN:
Jan Tomczyk, Lê Triệu (2011) trong công trình“Báo cáo nghiên cứu về
Logistics Thương mại tại Việt Nam và ASEAN”(MUTRAP)đã phân tích những vấn đề của logistics thương mại quốc tế ở Việt Nam và ASEAN liên quan đến việc quản lý dòng hàng hóa quốc tế và các chứng từ, thủ tục thanh toán với mục đích cắt giảm chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến logistics thông qua đơn giản
hóa, hài hòa hóa các thủ tục và chứng từ Tác giả Ruth Banomyonga, P Cookb and
P Kentb (2008) trong tác phẩm “Formulating Regional Logistics Development
Policy - The Case of ASEAN” đã đánh giá năng lực logistics của các quốc gia ASEAN dựa trên 4 yếu tố cấu thành nên hệ thống logistics của các quốc gia trong khu vực ASEAN và đề xuất phương thức thể chế hóa các chính sách phát triển logistics với mục tiêu chính là tạo dựng một thị trường thống nhất trong khối ASEAN và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản xuất của khối ASEAN thông qua
Trang 16hệ thống logistics Tác giả Phạm Thị Thanh Bình (2009) trong công trình nghiên
cứu “Phát triển dịch vụ hậu cần (Logistics) trong tiến trình hình thành cộng đồng kinh tế ASEAN” đã nhấn mạnh sự cần thiết phải hội nhập nhanh lĩnh vực dịch vụ hậu cần trước sức ép cạnh tranh từ ngoài khu vực và để thúc đẩy kinh tế ASEAN phát triển cũng như thúc đẩy nhanh tiến trình thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN
Về Logistics Việt Nam:
Cho đến nay, có rất ít các nghiên cứu chuyên sâu về logistics của Việt Nam Mặc dùsố lượng các bài báo, tạp chí về logistics ở Việt Nam tương đối nhiều, tuy nhiên các nghiên cứu này thường chỉ đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh liên quan đến thực tiễn phát triển logistics Việt Nam với những nhận xét mang tính chất khái quát và định tính, trong khuôn khổ dung lượng hạn hẹp Các công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn về logistics ở Việt Nam là:
Sách chuyên khảoLogistics - Khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam (Nguyễn Như Tiến, 2006)trình bày
kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu khoa học Bộ Thương mại bàn về khả năng ứng dụng logistics trên khía cạnh hẹp là dịch vụ vận tải và giao
nhận ở Việt Nam Báo cáo của Bộ phận Nghiên cứu và Tư vấn – Công ty SCM
(2008) về “Kết quả khảo sát về logistics năm 2008: Đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ logistics và xu hướng tương lai tại Việt Nam” đưa ra những nhận định khái quát về những vấn đề chính của logistics Việt Nam, chỉ ra những tồn tại và cơ hội
đầu tư vào lĩnh vực logistics ở Việt Nam.Báo cáo của ADB (2011) về “Phát triển
logistics ở Việt Nam - Kế hoạch hành động” Dự án hỗ trợ phát triển quy hoạch logistics RETA 6450: Tăng cường tạo thuận lợi thương mại và giao thông GMS đã đánh giá năng lực logistics Việt Nam qua 4 yếu tố cấu thành hệ thống logistics và kiến nghị giải pháp cũng như lộ trình phát triển logistics ở Việt Nam nhằm tăng cường tạo thuận lợi thương mại và giao thông Tuy nhiên, nghiên cứu này chủ yếu chỉ phân tích về định tính 4 yếu tố cấu thành hệ thống logistics của Việt Nam
Một công trình nghiên cứu được coi là chuyên sâu nhất về logistics ở Việt Nam hiện naylà đề tài độc lập cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước
ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ” do GS TS Đặng Đình Đào(Viện Nghiên
cứu Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế quốc dân) làm chủ nhiệm đề tài
GS TS Đặng Đình Đào đãchủ biên 2 cuốn sách chuyên khảo “Logistics – Những
Trang 17vấn đề lý luậnvà thực tiễn ở Việt Nam” (2011) và “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”(2012)tập hợp các báo cáo khoa học về các nội dung chủ yếu của đề tài liên quan đến dịch vụ logistics: khái niệm dịch vụ logistics, vai trò logistics, tiêu chí đánh giá dịch vụ logistics,các quy định pháp lý liên quan đến phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam, đầu tư phát triển hạ tầng cơ
sở cho logistics, quá trình phát triển và thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam,
cơ hội, thách thức và giải pháp phát triển dịch vụ logistics ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập Kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia: Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore và Thái Lan cũng được đề cập trong nội dung cuốn sách thứ 2, tuy nhiên phần nghiên cứu về thực trạng và kinh nghiệm phát triển logistics
ở các quốc gia này chỉ ở mức khái quát do không phải là nội dung nghiên cứu chủ yếu
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên cho thấy, trên thế giới và ở các quốc gia ASEAN như Singapore, Malaysia, Thái Lan, logistics đã được quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu về logistics thường được thực hiện dưới góc độ logistics vi mô của doanh nghiệp Những nghiên cứu trên góc độ vĩ mô về logistics thường chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể như: chi phí logistics, tình hình ứng dụng công nghệ thông tin, vai trò của chính phủ, hay về hoạt động của các công ty cung cấp dịch vụ 3PL Các nghiên cứu đều cho rằng logistics có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế và hướng tới mục đích nâng cao hiệu quả logistics hay khắc phục mặt hạn chế hoặc tăng khả năng cạnh tranh về logistics Nhưng những nghiên cứu logistics dưới góc độ vĩ mô bàn về phát triển logistics của nền kinh tế một cách toàn diện là không nhiều, đặc biệt chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam Hơn nữa, với đặc điểm phức tạp, đa dạng, phi lượng hóa và tùy biến theo những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, logistics thực sự không thể dễ dàng được phân tích, đo lường đầy đủ và toàn diện Từ tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cũng cho thấy, các quốc gia (Singapore, Trung Quốc, Thái Lan, ) trong quá trình phát triển logistics đã ít nhiều chú trọng tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài Là một nước logistics còn kém phát triển,nhận thức về logistics và tầm quan trọng của logistics còn chưa đầy đủ, Việt Nam cần phải tham khảo kinh nghiệm phát triển logistics của nước ngoài Điều này cho thấy cần phải có công trình nghiên cứu phân tích
Trang 18chuyên sâu, toàn diện về việc phát triển logistics của Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này
3 Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu của Luận án
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận án là rút ra các bài học kinh nghiệm từ sự phát triển logistics ở Singapore, Malaysia, Thái Lan để đưa ra các đề xuấtnhằm phát triển logistics Việt Nam Để đạt tới mục đích tổng quát đó, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của Luận án được đặt ra là:
- Luận giải các vấn đề lý luận cơ bản về logistics và phát triển logistics Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến các vấn đề lý luận về logistics và phát triển logistics ở giác độ vĩ mô là hệ thống logistics quốc gia
- Phân tích thực trạng và đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân của thành công và hạn chế trong phát triển logistics ở Singapore, Malaysia và Thái Lan
- Rút ra bài học nhằm phát triển logisticsViệt Nam từ kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore, Malaysia, Thái Lan
- Đánh giá tổng quan tình hình phát triển logistics của Việt Nam, nhận định những tồn tại, hạn chếvà nguyên nhân của tình trạng đó
- Đưa ra phương hướng và một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, Luận án có nhiệm vụ giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Logistics là gì? Vì sao trong những thập kỷ gần đây, các doanh nghiệp và các chính phủ lại đặc biệt quan tâm phát triển logistics? Sự hình thành và phát triển ngành dịch vụ logistics diễn ra như thế nào?
2 Nội dung và các tiêu chí đánh giá sự phát triển logistics của một quốc gia là gì?
3 Logistics ở Singapore, Malaysia và Thái Lan phát triển như thế nào? Nguyên nhân phát triển, điểm mạnh, điểm yếu?
Trang 194 Những bài học kinh nghiệm nào có thể rút ra từ thực tế phát triển logistics của Singapore, Malaysia và Thái Lan?
5 Thực trạng phát triển logistics Việt Nam như thế nào? Những vấn đề hạn chế
là gì? Nguyên nhân?
6 Cần làm gì để thúc đẩy logistics phát triển nhanh, hiệu quả ở Việt Nam?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề về phát triển logistics ở Singapore, Malaysia, Thái LanvàViệt Nam trên giác độ vĩ mô Luận án đề cập đến các vấn đề lý luận và thực tiễn về logistics, về phát triển logistics quốc gia ở giác
độ vĩ mô: thực trạng phát triển các yếu tố cấu thành hệ thống logistics ở các quốc gia nghiên cứu, nguyên nhân của thành công và hạn chế trong phát triển logistics ở Singapore, Malaysia, Thái Lan, bài học kinh nghiệm rút ra và đưa ra đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
• Về giác độ tiếp cận: Luận án tiếp cận nghiên cứu sự phát triển
logistics dưới giác độ vĩ mô dựa trên hệ thống logistics quốc gia gồm 4 yếu tố: hạ tầng cơ sở logistics, khung thể chế logistics, người cung cấp dịch vụ logistics và người sử dụng dịch vụ logistics của một quốc gia Luận án không tiếp cận nghiên cứu dưới giác độ trung mô (ngành dịch vụ logistics) hay logistics dưới giác độ vi
mô (doanh nghiệp)
• Về không gian: Để tìm hiểu kinh nghiệm của các nước trong khu
vực về phát triển logistics, trong một khung khổ có giới hạn, Luận án tập trung nghiên cứu 3 nước là Singapore, Malaysia, Thái Lan Mặc dù khu vực Đông Nam
Á (ASEAN) gồm 10 quốc gia, song theo đánh giá năm 2012 của Ngân hàng thế giới (WB) thì trình độ phát triển logistics Việt Nam đứng thứ 5 trong ASEAN, trong khi Singapore, Malaysia và Thái Lan là 3 quốc gia có trình độ phát triển logistics cao nhất khu vực và ở các nấc thang phát triển khác nhau mà ở đó chính phủ có sự quan tâm và chủ độngtrong phát triển lĩnh vực này Việc nghiên cứu logistics ở các nước có trình độ phát triển logistics cao hơn sẽ là hữu ích để rút ra bài học kinh nghiệm quý cho Việt Nam chủ động có được hướng đi ngắn và hiệu
Trang 20quả để logistics Việt Nam nhanh đạt được mục tiêu.Với mục đích đó, luận án không dàn trải nghiên cứu sự phát triển logistics ở cả những quốc gia mà ở đó logistics mới phát triển một cách tự phát ở mức thấp và chính phủ chưa có chủ trương, chính sách để phát triển lĩnh vực này.
• Về thời gian: Trên thế giới nói chung và ở khu vực Đông Nam Á,
lĩnh vực Logistics đã phát triển mạnh mẽ trong khoảng thời gian 20 năm trở lại đây, vì vậy trong quá trình nghiên cứu, Luận án chủ yếu phân tích tình hình phát triển logistics ở các nước nói trên trong khoảng thời gian này Các đề xuất đưa ra nhằm phát triển logistics của Việt Nam trong ngắn hạn và trung hạn (10 năm)
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu cơ bản là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu: nghiên cứu sử dụng các nguồn dữ liệu thứ
cấp là các số liệu và kết quả điều tra của các nghiên cứu hiện có, số liệu thống kê, các văn bản chính sách về logistics ở Singapore, Malaysia, Thái Lan và ở Việt Nam Nguồn tài liệu về nước ngoài được lựa chọn sử dụng chủ yếu từ các sách và
tư liệu quốc tế về logistics, từ các Cổng thông tin điện tử chính thức của Chính phủ
hoặc các Ủy ban phát triển hoặc Bộ ban ngành có liên quan ở Singapore, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc, Indonesia, Phần Lan Các số liệu, dữ liệu,
thông tin được kiểm tra, đối chiếu, so sánh để đảm bảo tính tin cậy cao Đặc biệt, Luận án chú trọng làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu trên cơ sở phân tích hệ thống chỉ số năng lực logistics (LPI) mà WB công bố đảm bảo độ tin cậy cao
Phương pháp phân tích dữ liệu: Luận án sử dụng phương pháp phân tích
định tính là chủ yếu, trong đó bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp phân tích so sánh Đặc biệt, Luận án còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT khi đánh giá thực trạng logistics của từng quốc gia được đề cập
6 Đóng góp mới của Luận án
So với tình hình nghiên cứu hiện nay như đã nói ở trên thì Luận án có một
số đóng góp như sau:
Trang 21Thứ nhất, tạo dựng cơ sở lý luận về logistics trên quan điểm lịch sử và toàn
diện Với phương pháp phân tích lịch sử và toàn diện, Luận án lý giải một cách dễ hiểu những vấn đề cơ bản như: bản chất của logistics, vì sao cần phát triển logistics,sự hình thành và phát triển ngành dịch vụ logistics, các yếu tố cấu thành
hệ thống logistics quốc gia và nội dung phát triển logistics quốc gia;
Thứ hai, phân tích thực trạng phát triển của logistics ở một số nước Đông
Nam Á (Singapore, Malaysia, Thái Lan) một cách khá toàn diện với nội dung phong phú, đồng thời chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thành công
và những hạn chế trong sự phát triển logistics ở các quốc gia này
Thứ ba, Luận án rút ra một số bài học kinh nghiệm về phát triển logistics từ
thực trạng phát triển logistics của 3 quốc gia được nghiên cứu, đồng thời, đối chiếu với điều kiện của nước ta để đánh giá khả năng áp dụng các bài học đó cho Việt Nam;
Thứ tư, đánh giá tổng quan thực trạng phát triển logistics ở Việt Nam, chỉ ra
được những yếu kém và nguyên nhân; trên cơ sở kinh nghiệm phát triển logistics của một số nước Đông Nam Á,đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Namtrong thời gian tới
7 Kết cấu nội dung Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về logistics và phát triển
logistics quốc giaChương II: Thực trạng phát triển logistics ở Singapore, Malaysia và
Thái LanChương III: Bài học kinh nghiệm của một số nước Đông Nam Á và
đề xuất nhằm phát triển logistics ở Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LOGISTICS
VÀ PHÁT TRIỂN LOGISTICS QUỐC GIA
1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về logistics
1.1.1 Nguồn gốc và bản chất của logistics trong lĩnh vực kinh tế
Trong quá trình cạnh tranh, để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, người sản xuất không chỉ quan tâm đến việc tổ chức sản xuất trực tiếp mà ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các hoạt động phục vụ sản xuất và lưu thông như: khai thác nguyên liệu, thu gom, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, vận chuyển thành phẩm, vận chuyển bán thành phẩm từ nơi có nguyên nhiên vật liệu đến nơi sản xuất, lưu kho, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển, giao nhận đến nơi người tiêu dùng, bởi vì: (i) những hoạt động này gắn liền với quá trình sản xuất hàng hóa và chi phí cho các hoạt động này trực tiếp cấu thành giá thành sản phẩm, (ii) những hoạt động này trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, tiến độ cung ứng sản phẩm
và mức độ sẵn sàng cung ứng hàng đến với người tiêu dùng khi họ có nhu cầu, (iii) trong quá trình cạnh tranh giữa những người sản xuất, những doanh nghiệp, khi mà trình độ máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và phổ cập, thì người có chi phí cho các hoạt động phục vụ sản xuất và lưu thông thấp nhất và hợp lý nhất sẽ là người chiến thắng trong quá trình cạnh tranh
Các hoạt động phục vụ sản xuất và lưu thông ngày càng có vai trò quan trọng đối với người sản xuất để giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, cũng như tăng khả năng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng Những hoạt động này vào những năm 90 của thế kỷ XX được phổ biến gọi là logistics (theo tiếng Anh) ở nhiều quốc gia trên thế giới Hàng loạt các công ty kinh doanh logistics đã hình thành, trong đó có những công ty thành lập mới và có cả các công
ty được hình thành trên cơ sở các công ty vận tải, giao nhận trước kia Thậm chí, nhiều quốc gia không sử dụng tiếng Anh nhưng cũng dùng “logistics” như một từ ngoại nhập khi nói đến các hoạt động kinh tế này
Thực ra, thuật ngữ logistics ban đầu được sử dụng trong quân đội Ở Mỹ, thuật ngữ logistics được sử dụng trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2 để nói đến quá trình quản lý việc vận chuyển quân khí, bổ sung, dự trữ khí tài quân dụng
Trang 23nhằm giúp một chiến dịch thành công Muốn một chiến dịch thành công, phải có cách thức tổ chức quản lý lưu thông để cung cấp quân khí phục vụ cho chiến dịch - hoạt động này gọi là logistics management (quản trị logistics) Quản trị logistics có vai tṛ vô cùng quan trọng nhằm có đủ quân, đủ khí tài vào thời điểm cần thiết huy động trong khi phải đảm bảo nguyên tắc bí mật của chiến dịch - yếu tố quyết định thành công của cuộc chiến.Sau đại chiến thế giới thứ 2, thuật ngữ logistics được người Mỹ vay mượn dùng trong quản lý xí nghiệp và gọi là logistics xí nghiệp (business logistics) Logistics xí nghiệp dùng để chỉ sự quản lý tổng hợp của các hoạt động như cung ứng nguyên nhiên vật liệu, vận chuyển, lưu trữ của xí nghiệp sản xuất, kinh doanh
Tóm lại, hoạt động logistics không phải đến cuối thế kỷ XX mới xuất hiện (như nhiều người quan niệm) mà nó ra đời và phát triển gắn liền sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa hàng mấy trăm năm nay với bản chất là những hoạt động quản lý phục vụ quá trình sản xuất và phân phối, lưu thông như: khai thác nguyên liệu, thu gom, vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, vận chuyển thành phẩm, vận chuyển bán thành phẩm từ nơi có nguyên nhiên vật liệu đến nơi sản xuất, lưu kho, đóng gói, bốc xếp, vận chuyển, giao nhận đến nơi người tiêu dùng Theo thời gian, trình độ sản xuất ngày càng phát triển thì những hoạt động này ngày càng hoàn thiện với trình độ cao hơn và đa dạng, phong phú hơn Những hoạt động này dần có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất Cùng với sự phát triển của sản xuất, những hoạt động này dần được chuyên môn hóa trở thành một ngành dịch vụ độc lập có vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại với một tên gọi mới: “Logistics”
1.1.2 Khái niệm logistics
Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về logistics Sau đây là một vài định nghĩa tiêu biểu về logistics:
Trước những năm 1980, logistics được hiểu là “các hoạt động phân phối vật chất (PD) và quản lý kho bãi trong lưu thông thành phẩm và dịch vụ” [64,tr.2] Đây là quan niệm logistics theo nghĩa hẹp (Outbound logistics), theo đó logistics chỉ gắn với các hoạt động liên quan đến quản lý đầu ra của sản xuất (những hàng
Trang 24hóa và dịch vụ cuối cùng) như vận tải, phân phối, bảo quản hàng hóa, quản lý tồn kho, đóng gói, bao bì, phân loại, dán nhãn
Năm 1988, Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US Logistics Administration Council) quan niệm “logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện
và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng” [82,tr.4] Định nghĩa này đã liệt kê các hoạt động cơ bản của logistics, nhấn mạnh Logistics bao gồm một chuỗi các hoạt động liên hoàn
từ khâu lên kế hoạch, đến khâu thực hiện và khâu kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và thông tin từ khi mua cho đến khi được tiêu dùng Đồng thời, nó cũng nói được mục đích của logistics một cách khái quát nhất, đó là nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
Theo tài liệu giảng dạy của trường Đại học hàng hải thế giới thì “Logistics
là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và vận chuyển các tài nguyên hay các yếu
tố đầu vào từ điểm xuất phát là nhà cung ứng, thông qua các nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” [93,tr.5] Quan niệm này ngay từ đầu nhấn mạnh mục đích của các hoạt động logistics, bên cạnh việc liệt kê các hoạt động logistics cơ bản Mục đích tối ưu hóa
về vị trí, lưu trữ và vận chuyển là khác biệt cơ bản giữa hoạt động logistics và các hoạt động kinh tế khác, nên việc nhấn mạnh mục đích này là hợp lý khi định nghĩa logistics Tuy nhiên, định nghĩa này không bao quát hết nội hàm của khái niệm logistics, nó mới chỉ liệt kê đến các hoạt động liên quan đến yếu tố đầu vào, tài nguyên mà chưa chỉ rõ được hoạt động lưu kho, vận chuyển hàng hóa và cả các yếu tố phi vật chất như thông tin qua từng khâu của quá trình sản xuất, lưu thông
và đến với người tiêu dùng
Chủ tịch học viện Nghiên cứu Logistics Georgia, Hoa Kỳ, ông Edward Frazelle thì cho rằng “Logistics là quá trình lưu chuyển của vật tư, thông tin và tiền
tệ từ người cung ứng đến người tiêu dùng cuối cùng” [75,tr.6] Đây là một định nghĩa ngắn gọn, nhấn mạnh khía cạnh lưu chuyển thông tin và tiền tệ trong logistics, nhưng theo chúng tôi, định nghĩa như vậy chưa đầy đủ Từ “vật tư” theo
Trang 25từ điển tiếng Việt được hiểu là các thứ vật liệu, máy móc, công cụ cần cho sản xuất, xây dựng nói chung, như vậy nó hẹp hơn đối tượng mà nội hàm hoạt động logistics tác động Hơn nữa, định nghĩa này chưa nói được mục đích của hoạt động logistics.
Một định nghĩa về logistics được dùng tương đối phổ biến là “Logistics là
có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất” [100,tr.6] Mặc dù được dùng tương đối phổ biến, song đây không phải là một định nghĩa chuẩn bởi vì nó không nói được nội hàm, nội dung các hoạt động, nghiệp vụ của khái niệm này (định nghĩa này chỉ cho chúng ta thấy được mục đích của logistics mà thôi) Việc dùng định nghĩa này cũng là một trong các nguyên nhân làm cho logistics trở nên
mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết hay nhầm lẫn về logistics
Tại kỳ họp thứ 7, Khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày 14/6/2005 đã thông qua Luật thương mại 2005, trong đó có qui định cụ thể khái niệm dịch vụ logistics Tại điều 233 - Mục 4 – Chương VI của Luật Thương mại ngày 14/6/2005, Luật qui định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác,
tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao” [38,tr.58] Như vậy, Luật Thương mại 2005 không định nghĩa logistics mà chỉ đề cập đến dịch vụ logistics và chưa coi logistics là một chuỗi các hoạt động liên hoàn trong chuỗi cung ứng
Tóm lại, cho đến nay còn nhiều tranh cãi xung quanh việc định nghĩa khái
niệm logistics Sở dĩ có nhiều quan niệm khác nhau về định nghĩa khái niệm logistics là vì logistics không phải là một hoạt động mà gồm một chuỗi các hoạt động phục vụ cho quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông Hơn thế nữa, theo thời gian, cùng với sự phát triển của sản xuất, của phân công lao động xã hội mà các hoạt động này ngày càng mở rộng và phát triển Chính vì thế, nội hàm của khái niệm logistics thay đổi theo thời gian và không gian Điều này dẫn đến sự xuất hiện các định nghĩa khác nhau về logistics ở những thời điểm và không gian khác nhau
Trang 26Theo chúng tôi, định nghĩa mới nhất mà Hội đồng các chuyên gia Quản trị Chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals- CSCMP) Hoa Kỳ đưa ra năm 2001 là chính xác và toàn diện hơn cả, theo đó Logistics được
định nghĩa là một bộ phận của chu trình chuỗi cung ứng, bao gồm các quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả việc dự trữ và lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ,thông tinhai chiềugiữa điểm khởi đầu và điểm tiêu dùngnhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng 1 [112]
Theo định nghĩa này, logistics gắn liền và là một bộ phận của chuỗi cung ứng (Supply Chain), liên quan đến các khâu của chuỗi cung ứng từ nhập nguyên, nhiên vật liệu qua các khâu của quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Trong mỗi khâu đó, hoạt động logistics bao gồm cả quá trình hoạch định kế hoạch, thực hiện
và kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả cao Trong định nghĩa này, góc độ “logistics ngược chiều” xuất hiện đã tiến thêm một bước mở rộng nội hàm của logistics so với các định nghĩa ở trên Dịch vụ logistics ngược chiều dùng để chỉ hoạt động quản lý, lưu chuyển những dòng vật tư, phế phẩm, hàng trả lại quay trở lại quá trình sản xuất Ngoài ra, logistics ngược chiều còn dùng để chỉ các hoạt động thu nhận, quản lý, xử lý nguồn thông tin phản hồi từ phía các khách hàng - một khâu ngày càng có vị trí quan trọng trong cạnh tranh
Như vậy, có thể thấy một số đặc điểm cơ bản về logistics như sau:
* Logistics bao gồm hàng loạt các hoạt động liên hoàn từ lên kế hoạch, quản lý thực hiện và kiểm soát dòng lưu trữ, vận chuyển các tài nguyên (nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, hàng hóa), tài chính, thông tin từ nơi cung cấp đến kho chứa, qua các nhà xưởng, các xí nghiệp, nhà máy, kho bãi, người bán buôn, người bán lẻ và đến tay người tiêu dùng Để đưa hàng hóa và các yếu tố sản xuất từ nhà cung ứng đến người tiêu dùng một cách có hiệu quả, cần phải tổ chức thực hiện một chuỗi các hoạt động logistics liên tục có liên quan hữu cơ với nhau:
từ nghiên cứu, lập kế hoạch, tổ chức, quản lý, kiểm tra, kiểm soát đến hoàn thiện các mục tiêu Hoạt động quản lý logistics thường bao gồm việc tìm nguồn cung
1 Nguyên văn bằng tiếng Anh là: “Logistics management is that part of the Supply Chain Management
process that plans, implements, and controls the efficient, effective forward and reverse flow and storage of goods, services, and related information between the point of origin and the point of consumption in order
to meet customers' requirements.”[112]
Trang 27ứng và mua sắm, lập kế hoạch và lịch trình sản xuất, đóng gói, lắp ráp, quản lý vận tải trong và ngoài doanh nghiệp, quản lý đội tàu, kho bãi, xử lý vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản lý hàng tồn kho và dịch vụ khách hàng Logistics liên quan đến tất cả các cấp lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, hành động và chiến thuật
Mỗi khâu của quá trình logistics lại có những đặc trưng cơ bản song các khâu có tác động qua lại, liên quan mật thiết với nhau, hiệu quả ở khâu này làm tiền đề cho việc triển khai hoạt động ở các khâu tiếp theo và ảnh hưởng đến hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống Trong toàn bộ quá trình ấy, vấn đề then chốt là
lấy thỏa mãn khách hàng là mục tiêu và lấy lợi ích tổng thể của doanh nghiệp làm mục đích, coi trọng hiệu quả mọi mặt, nhưng trên hết là hiệu quả kinh tế.
* Đối tượng tác động của logistics: là các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất Nó có thể là các yếu tố hữu hình như vật tư, hàng hóa, nguyên nhiên phụ liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hoặc hàng phế phẩm, hàng trả lại và cũng
có thể là các yếu tố vô hình như vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thông tin
* Bản chất của quá trình logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí (chọn và
bố trí mạng lưới hạ tầng cơ sở) và tối ưu hóa các dòng vận động (hoạch định việc
lưu chuyển các đối tượng tác động nêu trên nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tối ưu trong tương quan với tiềm lực của doanh nghiệp)
* Mục tiêu chung của logistics là có được thứ cần thiết tại địa điểm và thời gian đúng nhất với chi phí thấp nhất có thể Nói cách khác, mục tiêu của logistics
là cung cấp đúng số lượng của đúng yếu tố, tại đúng địa điểm vào đúng thời gian quy định với chi phí tối ưu Các yếu tố ở đây là các đối tượng của logistics đã đề cập
* Logistics là một bộ phận của dây chuyền cung ứng (Supply chain) Dây chuyền cung ứng là một mạng lưới lưu chuyển vật tư, hàng hóa, thông tin và tiền
tệ giữa các tổ chức [75, tr.8] Khi nói đến dây chuyền cung ứng, người ta đề cập
đến một chuỗi các mắt xích có quan hệ mật thiết với nhau đó là các chủ thể tham gia vào quá trình lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ, mạng lưới hạ tầng cơ sở (như nhà xưởng, kho bãi, bến cảng, các trung tâm phân phối ) hệ thống phương tiện vận tải, hệ thống thông tin Các mắt xích này được liên kết với nhau bởi quá trình
Trang 28mua bán, trao đổi các vật phẩm, dịch vụ Logistics chính là các hoạt động, dịch vụ được triển khai để kích hoạt dây chuyền cung ứng đó, nó bao gồm các hoạt động
để các mắt xích kia liên kết với nhau theo phương thức tối ưu nhất nhằm thỏa mãn khách hàng tốt nhất
1.1.3 Các hoạt động logistics chủ yếu
Các hoạt động Logistics trong doanh nghiệp thường gồm các hoạt động chủ yếu sau:
1.1.3.1 Các hoạt động chính
(1) Dịch vụ khách hàng
Đáp ứng nhu cầu của khách hàng là mục tiêu của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Mục tiêu của logistics dịch vụ khách hàng là đưa được đúng hàng hóa đến đúng khách hàng tại đúng địa điểm vào đúng thời gian và đúng điều kiện với chi phí thấp nhất có thể Dịch vụ khách hàng hướng đến giá trị lợi ích có được
từ sự thỏa mãn của khách hàng và đây cũng là yếu tố đánh giá chất lượng của hoạt động logistics Những hoạt động logistics chủ yếu trong hoạt động dịch vụ khách
hàng là:(i)tiếp nhận và xử lý đơn hàng, (ii)tiếp nhận phản hồi của khách hàng, (iii)phân loại khách hàng.
(2) Vận chuyển
Quá trình vận chuyển hàng hóa ở đây được hiểu là sự dịch chuyển thực tế của hàng hóa tới nơi tiêu thụ Hoạt động vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau như bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường ống… Căn cứ trên khoảng cách địa lý, điều kiện điểm xuất phát và điểm đến của hàng hóa, chi phí, thời gian, chất lượng dịch vụ… đưa ra phương án tối ưu cho phương thức vận chuyển và phương tiện vận chuyển, đảm bảo hàng hóa được chuyển tới đích an toàn, đúng thời gian, đúng địa điểm, tiết
kiệm chi phí.Những hoạt động chủ yếu của logistics trong vận chuyển gồm: (i)lựa chọn phương thức và dịch vụ vận chuyển,(ii)bốc xếp hàng hóa, (iii)xây dựng lịch trình xe,(iv)xử lý sự cố, (v)đánh giá hệ thống vận chuyển.
Trang 29Trong chuỗi cung ứng, hoạt động vận chuyển là hoạt động chủ yếu, chiếm một phần chi phí rất lớn và luôn giữ vai trò quan trọng trong việc ra các quyết định trong quản lý, từ các quyết dịnh có tính chiến lược đến các quyết định hoạt động thường nhật Càng ngày, việc ra quyết định trong quản lý càng phụ thuộc vào hoạt động vận tải và tiêu chí “JIT- đúng thời điểm” trở thành chuẩn mực cho cả hoạt động sản xuất và phân phối Trong thực tế vận hành hệ thống logistics, hoạt động vận chuyển luôn là hoạt động chiếm tỉ trọng lớn cả về thời gian và chi phí.
(3) Quản lý dự trữ
Lập kế hoạch dự trữ giúp các nhà sản xuất xác định được lượng dự trữ tối
ưu, phù hợp nhất Lượng dự trữ hàng hóa này sẽ giúp nhà sản xuất duy trì được khả năng đáp ứng ngay các yêu cầu của khách hàng Hoạt động này bao gồm nhiều hoạt động như dự báo lượng dự trữ, cân đối các yêu cầu đặt hàng, điều chỉnh các dịch vụ, sắp xếp, cân đối lượng dự trữ phù hợp Hoạt động của logistics trong quản
lý dự trữ bao gồm: (i) quản lý nguyên liệu thô, bán thành phẩm và thành phẩm, (ii)dự báo tình hình kinh doanh ngắn hạn, (iii)xác định số lượng, trữ lượng và vị trí các điểm lưu trữ, (iv) xây dựng kế hoạch đảm bảo tiến độ giao nhận đúng thời gian.
1.1.3.2 Các hoạt động bổ trợ (supported activities)
(1) Hoạt động kho bãi
Hoạt động kho bãi là hoạt động bổ trợ nhưng nó cũng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện được mục tiêu chung của chuỗi cung ứng Năng lực kho bãi thường được đánh giá qua khả năng lưu trữ và chi phí lưu trữ Logistics trong quản
lý kho bãi bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: (i) xác định quy mô, diện tích, địa điểm, (ii) bố trí mặt bằng, sắp xếp trong kho, (iii) thiết lập cơ cấu kho bãi, (iv) lựa chọn địa điểm.Địa điểm kho bãi có ý nghĩa rất quan trọng Lựa chọn địa điểm phù
hợp có tác động lớn đến việc sắp xếp kế hoạch vận chuyển, mở rộng thị trường và nâng cao khả năng cung ứng Địa điểm kho bãi thuận lợi cũng là yếu tố then chốt trong việc nâng cao năng lực đáp ứng hàng hóa tại nhiều địa điểm khác nhau, trong các khoảng cách khác nhau mà vẫn tiết kiệm chi phí vận chuyển
(2) Cung ứng vật tư
Trang 30Hoạt động quản lý cung ứng vật tư là một quá trình quản lý, giám sát vận hành các hoạt động liên quan đến dòng lưu chuyển của vật tư vào, trong và ra khỏi chuỗi cung ứng nhằm tối ưu hóa, bảo toàn, hạn chế thất thoát và tránh những tình huống đình trệ không cần thiết Vì nắm khả năng kiểm soát đầu vào của quá trình sản xuất nên cung ứng vật tư tuy là hoạt động bổ trợ nhưng lại có ý nghĩa sống còn với hoạt động sản xuất Hoạt động cung ứng vật tư bao gồm toàn bộ các hoat động cung ứng nguyên nhiên vật liệu đầu vào, thiết bị, phụ tùng thay thế Những hoạt
động chính của cung ứng vật tư gồm: (i) mua sắm - cung ứng vật tư hiệu quả, (ii) lưu giữ các dữ liệu, (iii) quản lý kho hàng, (iv) tìm kiếm nhà cung cấp mới, (v) kết hợp hài hòa các luồng vật tư
(3) Mua sắm và thuê dịch vụ
Hoạt động mua sắm và thuê dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu mua bán phát sinh từ các chức năng sản xuất hoặc các chức năng khác trong chuỗi cung ứng Hoạt động mua sắm và thuê dịch vụ sẽ tạo nên các liên kết với thị trường bên ngoài, phát triển và quản lý các quan hệ với các nhà cung cấp Hai nhóm hàng hóa chính thường được mua sắm đó là các vật tư trực tiếp phục vụ sản xuất và vật tư gián tiếpphục vụ cho hoạt động của doanh nghiệp.Bên cạnh các hoạt động mua sắm các vật tư, hàng hóa cụ thể, hoạt động mua sắm còn bao gồm cả việc mua sắm các dịch vụ bên ngoài hay còn được gọi là dịch vụ thuê ngoài Hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến bởi việc sử dụng các dịch vụ thuê ngoài đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp qua việc chuyên môn hóa công việc, chia sẻ rủi ro và khai thác lợi ích gia tăng
(4) Đóng gói
Hoạt động đóng gói có nhiệm vụ chính là bảo vệ hàng hóa trong quá trình bốc xếp, vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Tùy theo loại hàng hóa mà chi phí dành cho đóng gói có thể chiếm từ 5-30% trị giá hàng hóa Khi khoảng cách giữa điểm xuất phát và đích đến của hàng hóa càng lớn nên quãng đường hàng hóa được vận chuyển ngày càng dài thì ngày càng đặt ra những yêu cầu khắt khe hơn cho việc đóng gói hàng hóa Xu thế đồng bộ hóa trong các hoạt động vận chuyển, kho bãi cũng là một xu thế chung trong phát triển kinh tế toàn cầu Vì vậy, đóng gói hàng hóa cũng phải hướng tới tính đồng nhất để thuận tiện cho phân phối
Trang 31nhưng vẫn phải đảm bảo những tính chất chuyên biệt phù hợp với từng loại hình kinh doanh, từng loại hình vận tải và điều kiện của thị trường tiêu thụ Những vấn
đề liên quan đến đóng gói hàng hóa như trên đang dần nâng cao vai trò của hoạt động đóng gói trong các hoạt động bổ trợ cho vận hành chuỗi cung ứng Hoạt động
logistics đóng gói hàng hóa thường bao gồm một số nội dung chính: (i) thiết kế đóng gói phù hợp (phù hợp với bốc xếp, lưu trữ, bảo vệ hàng hóa để thực hiện vai
trò cơ bản là bảo vệ, tránh thất thoát hư hỏng; phù hợp với phương thức vận chuyển, phương tiện vận chuyển, phương tiện bốc xếp; phù hợp với đặc điểm thị
trường tiêu thụ; đảm bảo theo yêu cầu của marketing),(ii) xây dựng kế hoạch, quy trình đóng gói
(5) Liên kết hệ thống sản xuất và vận hành
Hoạt động này chỉ mới gần đây được chính thức xác định là một trong những hoạt động logistics bổ trợ trong chuỗi cung ứng Sự ra đời khái niệm hoạt động liên kết sản xuất và vận hành cho thấy vai trò và tầm quan trọng của hoạt động này ngày càng thể hiện rõ nét Tiêu biểu cho hoạt động này là việc xây dựng
hệ thống chuẩn quản lý ISO Hệ thống chuẩn quản lý ISO không chỉ là một quy tắc chuẩn trong quản lý mà nó tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các hoạt động vận hành hệ thống, hoạt động sản xuất và hoạt động quản lý Kênh liên kết các hoạt động trong hệ thống cho phép nhà quản lý nắm bắt được toàn bộ khối lượng công việc phải tiến hành, cách thức và trình tự tiến hành, thời gian triển khai, thời gian bắt đầu và kết thúc của từng hoạt động Trên cơ sở đó, việc phân bổ nguồn lựcvà thời gian sẽ được tối ưu hóa giúp tiết kiệm chi phí, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng lực giám sát với mọi hoạt động trong chuỗi cung ứng Kênh liên kết các hệ thống hoạt động và sản xuất, quản lý cũng tạo điều kiện cho việc tiếp nhận và trao đổi thông tin qua lại giữa các hệ thống để tiến hành các điều chỉnh cần thiết nhằm hoàn thiện và tối ưu hiệu quả của chuỗi cung ứng Hoạt động này thường bao gồm
các nội dung: (i) xác định khối lượng công việc tổng thể, (ii) xác định các quy trình chuẩn, (iii) xây dựng các lộ trình thực hiện cho từng hoạt động dựa trên kế hoạch tổng thể, (iv) xác định chu kỳ và thời gian ra đời sản phẩm để phục vụ cho việc bố trí sắp xếp các nguồn lực, (v) thu thập và xử lý các thông tin phản hồi từ các hệ thống để tiến hành điều chỉnh.
Trang 32(6) Quản lý hệ thống thông tin
Công nghệ thông tin đã từ lâu trở thành công cụ quản lý mạnh mẽ trong nền kinh tế hiện đại Công tác quản lý thông tin mặc dù chỉ có tính chất hỗ trợ cho các hoạt động khác trong chuỗi cung ứng nhưng nó lại có tính chất quyết định đến từng hoạt động và cả hệ thống Đặc biệt khi thương mại điện tử phát triển mạnh, việc quản lý lý thông tin từ khâu tiếp nhận, lưu trữ, xử lý trở thành một hoạt động sống còn trong chuỗi cung ứng Nội dung công việc tuy không phức tạp và đòi hỏi nhiều chi phí, nguồn lực nhưng lại là một hoạt động thường xuyên Trong các hoạt động của chuỗi cung ứng, nhiều hoạt động có khoảng thời gian tạm ngừng nhưng riêng hoạt động thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin không bao giờ ngừng để đảm bảo thông tin luôn được cập nhật Lưu trữ thông tin một cách khoa hoc giúp việc tra cứu, truy xuất dữ liệu dễ dàng, thuận tiện khi cần thiết Có những thông tin là tài sản có giá trị rất lớn đối với doanh nghiệp như các công nghệ, danh sách khách hàng, dữ liệu về đối tác, dữ liệu về sản xuất, dữ liệu về thị trường… Do đó, việc lưu trữ bảo mật thông tin là một trong những biện pháp bảo vệ an toàn cho hệ thống, bảo vệ và nâng cao năng lực cạnh tranh Xử lý thông tin cho kết quả là cơ
sở để ra các quyết định, hoạch định các chiến lược nên xử lý thông tin cần chính xác, kịp thời Một sai sót nhỏ trong xử lý thông tin có thể phá hủy toàn bộ hệ thống chuỗi cung ứng Hệ thống quản lý thông tin nhanh, chính xác giúp việc đưa ra các quyết định, kế hoạch thích hợp nhất cho các hoạt động của chuỗi cung ứng Hoạt
động quản lý hệ thống thông tin thường bao gồm các nội dung: (i) thu thập, lưu trữ và xử lý thông tin, (ii) phân tích số liệu, (iii) xây dựng các quy trình kiểm soát
(ví dụ như việc kiểm soát quá trình vận chuyển hàng hóa thông qua hệ thống định
vị toàn cầu GPS- Global Positioning System)
Tóm lại, logistics bao gồm rất nhiều hoạt động phục vụ cho quá trình sản
xuất và lưu thông, phân phối hàng hóa, dịch vụ với mục tiêu tối ưu hóa cả chu trình sao cho đưa được đúng đối tượng (nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, tiền tệ, thông tin ) đến đúng nơi, tại đúng địa điểm, vào đúng thời gian và đúng điều kiện với chi phí thấp nhất có thể nhằm đem lại lợi ích tốt nhất thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Logistics giải quyết các câu hỏi trong quá trình sản xuất, kinh doanh như lấy các nguồn nguyên liệu cần thiết ở đâu, nguồn cung cấp năng lượng ở đâu, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp máy móc, thiết bị, đưa đi
Trang 33đâu, đưa đi bằng cách nào? chọn tuyến vận chuyển nào? ai vận chuyển, vận chuyển mất bao lâu? chi phí ra sao? dự trữ bao nhiêu? đặt các cơ sở sản xuất kinh doanh, các trạm trung chuyển, các trung tâm phân phối như thế nào? thu hồi, xử lý hàng phế phẩm, hàng trả lại thế nào? thu thập thông tin ra sao? Đó là những vấn
đề các doanh nghiệp phải đối mặt thường xuyên và cũng là những vấn đề quyết định sự thành bại của sản xuất kinh doanh
Ở Việt Nam, logistics còn dường như là một khái niệm khá mơ hồ với người sản xuất, người kinh doanh và thậm chí với cả nhiều nhà nghiên cứu Do đó còn có sự nhầm lẫn giữa logistics với giao nhận, với vận tải, với cung ứng dịch vụ, Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc chưa thống nhất trong sử dụng thuật ngữ logistics trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo và tạp chí Logistics có khi được dịch sang tiếng Việt là “dịch vụ hậu cần”, là “tiếp vận”, là “tổ chức dịch
vụ cung ứng”, là “lưu vận”, và có khi để nguyên dạng tiếng Anh “logistics” Trong các cách dịch đó, cách dịch logistics thành “dịch vụ hậu cần” là phổ biến hơn cả
Có người lại cho rằng, có thể dịch từ logistics là “lưu vận” - lưu vận là vận hành quá trình lưu trữ và lưu chuyển Thuật ngữ này đã nhấn mạnh nội hàm của hoạt động logistics là vận hành: lên kế hoạch, thực hiện, kiểm soát các hoạt động lưu trữ và vận chuyển đảm bảo đồng bộ hóa và tối ưu hóa Thuật ngữ “lưu vận” có lẽ sát với nội hàm logistics hơn là “dịch vụ hậu cần” hay “tiếp vận” mà chúng ta đang dùng phổ biến hiện nay Tuy nhiên, khi đọc thuật ngữ này, người ta có thể hiểu nhầm thành lưu kho và vận chuyển Nếu vậy, lại quá hẹp so với nội hàm của logistics nên cũng không nên sử dụng
Việc phân tích nội hàm khái niệm logistics, đặc biệt việc phân tích các hoạt động cơ bản của logistics cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết sâu sắc hơn, tường minh hơn về logistics Qua đó, chúng ta cũng thấy rằng, nội hàm của logistics rất rộng, bao gồm rất nhiều hoạt động, vì thế, có lẽ không nên dịch thuật ngữ logistics
ra tiếng Việt, bởi lẽ chỉ 1 từ của tiếng Việt hoặc Hán Việt cũng khó bao hàm hết nội hàm của logistics Vì vậy, chúng ta nên sử dụng từ nguyên bản tiếng Anh là logistics như một từ ngoại nhập (giống một số từ khác mà chúng ta thường dùng như: marketing, tivi, ) Việc phân tích các hoạt động cơ bản của logistics cũng cho thấy, hiệu quả và chi phí logistics của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào năng lực nội tại của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào các yếu
Trang 34tố bên ngoài doanh nghiệp như: chất lượng hạ tầng giao thông vận tải, kho bãi, chi phí, chất lượng dịch vụ hạ tầng, sự phát triển hệ thống thông tin, những quy định, chính sách liên quan đến xuất nhập khẩu, hải quan, thông quan, số lượng, chất lượng và hiệu quả các nhà cung cấp dịch vụ, – là những nhân tố cấu thành hệ thống logistics quốc gia Vì vậy, nếu phát triển hệ thống logistics quốc gia sẽ tạo điều kiện giúp doanh nghiệp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động logistics của doanh nghiệp.
1.1.4 Vai trò của logistics
Việc nghiên cứu về các hoạt động cụ thể của logistics cho thấy nếu làm tốt, logistics mang lại lợi ích tối ưu cho doanh nghiệp Vì thế, logistics có vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp và đối với cả nền kinh tế nói chung
Ở góc độ doanh nghiệp, logistics có vai trò quan trọng sau:
Thứ nhất,logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, bán thành phẩm,
… tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng.Vì thế, logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất và lưu thông, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp Logistics là một chuỗi
các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, xuất hiện trong hầu như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa Nếu một khâu của logistics không hiệu quả có thể dẫn đến việc nguyên vật liệu đầu vào tới tay nhà sản xuất không đúng, không đủ, chậm hơn dự kiến; các bán thành phẩm dịch chuyển qua từng công đoạn sản xuất bị thiếu hụt, sai sót; sản phẩm sản xuất ra bị ứ đọng, chậm trễ trong quá trình vận chuyển hoặc đến tay người sử dụng không đúng yêu cầu về số lượng, thời gian… Những vấn đề trên nếu xảy sẽ làm giảm hiệu quả sản xuất, thậm chí có thể phá huỷ cả một hệ thống Một hệ thống logistics mạnh sẽ đảm bảo được các yêu cầu của chuỗi cung ứng, đảm bảo cho nguyên vật liệu, vật phẩm, hàng hóa đến đúng thời điểm, đúng vị trí, đúng yêu cầu Chuỗi cung ứng được tối ưu hóa là điều kiện cho hệ thống sản xuất kinh doanh hoạt đông trơn tru và hiệu quả
Chi phí dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm các chi phí giao thông vận tải, đóng gói, dự trữ, kiểm kê, hành chính và quản lý Việc kiểm soát tất cả các chi phí
Trang 35này trong chuỗi dịch vụ logistics giữ vai trò rất quan trọng, bởi vì giảm chi phí này nghĩa là: Giảm chi phí đầu vào của các hàng hóa, dịch vụ và giảm những rủi ro trong hoạt động kinh tế; Giúp các công ty giành được ưu thế trong cạnh tranh, mở rộng thị trường; Thúc đẩy hiệu quả của các khâu trong hoạt động sản xuất và trong hoạt động phân phối giữa các cơ sở sản xuất và từ trung tâm phân phối tới nơi tiêu dùng; Giảm sự cách biệt giữa giá tiêu dùng và sản xuất; Khuyến khích sự phân phối lao động một cách hiệu quả trong chuỗi cung ứng.
Thông thường, để sản xuất ra một sản phẩm có giá trị 100USD thì phải chi 10USD cho chi phí vận chuyển, 10USD cho chi phí quảng cáo, 30USD cho chi phí liên quan đến sản xuất, 20USD cho chi phí nguyên vận liệu và còn lại là các chi phí khác [4,tr.33] Vì vậy, giảm chi phí trong sản xuất, thì quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Các cuộc khủng hoảng năng lượng xảy ra liên tiếp từ thập niên 1970 buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển Lãi suất ngân hàng cao trong nhiều giai đoạn cũng khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn sẽ bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu Với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, logistics chính là công cụ đắc lực để thực hiện điều này
Thứ hai, logistics hỗ trợ cho các nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý
phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, kho chứa thành phẩm, bán thành phẩm… Để giải quyết những vấn đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò logistics vì logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa,
logistics còn là phương tiện giúp các nhà sản xuất chủ động trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, xử lý tình huống nhanh chóng và kịp thời
Trang 36Thứ ba,logistics đóng vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng tốt hơn, đảm bảo cung cấp đúng yếu tố, đúng thời gian, tại đúng địa điểm (JIT- just in time).Logistics đảm bảo cho quá trình sản xuất được vận hành
nhịp nhàng, trơn tru giữa các khâu của quá trình sản xuất, đảm bảo sản xuất phù hợp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường, giảm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông, tăng tốc độ quay vòng vốn Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu thông nói riêng và hoạt động logistics nói chung phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho
ở mức tối thiểu Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ và vận tải giao nhận, làm cho
cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn
Với những vai trò trên, logistics trở thành yếu tố quan trọng gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và ngày càng nổi lên như là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và phát triển bền vững Trong cuộc chiến giành thị trường, doanh nghiệp nào có được hệ thống logistics mạnh sẽ có lợi thế từ việc được cung cấp và cung cấp các nguyên vật liệu, hàng hóa, sản phẩm đúng quy cách, đúng yêu cầu, đúng thời gian và địa điểm, tiết kiệm thời gian và chi phí Điều này cũng đồng nghĩa với doanh nghiệp có được lợi thế trên thị trường Ngày nay, khi trình độ sản xuất, trình độ quản lý, trình độ công nghệ trong nền sản xuất quốc
tế ngày càng gần nhau thì việc giành lợi thế từ hiệu quả trong hoạt động logistics là điều các doanh nghiệp, các nền kinh tế đều nhận thức rõ và logistics trở thành công
cụ cạnh tranh chủ yếu cho các doanh nghiệp Hơn nữa, khi vươn ra thị trường thế giới, khoảng cách giữa nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ rất xa, chi phí vận chuyển rất cao, vì thế logistics càng trở nên quan trọng trong việc quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra những doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn và trung bình ở Phần Lan cho thấy, trên thực tế, nhà sản xuất đánh giá vai trò của logistics rất cao: 98% cho rằng logistics quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, 92% cho rằng logistics có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến lợi nhuận, 85% cho rằng
Trang 37logistics là yếu tố chính trong lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp và 62% cho rằng logistics là lĩnh vực ưu tiên quản lý hàng đầu trong doanh nghiệp [95].
Hình 1.1:Vai trò của logistics trong các doanh nghiệp quy mô lớn và
trung bình ở Phần Lan (2009)
Nguồn: Finland State of Logistics 2009
Tóm lại, nếu biết phát triển logistics, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội để nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận Mỗi doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, sự phát triển của các doanh nghiệp tất yếu sẽ đem lại sự phát triển chung của cả nền kinh tế Một nền kinh tế được cấu thành từ những doanh nghiệp có sức sống, có khả năng cạnh tranh tất yếu sẽ có khả năng phát triển bền vững Có thể thấy vai trò của logistics đối với nền kinh tế được biểu hiện cụ thể trên 5 khía cạnh
Ở góc độ vĩ mô, đối với nền kinh tế quốc dân, logistics có những vai trò
Logistics là hoạt động ưu tiên hàng đầu
trong quản trị kinh doanh
0 %10 % 20 % 30 % 40 % 50 % 60 % 70 % 80 % 90% 100%
Rất không tán thànhKhông tán thànhKhông đồng ý cũng không phản đốiTán thànhRất tán thành
Trang 38phí logistics rất lớn Vì vậy, việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt được hiệu quả hơn, sản phẩm có tính cạnh tranh hơn trên thị trường quốc tế Đặc biệt, trong thương mại quốc tế, khi khoảng cách giữa nơi sản xuất và thị trường tiêu thụ thường là rất xa thì chi phí lưu thông, mà chủ yếu là chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng không nhỏ cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường Vì vậy, logistics càng hiện đại và hiệu quả sẽ tiết kiệm được chi phí vận tải và các chi phí khác trong quá trình lưu thông, vì thế tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý ) ước tính chiếm khoảng 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước đang phát triển Và thậm chí, đối với một số nước không có đường bờ biển (ví dụ: Lào), riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu.
Thứ hai, logistics có vai trò thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển các ngành sản xuất và cả nền kinh tế Sự phát triển logistics sẽ giúpcác ngành sản xuất trong
nước có cơ hội phát triển và mở rộng hoạt động không chỉ trên phạm vi quốc gia
mà cả trên thị trường quốc tế Các doanh nghiệp trong nước có thể tăng khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường, do đó gia tăng lợi nhuận và thúc đẩy sản xuất phát triển thông qua phát triển logistics Ngoài ra, hoạt động logistics thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tạo nên sự thuận lợi, hiệu quả và tiết kiệm cho chuỗi cung ứng Qua đó, logistics trực tiếp làm tăng vòng quay hàng hóa, tiền tệ đồng thời thúc đẩy phát triển sản xuất và tiêu dùng, nền kinh tế quốc gia nhờ đó trở nên sôi động hơn
và phát triển mạnh hơn Thêm nữa, Logistics cũng là một ngành dịch vụ tham gia trong nền kinh tế nên bản thân nó cũng đóng góp trực tiếp vào GDP và tăng trưởng kinh tế quốc gia và sự phát triển của logistics sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất, góp phần gia tăng năng lực sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh quốc gia Ngược lại, nếu logistics không hiệu quả có thể cản trở sự phát triển chung của nền kinh tế
Thứ ba, logistics phát triển thúc đẩy lưu thông hàng hóa và mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế Mục đích của sản xuất là phục vụ tiêu dùng, cho
nên vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và được các nhà sản xuất kinh doanh quan tâm Muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm, nhà sản
Trang 39xuất phải cần hỗ trợ của dịch vụ logistics Logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc dịch chuyển hàng hóa trên các tuyến đường để đến các thị trường đúng yêu cầu về thời gian, địa điểm với chi phí hợp lý Như vậy, khi logistics phát triển,
sự lưu chuyển hàng hóa trở nên thuận lợi, thông suốt và giảm chi phí sẽ làm cho các lợi thế của quốc gia được tiếp cận một cách dễ dàng, nhờ đó thị trường buôn bán giữa các nước trở nên sinh động, đa dạng, phong phú hơn, giá trị và hiệu quả của thương mại quốc tế ngày càng gia tăng Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với logistics
Thứ tư, logistics là công cụ hữu hiệu để liên kết hoạt động của các mắt xích khác nhau trong chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain) từ cung cấp, sản xuất,
lưu thông, phân phối, mở rộng thị trường, trong đó, các nền kinh tế quốc gia đóng vai trò như là một mắt xích, một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu Không chỉ là công cụ để liên kết hoạt động của quốc gia với nền kinh tế toàn cầu, logistics còn
mở ra cơ hội giúp các quốc gia có điều kiện thuận lợi để lựa chọn phương án tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Phụ thuộc vào điều kiện, lợi thế của từng nước mà mỗi quốc gia lựa chọn tham gia vào mắt xích nào, khâu nào và lĩnh vực nào của hệ thống
Các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động sản xuất hàng hóa nói riêng phát triển ngày càng mạnh mẽ, quy mô và phạm vi hoạt động ngày càng mở rộng, không chỉ trong phạm vi một quốc gia, một khu vực hay một nền kinh tế mà trên quy mô toàn cầu Cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng của số lượng hàng hóa,
số lượng khách hàng và tất yếu là số lượng cũng như khối lượng luân chuyển ngày càng tăng Quy mô sản xuất cũng ngày càng lớn và phức tạp thể hiện qua sự phát triển của hệ thống sản xuất, hệ thống các tổ hợp sản xuất thay thế cho các nhà máy sản xuất đơn lẻ Trong điều kiện đó, vai trò liên kết của logistics được thể hiện rõ nét
Logistics không còn đơn thuần chỉ là hoạt động vận chuyển mà bao gồm một hệ thống liên kết từ khâu cung cấp, sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa một cách kịp thời và chính xác Nhờ có hệ thống liên kết do logistics tạo dựng nên, các hoạt động kinh tế được đảm bảo vận hành trơn tru từ khâu đầu vào đến khâu
Trang 40đầu ra trong từng giai đoạn, từ phạm vi từng doanh nghiệp đến toàn nền kinh tế Hơn thế, khi hoạt động sản xuất kinh doanh vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia thì logistics cũng vươn hoạt động của mình ra phạm vi toàn cầu và trở thành một công
cụ đưa hàng hóa, dịch vụ tới những thị trường tiêu thụ khác nhau trên toàn thế giới Nói cách khác, logistics thực hiện chức năng của một công cụ mở rộng thị trường, tạo nên những kênh mua bán, trao đổi giữa các nền kinh tế trên thế giới
Hơn thế nữa, logistics còn tạo ra sự kết nối các quốc gia trên nhiều lĩnh vực Cùng với sự dịch chuyển của hàng hóa sẽ là sự dịch chuyển của tài chính, thông tin
và con người và kèm theo sự lưu thông rộng khắp về sản xuất, kinh tế, tài chính sẽ kéo theo sự giao lưu về văn hóa, chính trị
Thứ năm, logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế.
Một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỉ USD Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà cũng tiêu tốn hết tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế [5,tr.38], [14,tr.22] Sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ logistics (LSP) trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các loại chi phí giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế
Trong phạm vi một nền kinh tế, sự phát triển của các hoạt động logistics kéo theo việc hình thành các chuẩn mực chung của hệ thống logistics quốc gia Hệ thống logistics trong quá trình tối ưu hóa các chu trình lưu chuyển nguyên liệu, hàng hóa, sản phẩm dịch vụ đã tự nó thúc đẩy việc hình thành các tiêu chuẩn về đóng gói, bốc xếp, chứng từ, in ấn, hệ thống nhãn mác, mã code… đồng nhất nhằm rút ngắn thời gian thực hiện các công đoạn phân loại, xử lý, ghi chép, sao lưu và quản lý trong lưu thông Sự mở rộng hoạt động thương mại và logistics quốc tế sẽ kéo theo xu hướng đồng bộ hóa hệ thống các chuẩn mực áp dụng trong logistics Điều này ngoài việc mang lại những lợi ích to lớn cho việc mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả thương mại quốc tế do tiết kiệm được thời gian, chi phí thì còn tạo nên một mạng lưới logistics quốc tế hiệu quả, tăng cường khả năng liên kết