Luận văn : Mối quan hệ qua lại giữa đầu tư và tăng trưởng,phát triển
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
1.Bối cảnh và tính cấp thiết của đề tài.
Trong bối cảnh nền kinh tế Viêt Nam như hiện nay, việc phát triển cácdịch vụ nhanh đến mức chóng mặt, đất nước đang trong thời kỳ phát triểnnhanh chóng đòi hỏi các ngành dịch vụ phải theo kịp tiến độ của đất nước.Ngành tư vấn đối với Việt Nam là một ngành mới, mang nặng tính trí tuệ, manglại hiệu quả kinh tế rất lớn Chính vì vậy, việc phát triển tư vấn là một việc hếtsức cần thiết, nó đưa ra những giải pháp, những sáng kiến trên cơ sở phân tíchcác vấn đề hiện nay, tư vấn hướng dẫn chuyên môn cho các doanh nghiệpnhững vấn đề họ yêu cầu
Công ty Thiết kế và tư vấn xây dựng công trình hàng không ADCC là mộtCông ty tư vấn hàng đầu Việt Nam Công ty đã gặt hái được một số thành côngnhất định Mặc dù vậy, năng lực và tính chuyên nghiệp vẫn chưa cao, cần phảitừng bước cải thiện nâng cao
2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào :
- Phạm vi nghiên cứu trong giới hạn của Công ty ADCC
- Chuyên đề sẽ tập trung nghiên cứu năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn củaADCC về sản phẩm, dịch vu, nhân sự, phương pháp tiếp cận,…
3 Mục tiêu nghiên cứu.
Chuyên đề được viết nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng và năng lựccung cấp dịch vụ của Công ty ADCC Từ việc nghiên cứu chi tiết về Công ty từ
đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị giúp Công ty ADCC phát triển vềcung cấp dịch vụ tư vấn
4 Phương pháp thực hiện
- Phương pháp duy vất biện chứng
- Phương pháp thống kê
Trang 2- Phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với hệ thông lý thuyết và phântích định tính định lượng.
5 Đóng góp của đề tài
- Giới thiệu tổng quan về dịch vụ tư vấn và năng lực cung cấp dịch vụ tưvấn hiện nay ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá được thực trạng cung cấp dịch của Công ty ADCC
- Đưa ra một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cung cấp dịch
vụ tư vấn cho Công ty ADCC
Trang 3CHƯƠNG I
Lý thuyết về phát triển dịch vụ tư vấn và năng lực cung cấp dịch
vụ tư vấn.
I Khái niệm và phân loại dịch vụ tư vấn
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Khái niệm :
Từ trước đến nay, để xây dựng và phát triển đất nước đòi hỏi các nhàlãnh đạo, những người đứng đầu, nhưng vị Vua phải có những chính sách vàhướng đi đúng đắn cho đất nước Khi đó, việc tiếp thu ý kiến từ các quan lại,những nhà tham mưu là hết sức cần thiết Đây chính là dạng tiền thân của hoạtđộng tư vấn Nó được chú trọng trong tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội Hoạt động tư vấn xuất hiện từ khi nền văn minh của nhân loại xuấthiện Tư vấn ra đời giúp cho người ra quyết định nắm được đầy đủ thông tin vànhiều cách giải quyết các vấn đề hơn, từ đó đưa ra cách tốt nhất, hiệu quả nhấtcho hoạt động Kinh tế - xã hội cần giải quyết Như vậy, cơ sở khách quan củaviệc hình thành và phát triển tư vấn chính là quá trình phân công lao động xãhội ngày càng sâu sắc cùng với tính chất phức tạp và cạnh tranh cao của hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong bối cảnh nền Kinh tế thị trường đang diễn ra xuthế xã hội hoá, Quốc tế hoá gay gắt
Trong định nghĩa của từ điển Oxford, tư vấn có nghĩa là “trao lờikhuyên” Theo định nghĩa này ta có thể hiểu rằng tư vấn ở đây không mang tínhchất mệnh lệnh hay chỉ thị cho một tổ chức, cá nhân nào đó mà nó chỉ mangtính chất góp ý, dù cả trong hoạt động quản lý - tức là hoạt động trao lời khuyêncho các nhà quản lý
Trang 41.2 Bản chất :
Bản chất của dịch vụ tư vấn là quá trình “cung cấp lời khuyên” Tấtnhiên, giá trị của lời khuyên còn tuỳ thuộc nhiều vào năng lực và khả năng tiếpnhận của người sử dụng dịch vụ tư vấn Ngày nay, tư vấn đang được đánh giá làmột nghề có tiềm năng rất lớn vì nghề tư vấn là lĩnh vực của những người cungcấp lời khuyên hữu ích cho khách hàng trên cơ sở các quy tắc, chuẩn mực vàphương thức hành nghề, sản phẩm của nghề tư vấn là “lời khuyên”, giá trị nómang lại là rất lớn Lời khuyên này được tạo từ các tổ chức và cá nhân độc lập
về hoạt động với tổ chức, cá nhân tiếp nhận nó Họ dựa trên cơ sở phân tích cácvấn đề, sự kiện, tổ chức và cá nhân làm công tác tư vấn tạo ra những sản phẩmthoả mãn yêu cầu của khách hàng
Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm tư vấn được hiểu một cách đầy đủ vềbản chất và nội dung vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ, thậm chí ngay cả với độingũ nòng cốt của các tổ chức tư vấn Tư vấn thường được hiểu một cách phổbiến như là việc bán những lời khuyên hoặc chuyển giao năng lực giải quyếtvấn đề Hơn nữa còn cả sự lẫn lộn giữa tư vấn và môi giới, giữa hoạt động tưvấn và việc đưa ra những lời khuyên đơn giản
Trong đề tài này, khái niệm tư vấn được tiếp cận với tư cách là một dịch
vụ chuyên môn, trước hết là một loại hình dịch vụ Tư vấn là một dịch vụ trítuệ, một hoạt động “chất xám” mà các chuyên gia cung cấp cho khách hàngtheo thoả thuận việc cập nhật thông tin, kiến thức, phát hiện các vấn đề, lựachọn các giải pháp thích hợp về chiến lược, sách lược, biện pháp hành động chocác trường hợp cụ thể và chuyển giao nó đến khách hàng đúng lúc, theo cáchcần thiết, đồng thời, khi được yêu cầu hỗ trợ, hướng dẫn khách hàng thực hiệncác giải pháp đó nhằm đạt hiệu quả đề ra Cách hiểu này phản ánh bản chất củahoạt động tư vấn với tư cách là một hoạt động không chỉ liên quan đến hiểu biết
và kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, mà phụ thuộc và những hiểubiết và kỹ năng khác, bao gồm kỹ năng cập nhật, phát hiện, lựa chọn, chuyển
Trang 5giao Trong hoạt động tư vấn, người ta cung cấp thong tin, kiến thức va giảipháp có chất lượng cao một cách độc lập, khách quan và chúng là những điềukhông thể có của quản lý, nhân viên hay giám đốc.
1.3 Đặc điểm của tư vấn :
Dịch vụ tư vấn cũng như những dịch vụ khác, nó có một số đặc điểmđặc trưng riêng của mình, đó là :
- Nó là quá trình liên tục chia sẻ thông tin giữa nhà tư vấn và kháchhàng
- Đối tượng của dịch vụ tư vấn luôn cụ thể và xác định, “sản phẩm” của
tư vấn có tính khả thi và hiệu quả cao
- Yếu tố cơ bản được cung cấp trong quá trình tư vấn là thông tin, trithức, giải pháp để giải quyết các vấn đề
- Dịch vụ tư vấn luôn để lại một kết quả kép đối với người sử dụng,ngoài kết quả trực tiếp giúp giải quyết vấn đề đặt ra, người sử dụng tư vấn còn
có cơ hội được nâng cao năng lực do được tiếp cận với các thông tin, kiến thức
từ nhà tư vấn
Đặc điểm này khiến cho hoạt động tư vấn đặc biệt hữu ích đối với pháttriển nguồn nhân lực, cũng như nâng cao trình độ, chất lượng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh
2 Phân loại các hoạt động tư vấn.
Đối tượng của hoạt động tư vấn rất đa dạng, tuy nhiên để thuận lợi choviệc nghiên cứu ta chia làm 3 đối tượng cụ thể :
2.1 Phân loại hoạt động tư vấn theo khách hàng.
Tư vấn cho tổ chức (có thể là một quốc gia, một cơ quan Nhà nước, mộtdoanh nghiệp, một tổ chức quần chúng…) : đại đa số các Doanh nghiệp, tổ
Trang 6chức sản xuất, kinh doanh tầm cỡ trên thế giới đều có các nhà tư vấn riêng.Phần lớn các dự án, các chương trình đổi mới, cải cách đều có ý kiến của cácchuyên gia Một số Chính phủ phải thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài để giảiquyết các vấn đề Kinh tế - xã hội Nhiều chương trình cải cách dưới sự tài trợcủa các tổ chức Chính phủ hoặc phi Chính phủ cũng yêu cầu sử dụng dịch vụ tưvấn nhu là điều kiện bắt buộc.
Tư vấn cho cá nhân : đây là một loại hình rất phổ biến trong nền kinh tếthị trường và ở mọi Quốc gia Không co cá nhân nắm bắt được mọi vấn đề đã,đang và sẽ xảy ra trong xã hội Các doanh nhân, không phụ thuộc vào quy mô,lĩnh vực hoạt động đều có nhu cầu sư dụng dịch vụ tư vấn Trong nhiều hoạtđộng, cá nhân cần cho những lời khuyên của không phải một chuyên gia màmột tập thể chuyên gia tư vấn để đưa ra quyết định đúng Nhiều nguyên thủQuốc gia sử dụng cả một bộ máy cố vấn gồm các chuyên gia giỏi, có kiến thứcrộng, am hiểu sâu và kỹ năng tổng hợp nhiều vấn đề thuộc các lĩnh vực khácnhau
Việc phân chia tư vấn theo đối tượng khách hang là cá nhân hay tổ chứccũng chỉ mang ý nghĩa tương đối vì mỗi tổ chức được điều hành, quản lý bởinhững cá nhân Trong nhiều trường hợp, tư vấn cho một tổ chức chính là tư vấncho một cá nhân (nhà quản lý, người điều hành hay người phụ trách tổ chức) vàngược lại cho một tổ chức cá nhân cũng là tư vấn cho tổ chức mà cá nhân đónggóp vai trò quản lý, lãnh đạo
2.2 Phân loại theo chuyên môn tư vấn.
Tư vấn chính trị : đây là hoạt động tư vấn về các nguyên tắc, phươngthức, quyết sách trong lĩnh vực chính trị Có thể nói, nhờ tư vấn, trong nhữnghoàn cảnh nhất định có khả năng thay đổi một thể chế chính trị; tạo nên mộtcuộc cách mạng, một cuộc đảo chính hoặc về những vụ việc, sự kiện trong quan
hệ chính trị giữa các Quốc gia, giữa một Quốc gia với tổ chức Quốc tế…
Trang 7Tư vấn pháp luật : đây là một trong những hoạt động tư vấn được hìnhthành trong các nhà tư sản pháp quyền, khi mà nhận thức và điều kiện tiếp xúccủa người dân đối với pháp luật chưa trở thành phổ biến Hoạt động tư vấnđược thưc hiện bởi đội ngũ luật sư, các tổ chức tư vấn nhằm giúp đỡ người dânhiểu biết và tuân thủ luật pháp.
Tư vấn kinh tế : đây là một loại hình tư vấn phát triển sớm nhất và ngàycàng chiếm vị trí quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong nềnkinh tế thị trường Loại hình này nhằm cung cấp cho các nhà sản xuất kinhdoanh những ý kiến, quan điểm thị trường và cách thức tiếp cận, chiếm lĩnh vàchia sẻ thị trường Hình thức tư vấn phát triển, nhiều loại hình tư vấn mang tínhchất dự báo ra đời Tư vấn kinh tế là lĩnh vực rộng và có thể chia sẻ nhỏ thành
tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư và tư vấn kỹ thuật…
Tư vấn những vấn đề xã hội : nhu cầu tư vấn những vấn đề xã hội ngàycàng cao do các mối quan hệ gia đình xã hội ngày càng phức tạp Những lờikhuyên trong lĩnh vực này có thể mang tính chất riêng rẽ theo yêu cầu của các
cá nhân, cũng có thể mang tính xã hội trên các phương diên thông tin đại chúng
2.3 Phân loại theo quan hệ tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn.
Tư vấn nội bộ : giữa nhà tư vấn và người sử dụng tư vấn có sự phụthuộc hoặc liên quan về hành chính và tài chính Các bộ phận tư vấn nội bộđược xây dựng trong một khu vực, một ngành hoặc một tổ chức Hoạt động củaloại hình tư vấn này chủ yếu nhằm vào phục vụ quyết sách cho lãnh đạo khuvực, ngành đó, đơn vị đó Lợi thế của tư vấn nội bộ là có thể căn cứ vào nhucầu công việc, yêu cầu của lãnh đạo, kịp thời đưa ra các ý kiến tư vấn phù hợp
do có những thông tin cần thiết một cách kịp thời, chính xác và sự hiểu biết sẵn
có về tổ chức Tuy nhiên, tư vấn nội bộ có một nhược điểm khó khắc phục, đó
là thường chịu sự ảnh hưởng, can thiệp của lãnh đạo trong quá trình nghiên cứuvấn đề và đưa ra lời khuyên Vì vậy, tính khách quan, khoa học của quá trình
Trang 8cung cấp dịch vụ tư vấn bị ảnh hưởng dẫn đến tính khả thi của lời khuyên vàhiệu quả của tư vấn nội bộ thường không cao.
Tư vấn bên ngoài hay tư vấn độc lập : giữa nhà tư vấn và người sử dụng
tư vấn không có sự phụ thuộc liên hệ về tổ chức hành chính Trên lý thuyêt, dokhông có mối quan hệ hành chính với nhà đầu tư nên nhà tư vấn ít chịu sự chiphối của khách hang và dễ dàng tiếp thu ý kiến của các chuyên gia có liên quan,
vì thế có thể đưa ra những ý kiến tư vấn có tính khách quan, độc lập Tính khảthi, khoa học của tư vấn độc lập cũng thường cao hơn so với tư vấn nội bộ
3 Đối tượng, phạm vi hoạt động của tư vấn.
Hiện nay, tư vấn đã tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế, chínhtrị, văn hóa xã hội Hầu hết các tổ chức kinh tế - xã hội trên thế giới, các cơquan quản lý Nhà nước, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ đều sử dụngdịch vụ tư vấn trong quá trình thực hiện hoạt động Vai trò của các nhà tổ chức
tư vấn trong sự phát triể Kinh tế - xã hội ngày càng tăng, mặc dù nó không thểhiện bằng những con số, chỉ tiêu cụ thể
Việc sử dụng tư vấn đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối vớicác tổ chức, cá nhân trong việc ổn định và phát triển Quan niệm về sử dụng tưvấn đã thay đổi, người ta sử dụng tư vấn không phải khi không giải quyết đượcvấn đề, khi công việc gặp trở ngại, mà là sử dụng tư vấn như là một thông lệ,biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu qủa sản xuất kinh doanh Thực tế cho thấyviệc sử dụng dịch vụ tư vấn đã góp phần đưa ra nhiều ý tưởng hành động vànắm bắt được những cơ hội kinh doanh mới Như vậy, dịch vụ tư vấn có thểgiúp khách hàng khắc phục khó khăn, cải thiện tình hình hiện tại hoặc để tạo rahướng phát triển mới
Đối tượng phục vụ của tư vấn rất đa dạng Tuy nhiên, để thuận tiệntrong việc nghiên cứu các nội dung về hiện trạng phát triển của các loại hình tư
Trang 9vấn và đề ra các biện pháp phát triển phù hợp, đối tượng của phục vụ tư vấnđược chia thành các loại sau :
3.1 Chính phủ, các cơ quan Nhà nước
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tư vấn của các khu vực Nhànước cũng tăng theo Mặc dù Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thường cómột cơ quan chuyên môn để tham mưu và tư vấn nội bộ nhưng nhu cầu sử dụngcác dịch vụ tư vấn bên ngoài của Chính phủ và cơ quan thuộc Chính phủ rấtlớn, đặc biệt là Chính phủ và cơ quan Nhà nước các nước tiên tiến như Mỹ,Anh Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thường cơ nhu cầu tư vấn trong lĩnhvực xây dựng chính sách - chiến lược, xây dựng luật pháp, quy hoạch tổng thể,thiết kế và thực hiện dự án…
Mọi cá nhân, tổ chức đều có thể trở thành chuyên gia tư vấn, cung cấpdịch vụ tư vấn cho Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thông qua các hợp đồng
tư vấn Đối với Viêt Nam, các cơ quan Nhà nước thường mời các Công ty tưvấn trong nước, các công ty tư vấn nước ngoài và các cá nhân tư vấn nướcngoài tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn
3.2 Các Doanh nghiệp
Đối với các nước phát triển, các doanh nghiệp thường xuyên sử dụngdịch vụ tư vấn xuyên suốt quá trình kinh doanh Dịch vụ tư vấn của doanhnghiệp rất đa dạng gồm nghiên cưu thị trường, tư vấn pháp lý, quản lý, tàichính, tư vấn thuế… Ngày nay, các tập đoàn đa Quốc gia thường lựa chọn chomình một số hang tư vấn nhất định để cung cấp dịch vụ tư vấn cho các hoạtđộng kinh doanh, chẳng hạn tập đoàn Unilever trên toàn cầu chỉ sử dụng dịch
vụ kiểm toán và tư vấn tài chính của Công ty PriceWaterhouse Cooper, sử dụngdịch vụ tư vấn pháp lý của Baker & McKenzie và sử dụng dịch vụ nghiên cứuthị trường của AC Niensel
Trang 103.3 Các tổ chức Quốc tế
Các tổ chức Quốc tế cũng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tư vấn rất lớn Dotính chất của các hoạt động, do thể chế, hành lang pháp lý, các thủ tục khácnhau giữa các Quốc gia, do sự khách quan trong công việc mà các tổ chức Quốc
tế cần phải sử dụng các hãng tư vấn và các chuyên gia tư vấn độc lập trong quátrình thực hiện chương trình và dự án của họ Dịch vụ tư vấn chủ yếu cho các tổchức này thiết kế chuẩn bị các chương trình và dự án, dịch vụ tư vấn giám sát,dịch vụ tư vấn đánh giá hiệu qủ việc thực hiện Một số tổ chức Quốc tế có nhucầu sử dụng dịch vụ tư vấn lớn trên thế giới được kể như Ngân hàng thế giới,Ngân hàng Phát triển châu Á, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Liên hiệp quốc…
II Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cung cấp dịch vụ của các hãng
tư vấn hiện nay.
1 Khả năng và kinh nghiệm chung của các Công ty tư vấn
Đây là những thông tin cơ bản ban đầu để giới thiệu khả năng và kinh
nghiệm của một hãng tư vấn với khách hàng Trong bộ tiêu chí đánh giá và lựachọn nhà thầu tư vấn, năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn đựoc xemxét đầu tiên mặc dù tỷ trọng điểm của tiêu chí này thường không cao Tuỳ theotừng gói thầu tư vấn cụ thể, tỷ trọng của từng tiêu chí này có thể sẽ được điềuchỉnh cho phù hợp Tuy nhiên, tỷ trọng của tiêu chí này thường chỉ chiếm từ 0.1đến 0.2 Tức là chỉ chiếm tối đa từ 10 đến 20 điểm trong thang điểm 100 của bộtiêu chí đánh giá Năng lực và kinh nghiệm của Công ty tư vấn được nghiên cứuchi tiết theo từng khía cạnh sau :
1.1 Khả năng chung
Thời gian tồn tại và phát triển : khả năng chung của Công ty tư vấnđược đề cập đến thời gian tồn tại và phát triển càng dài thì sẽ có năng lực thựchiện và cung cấp dịch vụ tư vấn tốt hơn những Công ty mới thành lập
Trang 11Dịch vụ chủ yếu : một Công ty tư vấn chỉ có một hoặc một số dịch vụchủ yếu cung cấp cho thị trường Chẳng hạn, dịch vụ nghiên cứu thị trường,dịch vụ tư vấn tài chính và thuế các doanh nghiệp… Những dịch vụ chủ yếuhay lĩnh vực chuyên môn chính này có ý nghĩa quyết định đến năng lực thựchiên công việc tư vấn Có nghĩa là một công ty tư vấn dịch vụ chủ yếu là nghiêncứu thị trưòng cho các doanh nghiệp như AC Nielsen (Hoa Kỳ) sẽ không cónăng lực để thực hiện công việc tư vấn phát triển cộng đồng Hoặc ngược lại,một Công ty chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn kỹ thuật và công nghệ như COWI(Đan Mạch) sẽ không có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và thuế chodoanh nghiệp như Ensrt & Young hay KPMG.
1.2 Kinh nghiệm của tư vấn
Ngoài việc Công ty cung cấp các dịch vụ chủ yếu liên quan đến chuyênmôn của gói thầu thì những thông tin về kinh nghiệm thưc hiện các dịch vụ tưvấn có tính chất tương tự là hết sức có ý nghĩa để xác định năng lực của Công
ty Những thông tin về kinh nghiệm thực hiện công việc tương tự để chứng tỏnăng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ tư vấn gồm :
- Tên dịch vụ, nội dung chính của dịch vụ
- Địa điểm và thời gian thực hiện
- Tên và địa chỉ của khách hàng và nhà tài trợ
- Tên và địa chỉ của đối tác kinh doanh
- Các đầu vào do Công ty cung cấp
- Giá trị hợp đồng thực hiện
- Những công việc và dịch vụ cụ thể đã thực hiện và cung cấp
Tất cả các thông tin trên sẽ được trình bày và giới thiệu trong khungmẫu và được gói trọn trong một trang
Trang 121.3 Kinh nghiệm làm việc tại Quốc gia có điều kiện Kinh tế - Xã hội tương tự.
Năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn còn được thể hiện ở các kinh nghiệmthực hiện các công việc có điều kiện Kinh tế - xã hộ tương tự Các nhà tài trợthường áp dụng các tiêu chí đánh giá này cho các Công ty tư vấn Quốc tế khitham gia đấu thầu cung cấp dịch vụ cho một nước khác không phải là Quốc giacủa họ Chẳng hạn, các nhà thầu Quốc tế đã từng cung cấp dịch vụ tư vấn chocác dự án ODA tại Trung Quốc sẽ có lợi thế khi tham gia đấu thầu cung cấpdịch vụ tư vấn cho Việt Nam Công ty tư vấn đã thực hiện nhiều công việc tưvấn tại các Quốc gia có điều kiện Kinh tế - xã hội tương tự thì năng lực cungcấp dịch vụ sẽ được đánh giá cao hơn
1.4 Xác nhận của khách hàng
Kinh nghiệm thực hiện và cung cấp các công việc tương tự và kinhnghiệm làm việc tại các Quốc gia co điều kiện kinh tế xã hội tương tự là yếu tốthể hiện năng lực cung cấp dịch vụ Tuy nhiên, xác nhận của khách hàng là mộtyếu tố hết sức cần thiết để kiểm chứng năng lực thực sự của công ty tư vấn.Thông thường, sau mỗi hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, đại diệnc của kháchhàng sẽ có một bản xác nhận cho công ty tư vấn, trong đó các nội dung côngviệc và các dịch vụ cung cấp được khách hàng nêu rõ Đồng thời, điều quantrọng là khách hàng đưa ra ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ do tư vấn cungcấp Khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ càng cao thì năng lực cung cấpdịch vụ tư vấn càng được khẳng định
2 Phương pháp tiếp cận và kế hoạch thực hiện tư vấn.
Nếu như “khả năng và kinh nghiệm chung” là một yếu tố thể hiện nănglực cung cấp dịch vụ của công ty có “tính tĩnh”, tức là trong một hoàn cảnh nhấtđịnh, công ty tư vấn không thể sửa đổi hoặc điều chỉnh được yêu tố này để nâng
Trang 13cao năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn, thì “phương pháp tiếp cận và kế hoạchthực hiện” mà Công ty đề xuất để cung cấp dịch vụ là một yếu tố có “tínhđộng”, có nghĩa là công ty có thể nghiên cứu để đề xuất một phương pháp tiếpcận và kế hoạch thực hiện tốt nhất để thể hiện năng lực thực hiện công việc caonhất Trong bộ tiêu chí đánh giá năng lực của Công ty tư vấn, tuỳ theo từng góithầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của tiêu chí này thường chiếm từ 0.35 đến 0.45trong bộ tiêu chí đánh giá, tức là chiếm từ 35 đến tối đa là 45 điểm trong thangđiểm 100 của bộ tiêu chí Theo tiêu chí này, năng lực cung cấp dịch vụ của tưvấn được thể hiện ở các khía cạnh sau đây :
2.1 Hiểu biết về nội dung công việc yêu cầu và sản phẩm tư vấn cần đạt
Để thực hiện và cung cấp được dịch vụ tư vấn theo đúng yêu cầu, việcCông ty tư vấn phải hiểu biết rõ được các nội dung công việc và kết quả tư vấncần đạt là điều kiện hết sức cần thiết Năng lực cung cấp dịch vụ thể hiện ở chỗCông ty tư vấn hiểu biết về nội dung công việc và kết quả ở mức độ như thếnào Cụ thể sự hiểu biết của Công ty tư vấn phải bao quát được các nội dungsau :
- Bối cảnh của công việc
- Mối liên hệ giữa công việc với những công việc khác liên quan
- Nội dung chính cần thực hiện công việc
- Kết quả đầu ra của dịch vụ mà khách hàng cần
Trong sơ đồ mời thầu, những thông tin cơ bản nhất về công việc và sảnphẩm thường được khách hàng cung cấp cho các Công ty tham gia đấu thầu.Tuy nhiên, Công ty tư vấn phải tìm hiểu them từ những kênh thông tin khácnhau để có được những hiểu biết đầy đủ về công việc yêu cầu trong một tổngthể chung và xác định được kết quả cuối cùng mà khách hàng yêu cầu Nhữnghiểu biết về Công ty tư vấn về công việc và sản phẩm dịch vụ càng đầy đủ vàchính xác thì năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty cang cao
Trang 142.2 Những nhận xét và gơi ý cải thiện nội dung yêu cầu
Hiểu rõ các nội dung công việc cần thưc hiện và sản phẩm yêu cầu củakhách hàng gọi là “điều khoản tham chiếu” là một yếu tố cần thiết Trong nhiềutrường hợp, điều khoản tham chiếu của khách hàng có thể sẽ có những hạn chếhoặc có những nội dung chưa hợp lý do trong quá trình xây dựng chưa lườnghết các vấn đề thực tế Khách hàng thường yêu cầu các Công ty tư vấn nghiêncứu đầy đủ điều khoản tham chiếu, phát hiện ra những hạn chế và đưa ra một sốgợi ý cải thiện Năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty tư vấn được đánh giácao khi Công ty phát hiện được những hạn chế của điều khoản tham chiếu và đềxuất những gợi ý xác đáng và được khách hàng chấp thuận điều chỉnh
Trong một số trường hợp, trong quá trình xây dựng điều khoản thamchiếu, khách hang cố tình đưa ra những hạn chế, chẳng hạn như thời điểm giaonộp sản phẩm tư vấn cuối cùng của tư vấn vào đúng dịp nghỉ Tết cổ truyền củaViệt Nam, như là một “phép thử” giành cho các Công ty tư vấn Nhiệm vụ củacác Công ty tư vấn khi tham gia đấu thầu là phải nghiên cứu đầy đủ điều khoảntham chiếu, phát hiện ra tất cả những hạn chế và đưa ra gợi ý thiết thực chokhách hàng nhằm thể hiện năng lực cung cấp dịch vụ của mình
2.3 Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
Phương pháp luận và phương pháp tiếp cận là yếu tố đầu tiên quyếtđịnh sự thành công hay thất bại của Công ty tư vấn đối với công việc Tuỳ vàotừng công việc nhất định, Công ty tư vấn sẽ đưa ra một phương pháp luận vàphương pháp tiếp cận cụ thể để đảm bảo tính hiệu quả và tính toàn diện củaphương pháp Khách hàng luôn yêu cầu Công ty tư vấn đưa ra được phươngpháp luận và phương pháp tiếp cận thực hiện các nội dung công việc trong điềukiện tham chiếu đảm bảo thực hiện hiệu quả và đủ linh hoạt để áp dụng đối vớinhững thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện công việc Những vấn đềtrong điều khoản tham chiếu cần được Công ty tư vấn đề xuất giải quyết một
Trang 15cách sáng tạo và hiệu quả Trong quá trình đánh giá và lựa chọn, phương pháptiếp cận của Công ty tư vấn nào được đánh giá tốt thì Công ty đó được đánh giá
có năng lực thực hiện và cung cấp dịch vụ Số điểm đánh giá phương pháp tiếpcận càng cao thì năng lực cung cấp dịch vụ càng cao và ngược lại
Trên thực tế, với từng lĩnh vực chuyên môn nhất định, mỗi Công ty tưvấn thường có một cách tiếp cận khung đã được mô hình hoá thành một phươngpháp tiếp cận đặc trưng của Công ty đó Chẳng hạn tập đoàn tư vấn GrantThornton mô hình hoá phương pháp tiếp cận thành sơ đồ các vòng tròn khépkin, mỗi một vòng tròn mô tả một bước thực hiện công việc thể hiện các vấn đềcần giải quyết và kết quả đạt được từ việc giải quyết các vấn đề đó Công ty tưvấn và kiểm toán KPMG lại mô hình hoá phương pháp tiếp cận bằng một sơ đồchuỗi từ trái qua phải, mỗi một mắt xích mô tả một bước thực hiện công việcthể hiện các vấn đề cần giải quyết và kết qủ đạt được từ việc giải quyết các vấn
đề đó Như vậy, có thể thấy rằng phương pháp tiếp cận của từng công việc khácnhau là không giống nhau nhưng các Công ty tư vấn thường cố gắng thể hiệnphương pháp tiếp cận dưới dạng một mô hính đặc trưng riêng mang màu sắcMarketing của Công ty
2.4 Kế hoạch thực hiện công việc
Viêc đưa ra được một kế hoạch thực hiện phù hợp với yêu cầu trongđiều khoản tham chiếu là rất cần thiết cho Công ty tư vấn Đây cũng là một yếu
tố thể hiện năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty tư vấn Khách hàng luôn yêucầu các Công ty tư vấn đề xuất được một kế hoạch thực hiện khớp với nhữngyêu cầu trong điều khoản tham chiếu và hài hoà với tiến trình chung của tổngthể Tất cả các hoạt động chính được nêu trong điều khoản tham chiếu cần phảiđược thể hiện trong kế hoạch công việc và lịch biểu thực hiện (thời gian bắt đầu
và thời gian kết thúc) phải phù hợp với đầu r among muốn của khách hàng và
sử dụng tối ưu nguồn lực đầu vào Kế hoạch công việc cần thể hiện được mối
Trang 16liên hệ với phương pháp tiếp cận có tính thực tiễn cao và được thực hiện mộtcách hiệu quả Ngoài ra, một kế hoạch thực hiện tốt là kế hoạch đó phải có sưlinh hoạt, đáp ứng được những thay đổi bất thường trong quá trình triển khai và
có giải pháp dự phòng Công ty tư vấn được đánh giá có năng lực thực hiện vàcung cấp dịch vụ cao là Công ty đề xuất được kế hoạch thực hiên công việc tốt Trên thực tế, các Công ty tư vấn thường thể hiện kế hoạch công việcdưới dạng biểu đồ Gannt thông qua việc sử dụng phần mềm ứng dụngMicrosoft Office Project Ngoài biểu thị bằng sơ đồ, các Công ty tư vấn thường
có thêm phần thuyêt minh chi tiết trong bản đề xuất Sự kết hợp giữa sơ đồ vàphần thuyêt minh mô tả bằng ngôn ngữ viết sẽ phần nào thuận lợi cho kháchhàng hiểu rõ hơn kế hoạch thực hiện công việc được Công ty đề xuất
2.5 Tổ chức thực hiện
Tổ chức thực hiện là việc bố trí nguồn nhân lực để thực hiện kế hoạchcông việc được Công ty tư vấn đề xuất trong sơ đồ dự thầu Cùng với phươngpháp tiếp cận và kế hoạch công việc phù hợp với điều khoản tham chiếu, kháchhang luôn yêu cầu các Công ty tư vấn đưa ra kế hoạch tổ chức thực hiện rõrang, chi tiết phù hợp với công việc đã đề xuất, trong đó các vị trí trong việc tổchức thực hiện và quản lý công việc phải được xác định Tổ chức và bố trí nhân
sự phải đưa ra được vị trí trưởng nhóm tư vấn, các chuyên gia chủ chốt cho các
vị trí công việc Tất cả các chuyên gia được đề xuất tham gia thực hiện phải cótrình độ chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu trong điều khoảntham chiếu cho từng vị trí Tổ chức thực hiện và bố trí nhân sự hợp lý, đảm bảođạt được sản phẩm đầu ra theo yêu cầu của khách hàng thì năng lực cung cấpdịch vụ của Công ty mới được đánh giá cao
Trên thực tế, các Công ty tư vấn thường sơ đồ hoá kế hoạch tổ chứcthực hiện đề xuất trong hồ sơ dự thầu Thêm vào đó, các Công ty tư vấn sẽ bổsung phần thuyết minh cho cơ cấu tổ chức quản lý và thực hiện bằng cách nêu
Trang 17rõ mối quan hệ giữa cán bộ chủ chốt và các chuyên gia, mối liên hệ giữa cácchuyên gia và mối liên hệ của nhóm chuyên gia với khách hàng và các đốitượng thực hiện Ngoài ra, một kế hoạch tổ chức thực hiện và bố trí nhân sự tốtphải trình bày rõ chức năng của từng vị trí, từng chuyên gia và các công việc
mà các chuyên gia được đề xuất sẽ thực hiện trong suốt quá trình thực hiệncông việc
3 Nguồn nhân lực tham gia thực hiện công việc
Sản phẩm của tư vấn là sản phẩm trí tuệ mà các chuyên gia đề xuất thựchiện là yếu tố quyết định chất lượng của dịch vụ tư vấn Do đó, năng lực cungcấp dịch vụ của Công ty tư vấn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào trình độchuyên môn và kinh nghiệm của các chuyên gia Do đặc điểm này, các nhà tàitrợ cũng dựa vào yếu tố này để đánh giá và xác định năng lực của nhà thầu tưvấn Điểm đánh giá đội ngũ nhân sự do nhà thầu tư vấn đề xuất càng cao thì nhàthầu càng có năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn Trong bộ tiêu chí đánh giá nănglực của Công ty tư vấn, tuỳ theo từng gói thầu dịch vụ cụ thể, tỷ trọng của tiêuchí đánh giá trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của các đội ngũ nhân sự đềxuất thường chiếm tỷ trọng từ 0.4 đến 0.5 trong bộ tiêu chí đánh giá, tức làchiếm 40 đến 50 điểm trong thang điểm 100 của bộ tiêu chí
Lý lịch khoa học, được gọi tắt là “CV”, của chuyên gia hầu như là cơ sởduy nhất để đánh giá sự phù hợp của chuyên gia được đề xuất với yêu cầu vềchuyên môn và kinh nghiệm cho từng vị trí công việc được mô tả trong điềukhoản tham chiếu Trong những trường hợp cần thiết, khách hàng có thể sửdụng them phương pháp phỏng vấn để đánh giá chính xác hơn sự phù hợp củachuyên gia đối với công việc yêu cầu
Trang 183.1 Trưởng nhóm tư vấn
Trưởng nhóm tư vấn có vai trò quan trọng nhất trong cơ cấu tổ chứcquản lý và thực hiện của nhà thầu tư vấn và có ý nghĩa quyết định đối với sảnphẩm tư vấn giao nộp khách hàng Do đó, năng lực của trưởng nhóm tư vấn làyếu tố quan trọng và trưởng nhóm tư vấn thường được đánh giá riêng trongnhóm chuyên gia được đề xuất Năng lực của trưởng nhóm tư vấn thường đượcxem xét và đánh giá theo các nội dung sau :
(1) Trình độ chuyên môn : trình đô chuyên môn thể hiện ở bằng cấp học
vị mà chuyên gia đó có được phải phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của côngviệc tư vấn Chẳng hạn, công việc tư vấn thuộc lĩnh vực tài chính công thì cầnthiết trình độ chuyên môn của trưởng nhóm tư vấn yêu cầu phải có bằng cấp vềquản lý tài chính
(2) Kinh nghiệm liên quan : trưởng nhóm tư vấn được yêu cầu phải cókinh nghiệm làm việc với một thời gian nhất định Thông thường, khách hàngyêu cầu trưởng nhóm tư vấn phải có kinh nghiệm làm việc tư vấn trên 15 năm
và đã tham gia thực hiện tối thiểu 5 công việc thuộc lĩnh vực tương tự Ngoài
ra, để được đánh giá cao, trưởng nhóm tư vấn phải có kinh nghiệm làm trưởngnhóm tư vấn ít nhất 3 công việc
(3) Kinh nghiệm trong khu vực và ngôn ngữ : nội dung này chỉ đượckhách hàng áp dụng để đánh giá cho chuyên gia tư vấn Quốc tế Ngoài trình độchuyên môn và kinh nghiệm liên quan, trưởng nhóm tư vấn còn được yêu cầuphải có kinh nghiệm làm việc trong khu vực hoặc kinh nghiệm làm việc tạiQuốc gia của khách hàng, chẳng hạn là Việt Nam Mặt khác, trưởng nhóm tưvấn sẽ được đánh giá cao hơn nếu biết ngôn ngữ chính thống của khách hàng,chẳng hạn tiếng Việt
Trang 193.2 Các chuyên gia khác
Các chuyên gia được đề xuất các công việc có tính chuyên môn riêngđược khách hàng đánh giá riêng với các nội dung đánh giá sau :
(1) Trình độ chuyên môn : trình độ chuyên môn thể hiện ở bằng cấp học
vị mà chuyên gia đó có được phải phù hợp với lĩnh vực chuyên môn của côngviệc tư vấn Chẳng hạn, công việc tư vấn thuộc lĩnh vực phát triển cộng đồngthì chuyên gia tư vấn được yêu cầu phải có trình độ chuyên môn về xã hội học.Trình độ chuyên môn của chuyên gia càng sát với lĩnh vực yêu cầu thì chuyêngia đó được đề xuất đánh giá có năng lực thực hiện công việc
(2) Kinh nghiệm liên quan : giống như trưởng nhóm tư vấn, các chuyêngia khác cũng được yêu cầu phải có kinh nghiệm làm việc với một thời giannhất định Thông thường, khách hàng yêu cầu các chuyên gia tư vấn phải cókinh nghiệm làm việc tư vấn trên 10 năm, và đã tham gia thực hiện tối thiểu là 4công việc thuộc lĩnh vực tương tự Tuy nhiên, khách hàng không yêu cầuchuyên gia phải có kinh nghiệm làm trưởng nhóm tư vấn trước đó cho các côngviệc thuộc lĩnh vực tương tự
(3) Kinh nghiệm trong khu vực và ngôn ngữ : nội dung này chỉ đượckhách hàng áp dụng để đánh giá cho chuyên gia tư vấn Quốc tế Giống nhưtrưởng nhóm tư vấn, các chuyên gia khách cũng được yêu cầu phải có kinhnghiệm làm việc trong khu vực hoặc kinh nghiệm làm việc tại Quốc gia củakhách hàng, chẳng hạn Việt Nam Mặt khác, chuyên gia tư vấn sẽ được đánhgiá cao hơn nếu biết ngôn ngữ chính thống của khách hàng, chẳng hạn là tiếngViệt
Qua việc tìm hiểu và phân tích năng lực cung cấp dịch vụ ở phần trên,
có thể kết luận rằng năng lực cung cấp dịch vụ của hang tư vấn là một pham trù
có “tính động” rất cao Năng lực cung cấp dịch vụ không chỉ chịu ảnh hưởngbởi các yếu tố nội tại của hãng tư vấn mà còn chịu ảnh hưởng hởi yếu tố bênngoài hang, đó là lĩnh vực chuyên môn của công việc thực hiện Chẳng hạn,
Trang 20một Công ty có nhiều kinh nghiệm thực hiện và có đội ngũ chuyên gia rất giỏi
về lĩnh vực tài chính công sẽ được đánh giá là không có năng lực cung cấp dịch
vụ tư vấn cho một hoạt động thuộc lĩnh vực phát triển nông thôn
Hơn thế nữa, sự chuẩn bị của Công ty cho từng công việc cũng là mộtyếu tố ảnh hưởng đến năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty cho hoạt động đó
Ví dụ, trường hợp Công ty tư vấn đầu tư nhiều thời gian tìm hiểu và chuẩn bị hồ
sơ dự thầu đầy đủ với việc đề xuất một phương pháp tiếp cận, một bản kế hoạchcông việc và một mô hình tổ chức thực hiện hợp lý, cùng với việc đề xuất mộtđội ngũ chuyên gia giỏi thì năng lực cung cấp dịch vụ của Công ty sẽ cao hơntrường hợp Công ty đầu tư ít thời gian tìm hiểu và chuẩn bị không chu đáo
III Nhu cầu phát triển dịch vụ tư vấn.
1 Thực trạng dịch vụ tư vấn hiện nay ở Việt Nam.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển.
Tư vấn đã tồn tại và phát triển ở Việt Nam từ lâu, chủ yếu dưới hìnhthức tư vấn nội bộ, tư vấn phụ thuộc của các Viện nghiên cứu, Viện thiết kế củaNhà nước và hoạt động Kinh tế phụ của từng chuyên gia đơn lẻ Kể từ khi cóchính sách đổi mới, các tổ chức tư vấn độc lập mới có điều kiện hình thành vàhoạt động Từ đầu những năm 90 đến nay, số lượng các tổ chức tư vấn thuộc cảkhu vực Nhà nước và khu vực ngoài Quốc doanh đã tăng khá mạnh Đã hìnhthành một sự phân công lao động mới trong một bộ phận trí thức hoạt độngtrong ngành tư vấn Sự phát triển của hoạt động tư vấn đang diễn ra sôi nổitrong thực tiễn
Nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp Việt Nam, các nhà đầu tưnước ngoài và tổ chức tài trợ Quốc tế hoạt động tại Việt Nam, các cơ quan quản
lý Nhà nước đối với các dịch vụ tư vấn đang đặt ra yêu cầu cấp bách đối với sựphát triển của ngành tư vấn Việt Nam nhằm phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ tolớn của đội ngũ trí thức phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước
Trang 21Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm khuyến khích sự phát triển của tư vấnViệt Nam Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương Đảngkhoá VIII (tháng 12/1996) đã đề ra định hướng phát triển khoa học và côngnghệ của Việt Nam đến năm 2020, trong đó khẳng định chủ trương “mở rộngmạng lưới dịch vụ tư vấn khoa học và công nghệ”, yêu cầu thực hiện các việc
“miễn hoặc giảm thuế doanh thu cho các hoạt động tư vấn khoa học và côngnghệ” cũng như đề ra nhiều chủ trương khác có ảnh hưởng tích cực đến ngành
tư vấn Phát triển ngành tư vấn Việt Nam cũng chính là thực hiện yêu cầu củaNghị quyết TW2 là phải “có những hình thức tổ chức, phương pháp và cơ chếhoạt động hợp lý để phát huy tối đa trí tuệ tập thể cũng như tài năng cá nhâncủa nhà khoa học” Do đó, Nhà nước đã nghiên cứu và xây dựng “Chiến lượcphát triển tư vấn Việt Nam đến năm 2020” (như một nội dung trong tổng thể
“Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020”) đểnhằm cụ thể hoá chủ trương và đáp ứng yêu cầu cấp thiết về phát triển tư vấnViệt Nam
1.2 Trình độ phát triển của ngành tư vấn Việt Nam trong thời gian qua.
Để đánh giá trình độ phát triển của ngành tư vấn, người ta thường dunghai tiêu chí là số lượng chuyên gia tư vấn và thị phần của các Công ty tư vấntrong nước so với thị phần của các Công ty tư vấn nước ngoài Số chuyên gia tưvấn dung để đo mức tăng trưởng về quy mô và mức độ chuyên nghiệp của tưvấn Việt Nam Thị phần tư vấn thể hiện sự vươn lên về trình độ chuyên môn vànăng lực của Công ty tư vấn Việt Nam so với tư vấn nước ngoài trong các dự ánphát triển và thể hiện một phần sự đóng góp của tư vấn Việt Nam (tiết kiệm chiphí thuê tư vấn nước ngoài, tăng sự tự chủ, độc lập trong việc giải quyết các bàitoán thực tiễn đặt ra)
Về số lượng chuyên gia tư vấn, số lượng chuyên gia có trình độ đại họctrở lên làm việc thường xuyên trong Công ty Việt Nam hành nghề tư vấn
Trang 22chuyên nghiệp trong 3 lĩnh vực chủ yếu : tư vấn kỹ thuật – xây dựng, tư vấn đầu
tư - quản lý, tư vấn pháp lý đã tăng lên tương đối nhiều so với giai đoạn đầuphát triển Điều này cho thấy ngành tư vấn của Việt Nam có mức tăng trưởng
về quy mô và mức chuyên nghiệp đáng kể trong thời gian vừa qua Nếu nhưtrước năm 1995, số lượng chuyên gia tư vấn của Việt Nam còn dưới 15.000người nhưng đến năm 1998 đã trên 15.000 người và hiện nay con số đó ướctính là khoảng 25.000 người
Về thị phần, tỷ lệ giữa tổng doanh thu của các Công ty tư vấn của ViệtNam so với tổng phí đầu tư nước ngoài từ các dự án tài trợ ODA tại Việt Nam
đã tăng lên đáng kể trong những năm vừa qua Điều này cho thấy sự vươn lênđánh kể về số lượng và mức độ chuyên nghiệp của ngành tư vấn Việt Namtrong nhữn năm vừa qua Nếu như thị phần so với tư vấn nước ngoài trong các
dự án ODA tại Việt Nam khoảng 10-15% từ giai đoạn 1995 đến 1998 thì đếnnay thị phần của các Công ty tư vấn trong nước đã chiếm trên 25% so với tưvấn Quốc tế Hiện nay, đối với các gói thấu tư vấn có giá trị nhỏ, thường là dưới200.000 USD, các nhà tài trợ đã đồng ý cho phép Công ty tư vấn Việt Nam đảmnhận thực hiện 100% Đối với gói thầu có giá trị lớn, các nhà tài trợ thường quyđịnh một mức tối thiểu sự tham gia của các chuyên gia tư vấn Việt Nam vào góithầu (thường là 15-20%)
2 Định hướng phát triển tư vấn Việt Nam đến năm 2020
2.1 Giai đoạn 1 : Giai đoạn khởi đầu (1990 -1995)
Đặc điểm của giai đoạn này là ngành tư vấn bắt đầu làm quen với cácdịch vụ tư vấn độc lập, phát triển tự phát, tư vấn được coi là một nghề “dễ” mà
ai cũng làm được Về cơ cấu của ngành, gần 100% là các doanh nghiệp Nhànước, tổ chức tập thể trực thuộc các Bộ, ngành, địa phương, còn lẫn lộn giữachức năng kinh doanh thuần tuý (tư vấn độc lập) và chức năng tham mưu cho
Trang 23các cơ quan quản lý (tư vấn nội bộ) Số lượng chuyên gia tư vấn giai đoạn nàytương đối ít và doanh thu tư vấn của giai đoạn này tương đối thấp.
2.2 Giai đoạn 2 : Giai đoạn định hướng (1996 - 2000)
Mục tiêu của ngành tư vấn của giai đoạn này là làm thay đổi cơ bảnnhận thức của xã hội đối với công tác tư vấn, hình thành các yếu tố cần thiết để
tư vấn trở thành một nghề chuyên môn (phát triển tính chuyên nghiệp của tưvấn) và chủ yếu chấp nhận làm thầu phụ cho tư vấn nước ngoài trong các dự ánphát triển
2.3 Giai đoạn 3 : Tầm nhìn ngắn hạn – Giai đoạn lấy đà (2000 -2005)
Mục tiêu của ngành tư vấn giai đoạn này là thực sư trở thành một nghềchuyên môn tại Việt Nam, nắm vững công nghệ tư vấn tiên tiến thông qua họchỏi, chuyển giao công nghệ và ngành tư vấn của Việt Nam đảm nhận làm tưvấn chính trong hầu hết các dự án phát triển không đòi hỏi công nghệ cao cóquy mô nhỏ và vẫn chịu chấp nhận làm thầu phụ cho tư vấn nước ngoài trongcác dự án phát triển có quy mô vừa và lớn
2.4 Giai đoạn 4 : Tầm nhìn trung hạn – Giai đoạn tăng tốc (2006-2010)
Mục tiêu của ngành tư vấn giai đoạn này là trình độ chuyên môn trongmột số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến như các nước trong khu vực Tư vấn củaViệt Nam đảm nhận là tư vấn chính trong hầu hết dự án quy mô nhỏ và vừa,chấp nhận là thầu phụ trong một số dự án phát triển quy mô lớn và trình độ ởgiai đoạn này trong một số lĩnh vực, tư vấn phải có đủ khả năng đấu thầu tư vấn
và các dự án phát triển trong khu vực
Trang 242.5 Giai đoạn 5 : Tầm nhìn dài hạn _ Giai đoạn cất cánh (2011 -2020)
Mục tiêu của ngành tư vấn giai đoạn này là trình độ chuyên môn của tưvấn Việt Nam trong hầu hết các lĩnh vực phải đạt đến trình độ tiên tiến của cácnước trong khu vực, đứng đầu khu vực trong một số lĩnh vực mà Việt Nam cóthế mạnh Ngoài ra, ngành tư vấn có thể giải quyết hầu hết các bài toán đặt ra,
có thể đảm nhiệm làm tư vấn chính trong hấu hết các dự án, đồng thời tham giatích cực vào các dự án phát triển trong khu vực
Trang 25CHƯƠNG 2 Thực trạng năng lực cung cấp dịch vụ tư vấn cho các Dự án
phát triển tại Công ty ADCC
I Giới thiệu công ty ADCC :
1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty ADCC:
- Tên Doanh nghiệp: Công ty Thiết kế và Tư vấn xây dựng công trình hàng
không Quân chủng Phòng không - Không quân;
- Tên tiếng Anh: Airport Design and Construction Consultancy Company;
- Tên viết tắt: ADCC;
- Địa chỉ giao dịch: 180 đường Trường Chinh, Phường Khương Thượng,
Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội;
kế và Xây dựng công trình hàng không thuộc Quân chủng Không quân
Ra đời trong điều kiện kinh tế của đất nước đang chuyển sang nềnkinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Xí nghiệp KS, TK và XD công trìnhhàng không đã tận dụng tốt các lợi thế và thế mạnh sẵn có của Quân chủngKhông quân, nhanh chóng triển khai thực hiện các Dự án, tiến hành các hoạtđộng SXKD Với số vốn ban đầu gần như không có, Xí nghiệp đã mạnh dạnvay vốn và nhanh chóng tạo ra lợi nhuận Từ những cơ sở vật chất sơ khai thuở
Trang 26ban đầu, Xí nghiệp đã dần dần nâng cấp điều kiện làm việc, mua sắm trang,thiết bị phục vụ SXKD bằng chính từ lợi nhuận của mình.
Mặc dù mới thành lập, công tác ổn định và củng cố tổ chức chiếmkhá nhiều công sức nhưng Xí nghiệp đã tiến hành SXKD có hiệu quả Năm
1990 - năm đầu tiên tham gia vào Thị trường, Doanh thu của Xí nghiệp đã đạt3,5 tỷ VNĐ và năm 1991 đạt 5,0 tỷ VNĐ Năm 1992 - sau 2 năm thành lập, Xínghiệp đã bắt tay vào triển khai 2 Hợp đồng kinh tế lớn cho HKDD là: Thi côngnâng cấp đường cất hạ cánh Cảng hàng không Quốc tế Đà Nẵng và Thiết kế quihoạch CHK QT Nội Bài Đây là 2 công trình có qui mô lớn, đánh dấu một bướctrưởng thành vượt bậc của Xí nghiệp Lần đầu tiên, Xí nghiệp đã vươn ra khỏithị trường truyền thống của Quân chủng Không quân, tạo ra tiền đề cho sự pháttriển của các Công ty sau này
Thực hiện Nghị định số 388/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Quân chủngKhông quân đã tách Xí nghiệp thành 2 Công ty với chức năng tư vấn và xâydựng riêng rẽ nhau Ngày 18/10/1992, Bộ Tổng Tham mưu đã ký Quyết địnhtách Xí nghiệp Khảo sát, Thiết kế và Xây dựng công trình hàng không thànhCông ty Thiết kế và tư vấn xây dựng công trình hàng không ( ADCC ) và Công
ty xây dựng công trình hàng không ( ACC ) Ngày 27/7/1993, Bộ trưởng BộQuốc phòng đã ký Quyết định số 374/QĐ-QP thành lập Công ty thiết kế và tưvấn xây dựng công trình hàng không ( ADCC ) Như vậy, từ một Xí nghiệpkinh doanh đảm nhiệm 2 chức năng đã phát triển thành 2 Công ty với 2 chứcnăng cơ bản riêng biệt Đây là một bước tiến quan trọng của một doanh nghiệpquân đội trong cơ chế thị trường
Với tư cách là một Công ty hạch toán độc lập, ngay sau khi tách ra, Công
ty ADCC đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bắt tay vào thực hiện những nhiệm
vụ SXKD theo chức năng, nhiệm vụ của mình Với phương châm vừa củng cốlực lượng, vừa tiến hành sản xuất kinh doanh, năm 1993, Công ty ADCC tiếp
Trang 27tục tiến hành Dự án thiết kế qui hoạch CHK QT Nội Bài Ngay trong năm đầutiên hoạt động độc lập, Công ty đã được các Chủ đầu tư tin tưởng giao cho cácnhiệm vụ: Lập Luận chứng KTKT đầu tư nâng cấp đường CHC CHK Cát Bi( Hải Phòng ), Lập Luận chứng KTKT đầu tư nâng cấp đường CHC CHK PhúBài ( Huế ) và Lập Luận chứng KTKT đầu tư xây dựng CHK Cần Thơ ( HậuGiang )
Năm 1994, ngoài các công trình chuyển tiếp, Công ty tiếp tục nhận đượccác công trình như: Qui hoạch CHK QT Đà Nẵng, qui hoạch mạng sân bay dândụng toàn quốc Doanh thu của Công ty trong năm đạt gần 3 tỷ VNĐ Trongnăm 1994, Công ty đã lập Dự án nâng cấp sân đỗ máy bay CHK QT Tân SơnNhất ( TP Hồ Chí Minh ) Sau này, công tác thiết kế công trình này được tặnghuy chương vàng và là 1 trong 10 công trình xây dựng tiêu biểu của thập kỷ 90của Thế kỷ 20 Cho đến nay, công tác thiết kế công trình này vẫn là công trìnhthiết kế duy nhất được tặng thưởng huy chương vàng của ngành xây dựng.Năm 1995, cả 2 lĩnh vực quân sự và dân dụng đều có nhu cầu khá lớntrong đầu tư qui hoạch, xây dựng các công trình hàng không, Công ty đã thểhiện năng lực của mình ở hầu hết các chức năng: lập Dự án, tư vấn, khảo sát,thiết kế, thẩm định, kiểm định và tư vấn giám sát Công ty tiếp tục nhận đượccác đơn hàng từ các Chủ đầu tư Doanh thu năm 1995 của Công ty đạt gần 6 tỷVNĐ
Ngày 17/5/1996, Quân chủng Không quân ký Quyết định số QCKQ sát nhập Công ty ADCC và một số công ty xây dựng khác vào TổngCông ty bay dịch vụ Việt Nam Trong năm này, Công ty ADCC đã triển khaithêm hàng loạt các công trình khác trên khắp mọi miền của Tổ quốc Doanh thucủa Công ty trong năm đã vượt qua con số 6 tỷ VNĐ
341/QĐ-Năm 1997, đầu tư xây dựng các công trình hàng không tiếp tục tăng Chính
vì lý do này, công tác tư vấn cũng tăng so với những năm trước đó Doanh thu
Trang 28trong năm của Công ty đạt 6,5 tỷ VNĐ Cũng trong năm 1997, Bộ Quốc phòng
ra quyết định phân định doanh nghiệp nhà nước trong quân đội Công ty ADCCđược phân định là doanh nghiệp kinh tế-quốc phòng
Năm 1998, tình hình Thế giới diễn biến khá phức tạp Cuộc khủng hoảngtài chính, tiền tệ đã phát triển thành khủng hoảng về kinh tế trong khu vực Điềunày ảnh hưởng không những đến sự phát triển của ngành hàng không mà cònảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Chính vì vậy, nhu cầu đầu
tư xây dựng của ngành hàng không đột ngột giảm sút Tuy nhiên, trong lĩnh vực
tư vấn xây dựng hàng không, Công ty ADCC vẫn giữ vững vị trí hàng đầu,chiếm lĩnh hầu hết thị phần và doanh thu vẫn đạt gần 6 tỷ VNĐ
Sang năm 1999, tình hình kinh tế trong nước và khu vực có dấu hiệu phụchồi và phát triển Nhu cầu hành khách đi lai bằng đường hàng không ngày càngtăng Nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng của ngành hàng không phát triển nhanhnhưng vẫn không theo kịp tốc độ phát triển nhu cầu vận chuyển Hàng loạt cácCHK cần phải được nâng cấp Một loạt các CHK khác cần phải được xây mới.Đón trước được nhu cầu phát triển đó, Công ty đã mạnh dạn đầu tư vào trang,thiết bị và con người, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêucầu ngày càng cao của thị trường
Năm 1999, Công ty đã tham gia vào hầu hết các dự án qui hoạch các Cảnghàng không trong cả nước như: Cát Bi, Gia Lâm, Điện Biên Phủ, Vinh, Nà Sản.Phù Cát, Pleiku, Nha Trang, Cà Mau Doanh thu trong năm của Công ty đã trởlại con số 6,5tỷ VNĐ
Sang năm 2000, nhu cầu đầu tư trong ngành hàng không vẫn tiếp tục tăng.Doanh thu trong năm đạt gần 7 tỷ VNĐ
Năm 2001 đánh dấu bằng sự kiện Công ty được mời tham gia tư vấn xâydựng nhà ga hành khách CHK QT Tân Sơn Nhất với nhà thầu Nhật Bản Đây là
Trang 29một sự kiện đánh dấu sự phát triển vượt bậc của Công ty trong lĩnh vực tư vấncác công trình hàng không Doanh thu trong năm đạt 7,5tỷ VNĐ.
Năm 2002, trước tình hình công việc tư vấn chuyên ngành không có nhữngbước đột biến, Ban Lãnh đạo Công ty quyết tâm tham gia thị trường giao thông
và các thị trường khác Đây là một quyết định rất quan trọng, mang tính độtphá Chính vì vậy, doanh thu của Công ty đã tăng lên con số 8,5 tỷ VNĐ
Năm 2003 là năm đột biến nhất của Doanh nghiệp Công ty liên tiếp nhậnđược các công trình lớn, thường xuyên là nơi tiếp xúc với các nhà tư vấn nướcngoài Qui mô của doanh nghiệp được mở rộng vào những năm trước đã pháthuy tác dụng Lần đầu tiên trong hơn 10 năm hoạt động, doanh thu của Công ty
đã vượt ngưỡng 10 tỷ và đạt con số hơn 11 tỷ VNĐ
Từ năm 2004 đến nay, Công ty ADCC đã bước sang giai đoạn phát triểnmới Thực hiện lộ trình sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp Quân đội, từ tháng8/2004, Công ty ADCC đã tách ra khỏi Quân chủng Phòng không - Không quân
và trở thành đầu mối trực thuộc Quân chủng Nhờ sự quan tâm trực tiếp của các
cơ quan Quân chủng và các Thủ trưởng Quân chủng, Công ty ADCC phát triểnnhư vũ bão với doanh thu không ngừng tăng ( 2004 - gần 15 tỷ, 2005 - gần 17
tỷ, 2006 - hơn 20 tỷ và 2007 - hơn 25 tỷ )
2 Quy mô hiện tại của công ty
Hiện nay Công ty ADCC có gần 150 lao động, trong đó có 3 Tiến sỹ,
10 Thạc sỹ và gần 130 Kỹ sư, Kiến trúc sư;
Công ty hiện có 15 Bộ phận, trong đó có 7 bộ phận quản lý và 8 bộphận sản xuất
Về Doanh thu, Công ty ADCC năm 2007 đạt hơn 25,0 tỷ VNĐ, nộpNhà nước và cấp trên gần 4 tỷ VNĐ
Trang 30Về Tài sản: Là một Doanh nghiệp Tư vấn nên Giá trị TSCĐ củaCông ty ADCC không lớn, chủ yếu tập trung vào Nhà cửa, vật kiến trúc; Máymóc, thiết bị khảo sát và Phương tiện vận tải ( ô tô ) Tổng giá trị tài sản cố địnhcủa Công ty ADCC vào thời điểm 31/12/2006 là gần 6.000 triệu VNĐ.
Căn cứ vào qui mô hiện tại của Công ty ADCC và các tiêu chí xếploại Doanh nghiệp của Nhà nước, Công ty ADCC là một Doanh nghiệp Tư vấnxây dựng loại nhỏ do doanh thu và qui mô doanh nghiệp Tuy nhiên, chức năng
và nhiệm vụ của Công ty lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triểncủa các ngành kinh tế của Việt Nam cũng như việc đảm bảo an ninh, quốcphòng của cả nước Chính vì vậy, Công ty ADCC vẫn được xếp là Doanhnghiệp loại I của Nhà nước
3 Tình hình tổ chức nhân sự :
3.1 Sơ đồ tổ chức :
Các doanh nghiệp thiết kế thường tổ chức theo kiểu trực tuyến kết hợpvới chức năng Trong sơ đồ tổ chức này, giám đốc là người đưa ra quyết địnhsau khi tham khảo ý kiến của các phòng ban chức năng Các phòng ban chứcnăng có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho giám đốc
3.2 Vai trò của các bộ phận trong sơ đồ tổ chức :
Trang 31- Giám đốc Công ty chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước cấp trên và tổchức xây dựng lực lượng và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty có hiệuquả, bảo tồn và phát triển vốn giao, thực hiện nghĩa vụ thu nộp ngân sách, nângcao đời sống cán bộ công nhân viên, duy trì và phát triển năng lực Quốc phòng
- Phó Giám đốc thay mặt giám đốc phụ trách, giải quyết các lĩnh vực côngtác theo sự phân công của Giám đốc, đảm bảo thực hiện đường lối chính sáchcủa Đảng và Pháp luật Nhà nước, Bộ Quốc phòng, các quy định của Công ty vàchịu trách nhiệm về các quyết định cụ thể của mình
- Phó Giám đốc giúp Giám đốc tổ chức thực hiện chương trình làm việccủa lãnh đạo Công ty và phối hợp với nhau thực hiện công tác lãnh đạo khivắng mặt Giám đốc
3.2.2 Trưởng phòng - Chủ nhiệm Chính trị :
- Chủ nhiệm Chính trị là Thủ trưởng Phòng Chính trị, là người trực tiếp tổchức, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện toàn diện các nội dung công tác Đảng,công tác Chính trị trong Công ty, hoạt động dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cấpmình; sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Giám đốc về Chính trị và hướng dẫn của cơquan chính trị cấp trên
- Quản lý, xây dựng phòng Chính trị vững mạnh toàn diện, hoàn thành cácnhiệm vụ được giao
Trang 323.2.3 Kế toán trưởng, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán :
- Kế toán trưởng là người giúp việc, tham mưu về chuyên môn nghiệp vụcho Giám đốc, chỉ đạo công tác kế toán tài chính, thống kê và hạch toán kinh tếtrong toàn Công ty
- Kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc và sự chỉ đạonghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
3.2.4 Trưởng Phòng Kế hoạch :
- Trưởng phòng Kế hoạch là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụ choGiám đốc xây dựng, quản lý, triển khai, kiểm tra, tổng kết báo cáo kế hoạch sảnxuất kinh doanh và xây dựng đơn vị Công ty
- Trưởng phòng Kế hoạch chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc, PhóGiám đốc phụ trách kế hoạch và sự chỉ đạo nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
- Trưởng Phòng Kế hoạch có quyền điều phối, phân công lao động trong
bộ phận hoàn thành nhiệm vụ được giao, đề xuất, giải quyết các vấn đề điềuchỉnh, bổ sung người lao động, trang thiết bị trong bộ phận
3.2.5 Trưởng Phòng Kinh doanh :
- Trưởng Phòng Kinh doanh là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụcho Giám đốc trong lĩnh vực kinh doanh tổng hợp và phát triển thị trường củaCông ty
- Trưởng Phòng Kinh doanh chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc, PhóGiám đốc phụ trách kinh doanh và sự chỉ đạo nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
- Trưởng Phòng Kinh doanh có quyền điều phối, phân công lao động trong
bộ phận hoàn thành nhiệm vụ được giao, đề xuất, giải quyết các vấn đề điềuchỉnh, bổ sung người lao động, trang thiết bị trong bộ phận
Trang 333.2.6 Trưởng Phòng Kỹ thuật :
- Trưởng Phòng Kỹ thuật là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụ choGiám đốc quản lý sản xuất về tiến độ, khối lượng, chất lượng và các hoạt độngkhoa học - kỹ thuật – công nghệ trong Công ty
- Trưởng Phòng Kỹ thuật chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Phó Giám đốc kỹthuật và sự chỉ đạo nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
- Trưởng Phòng Kỹ thuật có quyền điều phối, phân công lao động trong bộphận hoàn thành nhiệm vụ được giao, đề xuất, giải quyết các vấn đề điều chỉnh,
bổ sung người lao động, trang thiết bị trong bộ phận
3.2.7 Trưởng Phòng Tổ chức – Lao động - Tiền lương :
- Trưởng Phòng Tổ chức – Lao động - Tiền lương là người giúp việc choGiám đốc Công ty về công tác tổ chức biên chế, xây dựng lực lượng, quản lýlao động và thực hiện các chế độ chính sách xã hội, lao động - tiền lương theocác nhiệm vụ của Công ty
- Trưởng Phòng Tố chức – Lao động - Tiền lương chịu sự chỉ đạo trực tiếpcủa Giám đốc và sự chỉ đạo về nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
3.2.8 Chánh Văn phòng :
- Chánh Văn phòng là ngươig giúp việc về công tác hành chính cho Giámđốc, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Phó Giám đốc phụ trách công tác văn phòng
và sự chỉ đạo nghiệp vụ của ngành dọc cấp trên
- Chánh Văn phòng có quyền điều phối, phân công lao động trong bộ phậnhoàn thành nhiệm vụ được giao, đề xuất, giải quyết các vấn đề điều chỉnh, bổsung người lao động, trang thiết bị trong bộ phận
Trang 343.2.9 Các Trợ lý bộ phận gián tiếp :
- Trợ lý Kế hoạch : là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụ choTrưởng phòng Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởngphòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về kết quả, chất lượng côngviệc và sản phẩm của mình
- Trợ lý Kinh doanh : là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụ choTrưởng phòng Kinh doanh, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởngphòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về kết quả, chất lượng côngviệc và sản phẩm của mình
- Trợ lý Kỹ thuật : Là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụ choTrưởng phòng Kỹ thuật thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởngphòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng về kết quả, chất lượng côngviệc và sản phẩm của mình
- Trợ lý Kế toán tổng hợp : là người giúp việc về chuyên môn nghiệp vụcho Kế toán trưởng, Trưởng phòng Tài chính - Kế toán thực hiện nhiệm vụ theo
sự phân công của Trưởng phòng và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng vềkết quả, chất lượng công việc và sản phẩm của mình Trợ lý Kế toán tổng hợpchịu sự hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của Kế toántrưởng
- Trợ lý Chính trị : là người giúp Chủ nhiệm Chính trị trong mọi hoạt độngcông tác Đảng, công tác Chính trị của Công ty
3.2.10 Nhiêm vụ của các bộ phận sản xuất :
* Xí nghiệp Tư vấn I (Sân bay, giao thông) :
- Lập quy hoạch, dự án, thiết kế các công trình sân bay, giao thông khu vựcmiền Bắc và quân sự toàn quốc
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng các công trình sân bay, giao thông
* Xí nghiệp tư vấn II (Sân bay, giao thông) :
Trang 35- Lập quy hoạch, dự án, thiết kế các công trình sân bay, giao thông khu vựcmiền Trung và miền Nam.
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng các công trình sân bay, giao thông
* Xí nghiệp Tư vấn dân dụng và công nghiệp :
- Tư vấn xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp trên địa bàn toànquốc
- Tư vấn xây dựng các công trình kiến trúc hàng không, doanh trại quân sự
* Trung tâm Khảo sát - Kiểm định :
- Khảo sát địa chất
- Khảo sát đo đạc địa hình
- Thí nghiệm, khảo sát vật liệu xây dựng
- Khoan nước ngầm
- Tư vấn giám sát thi công xây dựng và kiểm định chất lượng công trìnhxây dựng
* Trung tâm Kinh tế - Đầu tư :
- Lập dự toán chi tiết và tổng dự toán công trình
- Lập dự toán đề cương khảo sát, lập dự án, thiết kế
- Nghiên cứu các đơn giá định mức dự toán riêng cho các công trình sânbay và các công trình đặc biệt khác
- Nghiên cứu các vấn đề về giá, chi phí thực hiện dự án
* Xí nghiệp Xây dựng công trình :
- Thi công xây lắp các công trình trên địa bàn toàn quốc
Trang 36- Kinh doanh các ngành nghề do Công ty uỷ quyền tại khu vực miềnTrung.
* Chi nhánh Nha Trang :
- Kinh doanh các ngành nghề do Công ty uỷ quyền tại khu vực Nha Trang
* Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh :
- Kinh doanh các ngành nghề do Công ty uỷ quyền tại khu vực miền Nam
3.2.11 Trưởng các bộ phận sản xuất :
Bao gồm : Giám đốc Xí nghiệp Thiết kế I, Giám đốc Xí nghiệp Thiết kế
II, Giám đốc Xí nghiệp Thiết kế III, Giám đốc Trung tâm Khảo sát, Kiểm định
và TNCN, Giám đốc Trung tâm Kinh tế Đầu tư, Đội trưởng Đội Dự án
- Trưởng các bộ phận sản xuất là người được Tư lệnh Quân chủng bổnhiệm theo đề nghị của Giám đốc Công ty và chịu trách nhiệm trước Giám đốcCông ty về việc điều hành mọi hoạt động của bộ phận mình theo chức năng,quyền hạn, nhiệm vụ do Giám đốc Công ty quy định
- Chịu trách nhiệm trước Giám đốc về chất lượng công việc và sản phẩmcủa bộ phận mình
- Có quyền phân công, điều hành hoạt động trong bộ phận để tổ chức sảnxuất đạt hiệu quả, đề xuất các vấn đề điều chỉnh, bổ sung lao động, trang thiết
bị trong bộ phận
3.2.12 Phó Giám đốc các bộ phận sản xuất :
Bao gồm : Phó Giám đốc các Xí nghiệp, Trung tâm
- Phó Giám đốc các Xí nghiệp, Trung tâm trực thuộc Công ty có tráchnhiệm giúp Trưởng Bộ phận thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực được phâncông
Trang 37- Phó Giám đốc các Xí nghiệp, Trung tâm trực thuộc Công ty thay mặtTrưởng Bộ phận tổ chức thực hiện các công việc của bộ phận khi vắng mặtTrưởng Bộ phận.
3.2.13 Phụ trách các Xưởng, Đội trực thuộc các Xí nghiệp, Trung tâm :
- Xưởng trưởng, Đội trưởng phụ trách các Xưởng, Đội tổ chức thực hiệnnhiệm vụ của Trưởng Bộ phận phân công và chịu trách nhiệm trước Trưởng Bộphận về kết quả, chất lượng công việc và sản phẩm của đơn vị mình
3.2.14 Các trợ lý, nhân viên bộ phận sản xuất :
- Là cán bộ, nhân viên chuyên ngành kỹ thuật (kỹ sư xây dựng dân dụng,xây dựng cầu đường, sân bay, điện nước, đo đạc, địa chất, kiến trúc sư), chịutrách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật chuyên ngành và các nhiệm vụkhác được giao
- Thực hiện nhiệm vụ của Trưởng Bộ phận phân công và chịu trách nhiệmtrước Trưởng Bộ phận về kết quả, chất lượng công việc và sản phẩm của mình