1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội

67 6,9K 46
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Thực Trạng Và Giải Pháp Sản Xuất Và Tiêu Thụ Rau An Toàn Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thuỳ Linh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 726 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn : Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu

Chương I: Cơ sở lý luận và thưc tiễn của sản xuất và tiêu thụ rau sạch ở Hà Nội

I, Cơ sở lý luận sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại Hà Nội

1 Vai trò của sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại Hà Nội

1.1 Vai trò của sản xuất

1.2 Vai trò của tiêu thụ rau sạch

2 Đặc điểm của sản xuất và thị trường tiêu thụ rau

2.1 Đặc điểm về sản xuất rau

2.2 Đặc điểm thị trường tiêu thụ rau

3 Rau sạch, tiêu chuẩn rau sạch

3.1 Khái niệm rau sạch

3.2 Tiêu chuẩn rau sạch

4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau sạch

4.1 Nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất rau sạch

4.2 Nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ rau sạch

5 Sự cần thiết, nội dung của sản xuất và tiêu thụ rau sạch

5.1 Sự cần thiết của sản xuất và tiêu thụ rau sạch

5.2 Nội dung

a Về sản xuất rau sạch

b Tiêu thụ:

II Cơ sở thực tiễn của sản xuất và tiêu thụ rau sạch

1 Tình hình tiêu thụ và nhu cầu rau sạch trên thế giới

2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau sạch ở Việt Nam

2.1 Sản xuất rau sạch

2.2 Tiêu thụ rau sạch

3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ rau sạch tại một số tỉnh ở Việt Nam

Trang 2

Chương II Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau sạch trên địa bàn thành phố Hà NộiI.Lợi thế của Hà Nội trong sản xuất và tiêu thụ rau sạch

1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và thổ nhưỡng

2 Điều kiện kinh tế xã hội

II Khó khăn của Hà Nội trong việc sản xuất và tiêu thụ rau sạch

III Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau sạch trên địa bàn thành phố Hà Nội

1 Tình hình sản xuất rau sạch ở Hà Nội

2 Tình hình tiêu thụ rau sạch ở Hà Nội

3 Đánh giá kết quả đạt được của Hà Nội trong việc sản xuất và tiêu thụ rau sạch vànhững vấn đề còn tồn tại

3.1, đánh giá kết quả đạt được

3.2, Những vấn đề tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ rau sạch ở Hà Nội

Chương III Phương hướng và một số giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất và tiêu thụrau sạch ở Hà Nội

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Nhìn lại những bước tiến đổi mới vượt bậc của một năm trôi qua sau khi Việt Nam

ra nhập tổ chức thương mại thế giới(WTO), nền kinh tế nước ta có những bước đi lênđáng kể, đặc biệt nền nông nghiệp có những chuyển biến rõ rệt: Nông sản được giáhơn, thị trường xuất khẩu lớn, sản phẩm phong phú đa dạng, có chất lượng cao… Vàcuộc sống con người cũng đang tiến lên một bậc trong xu thế phát triển Vấn đề đángquan tâm là cùng với sự phát triển của đời sống là hàng loạt các vấn đề như: Chỉ số giátiêu dùng, lạm phát và giá cả thị trường tăng nhanh một cách chóng mặt Thế còn nhucầu con người thì sao? Nhu cầu của người tiêu dùng đang phát triển ở mức độ nào?

Điều này có thể khẳng định chắc chắn nhu cầungười tiêu dùng ngày càng tăng lên theo thờigian, và nhu cầu đó rất phong phú và đa dạng

Để đáp ứng nhu cầu mang lại lợi ích tốt nhấttới người tiêu dùng, vấn đề lớn nhất là các sảnphẩm cung cấp phải đạt tiêu chuẩn về chất lượng,mẫu mã, sản phẩm, và lại càng có ý nghĩa hơnđối với hàng nông sản làm thế nào để tạo đượclòng tin đối với người tiêu dùng, cuộc sống con người phát triển thì nhu cầu con ngườicũng tăng theo, đối với hàng nông sản thì tiêu dùng sản phẩm “nông nghiệp sạch” tấtyếu sẽ trở thành xu thế phổ biến

Với những thành phố lớn phát triển như Hà Nội, Thành Phố HCM… thì nhu cầu

đó ngày càng cao Vấn đề đang được xã hội rất quan tâm là chất lượng vệ sinh an toànthực phẩm, khi xã hội phát triển, đời sống người dân được nâng cao họ luôn quan tâmđến chất lượng sản phẩm, họ sẵn sàng trả mức giá cao gấp 1,5-2 lần để làm sao cóđược sản phẩm chất lượng tốt, nhưng trên thị trường hiện nay không ít cơ sở kinhdoanh lợi dụng thương hiệu “rau an toàn” để lừa phỉnh người tiêu dùng, cửa hàngmang tên rau an toàn lại bán rau không nguồn gốc, làm cho người tiêu dùng khó có thể

Trang 4

phân biệt được gây khó khăn cho họ khi ra quyết định tiêu dùng một “sản phẩm sạch”nào đó Chính vì lý do này em đã lựa chọ đề tài nghiên cứu “Một số thực trạng và giảipháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội” Hà Nội- mộtthành phố phát triển, đông dân, đời sống cao thì nhu cầu rau an toàn rất lớn, Hà Nội đãtrở thành thị trường tiêu thụ lớn, là cơ hội cho người sản xuất rau ở Hà Nội đi sâu khaithác thị trường rất tiềm năng này Cùng với vấn đề này hàng loạt các vấn đề cần quantâm: nước tưới, chất lượng thật của rau…và đặt ra khá nhiều thách thức đối với ngườisản xuất cũng như Nhà nước cần phải làm gì để tạo lòng tin cho người tiêu dùng Hơnnữa với tư cách là một sinh viên kinh tế, đặc biệt là sinh viên khoa KTNN&PTNT việclựa chọn chuyên đề này là rất quan trọng giúp em có thêm hiểu biết về thực tế xuhướng phát triển nhu cầu người tiêu dùng Hà Nội, cả nước trong tương lai và thấy được

xu thế tất yếu của nền nông nghiệp nước ta trong công cuộc xây dựng từng bước mộtnền “Nông nghiệp sạch Việt Nam”

Thông qua bài viết này em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô TH.S Võ ThịHoà Loan đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tôt nghiệp này Tuy nhiên do khuônkhổ đề tài và kiến thức có hạn nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót Chính vì vậy em rấtmong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô

Trang 5

Chương I:Cơ sở lý luận và thực tiễn của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội.

I.Cơ sở lý luận sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Hà Nội

1.Vai trò của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại Hà Nội

1.1.Vai trò của sản xuất rau an toàn

- Đối với người tiêu dùng: Chính rau tươi,khô, ăn sống hay nấu chín sẽ cung cấpmột lượng Vitamin thiên nhiên và các khoáng vi lượng cần thiết cho cơ thể Khi được

bổ sung Vitamin cần thiết cho cơ thể, các phản ánh song hoá trong cơ thể diễn ra trọnvẹn, hỗ trợ hoạt động bình thường của các tuyến nội tiết, bảo vệ hệ thần kinh Từ đó cơthể giảm bớt bệnh tật (chống lão hoá,chống tim mạch, chôgn ung thư, chống loãngxương…), cắt đứt vòng luẩn quẩn đói nghèo, bệnh tật

- Đối với người sản xuất: sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tạo điều kiện cho ngườinông dân có thu nhập cao( nếu đạt được tiêu chuẩn rau an toàn thì giá cao hơn gấp 1,5-

2 lần so với rau thường), người sản xuất có thể tiếp cận với công nghệ kỹ thuật tiên tiếntrong sản xuất: công nghệ trồng trong nhà lưới, vườn treo không dùng đất, kỹ thuậttrồng rau…Và với xu thế tiêu dùng những “sản phẩm sạch” khi đất nước ngày càngphát triển, thu nhập ngày càng tăng, sức khoẻ là vấn đề đặt lên hàng đầu thì việc tăngcường sản xuất rau an toàn là để đáp ứng mặt cầu của người tiêu dùng

1.2.Vai trò của tiêu thụ rau an toàn.

- Tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh của các thành phầnkinh tế Đó là quá trình thực hiện giá trị sản phẩm, là giai đoạn đưa sản phẩm ra khỏiquá trình sản xuất bước vào lưu thông và từ lưu thông tới người tiêu dùng Tiêu thụ hết

và kịp thời giá trị sản phẩm là một tín hiệu tốt cho các cơ sở sản xuất điều chỉnh kếhoạch hợp lý cho quá trình sản xuất tiếp theo, giúp cho cơ sở sử dụng hợp lý các yếu tốnguồn lực

- Tiêu thụ là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Trong sản xuất hàng hoá tiêu thụđóng vai trò quyết định Sản phẩm mà sản xuất ra không tiêu thụ được báo hiệu sự bế

Trang 6

tắc không phát triển được của cơ sở sản xuất, nguy cơ thua lỗ phá sản là không thểtránh khỏi Mặc dù tiêu thụ là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh nó chỉdiễn ra sau quá trình sản xuất kết thúc nhưng lại là khâu đóng vai trò định hướng pháttriển cho các cơ sở.

2 Đặc điểm của sản xuất và thị trường tiêu thụ rau an toàn.

2.1 Đặc điểm về sản xuất rau.

Sản phẩm rau các loại(ở dạng tươi hoặc đã qua chế biến) ngày càng giữ một vị tríquan trọng trong tiêu dùng của đại bộ phận dân cư, nhu cầu về rau có xu hướng tănglên và thị trường rau thế giới đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà sản xuất kinhdoanh Tuy nhiên sản phẩm rau có những điểm đặc thù, đặt ra những đòi hỏi riêngtrong sản xuất và chế biến:

- Rau là cơ thể sống có quá trình phát sinh, phát triển riêng, là một trong nhữngmặt hàng dễ hỏng, dễ có sự hao hụt tổn thất( nhất là trong chế biến và vận chuyển) saukhi thu hoạch và có giá trị kinh tế tương đối thấp, vì thế muốn thu được hiệu quả kinhdoanh cao, các nhà sản xuất và kinh doanh phải có chế độ bảo quản tốt

- Rau tươi là sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, chất lượng dễ thay đổi dưới tácđộng của môi trường bên ngoài(nếu thời tiết nóng kích thích làm cho rau nhanh ủnghơn đặc biệt là các loại rau ăn lá nên chi phí bảo quản rau là rất lớn

- Sản xuất rau mang tính thời vụ cao: mùa nào thì rau ấy, và so với các loại khácrau có chu kỳ sống tương đối ngắn nên khả năng quay vòng trong snả xuất rau rất lớn.Tính thời vụ trong sản xuất rau thể hiện: mỗi loại rau thích ứng với thời vụ và điều kiệnphát triển riêng Từ đó bố trí trồng xen trồng gối các loại rau như thế nào để đạt năngsuất cao nhất trên một đơn vị diện tích mà vẫn đảm bảo được tính thời vụ

- Sản xuất rau phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và tính vùng cụ thể Điều đó thểhiện mỗi vùng có điều kiện khí hậu thời tiết rất khác nhau, điều kiện thời tiết khíhậu,lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điềukiện hình thành và sử dụng đất Mặt khác việc sản xuất rau cũng chịu ảnh hưởng lớn

Trang 7

của điều kiện tự nhiên: ví dụ như trong vụ trồng rau xảy ra mưa to, mưa đá có thể gây

ra mất trắng vụ rau đó…

Tóm lại để sản phẩm rau có thể đến tay người tiêu dùng thì việc sản xuất và kinhdoanh rau phải được hình thành trên cơ sở đồng bộ,khép kín.Từ kỹ thuật gieo trồng,trình độ thâm canh cao, tạo nguồn cung tập trung, đến quy trình xử lý hợp lý sau thuhoạch, hệ thống bảo quản và vận tải thích hợp

2.2 Đặc điểm về thị trường rau

- Cung trên thị trường rau có hệ số co giãn rất thấp đối với giá cả trong ngắn hạn,khi giá thị trường tăng hay giảm thì lượng cung cũng ít thay đổi do đặc điểm của quátrình sản xuất rau: Rau là đối tượng có yêu cầu phù hợp cao về đất đai, thổ nhưỡng, khíhậu…

- Cầu về rau có những đặc điểm chung như cầu mọi hàng hoá là chịu sự tác độngcủa rất nhiều yếu tố như: dân số, thu nhập người tiêu dùng, giá cả, phong tục, tập quán,thị hiếu…ngoài ra còn có một số đặc điểm cơ bản khác:

+ Chịu ảnh hưởng lớn bởi thói quen tiêu dùng, việc tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vàokhẩu vị của mỗi người, đặc điểm này rất quan trọng trong việc nghiên cứu, xác địnhnhu cầu khác nhau ở mỗi khu vực

+ Chất lượng và vệ sinh dịch tễ có tác động rất lớn tới nhu cầu tiêu thụ bởi mặthàng rau có tác động trực tiếp tới sức khoẻ và chế độ dinh dưỡng của người tiêu dùng.+ Có khả năng thay thế cao, khi giá một mặt hàng rau nào tăng lên thì người tiêudùng sẵn sàng chuyển sang mua mặt hàng rau khác

3.Rau an toàn?Tiêu chuẩn rau an toàn?

3.1.Khái niệm rau an toàn

Rau an toàn là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trên diệntích đất có thành phần hoá- thổ nhưỡng được kiểm soát( nhất là kiểm soát hàm lượngkim loại nặng và các chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất bảo vệ thựcvật và các chất thải sinh hoạt còn tồn đọng trong đất đai), được sản xuất theo những

Trang 8

quy trình kỹ thuật nhất định (đặc biệt là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu vàtưới nước), và nhờ vậy rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các

cơ quan quản lý nhà nước đặt ra

Gọi là rau an toàn, vì trong quá trình sản xuất rau, người ta vẫn sử dụng phân bónnguồn gốc vô cơ và các chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thờiđiểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các chất bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép.Trong rau an toàn vẫn tồn tại dư lượng các chất độc hại nhất định nhưng không đếnmức ảnh hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng

Trong đời sống hàng ngày rau an toàn được gọi là rau an toàn để phân biệt mộtcách chính xác hơn, khái niệm rau an toàn nên sử dụng để chỉ các loại rau được sảnxuất theo quy trình canh tác đặc biệt, như rau thuỷ canh,rau “hữu cơ”…Mức độ đảmbảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau an toàn cao hơn rau an toàn Rau

an toàn ở Việt Nam được nói tới chủ yếu để phân biệt với rau được canh tác bằng kỹthuật thông thường, khó kiểm soát trên góc độ vệ sinh an toàn thực phẩm Ở các nướcphát triển, với quy trình công nghệ sản xuất rau chuẩn hoá, với việc sử dụng phân bón

và chất bảo vệ thực vật kiểm soát được, vấn đề rau an toàn được kiểm soát

Khái niệm về rau “sạch” bao hàm rau có chất lượng tốt, có dư lượng các hoá chấtbảo vệ thực vật, các kim loại nặng (Cu Pb.Cd, As) Nitrat của con người ở dưới mứccác tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn của FAO,WTO Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất nhằm xác định mức độ nhất định về vệ sinh antoàn thực phẩm cho mặt hàng rau “sạch”

3.2 Tiêu chuẩn rau an toàn

Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản nhất là rau cần được quan tâm vì rau

là thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày, là nguồn cung cấp Vitamin,

vi lượng, chất xơ…cho con người không thể thay thế Việc ô nhiễm vi sinh vật, hoáchất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên rau, đặc biệt là rau ăn

lá đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâu dài tới sức khoẻ cộng đồng

Trang 9

Chính vì vậy việc đẩy nhanh sản xuất rau an toàn cung cấp tiêu dùng nội điạ và xuấtkhẩu đòi hỏi rất cần thiết, rau an toàn phải đạt những tiêu chuẩn sau:

+Về hình thái: Sản phẩm thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của loại rau,đúng độ chín kỹ thuật, không dập nát hư thối, không lẫn tạp, không sâu bệnh và có baogói thích hợp

+Về nội chất: phải đảm bảo mức quy định cho phép:

*Dư lượng các loại hoá chất bảo vệ thực phẩm trong sản phẩm rau

*Hàm lượng Nitrat tích luỹ trong sản phẩm rau

*Hàm lượng tích luỹ của một số kim loại nặng chủ yếu như: chì, thủy ngân, Asen,đồng…

*Mức độ ô nhiễm của các vi sinh vật gây bệnh

Sản phẩm rau chỉ được coi là bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm khi hàm lượngtồn dư trên không vượt quá giới hạn quy định

Tóm lại theo quan điểm của hầu hết các nhà khoa học cho rằng “rau an toàn” là raukhông dập nát,hư hỏng, không có đất, bụi bám quanh, không chứa các sản phẩm hoáhọc độc hại, hàm lượng Nitrat, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng nhưcác vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các tiêu chuẩn an toàn, và được trồngtrên các vùng đất không bị nhiễm kim loại nặng, canh tác theo những quy trình kỹthuật được gọi là quy trình tổng hợp, hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thựcvật ở mức độ tối thiểu cho phép

4.Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

4.1.Nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất rau an toàn

-Sản xuất phụ thuộc vào điều kiện khí hậu: Sản phẩm rau rất đa dạng, mỗi loại lại

có một quy trình gieo trồng cũng như cách bảo quản khác nhau

- Tính mùa vụ: Đây là đặc điểm quan trọng của sản phẩm nông nghiệp nóichung,và của sản phẩm rau nói riêng, Trước đây để có được sản phẩm cung cấp chomiền Nam thì miền Bắc lại phải tiến hành sản xuất sớm hơn vào mùa xuân và muộn

Trang 10

hơn vào mùa thu so với mùa vụ của miền Nam nước ta.Tuy nhiên nhiều năm trở lại đâynhờ có những cải tiến trong phương pháp sản xuất cũng như đa dạng các loại rau màngười nông dân lại có điều kiện mở rộng mùa vụ sản xuất của mình.

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: Đây là điều kiện tiên quyết để mở rộng sản xuất cũngnhư tăng năng suất và giữ cho mức giá tương đối ổn định Công nghệ có ý nghĩa rất lớntrong việc hỗ trợ quá trình sản xuất trở nên dễ dàng hơn bằng việc rút ngắn thời gian,bảo quản chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình, cắt giảm chi phí vận chuyển Đặcbiệt là công nghệ kéo dài vòng đời của sản phẩm, giữ cho sản phẩm được tươi nguyên,giữ nguyên chất lượng trong suốt quá trình vận chuyển đến nơi tiêu thụ bằng cách hạthấp tần suất hô hấp của sản phẩm, kiểm soát và điều chỉnh độ oxy, cacbondioxit, nitơtrồng rau

Ngoài ra còn có nhóm cung ứng yếu tố đầu vào khác như: vốn, đất đai.cơ sở vậtchất kỹ thuật, chính sách bảo hộ của chính phủ…cũng như việc kết hợp chặt chẽ nhữngyếu tố một cách linh hoạt tạo mọi điều kiện cho việc quay vòng phát triển sản xuất rau

4.2.Nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ rau an toàn

* Nhóm nhân tố thị trường: có ảnh hưởng rất lớn, chi phối quá trình sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp, có thể xem xét 3 yếu tố sau:

-Nhu cầu thị trường: Chính là sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng Nhu cầunày của người tiêu dùng có liên quan đến thu nhập, quá trình đô thị hoá, thông tin vàgiáo dục Những thông tin và giáo dục về vấn đề sức khoẻ đã ảnh hưởng tới ưu tiêntrong tiêu dùng đối với rau an toàn của người dân Rất nhiều chiến dịch khác nhau đãcung cấp cho người tiêu dùng những thông tin về lợi ích đối với sức khoẻ từ việc ănrau an toàn Các nghiên cứu khoa học, các chiến dịch thông tin cộng đồng đều khẳngđịnh vai trò của rau, khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm rau an toàn

Một thay đổi nữa trong xu hướng tiêu dùng đó là xu hướng gia tăng nhu cầu vớicác sản phẩm trái vụ Người tiêu dùng có thu nhập cao sẵn sàng trả mức giá cao hơncho các sản phẩm rau an toàn trái vụ

Trang 11

Xu hướng tăng cường chế độ ăn kiêng của người dân cũng khuyến khích ăn nhiềurau an toàn vì rất có lợi cho sức khoẻ

- Cung sản phẩm rau an toàn: có tính đa dạng cả về chủng loại, số lượng, chấtlượng, vệ sinh an toàn và về đối tượng tiêu dùng Vì vậy tính không hoàn hảo của thịtrường rau thể hiện đặc trưng của sản phẩm nông nghiệp.Khi số lượng cung của mộtsản phẩm tăng lên sẽ làm cho cầu sản phẩm đó giảm xuống và ngược lại Để tổ chứctốt tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, các nhà sản xuất kinh doanh phải hiểu rõ được cácđối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, chất lượng và về đối tượng khách hàng

- Giá cả là yếu tố quan trọng, là thước đo sự điều hoà cung cầu trong nền kinh tếthị trường Giá cả tăng cho thấy sản phẩm đó đang khan hiếm, cầu lớn hơn cung vàngược lại Tuy nhiên khi xem xét yếu tố giá cả cần chú ý đến:

+ Chất lượng rau an toàn: rau đã được qua kiểm nghiệm hay chưa? Vì điều đó cólợi cho cả người sản xuất và người tiêu dùng Đối với người sản xuất chất lượng rau tốttạo được lòng tin đối với người tiêu dùng, nếu là rau an toàn thực sự thì người tiêudùng sẵn sàng trả mức giá cao hơn gấp 1,5-2 lần so với rau thường, mặt khác còn tạođược lòng tin đối với khách hàng cả trong hiện tại và tương lai đặc biệt là làm tăng lợinhuận Đối với người tiêu dùng tạo cho họ một sự an tâm khi sử dụng sản phẩm,vàđảm bảo có sức khoẻ tốt

+ Loại sản phẩm thay thế rau an toàn: Khi giá cả rau an toàn tăng lên làm nhu cầusản phẩm thay thế có thể tăng lên như hoa tươi, rau thường

+ Loại sản phẩm bổ sung:là những sản phẩm mà khi sử dụng một loại sản phẩmnay phải sử dụng kèm theo loại sản phẩm khác như: trái cây…

Ngoài ra cần phải chú ý tới một số chỉ tiêu: hệ số co giãn của cầu rau an toàn sovới giá, thu nhập, hệ số co giãn chéo…từ đó người sản xuất có thể có chiến lược kinhdoanh phù hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể

*Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghẹ sản xuất và tiêu thụ rau

an toàn:

Trang 12

- Nhân tố về cơ sở vật chất kỹ thuật: bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng, đường ságiao thông, các phương tiện thiết bị vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi, hệ thống thôngtin liên lạc…Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm lưu thông nhanhchóng, kịp thời, an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm.

- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất và tiêu thụ đặc biệt quan trọngtrong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ rau an toàn, hệ thốngchế biến với những dây chuyền công nghệ tiên tiến sẽ làm tăng thêm giá trị của rau.Công nghệ chế biến, công nghệ sau thu hoạch của sản phẩm rau an toàn càng hiện đạicàng tránh được sự hao hụt mất mát trong quá trình thu hoạch, làm tăng thêm giá trịchất lượng sản phẩm và vẫn không làm mất đi các chất dinh dưỡng Đổi mới công nghệchế biến còn tạo nên sản phẩm rau an toàn và đổi mới tập quán tiêu dùng truyền thống,kích thích và mở rộng tính đa dạng trong tiêu dùng sản phẩm rau an toàn

*Nhóm nhân tố về trình độ tổ chức tiêu thụ: Trong nền kinh tế thị trường khả

năng tiêu thụ rau an toàn của người tiêu dùng phụ thuộc vào trình độ và năng lực tổchức sản xuất của người sản xuất, kinh doanh, nghệ thuật và khả năng tiếp thị,Marketing, tổ chức hệ thống tiêu thụ rau an toàn đến người tiêu dùng Vì vậy việc đàotạo bồi dưỡng trình độ kiến thức kinh tế quản lý cho các nhà sản xuất kinh doanh là rấtcần thiết và hết sức quan trọng

5 Sự cần thiết, nội dung của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

5.1.Sự cần thiết của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

Về mặt văn hoá, rau đóng một vai trò chủ đạo trong thói quen ăn uống của người

Việt Nam, ăn rau hàng ngày được xem là cách chính để cung cấp chất khoáng, cácvitamin và để ăn kèm với hầu hết các món ăn khác Trong nhiều năm qua, đất nước đã

tự cung tự cấp đủ về lương thực, mức sống tăng lên, nhu cầu của người dân cũng tăngnhanh về mặt số lượng và nhất là về chất lượng tại các thành phố lớn của Việt Namnhu cầu về rau và đòi hỏi về chất lượng rau cũng cao hơn so với các vùng khác trongnước Vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ngày càng được xã hội đặc biệt quan tâm,

Trang 13

việc ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng và thuốc bảo vệ thực vật tồn

dư trên rau đặc biệt là rau ăn lá đã gây ảnh hưởng không nhỏ trước mắt cũng như lâudài tới sức khoẻ cộng đồng

Hầu hết các hộ sản xuất chỉ quan tâm đến năng suất và sản lượng rau mà ít quantâm đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, nên tình trạng sử dụng phân bón, thuốcbảo vệ thực vật, và không đảm bảo thời gian cách ly nên đã gây ảnh hưởng trực tiếp tớisức khoẻ người tiêu dùng

Mặc dù vậy rau an toàn, rau đảm bảo vệ sinh vẫn là lựa chọn hàng đầu của các tổchức trường học, bếp ăn tập thể, các doanh nghiệp, với số lượng lớn và lâu dài Rõ ràngsản xuất rau an toàn đã mang lại hiệu quả hơn hẳn so với rau sản xuất theo phươngpháp thông thường Vấn đề cơ bản hiện nay việc xây dựng tập trung với khối lượng lớn

và chủng loại phong phú đi liền với việc xây dựng mạng lưới tiêu thụ có sự xác nhậnchất lượng của các cơ quan chức năng để người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn Với ưu thế

về đất đai, nguồn nhân lực dồi dào kinh nghiệm, thị trường tiêu thụ thuận lợi, nhu cầutiêu dùng cao của người dân, Hà Nội có thể phát triển nhiều loại rau chất lượng bảođảm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tíchcanh tác, tạo việc làm tăng thu nhập cho nông dân, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp Việc sản xuất rau an toàn bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng không chỉ làvấn đề tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện nay mà còn góp phần nâng cao tính cạnhtranh của nông sản hàng hoá trong điều kiện Việt Nam vừa trở thành thành viên của tổchức thương mại thế giới, mở ra thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước,khuyến khích phát triển sản xuất Chính vì lý do trên mà vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau

an toàn là rất cần thiết

5.2.Nội dung của vấn đề sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

a.Về sản xuất rau an toàn.

Trang 14

*Vườn ươm và hạt giống: Đất gieo phải sạch tơi xốp, vườn ươm bố trí nơi quang

đãng, không bị che rợp để có cây con cứng cáp, ít sâu bệnh, liếp ươm cần cao ráo, dễthoát nước bằng phẳng, để ánh sáng nước tưới phân bố đều

- Hạt giống phải được xử lý trước khi gieo bằng cách: phơi nắng nhẹ vài giờ hoặcngâm nước ấm (2 sôi+3 lạnh) để kích thích sự nảy mầm hoặc xử lý bằng hạt Benlate,Zineb, Ridomy1 bằng cách trộn hạt với thuốc để tạo thành một lớp áo mỏng quanh hạt

- Hạt gieo ở mật độ vừa phải, tránh làm lãng phí hạt giống và cây con không mọcchen chúc, yếu ớt, có thể tỉa bớt cây con ở nơi dày cấy sang nơi khác, nếu có khả năngnên gieo hạt vào bầu bằng nylon có đục lỗ, lá dừa hoặc lá chuối, hoặc gieo hạt liếpươm hoặc các vật liệu như lưới, vòng kẽm hoặc tre, lá để che mưa cho cây con khi trờinắng, mưa làm như vậy cây con sẽ ít bệnh

- Đất trồng: chọn đất cao, thoát nước tốt, liếp trồng phải cao ráo, rãnh rộng để thoátnuớc, đồng thời chuẩn bị mương nội đồng để dẫn nước tưới khi trời hạn và thoát nướckhi trời mưa

- Phân bón:dùng phân hoai mục để giảm thiểu nguồn bệnh, bón đầy đủ và cân đốiNPK Cần chia lượng phân bón thành 4-5 lần thay vì 2-3 lần trong mùa nắng để giảmthiểu sự thất thoát do rửa trôi Cần chú ý bón tăng cường thêm Kali cho các loại rau antoàn mình trồng Có thể dùng thêm các loại phân bón lá như: Komix, HVP, KNO3…nhưng phải phù hợp với từng loại rau theo tiêu chuẩn rau an toàn cho phép

- Chăm sóc: tưới tiêu đúng kỹ thuật, cần cung cấp đủ nước cho cây trồng, không đểngập úng hoặc khô hạn, nhất là thời kỳ cây ra hoa kết trái để tránh làm ảnh hưởng tớinăng suất cây trồng Tỉa bớt những cành vô hiệu, lá vàng, lá bị sâu bệnh để ruộng luônđược thông thoáng, dùng dao kéo sắc bén khi tỉa, để vết thương không bị bầm dập, tỉakhi trời khô ráo, sau khi tỉa có thể phun Ridomyl, Kasuran…

+Làm sạch cỏ dại để không tranh giành dinh dưỡng với cây trồng, làm mất nơi ẩnnáu của sâu bệnh Nếu có thể nên phủ luống bằng rơm hoặc nhựa đen, tuy đầu tư caolúc đầu nhưng tiện lợi và hiệu quả như hạn chế cỏ dại, giảm sự thất thoát phân bón,

Trang 15

ngăn đất bắn lên lá khi trời mưa, khống chế độ ẩm của đất Với một số loại rau như cà,

bí, bầu… cần làm gian kịp thời, vững chắc để cây không đổ ngã, ruộng thông thoáng

dễ chăm sóc

- Phòng trừ sâu bệnh: cần chú ý mùa mưa độ ẩm không khí cao là điều kiện chonấm bệnh phát triển vì thế cần kiểm tra đồng ruộng thường xuyên để sớm phát hiện sâubệnh phòng trừ kịp thời mới có hiệu quả Song song với việc dùng thuốc hoá học, cácbiện pháp canh tác như: bón phân, tưới nước, làm cỏ…được thực hiện chặt chẽ thì việcphòng trừ sâu bệnh mới có hiệu quả Nếu như người sản xuất làm đúng nội dung trênthì để có một sản phẩm rau an toàn theo đúng nghĩa chỉ là trong tương lai rất gần

b.Nội dung trong tiêu thụ rau an toàn

Qua quá trình sản xuất nếu đã tạo ra được sản phẩm rau an toàn chất lượng cao thì

để tiến hành tiêu thụ tốt được thì người kinh doanh cần thực hiện các nội dung sau:

- Nghiên cứu và dự báo thị trường: vì thị trường chính là đối tượng hoạt động tiêuthụ sản phẩm Nắm bắt thị trường, nghiên cứu đầy đủ,dự báo chính xác nhu cầu thịtrường giúp các nhà kinh doanh có kế hoạch hợp lý Chính vì thế, nghiên cứu và dựbáo thị trường là nội dung quan trọng trước tiên, là công việc thường xuyên phải đượctiến hành trong hoạt động sản xuất kinh doanh

- Nghiên cứu thị trường rau an toàn: là nhằm xác định khả năng tiêu thụ rau antoàn của cơ sở sản xuất Trên cơ sở đó nâng cao khả năng thích ứng với thị trường cácsản phẩm rau an toàn so với nhiều thị trường khác Nghiên cứu thị trường bao gồmviệc nghiên cứu khả năng thâm nhập và mở rộng thị trường về số lượng, chất lượng, cơcấu chủng loại, thời gian, địa điểm Nghiên cứu cả đối thủ cạnh tranh của mình- nghĩa

là không chỉ nghiên cứu cả về nhóm người mua, mà cả nhóm người bán- người cungứng Làm như vậy giúp cho nhà sản xuất, kinh doanh tìm ra khả năng thâm nhập và mởrộng thị trường trong điều kiện có nhiều người bán và nhiều người mua Để nghiên cứuthị trường có thể thông qua sự biến động giá cả, lòng tin của người tiêu dùng vơí từngsản phẩm rau an toàn, qua phương pháp tiếp thị, dư luận và ý kiến của khách hàng

Trang 16

- Dự báo thị trường: Trên cơ sở nghiên cứu nắm bắt thị trường để có những giảipháp thích hợp với tiêu thụ sản phẩm rau an toàn Việc dự báo đúng thị trường sẽ giúpcho các nhà sản xuất kinh doanh đưa ra quyết định đúng đắn với việc tiêu thụ rau.Nộidung dự báo gồm: dự báo khả năng triển vọng về cung rau an toàn đang sản xuất và cảnhững loại rau an toàn mà doanh nghiệp có thể sản xuất, Dự báo về khách hàng, lựachon những khách hàng mục tiêu, thường xuyên của doanh nghiệp đồng thời cùng tìmkiếm phát hiện ra những khách hàng tiềm năng, dự báo về số lượng, cơ cấu chủng loại

có triển vọng về thời gian, không gian tiêu thụ sản phẩm…và dự báo về xu thế biến đổicủa giá cả

-Xác định giá cả tiêu thụ rau an toàn: Giá cả là một phạm trù kinh tế hàng hoá, vớichức năng là thước đo giá trị, giá cả như là tín hiệu cho người sản xuất, người tiêudùng và trở thành thông tin quan trọng biểu hiện biến động cung cầu rau an toàn trênthị trường, vì vậy giá cả vừa có tác động kích thích vừa hạn chế với người sản xuất vàngười tiêu dùng

Việc xác định giá cả hợp lý giúp các nhà kinh doanh bảo tồn được vốn và có lãi để

có thể đầu tư mở rộng sản xuất cho các vụ tiếp theo Thông thường giá bán rau đượcxác định như sau: Giá bán sản phẩm = chi phí sản xuất+ chi phí lưu thông+ lợi nhuậnhợp lý

- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ sản phẩm rau an toàn: là việc tổ chức đưa rau an toàn

từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng, trong nền kinh tế thị trường khách hàng, ngườitiêu dùng là đối tượng phục vụ cho sản xuất, vì vậy phải lựa chọn phương thức nào đưarau an toàn tới tay người tiêu dùng nhanh nhất, kịp thời, thuân lợi nhất Việc đưa rau antoàn tới tay người tiêu dùng thực hiện qua sơ đồ sau:

Trang 17

Sơ đồ 1: Kênh phân phối rau tại Việt Nam

- Người sản xuất bán sản phẩm cho người bán lẻ, người tiêu dùng mua của ngườibán lẻ Đối với kiểu mua bán này thường diễn ra tại nông thôn

- Người sản xuất giao hàng cho người bán buôn Người bán buôn chuyển hàng lênthành phố hoặc thị trấn Người bán lẻ mua lại rau của người bán buôn sau đó bán lạicho người tiêu dùng Người bán lẻ hoặc bán hàng tại chợ, hoặc bán rong trên đườngphố

- Người sản xuất cho rau vào các sọt sau đó các trung gian là các xe thồ chở rau đigiao cho người bán buôn Người bán lẻ mua rau của người bán buôn sau đó bán lại chongười tiêu dùng Kiểu mua bán này được sử dụng trong trường hợp các vùng sản xuất

và vùng tiêu thụ cách xa nhau

- Người thu gom mua sản phẩm của người sản xuất, rồi bán lại cho người bánbuôn Người bán buôn vận chuyển tới các vùng khác và bán cho người bán lẻ, và cuốicùng bán cho người tiêu dùng

Tóm lại có hai phương thức tiêu thụ rau an toàn chủ yếu:

Trung gian người bán buôn người bán lẻ

Thu gom người bán buôn người bán lẻ

NGƯỜI

TIÊU

DÙNG

Trang 18

+ Trực tiếp: Rau an toàn có thể trực tiếp từ tay người sản xuất tới tay người tiêudùng dưới hình thức bán lẻ ở ngay nơi cung ứng, bán ở các chợ lượng không đáng kể.+Gián tiếp: Rau an toàn đến tay người tiêu dùng thông qua các tổ chức trung gianlàm chức năng thương nghiệp, các đại lý, các siêu thị Các nhà sản xuất thường làm cáchợp đồng tiêu thụ với các tổ chức thương mại.

Việc lựa chọn hình thức tiêu thụ nào còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng loại rautiêu thụ, hàng rau tiêu dùng trực tiếp hay đã qua chế biến…

- Tổ chức thông tin quảng cáo, giới thiệu sản phẩm:

+Quảng cáo nói lên công dụng và tiện lợi về việc sử dụng sản phẩm rau an toàn,tuỳ theo từng loại rau mà có hình thức quảng cáo thích hợp Bao bì đóng gói, mẫu mã,chất lượng sản phẩm, nhãn mác…

+Tổ chức các cửa hàng, các kiôt, liên hệ các siêu thị một cách thuận tiện nhất đểvừa giới thiệu sản phẩm vừa bán sản phẩm tạo được lòng tin cho người tiêu dùng.Tham gia các hội chợ triển lãm thông qua đó giới thiệu sản phẩm rau của mình, thôngqua đó có thể ký kết được các hợp đồng kinh tế mang lại lợi nhuận cao Đối với các sảnphẩm rau an toàn chế biến cần phải đăng ký sản phẩm của mình cả về quy cách, nhãnmác, bảo đảm sở hữu, tránh làm giả và lợi dụng uy tín của người khác

- Tổ chức bảo quản và chế biến rau an toàn: nhằm đảm bảo chất lượng và gópphần nâng cao giá trị sản phẩm rau, tránh được hao hụt Rau sau khi kết thúc quá trìnhsản xuất chuẩn bị đưa ra thị trường phải trải qua giai đoạn chế biến Trong thời giannày đòi hỏi phải nghiêm ngặt về quy trình kỹ thuật để không làm mất đi phẩm chất củarau mà vẫn đảm bảo cho tiêu thụ rau an toàn

II Cơ sở thực tiễn của sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

1 Tình hình tiêu thụ và nhu cầu rau an toàn trên thế giới

Trong vòng hai thập kỷ qua thương mại rau quả trên thế giới có bước phát triểnmạnh mẽ Theo Tổ chức Nông nghiệp quốc tế (FAO), giá trị sản lượng của sản xuất rau

Trang 19

toàn thế giới tăng trưởng mạnh mẽ, bình quân hàng năm tăng 11,7% Theo Bộ NôngNghiệp Hoa Kỳ, do tác động của sự thay đổi yếu tố như: cơ cấu dân số, thị hiếu tiêudùng và thu nhập dân cư…tiêu thụ nhiều loại rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2000-

2010, đặc biệt là các loại rau ăn lá Theo USDA nếu như nhu cầu các loại rau diếp, rauxanh khác tăng khoảng 22-23% thì tiêu thụ khoai tây và các loại rau củ khác tăng sẽchỉ tăng khoảng 7-8%, giá rau tươi các loại sẽ tiếp tục tăng cùng với tốc độ tăng nhucầu tiêu thụ

Nhu cầu nhập khẩu dự báo sẽ tăng 1,8%.năm Các nước phát triển như Đức, Pháp,Canada… vẫn là những nước nhập khẩu rau an toàn Các nước đang phát triển đặc biệtTrung Quốc, Thái Lan và các nước Nam bán cầu vẫn là các nước cung cấp rau tươi trái

vụ chính Do nhu cầu thị trường thế giới những năm tới sẽ rất lớn vì vậy sẽ tạo độnglực cho các nước phát triển sản xuất rau an toàn đồng thời phải tăng cao việc đảm bảochất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm

2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam.

2.1.Sản xuất rau an toàn ở Việt Nam.

Việt Nam có điều kiện về đất đai và khí hậu thích hợp trồng các loại rau an toànnhiệt đới và ôn đới Ở miền Bắc khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùalạnh Mùa lạnh thích hợp gieo trồng các loại rau như: bắp cải, su hào, súp lơ…Ở miềnNam có nhiệt độ trung bình khá cao nên cũng thích hợp trồng một số loại rau Sản xuấtrau an toàn ở Việt Nam những năm qua có những bước tiến đáng kể về quy mô, cũngnhư cơ cấu sản phẩm, nhiều loại rau an toàn đặc sản có chất lượng cao được quy hoạchthành những vùng chuyên canh (diện tích rau an toàn hàng năm tăng 5,6%) Khu vựcsản xuất rau an toàn chủ yếu là khu vực Đồng Bằng Sông Hồng chiếm 26,25%, diệntích 30,78% sản lượng rau cả nước, tiếp đến là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long với23,28% diện tích và 25,46% sản lượng, ngoài ra có Đà Lạt vùng chuyên canh rau antoàn có chất lượng cao hiệu quả

Trang 20

Sản lượng rau an toàn bình quân đầu người tăng từ 6,825kg.người.năm 2003 lên9,39kg.người.năm 2005 Nếu so sánh với mức tiêu dùng rau an toàn bình quân đầungười 0,343kg.người.tháng năm 2003- theo điều tra của tổng cục thống kê đây là con

số quá ít so với các nước khác trên thế giới

Và đến năm 1999 chính phủ phê duyệt đề án phát triển rau an toàn và sau 4 nămthực hiện, diện tích rau an toàn nước ta đạt 127000 ha, sản lượng đạt 15,83 triệu tấn-bình quân mỗi năm tăng 10,12% về diện tích và trên 2,3 về sản lượng Trên phạm vị cảnước đã hình thành một số vùng rau an toàn đặc biệt như: bắp cải ở Hải Phòng, HàNội, Hải Dương, Đà Lạt, hành tây ở Nam Định, Hà Nam, ớt ở Quảng Trị, Thừa ThiênHuế Hầu hết các cơ sở sản xuất đều có hệ thống kho dự trữ sản phẩm với công suấtkhác nhau tuy nhiên rất ít cơ sở chế biến có hệ thống kho lạnh Đối với những cơ sởchế biến nhỏ vài trăm sản phẩm hàng năm thì họ thường sử dụng nhà ở kết hợp làmkho.Chỉ những nhà máy chế biến có quy mô vừa và lớn thì có hệ thống nhà kho riêng

và một số những kho lạnh có thể bảo quản sản phẩm lâu hơn Tuy nhiên việc sản xuấtrau an toàn ở Việt Nam vẫn chưa phổ biến còn nhiều bất cập như diện tích manh mún,chưa hình thành các vùng tập trung lớn để cung cấp nguyên liệu ổn định cho thị trường,năng suất chưa cao, chất lượng nguyên liệu còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu củangười tiêu dùng đặc biệt là cho xuất khẩu

2.2 Tiêu thụ rau an toàn

Rau an toàn Việt Nam chủ yếu sản xuất để tiêu dùng nội địa Về mặt giá trị, tiêu

thụ rau an toàn chiếm khoảng 0,56% tổng chitiêu bình quân của các hộ gia đình

Mức tiêu thụ rau an toàn theo đầu ngườicũng có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng.Nếunhư mức tiêu thụ rau an toàn chỉ có 7,5kg.năm ởvùng núi phía Bắc thì tại hai thành phố lớn như:

Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh mức tiêu thụ

Trang 21

lên tới 32,4 kg.người Mức tiêu thụ bình quân ở các vùng đô thị nói chung cũng ở mức31-38,58 kg.người.năm, trong khi đó người dân nông thôn chỉ tiêu thụ 3,1-5,6kg.người.năm Qua điều tra này cho thấy các hộ gia đình có thu nhập cao hơn thì tiêudùng số lượng sản phẩm sạch nhiều hơn Mức tiêu thụ rau an toàn của nhóm hộ giàunhất gấp thường gấp 5 lần so với hộ gia đình ở nông thôn.

Gần đây một số siêu thị lớn tại Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện cácloại rau qua chế biến được làm sạch đóng hộp và ngâm dấm: nấm, ngô, đậu, dưachuột…mà người tiêu dùng có thể nhanh chóng sử dụng mà không phải mất nhiều thờigian chuẩn bị Với xu hướng đô thị hoá nhu cầu tiêu dùng những loại rau sơ chế sạch

sẽ tăng nhanh tại các vùng đô thị với những người có thu nhập trung bình hoặc cao

Hệ thống phân phối tiếp thị rau an toàn ở Việt Nam phát triển tương đối mạnhnhưng chủ yếu là về số lượng Hình thức mua bán hợp đồng trực tiếp giữa nông dân vàcông ty chế biến- tiêu thụ đã xuất hiện nhưng còn hạn chế và chỉ đối với sản phẩm chếbiến phục vụ cho xuất khẩu như: cà chua, rau cao cấp…Hình thức mua bán hợp đồng ởmiền Bắc phổ biến hơn ở miền Nam chủ yếu thông qua hợp tác xã hoặc các nông hộthuộc nông trường của Nhà nước

Hệ thống tiếp thị rau an toàn tại Việt Nam phụ thuộc nhiều vào loại sản phẩm đượctiêu thụ, phần lớn rau an toàn được tiêu thụ ở những vùng gần nơi sản xuất (ví dụ vùngsản xuất rau an toàn lớn: ĐBSH, ĐBSCL) Mặc dù điều kiện, phương tiện vận chuyểnhiện nay rất thuận lợi nhưng rất ít sử dụng xe lạnh do chi phí cao, vì vậy đã hạn chếphạm vi thị trường mà loại rau an toàn có thể tiếp cận được

Rau an toàn được thu hoạch và vận chuyển đến các vùng xung quanh bằng cácphương tiện vận tải đơn giản và sau đó được bán tại các chợ bán buôn đầu mối ở các

đô thị lớn hoặc ở các chợ nông sản có qui mô nhỏ hơn Nhìn chung mạng lưới phânphối và tiêu thụ rau thông thường là những người sản xuất trực tiếp mang sản phẩm tớicác chợ nội ngoại thành giao dịch trực tiếp với người bán buôn, bán lẻ Một kênh tiêuthụ phổ biến khác: Người sản xuất-> người thu mua tại địa phương-> người bán buôn-

Trang 22

> người bán lẻ-> người tiêu dùng (về cơ bản thích hợp với điều kiện kinh tế xã hộinước ta Tại các tỉnh phía Bắc, rau an toàn được phân phối và tiêu thụ chủ yếu theocách thức thông qua các chợ bán lẻ, chợ bán buôn hay giao theo hợp đồng Tại các tỉnhphía Nam cũng đều áp dụng các phương thức trên ngoài ra còn áp dụng thông quanhững người bán buôn nhỏ lẻ trung gian.

3 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại một số tỉnh ở Việt Nam

- Vĩnh Phúc mở rộng vùng chuyên canh rau an toàn: Nông dân Vĩnh Phúc không

để cho đất “nghỉ” Khi lứa rau vụ đông cuối cùng gần thu hoạch, họ lại bắt tay vào vụxuân Với họo giờ đây không chỉ 2 vụ lúa mà còn nhiều vụ rau khác Đến nay trên địabàn tỉnh có hơn bảy nghìn ha đất canh tác đạt giá trị sản xuất 50 triệu.ha trở lên

Năm 2005, Chi cục Bảo vệ thực vật Vĩnh Phúc triển khai dự án rau an toàn trênđịa bàn 15 xã nhằm mở rộng mô hình trồng, người dân tham gia dự án được hỗ trợ, tậphuấn kỹ thuật về quy trình sản xuất rau an toàn Kết quả dự án đã giúp nông dân 15 xãtrồng được 934 ha rau an toàn các loại đạt hiệu quả kinh tế cao Chi cục trưởng PhùngĐắc Lĩnh khẳng định: Sản xuất rau an toàn, an toàn giúp nông dân hạn chế việc sửdụng phân hoá học, thuốc Bảo vệ thực vật, giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quảkinh tế Đến nay nông dân Vĩnh Phúc đã nhận thức sâu sắc về lợi ích vùng chuyêncanh rau an toàn, an toàn Trong năm 2006, tỉnh tiếp tục mở rộng vùng chuyên canhrau an toàn, an toàn Để giúp người dân tiêu thụ sản phẩm chi cục thành lập năm cửahàng bán rau an toàn trên địa bàn tỉnh Qua một thời gian triển khai, các cửa hàng bánrau an toàn tại xã Vĩnh Yên và các huyện đã thu hút nhiều người mua Đến nay tỉnhVĩnh Phúc đã và đang xây dựng thương hiệu rau an toàn: Rau an toàn Sông Phan,Nadai an toàn, và su su an toàn Tam Đảo Từ nhiều năm nay vụ đông ở Vĩnh Phúc đãtrở thành vụ sản xuất hàng hoá chính Tỉnh đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ,khuyến khích nông dân trồng nhiều cây rau màu vụ đông như: miễn phí thuỷ lợi, hỗ trợgiống, chuyển giao kỹ thuật trồng rau an toàn và xây dựng thương hiệu rau an toàn…

Trang 23

đến nay diện tích gieo trồng rau an toàn của tỉnh đã lên tới hơn 8000 ha đất gieo trồng,trong đó vụ đông xuân chiếm hơn 70% diện tích Hàng năm Vĩnh Phúc cung ứng chothị trường Hà Nội và các tỉnh miền núi gần 150 nghìn tấn rau các loại Rau trồng trênđịa bàn tỉnh chủ yếu là các loại rau: muống, cải các loại, su hào, hành tỏi, các loại cây

họ bầu bí và một số các loại rau gia vị khác Tỉnh đã xây dựng 10 quy trình sản xuấtrau an toàn, được nông dân tích cực áp dụng Đánh giá về hiệu quả sản xuất vụ đôngthì năm 2005 tỉnh đã đa canh hoá cây trồng, các loại sản phẩm nông nghiệp đặc sản,sạch phục vụ chế biến xuất khẩu Tỉnh hiện có hơn 7000 ha đạt giá trị sản xuất trên 50triệu.ha.năm Trong đó có 2.800 ha đạt trên 100 triệu ha.năm, 1600 ha chuyên trồngrau, màu hình thành các vùng chuyên canh rau tại các xã Mê Linh, Thổ Tang, TíchSơn Để nâng cao hiệu quả sản xuất cần phải giải quyết tốt các vấn đề như: thị trườngtiêu thụ, xây dựng thương hiệu, sản xuất gắn với chế biến xuất khẩu, giao thông, thuỷlợi Sản xuất rau trên địa bàn tỉnh có sự chuyển biến tích cực, người dân đã sớm đưacác cây rau, màu mới có giá trị vào gieo trồng Vĩnh Phúc có lơị thế gần thị trường lớn

là Hà Nội Tỉnh không chỉ là vành đai rau an toàn, xanh ven đô mà còn là nơi cung cấpcác loại rau quả cho thị trường miền núi, đây là bài học cho các vùng khác học tập

- Hoài Đức- Hà tây với chương trình sản xuất rau an toàn

Năm 2001 trạm khuyến nông Hoài Đức đã xây dựng mô hình sản xuất rau an toànvới diện tích trên 100 ha Đồng thời tổ chức tập huấn về kỹ thuật gieo trồng, bón phân,phòng trừ sâu bệnh cho rau Đến vụ đông năm 2006 trạm khuyến nông huyện cùngHTX nông nghiệp tổ chức sản xuất rau an toàn mới có diện tích quy hoạch là 14ha, chủyếu là bắp cải và cải bẹ Ngoài việc được hỗ trợ phân bón qua lá cho rau, gần 400 hộđược hướng dẫn tỷ mỷ về cách chọn giống cây, kỹ thuật bón phân cân đối Hàng ngàycán bộ khuyến nông đều đến trực tiếp hướng dẫn bà con chăm sóc theo đúng quy trình

kỹ thuật Tiêu chí của rau an toàn dư lượng đạm và thuốc bảo vệ thực vật thấp dướimức cho phép, không có vi sinh vật gây bệnh cho người và vật nuôi Bởi vậy việc dựbáo sâu bệnh được tiến hành chặt chẽ để hạn chế tối đa lượng thuốc bảo vệ thực vật sử

Trang 24

dụng cho cây, đảm bảo thời gian cách ly, nguồn nước phục vụ cho tưới cây đảm bảokhông bị ô nhiễm.

Vấn đề đặt ra cho sản xuất rau tại Hoài Đức hiện nay chính là việc tiêu thụ sảnphẩm Trong các mô hình rau an toàn được xây dựng trước đây trạm khuyến nông cũngnhư cơ sở mới chỉ chú trọng đến chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, kiểm tra, nhắc nhở các

hộ tham gia sản xuất thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, còn việc tiêu thụ sản phẩm vẫn

là người sản xuất tự lo Tuy nhiên diện tích vùng sản xuất 14ha được xây dựng lần này

“mô hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn”, để tạo điều kiện cho các hộ trong việc xử lýrau qua nước ozon trước khi bán Ban quản trị HTX xây các bể xử lý tại từng vùng sảnxuất rau Khi rau đến kỳ thu hoạch, HTX xin kiểm tra và cấp giấy chứng nhận củatrung tâm khuyến nông tỉnh, sau đó đến bếp ăn tập thể như các đơn vị quân đội, nhàmáy xí nghiệp để giới thiệu và ký hợp đồng bán hàng, từ đó dần xây dựng thương hiệurau Hoài Đức- Hà Tây Hiện nay Hoài Đức đang đẩy mạnh xây dựng các khu đô thị,khu công nghiệp Khi các công trình này đưa vào sử dụng thì sản lượng rau tiêu thụ làrất lớn Để mở rộng sản xuất trong thời gian tới Hoài Đức có kế hoạch quy hoạch vùngchuyển đổi, xây dựng hệ thống điện và giếng khoan lấy nước cho vùng sản xuất rau antoàn Chủ trương phát huy thế mạnh về địa lý và kinh nghiệm vốn có của người dângieo trồng rau màu cao cấp cung cấp cho thị trường Hà Nội và một số tỉnh khác

Chương II: thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội

I.Lợi thế của Hà Nội trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.

Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ thuộc đồng bằng Sông Hồng nằm

ở 20053’ vĩ độ bắc và 105044’- 106002’ vĩ độ đông, có chiều dài từ phía Bắc tới Nam là50km, và chiều rộng từ phía Đông sang Tây là 30km, tiếp giáp 5 tỉnh: Bắc Ninh, TháiNguyên, Hưng Yên, Vĩnh Yên, Hà Tây Hà Nội có diện tích tự nhiên 920,97km2 trong

đó diện tích các huyện ngoại thành là 836,67km2 Đại bộ phận diện tích của Hà Nộinằm trong vùng Đồng bằng châu thổ Sông Hồng (với độ cao từ 5-20m so với mực

Trang 25

nước biển, một phần nhỏ ở phía Bắc và Tây Bắc huyện Sóc Sơn là khu vực đồi núithuộc rìa phía Nam của dãy núi Tam Đảo cao từ 200- 400m so với mực nước biển.

Hà Nội, nằm ở phía Bắc Việt Nam, là thủ đô của Việt Nam, trung tâm văn hoákinh tế chính trị của nước ta, Hà Nội còn là một tỉnh gồm 9 quận nội thành và 5 huyệnngoại thành Dân số các quận huỵện được trình bày trong bảng sau:

Quận(huyện) Diện tích(km 2 ) Dân số(người)

Trang 26

(Theo sở Địa chính Thành Phố Hà Nội)

Các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa là các quận nằm trong nộithành Dân số trong các quận này rất đông và mật độ dân số không ngừng tăng lên.Phần lớn dân số sống ở các quận này từ rất lâu Mức sống của dân cư các quận này caohơn so với các quận khác của Hà Nội và các vùng phía Bắc khác Các cơ quan hànhchính nhà nước và các văn phòng của các tổ chức nước ngoài đều nằm ở trung tâmthành phố Các cửa hàng và siêu thị bán rau tươi đầu tiên ở Hà Nội cũng nằm trong cácquận này

Số các quận huyện còn lại, phần lớn dân số chuyển từ nơi khác đến, mức sốngthường cao hơn so với dân cư các tỉnh phía Bắc

- Thổ nhưỡng: Hà Nội chia làm ba loại đất chính: đất phù sa, đất cằn cỗi và đấtxám Phần lớn phù sa được bồi đắp từ sông ngòi với diện tích 52.500ha tập trung chủyếu ở huyện Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm và một vài xã ở huyện Đông Anh Diện tíchcằn cỗi khoảng 33000ha được phân phối ở một vài xã huyện Đông Anh, Sóc Sơn, đấtxám chiếm khoảng 5900ha Với diện tích đất phù sa như vậy tạo thuận lợi cho việchình thành những vùng sản xuất rau an toàn rất lớn của Hà Nội

Trang 27

- Điều kiện tự nhiên: khí hậu Hà Nội thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh vànắng với lượng mưa trung bình 1689mm, có 80% lượng mưa tập trung vào các tháng5-8 trong năm trong đó có mưa to và bão vào tháng 7, mùa khô kéo dài từ tháng 11năm trước đến tháng 4 năm sau, thời gian khô nhất rơi vào các tháng 12,1 và tháng 2,nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 240, tháng 1 là tháng lạnh nhất nhiệt độ trungbình khoảng 160, tháng 7 là tháng nóng nhất nhiệt độ trung bình khoảng 290, độ ẩm kéodài gần như quanh năm, các tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 3,4 và tháng 8, độ ẩmthấp nhất rơi vào các tháng 10, 11, 12, trời nắng trung bình 4h một ngày, từ tháng 5 đếntháng 10 trời nắng kéo dài 5-6h ngày, tuy nhiên tháng 2, 3 lại giảm xuống chỉ còn1,6h.ngày.

2 Điều kiện kinh tế- xã hội

- Dân số Hà Nội năm 2005 trung bình 3.105.000 người trong đó dân số ngoại

thành 1.489.000 người chiếm 47,03% dân số thành phố Thời gian gần đây dân sốthành phố tăng nhưng chậm hơn mức tăng dân số cả nước, tuy nhiên mức tăng dân sốcác huyện ngoại thành tăng nhanh hơn so với nội thành Hà Nội vẫn là nơi có dân sốđông, lực lượng lao động dồi dào Vì vậy khi phát triển vùng chuyên canh rau an toàn

đã có lợi thế hơn về lao động và thị trường tiêu thụ

- Đời sống xã hội:

+ Đến nay các huyện ngoại thành đã xây dựng được 287 công trình thuỷ lợi, đảmbảo tưới tiêu chủ động cho trên 90% diện tích đất canh tác, hệ thống thuỷ lợi được cảitạo hàng năm và phát huy tác dụng

+ Hệ thống giao thông nông thôn đã được xây dựng cải tạo Năm 1995 có775km(54,2% ) các đường giao thông nông thôn được dải nhựa, bê tông hay rải cấpphối trừ một số xã vùng sâu thuộc huyện Sóc Sơn

+ Thị trường Hà Nội với dân số dự kiến năm 2010 là 3,3 triệu, năm 2020 có thể lêntới gần 4 triệu mà phần đông là các tầng lớp có thu nhập cao hơn so với bình quân cảnước, đang và ngày càng là một thị trường tiêu thụ lớn về các loại nông sản thực phẩm

Trang 28

và phi thực phẩm Bên cạnh các nguồn cung cấp của các tỉnh lân cận, việc tạo ra cácsản phẩm chất lượng cao, một khối lượng nông sản lớn và đa dạngc ho dân cư cả nội

II Khó khăn của Hà Nội trong việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn.

- Một là: sự hạn chế quỹ đất cũng như nguồn lực tự nhiên đối với nông nghiệp trênđịa bàn Hà Nội, bình quân diện tích tính cho một khẩu nông nghiệp Hà Nội chỉ có332m2 (năm 2002), trong khi đó quá trình đô thị hoá trong những năm gần đây trên cácvùng ngoại thành diễn ra một cách nhanh chóng làm đất nông nghiệp giảm bình quânmỗi năm 1000ha Chính điều này làm cho diện tích trồng rau của Hà Nội cũng giảm đitheo thời gian Từ đó đòi hỏi các HTX và các cơ sở sản xuất rau an toàn phải chuyểnhướng theo chiều sâu, thâm canh cao, tăng số vụ trồng rau trong năm nhưng vẫn phảiđảm bảo chất lượng rau

- Hai là: quá trình đô thị hoá nhanh chóng, vấn đề đang được quan tâm là nước tướicho rau lấy từ đâu? Thực tế hiện nay hàng loạt các khu công nghịêp ở Hà Nội mọc lênđồng thời cũng gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước nặng như sông Tô Lịch, sôngSet, sông Kim Ngưu… ngày nào cũng hứng chịu một lượng nước thải lớn từ đại bộphận dân cư, khu công nghiệp, nhà máy Mặt khác chủ cơ sở sản xuất không có ý thức,

Trang 29

không có vốn, không đầu tư vào thuỷ lợi cho tưới rau mà vẫn sử dụng nguồn nước ônhiễm đó để tưới rau.

- Ba là: sự thu hẹp diện tích đất nông nghiệp có thể gây ra giảm diện tích trồng rau,tạo ra sự không ổn định cho chính nguồn cung rau của Hà Nội cho chính thành phố, và

sự ra nhập lớn nguồn cung rau ở các tỉnh khác ồ ạt khó kiểm soát gây ra tình trạng hỗnloạn trên thị trường rau, rau an toàn và rau bẩn trên thị trường trà trộn khó kiểm soát dễdẫn đến mất lòng tin của người tiêu dùng

- Bốn là: nhu cầu rau an toàn của người dân Hà Nội ngày càng lớn, nhưng việc đầu

tư của các cơ sở sản xuất kinh doanh hay của thành phố vẫn chưa tương xứng nên HàNội chỉ cung cấp 40% rau an toàn và có nguy cơ giảm theo thời gian nếu vấn đề nàykhông tháo gỡ nhanh

- Năm là: do tác động của cơ chế thị trường một bộ phân nông dân chạy theo cơchế thị trường đã sử dụng nhiều hoá chất độc hại vào sản xuất nông nghiệp vừa gây ônhiễm môi trường, vừa không tạo ra được sản phẩm rau an toàn trên thị trường Do hệthống phân phối tổ chức còn nhiều bất cập nên các sản phẩm rau an toàn chưa có sựphân biệt rõ ràng với sản phẩm rau thông thường vì vậy chưa gắn lợi ích của người sảnxuất với chất lượng sản phẩm

- Sáu là: Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện nay có phần xuống cấp, cần phảiđược nâng cấp sửa chữa, và xây mới

- Bảy là: do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên sản xuất nông nghiệp nói chung vàsản xuất rau an toàn nói riêng đều mang tính thời vụ Khối lượng cũng như chủng loạirau an toàn vào vụ hè ít hơn hẳn vụ đông Điều đó ảnh hưởng tới khâu tiêu thụ, khôngđáp ứng nhu cầu của người dân đặc biệt về chủng loại vì vậy hàng năm Hà Nội vẫnphải nhập rau từ các tỉnh khác và Trung Quốc Thời tiết mưa lớn về mùa hè khô hạn vềmùa đông điều này ảnh hưởng tới kế hoạch chủ động tưới tiêu của người sản xuất.Tóm lại có thể nói diện tích rau an toàn của Hà Nội hiện nay ngày càng tăng lênnhưng lòng tin của người tiêu dùng vào sản phẩm rau an toàn vẫn còn đầy hoài nghi,

Trang 30

chưa thật sự an tâm về chất lượng rau mà mình lựa chọn cả về chất lượng và mẫu mãđiều này cũng được thể hiện trên rất nhiều bài báo phản ánh “rau an toàn chất lượngđến đâu? liệu có đáng tin cậy? ” Chính vì vậy vấn đề tạo lòng tin cho người tiêu dùng

là thật sự cần thiết

III Thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1.Tình hình sản xuất rau ở Hà Nội.

1.1 Tình hình phát triển về diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn ở Hà Nội.

Để đáp ứng nhu cầu rau an toàn của người dân từ năm 1996 thành phố đã triển khaichương trình sản xuất rau an toàn, đã tiêna hành hàng chục vùng sản xuất rau an toàn ởcác quận, huyện ngoại thành, từng bước đầu tư về cơ sở hạ tầng và khoa học kỹ thuật.Sản xuất rau cũng được coi là một trong những cây trồng mũi nhọn của nôngnghiệp thủ đô và là sản phẩm tiêu dùng tối thiểu trong đời sống người dân nội thành.Mặc dù quá trình đô thị hoá đã lấy đi phần lớn diện tích trồng rau của Hà Nội trongnhững năm qua vẫn không ngừng tăng lên cả về quy mô diện tích, sản lượng sản xuất

a.Tình hình phát triển về diện tích rau an toàn.

- Về diện tích : trong giai đoạn 2003-2006, diện tích đất canh tác, diện tích đất gieotrồng liên tục tăng, diện tích rau an toàn của thành phố chiếm tỷ trọng chưa cao trongtổng diện tích gieo trồng của thành phố tuy nhiên có chiều hướng tăng lên qua các năm,năm 2003 chỉ đạt 36,06% so với tổng diện tích trồng rau, năm 2004 đạt 37,86%, năm

2005 đạt 42,97% tới năm 2006 đạt 44,05% Diện tích rau an toàn tăng nhưng chưa ổnđịnh, nếu năm 2004 tốc độ phát triển 106,4% so với năm 2003 tăng 6,4%, thì năm 2005chỉ đạt 103,4 tăng 3,4% và năm 2006 tốc độ phát triển đạt 140,3% tăng 40,3% so với

2005 Sự gia tăng diện tích gieo trồng phụ thuộc sự gia tăng diện tích đất canh tác và hệ

số lần trồng trong năm, cả hai nhân tố này phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và trình độcanh tác, như vậy có thể thấy tốc độ tăng về diện tích canh tác, diện tích gieo trồng là

Trang 31

chưa cao, hệ số sử dụng ruộng đất còn thấp, nguyên nhân chính là do việc chuyển giaoứng dụng tiến bộ công nghệ còn hạn chế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chậm.

Bảng 1: Tình hình phát triển về diện tích rau an toàn ở Hà Nội

Trang 32

Tốc độ phát triển

rau rau an toàn so với

năm trước(%)

Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội

Nếu xét về cơ cấu diện tích theo quận, huyện, diện tích sản xuất rau an toàn chủyếu tập trung ở Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, và Sóc Sơn Xét về tốc độ tăng diệntích, Hoàng Mai có tốc độ tăng cao nhất, bình quân 28,2%.năm, tiếp theo là Sóc Sơn là18,24%.năm Ở đây do được quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển giao tiến bộ khoahọc kỹ thuật và sự chỉ đạo sát sao của các ngành các cấp, nông dân đã mạnh dạnchuyển đổi cơ cấu cây trồng từ sản xuất lúa, ngô, khoai lang vụ đông và sản xuất rauthường sang sản xuất rau an toàn

Bảng 2:Diện tích rau an toàn của các quận huyện ở Hà Nội giai đoạn 2002-2006.

Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội

Xét về khả năng mở rộng diện tích huyện Gia Lâm, Đông Anh, Sóc Sơn có khảnăng mở rộng diện tích lớn nhất, vì nơi đây các huyện ngoại thành có diện tích đấtcanh tác lớn hơn, Quận Hoàng Mai có tốc độ tăng diện tích cao nhưng hạn chế về diện

Trang 33

tích canh tác và ô nhiễm nguồn nước nên khó có khả năng mở rộng diện tích trongtương lai.

b Tình hình phát triển về năng suất sạch.

Nhìn chung năng suất rau an toàn luôn thấp hơn so với rau nói chung, sở dĩ nhưvậy là do rau an toàn đòi hỏi đúng quy trình sản xuất, đúng kỹ thuật, và không phảiloại rau nào cũng có thể sản xuất theo quy trình rau an toàn ví dụ như: rau muống, raucần…vì những loại rau này ưa nước nên người sản xuất chủ yếu họ tận dụng nguồnnước thải công nghiệp và một số nguồn nước thải khác từ các khu chế xuất…mà cácnguồn nước này lại không đảm bảo tiêu chuẩn cho sản xuất rau an toàn Số lượng rau

an toàn tăng qua các năm được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3: Năng suất rau an toàn ở Hà Nội

Nguồn: Sở NN&PTNT Hà Nội

Nhìn chung năng suất RAT của các huyện, quận đều tăng qua các năm đặc biệthuyện Gia Lâm, Thanh Trì, Long Biên, Hoàng Mai có tốc độ tăng bình quân6,2%.năm, huyện Từ Liêm có năng suất cao nhất đạt 199,6 tạ.ha năm 2006, trong khi

đó Sóc Sơn năng suất chỉ đạt 172,0 tạ.ha, do điều kiện tự nhiên , cơ sở hạ tầng và trình

độ sản xuất của người dân thấp Như vậy có thể thấy vẫn có khả năng tăng năng suất

Ngày đăng: 17/12/2012, 10:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Kênh phân phối rau tại Việt Nam - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Sơ đồ 1 Kênh phân phối rau tại Việt Nam (Trang 17)
Bảng  1: Tình hình phát triển về diện tích rau an toàn ở Hà Nội - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
ng 1: Tình hình phát triển về diện tích rau an toàn ở Hà Nội (Trang 31)
Bảng 2:Diện tích rau an toàn của các quận huyện ở Hà Nội giai đoạn 2002-2006. - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 2 Diện tích rau an toàn của các quận huyện ở Hà Nội giai đoạn 2002-2006 (Trang 32)
Bảng 3: Năng suất rau an toàn ở Hà Nội - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 3 Năng suất rau an toàn ở Hà Nội (Trang 33)
Bảng 3: Năng suất rau an toàn các quận, huyện Hà Nội giai đoạn 2001-2006 - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 3 Năng suất rau an toàn các quận, huyện Hà Nội giai đoạn 2001-2006 (Trang 34)
Bảng 4: Sản lượng rau an toàn của hà Nội - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 4 Sản lượng rau an toàn của hà Nội (Trang 35)
Hình thức tiêu thụ phổ biến ở Hà Nội hiện nay là: - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Hình th ức tiêu thụ phổ biến ở Hà Nội hiện nay là: (Trang 41)
Bảng 5: Đối tượng mua rau an toàn chủ yếu - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 5 Đối tượng mua rau an toàn chủ yếu (Trang 43)
Bảng 6:Quyết  định mua rau an toàn của người tiêu dùng - Một số thực trạng và Giải pháp sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn Thành phố Hà Nội
Bảng 6 Quyết định mua rau an toàn của người tiêu dùng (Trang 44)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w