§Æt vÊn ®Ò BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH ======================== NGUYỄN XUÂN GIANG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ T[.]
Trang 1NGUYỄN XUÂN GIANG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ THỂ LỰC CHUYÊN MÔN CHO NAM SINH VIÊN QUẦN VỢT TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu củariêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luậnvăn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳcông trình nghiên cứu nào.
Tác giả
Nguyễn Xuân Giang
Trang 4BẢNG 3.1: Phân phối thời gian giảng dạy các nội dung thực hành môn Quần
Vợt trong 4 năm học 42BẢNG 3.2 Phân phối thời gian giảng dạy thể lực cho sinh viên chuyên sâu
Quần Vợt tại Trường Đại học TDTT Bắc Ninh 43Bảng 3.3 Diễn biến nhịp độ tăng trưởng các tố chất thể lực của sinh viên
Quần Vợt trường Đại học TDTT Bắc Ninh 45BẢNG 3.4: Trị số tăng trưởng các tố chất thể lực của sinh viên chuyên sâu
Quần Vợt qua từng năm học 46BẢNG 3.5 Kết quả phỏng vấn lựa chọn các test đánh giá trình độ thể lực
chuyên môn chon am sinh viên chuyên sâu quần vợt (n = 18) 51BẢNG 3.6 Hệ số tương quan của các test lựa chọn với điểm học tập môn
chuyên sâu 52BẢNG 3.7 Kết quả tính hệ số tương quan giữa 2 lần lập Test 56BẢNG 3.8 Kết quả kiểm tra các test đã lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu
trong từng năm học 58BẢNG 3.9 Tương quan thứ bậc của 4 loại hình tố chất thể lực 56BẢNG 3 10 Tiêu chuẩn phân loại các test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ nhất 57BẢNG 3 11 Tiêu chuẩn phân loại các test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ 2 58BẢNG 3 12 Tiêu chuẩn phân loại các test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ 3 58BẢNG 3 13 Tiêu chuẩn phân loại các test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ 4 59BẢNG 3.14 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của nam
sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ nhất 60
Trang 5sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ hai 61BẢNG 3.16 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của nam
sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ ba 61BẢNG 3.17 Bảng điểm tổng hợp đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của nam
sinh viên chuyên sâu quần vợt năm học thứ tư 62BẢNG 3.18 Điểm tổng hợp xếp loại trong đánh giá trình độ thể lực cho nam
sinh viên chuyên sâu quần vợt 63BIỂU ĐỒ 1 : Trị số tăng trưởng các tố chất thể lực của sinh viên chuyên sâu
quần vợt qua từng năm học 47
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Những quan điểm đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên các môn thể thao 6
1.1.1 Các quan điểm đánh giá trình độ tập luyên của vận động viên các môn thể thao 6
1.1.2.Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao 10
1.2 Vai trò và đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt 17
1.2.1 Vai trò của huấn luyện thể lực trong Quần vợt hiện đại 17
1.2.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ và nội dung huấn luyện thể lực 18
1.2.3 Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt 21
1.3 Quan điểm nghiên cứu đánh giá TĐTL theo từng yếu tố thành phần và các tố chất thể lực đặc trưng trong môn Quần Vợt 24
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu đánh giá TĐTL theo từng yếu tố thành phần 24
1.3.2 Các tố chất thể lực đặc trưng trong môn Quần Vợt 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TÔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35
2.1 Phương pháp nghiên cứu 35
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 35
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm 35
2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm 36
2.14 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 36
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê 36
2.2 Tổ chức nghiên cứu 39
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 41
Trang 7nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh 41
3.1.1 Thực trạng việc đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh 41
3.1.2 Lựa chọn các Test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu Quần Vợt Trường Đại học TDTT Bắc Ninh 48
3.2 Xây dựng tiêu chuẩn và kiểm nghiệm tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh 57
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của sinh viên chuyên sâu Quần Vợt trong từng năm học 57
3.2.2 Xây dựng thang điểm đánh giá 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
Thể dục thể thao (TDTT) là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đờisống xã hội loài người Nó có lịch sử ra đời và gắn liền với sự tồn tại của loàingười Ngày nay khi nền khoa học kỹ thuật phát triển, đời sống vật chất của xãhội loài người được nâng cao thì vai trò TDTT đối với đời sống tinh thần củacon người là rất cần thiết TDTT giúp cho con người được thư giãn, giải trí saunhững hoạt động căng thẳng giúp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả côngtác Hiện nay tất cả các nước trên thế giới đều hiểu rõ tầm quan trọng của TDTTkhông những để nâng cao sức khỏe, thỏa mãn nhu cầu vận động…mà thành tíchthể thao còn là thước đo sự phát triển của một quốc gia, chính vì thế mà thànhtích thể thao cao đang được nhiều nước trên thế giới đầu tư đem lại những vinhquang cho Tổ quốc, khẳng định vị thế đất nước trên trường quốc tế
Ở Việt Nam, TDTT là một bộ phận không thể thiếu trong nền giáo dục vàcũng là một phương tiện để đưa đất nước hội nhập cùng bạn bè trong khu vực,châu lục cũng như trên thế giới Trong những năm gần đây, nền TDTT ViệtNam đã đạt được những thành tích đáng kể trong các cuộc so tài chính thức tạikhu vực, châu lục và thế giới ở các môn như Bắn súng, Đá Cầu, Thể dục, ĐiềnKinh, Bơi Lội, các môn võ thuật Những thành tích đó đã bước đầu được sựcông nhận và ủng hộ của toàn xã hội
Trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh có bề dày trong công tác giáodục và đào tạo cho sinh viên Là trung tâm lớn nhất của cả nước đào tạo ra nhiềucán bộ khoa học, giáo viên, huấn luyện viên… với nhiều chuyên ngành khácnhau Nhằm nâng cao chất lượng học tập cho sinh viên, trong những năm gần đâynhà trường không ngừng đổi mới chương trình dạy - học, đồng thời liên tục pháttriển và mở rộng một số môn thể thao mới như: Cờ vua, Bóng ném, Pencak silat,Quần vợt…
Năm học 2000 - 2001, trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh đã đưa
Trang 9môn Quần vợt vào chương trình giảng dạy cho sinh viên chuyên sâu Do mớiđưa vào giảng dạy chính khoá nên trình độ của sinh viên còn hạn chế chưa có sựđồng đều Về kỹ thuật đã có nhiều sinh viên được hoàn thiện tốt hơn do có sựtập luyện với thời gian tương đối dài trước khi vào nhập trường, song đa số cònlại vẫn chỉ là được trang bị ở giai đoạn ban đầu.
Quần vợt là môn thể thao được phát triển rất sớm ở các nước Châu Âu,Châu Mỹ Do đặc điểm phong phú, đa dạng và tính hấp dẫn, Quần vợt nhanhchóng đợc phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên Thế giới và trở thànhmột trong những môn thể thao nằm trong chương trình thi đấu ở các kỳ Đạihội Olympic
Trong bối cảnh đó, thể thao Việt Nam cũng đang cố gắng vươn xa hơn tới những thành tích châu lục và trên thế giới Do đặc điểm phong phú, đa dạng, hấp dẫn, Quần vợt nhanh chóng thu hút đông đảo người chơi và được phát triển mạnh mẽ hầu hết các nước trên thế giới Quần vợt du nhập vào nước ta từ thế kỷ
XX nhưng chỉ được phát triển khi đất nước giải phóng Ngày 04/11/1989, Liên đoàn Quần vợt Việt Nam ra đời (VTF), tới năm 2000 trở thành thành viên trong Liên đoàn Quần vợt thế giới (ITF) Ngày nay, Quần vợt đã được phổ biến rộng rãi, hàng trăm sân Quần vợt đã được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu chơi, số người chơi lên đến hàng vạn người tại các tỉnh thành
Quần vợt là môn thi đấu đối kháng trong đó tố chất thể lực chuyên mônchiếm một vị trí đặc biệt quan trọng Nó là nền tảng giúp cho VĐV đạt thànhtích cao trong thi đấu Người có thể lực tốt sẽ thực hiện kỹ chiến thuật tốt hơn,giúp các VĐV có bản lĩnh vững vàng, tự tin, chủ động, sáng tạo trong thi đấu.Trong thực tiễn, thể lực của người Việt Nam còn thua kém, vì vậy để đạt đượcthành tích cao cho môn Quần vợt, yếu tố thể lực phải được quan tâm hơn vì ảnhhưởng đến thành tích thi đấu của VĐV
Nét nổi bật của Quần vợt hiện nay là tính linh hoạt và tốc độ, sự nắmvững kỹ - chiến thuật, khả năng phối hợp ở mọi vị trí, năng lực phản ứng kịpthời với các tình huống cùng với sự tập trung chú ý cao và ổn định về tâm lý
Trang 10Với tư tưởng chỉ đạo chiến thuật là "tích cực, chủ động, tấn công toàn diện vàkết thúc nhanh chóng" Vì vậy muốn đạt đợc thành tích cao trong môn Quần vợtthì vận động viên (VĐV) phải biết kết hợp nhuần nhuyễn nhiều yếu tố Songchúng ta phải thừa nhận rằng: yếu tố thể lực là vô cùng quan trọng, nó góp phầnkhông nhỏ mang lại hiệu quả thi đấu và có vai trò quyết định đối với thành tíchcủa vận động viên Chính vì lẽ đó trong qúa trình giảng dạy và huấn luyện choVĐV thì việc phát triển các tố chất chuyên môn đặc thù như: sức nhanh, sứcmạnh, sức bền, khả năng phối hợp vận động có ý nghĩa rất lớn đến thành tích.
Tố chất thể lực biểu hiện trong Quần vợt là khả năng phối hợp vận động
di chuyển để thực hiện các động tác như: đập bóng, giao bóng, đỡ bóng, đánhbóng phải trái, vô lê… Là khả năng duy trì nhịp độ trận đấu trong suốt thời gianthi đấu Đặc điểm trong thi đấu Quần vợt là VĐV luôn phải hoạt động với cường
độ cao và thời gian dài Mỗi trận đấu Quần vợt diễn ra trung bình từ 90 - 100phút (tuỳ theo từng loại giải và đối tượng thi đấu) ở trình độ càng cao thì cáctrận đấu diễn ra thời gian càng dài, có trận đấu kéo dài đến hơn 6 giờ Điều đóchứng tỏ yếu tố thể lực trong Quần vợt là rất cần thiết và quan trọng trong việcnâng cao thành tích của môn thể thao này Nhưng mức độ ảnh hưởng và vai tròcủa nó với hiệu quả thi đấu vẫn còn là vấn đề đang được nghiên cứu ở một góc
độ nào đó thì việc đạt được mục đích chính của qúa trình huấn luyện phải thôngqua các bài tập phù hợp
Trong thể thao hiện đại, con người ngày càng vươn tới đỉnh cao củanăng lực vận động với xu thế huấn luyện là nâng cao khối lượng và cường độ.Đây là xu thế tiến bộ nhất để đưa các VĐV lên những đỉnh cao mới Để giảiquyết vấn đề này việc điều khiển quá trình huấn luyện trở thành công việc ngàycàng phức tạp, đòi hỏi hàng loạt các thông tin nhanh chóng, khách quan chínhxác về năng lực vận động, thể lực và khả năng chuẩn bị của VĐV Việc nghiêncứu năng lực vận động của con người và phương pháp đánh giá là một quá trìnhkhó khăn phức tạp Những năm gần đây, vấn đề thể lực của VĐV nhiều môn thểthao đã được nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình huấn luyện
Trang 11Đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên cũng bước đầu được quan tâm
Chính vì vậy vấn đề kiểm tra đánh giá trình độ thể lực chuyên môn trongquá trình đào tạo sinh viên của các bộ môn trường đại học thể dục thể thao BắcNinh nói chung và bộ môn Quần Vợt nói riêng luôn là nhiệm vụ quan trọngnhằm xác định hiệu quả giảng dạy đối với việc thực hiện năng lực thực hành củasinh viên chuyên sâu
Thông qua quá trình quan sát các buổi tập, thi đấu của nam sinh viênchuyên sâu Quần vợt trường Đại học TDTT Bắc Ninh, chúng tôi nhận thấy thểlực chuyên môn của sinh viên còn yếu dẫn đến khả năng sử dụng kỹ chiến thuật
bị hạn chế Quá trình nghiên cứu và tìm hiểu một số tài liệu đã nghiên cứu về thểlực chuyên môn tôi thấy đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thể lực của nhiềumôn khác nhau như: Bóng chuyền của Lê Hoàng Dũng (2011),cầu lông của ĐỗThị Tươi (2011),nhảy xa của Quách Thị Mai Hương (2011) v.v Chúng tôi nhậnthấy chưa có đề tài nào đi sâu và tìm hiểu vấn đề trên ở môn Quần vợt
Xuất phát từ những vấn đề trên và mong muốn góp phần nâng cao chấtlượng đào tạo sinh viên chuyên sâu Quần Vợt trường Đại học thể dục thể thaoBắc Ninh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh”
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích tổng hợp những cơ sở lý luận và
thực tiễn của việc đánh giá trình độ tập luyện trong thể thao nói chung và môn QuầnVợt nói riêng, đề tài tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực
chuyên môn cho nam sinh viên Quần Vợt Truờng Đại học TDTT Bắc Ninh, nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy và tập luyện của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượngđào tạo của trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài
xác định các nhiệm vụ cụ thể sau:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu lựa chọn các Test đánh giá trình độ thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
Trang 12Để giải quyết nhiệm vụ 1, đề tài tiến hành giải quyết các vấn đề sau:
- Thực trạng việc đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của sinh viênQuần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
- Lựa chọn các Test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho sinh viênQuần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
- Kiểm chứng độ tin cậy và tính thông báo của các test đã lựa chọn
Nhiệm vụ 2: Xây dựng tiêu chuẩn và kiểm nghiệm tiêu chuẩn đánh giá
trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục
thể thao Bắc Ninh
Để giải quyết nhiệm vụ 2, đề tài tiến hành giải quyết các vấn đề sau:
- Xây dựng bảng tiêu chuẩn phân loại đánh giá trình độ thể lực chuyênmôn của nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
- Xây dựng bảng điểm đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của namsinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
- Kiểm nghiệm trong thực tiễn các tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực chuyênmôn của nam sinh viên Quần vợt trường Đại học thể dục thể thao Bắc Ninh
Trang 13CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những quan điểm đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên các môn thể thao
1.1.1 Các quan điểm đánh giá trình độ tập luyên của vận động viên các môn thể thao
Trong thể thao hiện đại vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của vận độngviên có một vai trò hết sức quan trọng Việc tiến hành đánh giá trình độ tậpluyện một cách khoa học bằng phương pháp khách quan sẽ cho phép huấn luyệnviên luôn nắm được những thông tin ngược cần thiết để điều chỉnh quá trìnhhuấn luyện, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác tuyển chọn và đào tạo vậnđộng viên Đánh giá trình độ tập luyện một cách khoa học đối với vận đông viêntừng môn thể thao cho phép huấn luyện viên có các thông tin khách quan đểđánh giá đúng về phương hướng huấn luyện đã được lựa chọn, nắm vững cácthông tin cần thiết để chủ động điều hành kế hoạch huấn luyện và giúp vận độngviên có đủ căn cứ để tự đánh giá khả năng của mình
Chỉ số cơ bản có tính chung nhất, tập trung nhất của trình độ tập luyện, là thànhtích thể thao của vận động viên đạt được trong quá trình tập luyện Ở mỗi chu kì tậpluyện thường xuất hiện những thành tích thể thao tương ứng Thành tích thể thao luôn
là hiện tượng đa nhân tố và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân Trong những điều kiệnnhư nhau, thành tích thể thao của những cá thể chủ yếu phụ thuộc vào năng khiếu vàmức độ đào tạo vận động viên Năng khiếu của vận động viên là tiền định, còn trình
độ đào tạo thì luôn thay đổi tuỳ thuộc vào tài nghệ của huấn luyện viên và sự nỗ lựccủa vận động viên Khái niệm về trình độ tập luyện và thành tích thể thao không đồngnhất Khái niệm về trình độ tập luyện trong nhiều tài liệu hiện đại có những cách thểhiện và nhìn nhận khác nhau
Phân tích các tài liệu khoa học thu thập được ở trong nước và nước ngoài
có một số cách tiếp cận về trình độ tập luyện như sau:
Trang 14Theo tác giả Nôvicôp A.D và Matveep L.P, trình độ tập luyện chủ yếuliên quan đến những thay đổi về mặt sinh học thông qua sự thích ứng (về chứcnăng và hình thái) xảy ra trong cơ thể vận động dưới tác động của lượng vậnđộng tập luyện Những thay đổi đó dẫn đến sự phát triển năng lực hoạt động củavận động viên [36]
Theo tác giả Aulic I.V, yếu tố cơ bản của trình độ tập luyện là thành tích thểthao Do đó, ông cho rằng: “Trình độ tập luyện là năng lực tiềm tàng của vận độngviên để đạt được những thành tích nhất định trong môn thể thao được lựa chọn vànăng lực này biểu hiện cụ thể ở mức độ chuẩn bị về kỹ thuật thể thao, về thể lực, chiếnthuật, đạo đức, ý chí và trí tuệ Theo tác giả thì trình độ tập luyện càng cao thì vậnđộng viên càng có khả năng thực hiện được những nhiệm vụ nhất định với hiệu quả
mỹ mãn hơn Trình độ tập luyện chính là mức độ thích ứng của cơ thể đối với mộtnhiệm vụ cụ thể, đạt được bằng con đường luyện tập [33]
Theo quan điểm của tác giả Dr Harre [35], trình độ tập luyện của vậnđông viên thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của lượngvận động tập luyện, lượng vận động thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác Thôngqua lượng vận động tập luyện, lượng vận động thi đấu, trình độ từng yếu tố củanăng lực thể thao ( bao gồm cả năng lực thể chất, năng lực phối hợp vận động,năng lực trí tuệ, kỹ xảo, kỹ thuật, năng lực chiến thuật và các phẩm chất tâm lý )một mặt được nâng cao, mặt khác giữa chúng cũng hình thành mối quan hệ bềnvững Bên cạnh đó, việc phát huy đầy đủ các tiềm năng thể chất của vận độngviên thông qua sự nỗ lực ý chí ở mức cao nhất cũng có ý nghĩa đặc biệt quantrọng Năng lực thể thao cao nhất mà vận động viên đạt được qua từng chu kỳtập luyện phù hợp với trình độ tập luyện của họ được gọi là trạng thái sung sứcthể thao Theo tác giả Dr Harre, các thông tin về trình độ tập luyện của vậnđộng viên được thể hiện ở các cuộc thi đấu và kiểm tra thành tích Các tiêuchuẩn cơ bản có thể sử dụng trong việc đánh giá trình độ tập luyện và dự báotiềm năng của vận động viên đó là:
+ Tiêu chuẩn về trình độ của thành tích
Trang 15+ Tiêu chuẩn về nhịp độ phát triển của thành tích.
+ Tiêu chuẩn về sự ổn định thành tích và khả năng tăng trưởng
+ Tiêu chuẩn về khả năng chịu đựng của vận động viên
Bốn tiêu chuẩn trên thể hiện bốn mặt khác nhau của việc đánh giá tổnghợp năng lực thể thao
Như vậy, so với Matveep L.P và Aulic I.V thì quan niệm nêu trên của Dr.Harre về cấu trúc của trình độ tập luyện toàn diện hơn
Theo quan điểm sư phạm, việc đánh giá trình độ tập luyện của vận độngviên chủ yếu dựa trên sự biến đổi về năng lực thể thao
Theo quan điểm về sinh lý học thể dục thể thao thì trình độ tập luyệnđược hiểu là mức độ thích nghi của cơ thể đối với một hoạt động nào đó đạtđược bằng tập luyện Trình độ tập luyện bao giờ cũng liên quan đến những biếnđổi về cấu tạo và chức năng cơ thể sảy ra trong cơ thể dưới tác động của lượngvận động tập luyện Quan điểm này trên một chừng mực nhất định tương đươngvới cách tiếp cận của Nôvicốp A.D và Matveep L.P [36],[37]
Theo tác giả Lưu Quang Hiệp, trình độ tập luyện được xác định thông quacác phương pháp sư phạm, tâm lý và y – sinh học Trình độ tập luyện là mộtkhái niệm tổng hợp, đặc trưng cho khả năng của toàn bộ cơ thể Nguyên lý cơbản để xem xét trình độ tập luyện là nguyên tắc tổng hợp, nghĩa là phải xem xétmột cách toàn diện tất cả các mặt hoạt động của cơ thể: trạng thái sức khoẻ,trạng thái tâm lý, trình độ kỹ chiến thuật, trình độ thể lực… Trình độ tập luyệncũng như biểu hiện cao nhất của nó là trạng thái sung sức thể thao, có thể đượcxác định thông qua các chỉ tiêu sinh lý nhất định [15]
Theo quan điểm của tác giả Lê Văn Lẫm và cộng sự: “trình độ tập luyệncủa vận động viên là kết quả hoạt động tổng hợp của việc giải quyết các nhiệm
vụ trong thực tiễn huấn luyện thể thao Trình độ tập luyện thể hiện ở mức độnâng cao chức phận cơ thể, năng lực hoạt động chung và chuyên môn của vậnđộng viên ở mức hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo thể thao phù hợp” [16]
Tác giả Phạm Danh Tốn cho rằng: Trong lý luận cũng như trong đào tạo
Trang 16vận động viên người ta thường gặp các khái niệm như trình độ đào tạo hay trình
độ tập luyện Nói đến trình độ đào tạo là nhằm chỉ tất cả các mặt đào tạo để làmcho vận động viên có thể đạt được các thành tích thể thao kế tiếp nhau Trình độđào tạo bao gồm trình độ đào tạo về thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý và cả
lý luận nhất định của vận động viên [22]
- Trình độ (năng lực) thể thao thể hiện trong tập luyện và thi đấu của vậnđộng viên Nó là cấu trúc tổng hợp về thể năng, kỹ năng, trí năng, tâm năng…Trình độ (năng lực) về chiến thuật liên quan chặt chẽ tới cả bốn thành phần trên
Sự hình thành những năng lực trên chủ yếu qua huấn luyện
Nhờ huấn luyện, vận động viên có được và nâng dần trình độ thích ứngmới, ngày càng cao hơn ( trong giai đoạn phát triển ) hoặc duy trì hay hạn chế sựsuy giảm trong giai đoạn vận động viên đã có thâm niên thể thao tương đối cao.Người ta còn gọi đó là trình độ tập luyện của vận động viên
Để xác định trình độ tập luyện của một vận động viên trong một môn thểthao nào đó, cần phải xem xét các yếu tố cấu thành năng lực thể thao của vậnđộng viên để lựa chọn tổ hợp các chỉ tiêu đặc trưng xác định trình độ thích ứngcủa các yếu tố cấu thành năng lực dưới ảnh hưởng của lượng vận động Thốngnhất với quan điểm của Harre D rằng, năng lực thể thao là một phức hợp gồmnhiều yếu tố như: năng lực phối hợp vận động, năng lực trí tuệ, kỹ xảo, kỹ thuật,năng lực chiến thuật và các phẩm chất tâm lý [35]
Theo cách tiếp cận được trình bày quan niệm của các tác giả nêu trên thìtrình độ tập luyện được thể hiện qua một số đặc điểm sau:
- Những biến đổi thích nghi về hình thái và chức năng diễn ra trong cơ thểvận động viên dưới tác động lượng vận động tập luyện và lượng vận động thi đấu
- Trình độ tập luyện bao gồm nhiều mặt, nhiều thành phần nhưng dựa trên
cơ sở sinh học, không phải là bất biến mà là một trạng thái luôn luôn biến độngtrong quá trình tập luyện
- Thành tích thể thao được xem là yếu tố cơ bản của quá trình tập luyện
Từ những kết quả phân tích được trình bày trên có thể hiểu: trình độ tập
Trang 17luyện của vận động viên Quần Vợt là trình độ nâng cao các yếu tố thể lực, kỹ –chiến thuật, chức năng và các phẩm chất tâm lý của vận động viên thông quaquá trình huấn luyện và được thể hiện tập trung nhất bằng thành tích thi đấu củavận đông viên Trình độ này được phát triển và nâng cao nhờ tác động của lượngvận động tập luyện và lượng vận động thi đấu trong môn Quần Vợt Trình độtập luyện là phức hợp gồm nhiều mặt: thể lực, kỹ chiến thuật, năng lực tâm- sinh
lý, trong đó có trình độ tập luyện về thể lực là một mặt cấu thành của trình độtập luyện nói chung, và là nền tảng để nâng cao trình độ tập luyện các mặt khác
1.1.2.Các quan điểm về huấn luyện tố chất thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao
Huấn luyện thể thao là chuẩn bị cho VĐV giành được thành tích thể thaocao nhất trong thi đấu Do đó các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trướchết phải bắt nguồn từ các yêu cầu cụ thể trong thi đấu thể thao, ngoài ra còn xuấtphát từ bản thân các yêu cầu của lượng vận động trong huấn luyện Các nhiệm
vụ chính của huấn luyện thể thao bắt nguồn từ cấu trúc thành tích Các yếu tốxác định thành tích cá nhân được sắp xếp thành 5 nhóm như sau
- Các phẩm chất cá nhân của VĐV
- Các tố chất thể lực
- Các khả năng kỹ thuật, phối hợp vận động và kỹ xảo
- Khả năng chiến thuật và trí tuệ
- Sự hiểu biết của VĐV trong lĩnh vực khoa học TDTT
Để đạt được thành tích thể thao cao, người ta phải sử dụng các phươngtiện khác nhau
Trang 18không được sử dụng một cách bừa bãi, không chọn lựa Tính mục đích của mộtbài tập trong huấn luyện thể thao thành tích cao thể hiện ở chỗ chúng được sửdụng để phát triển thành tích trong môn chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu cấutrúc thành tích lâu dài, nâng cao khả năng chịu đựng lượng vận động một cáchliên tục và phát triển thành tích thể thao một cách nhanh chóng.
Thông qua việc lựa chọn hợp lý từng bài tập thể chất và thông qua việcphân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập và nhóm bài tập cóthể bảo đảm cho VĐV phát triển đầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạt thànhtích thể thao cao nhất
Hiện nay, thể thao thành tích cao là một trong những lĩnh vực được quantâm đặc biệt không kém các lĩnh vực văn hoá xã hội, thể hiện khát vọng vươnlên khả năng cao nhất của con người Vì vậy, tiềm năng của con người đã vàđang được khai thác triệt để, nhằm đạt thành tích thể thao cao trong các cuộc thiđấu Các khả năng về kỹ - chiến thuật, thể lực, hoạt động tâm Trong đó, khảnăng hoạt động thể lực, đặc biệt là thể lực chung và thể lực chuyên môn là nhân
tố quan trọng nhất Điều đó đã được các nhà khoa học, chuyên gia hàng đầutrong và ngoài nước nghiên cứu, các HLV luôn quan tâm chú trọng trong quátrình huấn luyện các tố chất thể lực chung cũng như thể lực chuyên môn Trongtuyển chọn VĐV, khả năng chịu đựng lượng vận động là một trong những chỉtiêu cơ bản để đánh giá Khả năng chịu đựng lượng vận động lớn của con ngườinhờ vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng là sự phát triển thể lực
Do vậy, huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao là mặt cơ bản đểnâng cao thành tích thể thao Song, về bản chất mức độ phát triển các tố chất thểlực, phụ thuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan và hệ cơquan trong cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực, cũngchính là quá trình hoàn thiện các hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trongmỗi hoạt động của cơ bắp cụ thể
Theo quan điểm của Zusalovxki V.P Philin cho rằng: “Các tố chất thểlực phát triển có tính giai đoạn và không đồng đều, tuỳ thuộc vào từng thời kỳ
Trang 19của lứa tuổi” Vì vậy, người HLV không những phải nắm vững quy luật pháttriển tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triểncác tố chất) trong cơ thể, mà còn phải hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tốchất thể lực theo độ tuổi của từng cá thể VĐV.[40]
Theo Harre D 1996, Macximenco G 1980, Novicop Matveep L.P 1990,Pankov B.A 2002, Phomin H 1980, Philin V.P 1996 thì cho rằng: “Dù bất kỳgiai đoạn nào của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chungđược coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyên môn được coi
là nền tảng của việc đạt thành tích cao”
Song, một điều cần ghi nhận ở một số công trình nghiên cứu của các tácgiả: Nabatnhicova 1985, Ozolin 1980 thì: “Việc huấn luyện tố chất thể lực chungphải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV Tuỳthuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyệnthể lực chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp”
Một vấn đề không kém phần quan trọng (theo quan điểm của các tác giảMatveep 1990, Pankov 2002, Phomin 1980 cho thấy: “Quá trình huấn luyện thểlực là sự phù hợp của các phương tiện (bài tập thể thất) cũng như các phươngpháp sử dụng, trong quá trình huấn luyện phải phù hợp với các quy luật pháttriển của đối tượng (lứa tuổi, trình độ tập luyện )”
Huấn luyện thể lực (còn gọi là quá trình giáo dục các tố chất thể lựcchung và chuyên môn) là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên và theo
kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm phát triển cácmặt chất lượng và khả năng vận động Quá trình ấy tác động sâu sắc đối với hệthần kinh, cơ bắp cũng như đối với các cơ quan nội tạng của con người Đươngnhiên, muốn có thành tích xuất sắc trong môn bắn cung, trước tiên cần có tố chấtthể lực tốt phù hợp với yêu cầu chuyên môn, song, không có nghĩa là coi nhẹcác mặt khác như kỹ - chiến thuật Thông thường tố chất thể lực được chia thành
5 loại cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khả năng phốihợp vận động (khả năng linh hoạt)
Trang 20Khi đề cập đến vấn đề thể lực chung cũng như đề cập đến giáo dục các
tố chất thể lực chuyên môn, chúng ta hiểu rõ, trong hoạt động chung của conngười thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và mang tính trọng tâm Hoạt động
cơ bắp được thể hiện ở 3 phương diện:
- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ
và thiết diện cơ)
- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng)
- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ)
Theo các tác giả Ozolin 1980, Philin 1996, Phomin 1980 cho rằng, baphương diện trên đây luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tốchất thể lực [38] Đặc biệt, chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chấtthể lực cơ bản: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền Trong đó, độ lớn của sức mạnhquan hệ chủ yếu tới khả năng co cơ, thể hiện theo hướng thay đổi giữa yếu tốthời gian duy trì và cường độ vận động của cơ bắp Do vậy ta có: Sức mạnh tối
đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền Độ lớn của sức nhanh quan hệ chủ yếu tớikhả năng dẫn truyền của hệ thần kinh và liên quan đến thành phần của sợi cơ
Do vậy ta có: Nhanh phản ứng, nhanh vận động và nhanh động tác Độ lớn củasức bền quan hệ chủ yếu tới hoạt động trao đổi chất Mà mối quan hệ này dựatrên cơ sở sinh năng lượng yếm khí và ưa khí Chính vì vậy ta có sức bền cự lyngắn, sức bền cự ly dài và sức bền cự ly trung bình
Song phải ghi nhớ rằng, tất cả các tố chất vận động trên luôn hiện diệntrong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) Ví dụ: động tácgiữ cung được coi là động tác của sức mạnh tối đa là chủ đạo, song trong đó lạichứa đựng yếu tố sức mạnh bền khi thực hiện động tác Có thể biểu diễn mốiquan hệ lẫn nhau giữa sức mạnh, sức nhanh và sức bền theo sơ đồ sau
Trang 21Và như vậy, thông qua sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động ở trên,chúng ta có thể coi đó là những luận điểm cơ bản nhất trong quá trình giáo dụccác tố chất thể lực chung và chuyên môn cho VĐV.
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐVtrẻ, song chúng tôi cho rằng với công trình “Hệ thống huấn luyện thể thao hiệnđại” của tác giả N.G Ozolin - 1980, thì hệ thống các quan điểm của tác giả làđầy đủ hơn cả Tác giả cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việchướng đến củng cố các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chứcphận của chúng, đồng thời là việc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh,sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo)” Quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐVbao gồm: Chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn
- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn
- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần:
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ sở - là hướng đến việc xây dựng cácnền tảng cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định
Trang 22+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản mà mục đích của nó là việc pháttriển một cách rộng rãi các tố chất vận động thoả mãn những đòi hỏi của mônthể thao.[38]
Qua nghiên cứu tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vựchuấn luyện thể lực cho VĐV, chúng ta thấy rằng, về nguyên tắc trong một chu
kỳ huấn luyện lớn đầu tiên phải tiến hành việc huấn luyện thể lực chung, trênnền tảng đó mới tiến hành việc huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở Đây chính
là nền tảng để tiến hành việc huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở, mà nhờ vào
đó tiến hành bước thứ 3 - phát triển ở mức cao hơn các tố chất chuyên môn cơbản, phù hợp với đòi hỏi của môn thể thao
Như vậy có thể nói rằng, việc phát triển các tố chất thể lực chung ở bước
1 càng chặt chẽ bao nhiêu thì ở bước 2 và bước 3 mới có điều kiện phát triển mộtcách cao hơn, chất lượng hơn Sự phát triển tố chất vận động phải phù hợp vớiđặc thù mỗi môn thể thao Song cần phải nhớ rằng, mức độ phát triển thể lựcchung và chuyên môn cơ sở (ở bước 1 và bước 2) là một quá trình liên tục khônggián đoạn và phải được duy trì một cách ổn định Nó chỉ thay đổi - phát triển ởmức mới do những yêu cầu của nhiệm vụ huấn luyện trong giai đoạn sau
Mặt khác, trong một chu kỳ huấn luyện cần thiết phải đảm bảo sự hợp lýgiữa huấn luyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ sở Quátrình huấn luyện thể lực theo 3 bước cho các VĐV được áp dụng trong một chu
kỳ huấn luyện, mà thông thường 2 bước đầu được tiến hành ở thời kỳ chuẩn bị,còn bước 3 ở thời kỳ thi đấu Ở thời kỳ chuyển tiếp, thường chỉ còn lại việcchuẩn bị thể lực chung Với quy trình đào tạo VĐV hiện đại, quá trình này đượctiến hành nhiều năm và liên tục Vì thế, quy trình huấn luyện thể lực 3 bước nêutrên cũng là một quá trình liên tục, nhiều năm Song, đòi hỏi phải có sự tăng lên
cả về mặt số lượng, chất lượng và như vậy, có thể tồn tại nhiều phương án phatrộn khác nhau về tỷ lệ giữa huấn luyện thể lực chung với huấn luyện thể lựcchuyên môn cơ sở và huấn luyện thể lực chuyên môn cơ bản
Cuối cùng, cần chú ý quá trình huấn luyện thể lực theo 3 bước trên cho
Trang 23VĐV, chỉ là một phần của quá trình đào tạo VĐV Trong quá trình huấn luyệnthể lực chung, VĐV phát triển thể lực một cách toàn diện, mà sự phát triển nàyđược gọi là năng lực thể chất Nó được đánh giá bởi mức độ phát triển về khảnăng sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo, khả năng làm việc củatất cả các cơ quan chức phận Dưới ảnh hưởng của quá trình chuẩn bị thể lựcchung, sức khoẻ của VĐV được tăng cường các hệ thống cơ quan, chức phậncủa cơ thể được hoàn thiện Và như vậy, khả năng tiếp nhận lượng vận động củaVĐV cũng được nâng lên Chính điều này đã dẫn đến mức độ phát triển tố chấtthể lực cao hơn Quá trình phát triển thể lực chung có một ý nghĩa quan trọngtrong việc giáo dục các phẩm chất tâm lý và ý chí, vì trong quá trình thực hiệncác bài tập phát triển thể lực chung, VĐV phải vượt qua những khó khăn ở mức
độ khác nhau do việc thực hiện các bài tập mang lại
Việc huấn luyện thể lực chung phải đạt được khả năng làm việc của các
cơ quan chức phận ở mức độ cao Đó chính là nhiệm vụ cơ bản của quá trìnhchuẩn bị thể lực chung Chuẩn bị thể lực chung cho VĐV nhờ vào các bài tập có
và không có dụng cụ, đồng thời cũng có thể nhờ vào việc sử dụng bài tập củacác môn thể thao khác Vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị thể lực chung
là việc chọn lựa các bài tập buộc cơ thể phải huy động một số lượng lớn cơ bắp,các cơ quan chức phận của cơ thể tham gia (bài tập chạy, bài tập thể dục ).Song, mặt khác cũng cần thiết phải chọn lựa các bài tập chỉ có những ảnh hưởngnhất định Nói một cách khác, các bài tập này phải hướng tới việc phát triển một
bộ phận nào đó của cơ thể hoặc tổng hợp các bộ phận, các tố chất vận động, cótác dụng làm tăng cường khả năng thể chất VĐV nói chung Điểm đặc biệt củaquá trình chuẩn bị thể lực chung là phải củng cố được những điểm còn yếu trong
cơ thể, những cơ quan chậm phát triển
Huấn luyện thể lực chuyên môn là hướng đến việc củng cố và nâng caokhả năng làm việc của các cơ quan chức phận, các tố chất vận động phù hợp vớiđòi hỏi của mỗi môn thể thao lựa chọn
Thể lực chuyên môn cơ sở được hình thành và phát triển trên cơ sở phát
Trang 24triển thể lực chung - huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc chọn lựa cácbiện pháp phù hợp mang những nét đặc trưng riêng của môn thể thao, là tiền đềhình thành nên các tố chất thể lực chuyên môn sau này Việc hình thành thể lựcchuyên môn cơ sở của các môn thể thao không có chu kỳ là tương đối khó khăn,
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa họccủa nhiều chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấnluyện thể thao trong nước như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, PhạmTrọng Thanh, Nguyễn Toán, Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn , chúng tathấy các nhà khoa học đều cho rằng: “Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV làhướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống cơ quantrước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đồng thời đã tác độngđến quá trình phát triển của các tố chất vận động” Đây có thể coi là quan điểm
có xu hướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động
1.2 Vai trò và đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt.
1.2.1 Vai trò của huấn luyện thể lực trong Quần vợt hiện đại
Huấn luyện thể lực cho VĐV là cơ sở quan trọng để nâng cao thành tích thiđấu Quần vợt Nội dung chính của huấn luyện thể lực là phát triển toàn diện các
tố chất thể lực cơ bản của môn học như sức mạnh, sức nhanh, sức bền và khảnăng khéo léo mềm dẻo Yêu cầu của việc huấn luyện các tố chất này luôn đòihỏi ở sự kết hợp khéo léo giữa huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn
- Huấn luyện thể lực chung: Là nền tảng cho việc phát triển các tố chất thểlực chuyên môn Điều này đòi hỏi người HLV phải biết phát triển toàn diện các
tố chất thể lực cho VĐV bằng các bài tập phong phú và đa dạng Tuy nhiên, do
Trang 25đặc điểm tập luyện và thi đấu của môn Quần vợt nên việc phát triển thể lựcchung cho VĐV cũng cần lưu ý đến việc sử dụng các bài tập có khả năng nângcao các tố chất đặc trưng của môn này.
- Huấn luyện thể lực chuyên môn là quá trình phát triển những năng lựcvận thể chất tương ứng với môn Quần vợt như sức mạnh tốc độ, sức nhanh phảnứng, sức nhanh động tác, sức bền mạnh và sức bền tốc độ, cũng như những nănglực phối hợp vận động khác nhau để đạt được những thành tích thể thao cao.Các bài tập sử dụng trong huấn luyện thể lực chuyên môn đòi hỏi phải có hìnhthức và nội dung gần với đặc điểm tập luyện và thi đấu Quần vợt Mức độ pháttriển các tố chất thể lực này được đánh giá trên cơ sở khả năng chịu đựng của cơthể đối với LVĐ có cường độ thi đấu cao và kéo dài không chỉ trong mỗi trậnđấu mà còn phải liên tục trong cả một giải thi đấu nhiều ngày
Trong quá trình huấn luyện Quần vợt, đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòagiữa huấn luyện thể lực chung với thể lực chuyên môn theo xu hướng tăng dần
tỷ trọng phát triển các tố chất thể lực chuyên môn của môn học và chỉ có nhưvậy mới có thể nâng cao được thành tích thể thao của môn này
Từ đó chúng ta thấy rằng những yêu cầu về thể lực vô cùng cần thiết với xuhướng phát triển của Quần vợt hiện đại và cũng là cơ sở để hoàn chỉnh các mặt
kỹ thuật, chiến thuật Bởi thế trong Quần vợt, ở bất kỳ trình độ nào, nội dunghuấn luyện thể lực cũng giữ một vị trí vô cùng quan trọng và đòi hỏi phải dànhmột tỷ lệ thời gian thích đáng
1.2.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ và nội dung huấn luyện thể lực.
Ý nghĩa của huấn luyện thể lực.
Huấn luyện thể lực là một bộ phận quan trọng của công tác huấn luyện mônQuần vợt Thông qua công tác huấn luyện thể lực có thể tăng cường sức khoẻcho VĐV, nhằm phát triển một cách toàn diện các tổ chất thể lực, nâng cao nănglực hoạt động của cơ thể Huấn luyện thể lực tốt sẽ tạo tiền đề cho việc huấnluyện kỹ thuật và chiến thuật Nó có ý nghĩa rất lớn và đóng vai trò quan trọngthúc đẩy việc nắm vững kỹ thuật, chiến thuật, sức chịu đựng cường độ lớn, LVĐ
Trang 26lớn, nhằm nâng cao thành tích, đề phòng chấn thương, kéo dài tuổi thọ VĐV (duy trìthành tích thể thao).
Theo xu hướng phát triển và hoàn thiện môn Quần vợt bằng phương thức tấncông và phòng thủ, chức năng nhiệm vụ của VĐV ngày càng mở rộng, tốc độ thi đấungày một tăng cao, sự đối kháng càng quyết liệt, cho nên việc huấn luyện thể lực đốivới VĐV Quần vợt cũng yêu cầu ngày càng cao Hiện nay, huấn luyện thể lực khôngnhững được giới Quần vợt quốc tế đặc biệt coi trọng, mà trong phần lý luận vàphương pháp huấn luyện cũng được đề cập đến Nhiều thành tựu nghiên cứu khoa học
và kiến thức cũng như sự hiểu biết trên lĩnh vực này cũng được mở rộng và phát triển.Trong công tác huấn luyện toàn diện, tính hệ thống và tính khoa học cũng được hoànthiện dần dần Tất cả những điều trên đều có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy pháttriển nhanh trình độ môn Quần vợt
Nội dung và nhiệm vụ của huấn luyện thể lực.
Huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt bao gồm hai phương diện: Huấnluyện thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn
Huấn luyện thể lực chung là sự huấn luyện thể lực mà người ta sử dụngnhiều dạng bài tập khác nhau nhằm phục vụ nhu cầu đối với VĐV Quần vợtnhằm thúc đẩy, tăng cường sức khoẻ cho VĐV, nâng cao năng lực hoạt độngcủa hệ thống cơ quan nội tạng nhằm đạt mục tiêu là phát triển toàn diện tố chấtthể lực và cải thiện hình thái cơ thể cho VĐV
Còn huấn luyện thể lực chuyên môn là sự huấn luyện trong đó vận dụngnhiều bài tập thể lực nhằm nâng cao tố chất thể lực chuyên môn, hoàn thiện việcthực hiện các động tác kỹ thuật và chiến thuật chuyên môn, các bài tập đó phải
có mối quan hệ trực tiếp với thi đấu Quần vợt
Trong môn Quần vợt nói riêng và các môn thể thao nói chung, mối quan hệgiữa huấn luyện giữa thể lực chung và huấn luyện thể lực chuyên môn rất mậtthiết Chúng thúc đẩy lẫn nhau phát triển Thực tế chứng minh điều này, là quyluật chuyển dịch trực tiếp của tố chất vận động Sự huấn luyện thể lực chungmột cách hoàn hảo sẽ là cơ sở tốt cho việc huấn luyện thể lực chuyên môn,
Trang 27ngược lại, huấn luyện thể lực chuyên môn tốt, ở trình độ nhất định sẽ thúc đẩytrình độ huấn luyện thể lực chung Nhờ sự huấn luyện toàn diện, tố chất thể lựcđược phát triển một cách toàn diện, đồng thời VĐV nắm vững kỹ năng vận độngvới LVĐ lớn Việc kích thích sự hưng phấn của các trung khu thần kinh vậnđộng nhằm thúc đẩy việc nắm vững và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo vận động và
có tác dụng hoàn thiện hệ thần kinh thực vật một cách tương ứng
Mối quan hệ giữa thể lực chung và thể lực chuyên môn một mặt có tác dụngthúc đẩy lẫn nhau phát triển, nhưng còn mặt ngược lại là kiềm chế lẫn nhau, hạn chếnhau và gây cản trở nhau, cho nên giữa chúng có những điểm khác nhau, không thểthay thế cho nhau, nếu không nắm các đặc điểm này sẽ làm ảnh hưởng đến sự pháttriển của chúng Do đó, các bài tập dược sử dụng huấn luyện tố chất thể lực choVĐV Quần vợt, nhất thiết phải căn cứ vào mối quan hệ giữa huấn luyện thể lựcchung và huấn luyện thể lực chuyên môn mà tiến hành chọn các bài tập Chỉ khi nào
bố trí sắp xếp một cách khoa học, hợp lý và tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ thìmới thu được một trình độ huấn luyện cao
Khi tiến hành các dạng huấn luyện tố chất thể lực, cần phải nghĩ rằng giữachúng với nhau không phát triển một cách cô lập, mà có mối liên hệ ảnh hưởng đếnnhau, thúc đẩy lẫn nhau và kiềm chế lẫn nhau Bởi vì tất cả các tố chất thể lực đều làhình thức biểu hiện ra của hoạt động cơ bắp, mà hoạt động của cơ bắp lại chịu sử chỉhuy thống nhất của hệ thống thần kinh trung ương Nó thực hiện bởi sự thay đổi sinh
lý nhất định và sự phản ứng về sinh hoá Chính vì thế, đồng thời với sự phát triểnmột tố chất thể lực nào đó thì nhất định các tố chất thể lực khác cũng chịu ảnh hưởnghoặc ít hoặc nhiều, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp Thông thường nếu phát triển một tốchất nào đó mà ảnh hưởng đến sự phát triển của một tố chất thể lực khác thì người tagọi đó là sự chuyển dịch tố chất vận động
Ví dụ: Khi phát triển tố chất sức bền tốc độ, nhất định có ảnh hưởng đến
sự phát triển tố chất sức nhanh và ngược lại
Sự chuyển dịch tố chất vận động là vấn đề thực tiễn trong công tác huấnluyện tố chất thể lực, chỉ có tìm hiểu sâu trong thực tiễn, nắm vững các quy luật
Trang 28nội tại để khống chế những điều kiện chuyển dịch mới có thể thu được hiệu quảtốt Ngược lại nếu quay lưng lại quy luật chuyển dịch này sẽ cản trở sự pháttriển của các tố chất khác, từ đó dẫn đến ảnh hưởng sự nâng cao và phát triểncân bằng toàn bộ tố chất thể lực của VĐV.
Mặt khác, trong quá trình huấn luyện thể lực cần phải tìm hiểu sâu và nắmvững quy luật chuyển dịch cùng loại và sự chuyển dịch khác loại, quy luật chuyểndịch chuyển tiếp và quy luật chuyển dịch gián tiếp Cần phải đặc biệt lưu ý nguyên lý
và điều kiện của sự chuyển dịch tốt và sự chuyển dịch không tốt Cần coi trọng việctuyển chọn nội dung và các thủ đoạn huấn luyện trực diện và bố trí sắp xếp phải chokhoa học, như vậy mới nâng cao được chất lượng huấn luyện
1.2.3 Đặc điểm huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt.
So với Quần vợt trước kia, dù là trên bình diện chất lượng - tốc độ - cường
độ - trận đấu hay mức độ đối kháng quyết liệt của trận đấu thì Quần vợt ngày nayđều được nâng cao và phát triển một bước khá dài Do đó, yêu cầu đối với trình
độ huấn luyện thể lực của VĐV Quần vợt rất cao Ngày nay, nền Quần vợt cácnước đều tích cực sử dụng nhiều biện pháp, phương pháp huấn luyện rất khoahọc, nỗ lực phấn đấu nâng cao trình độ huấn luyện thể lực cho VĐV Quần vợt,thể hiện ở các nguyên tắc chính sau đây:
Nguyên tắc huấn luyện có hệ thống.
Theo kinh nghiệm của nhiều VĐV Quần vợt nổi tiếng trên thế giới đãthành đạt chứng minh rằng, chỉ có tiến hành huấn luyện một cách thật nghiêmkhắc, thật khoa học, và phải hệ thống hoá, phải tập liên tục nhiều năm mới cóthể thành đạt, mới có thể trở thành những vận viên ưu tú, những nhà lập kỷ lụccao Thực tiễn cũng chứng minh rằng, trong quá trình huấn luyện, sự diễn biếntuần tự mục tiêu của từng giai đoạn thường thường là không thể tiếp chuyển hếtđược, bất kỳ một ý đồ nào vượt quá đặc điểm của quá trình huấn luyện, áp đặt
sự huấn luyện chuyên môn hoá quá sớm để đạt được một thành tích nhất thời, tấtyếu dẫn đến sự bắt VĐV đạt thành tích khi chưa có thể đạt được Làm như vậy,
hệ quả là thời gian duy trì thành tích sẽ ngắn
Trang 29Ngày nay, rất nhiều quốc gia căn cứ vào quy luật phát dục và trưởng thànhcủa con người và quy luật “thời kỳ nhạy cảm” để phát triển các tố chất vận độngcho VĐV Người ta chia hệ thống huấn luyện thể lực từ nhi đồng, thiếu niên đếnkhi trưởng thành bao gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn từ 7 - 11 tuổi: Là thời kỳ nhằm phát triển cơ bản chủ yếu phát
triển các năng lực có liên quan mật thiết đến hệ thống thần kinh như: tốc độphản ứng, sức bền chung, tính linh hoạt, tính nhịp điệu, tính đàn hồi, dẻo dai,tính thích ứng
Giai đoạn từ 12 - 17 tuổi: Thời kỳ phát triển toàn diện, chủ yếu là củng cố
và nâng cao năng lực cơ bản, tập trung phát triển sức mạnh tốc độ và sức bềnchung nhằm đạt hiệu quả là phát triển toàn diện Trên cơ sở này, từng bước kếthợp huấn luyện tố chất thể lực mang đặc tính chuyên sâu
Giai đoạn từ 18 tuổi trở lên: Là thời kỳ huấn luyện chuyên sâu Nhiệm vụ
chính là trên cơ sở phát triển của tố chất sức mạnh, tốc độ, sức bền tốc độ, dầndần từ quá độ sang chuyên sâu với mức độ lớn dần và tiến tời huấn luyện tố chấtthể lực chuyên môn
Nguyên tắc nỗ lực nâng cao hiệu suất huấn luyện
Theo đà phát triển của Quần vợt ngày nay, người HLV cần phải tìm hiểu vàkhai thác những nhân tố thúc đẩy và các năng lực tiềm tàng của VĐV Thôngthường, những nhân tố đó là khối LVĐ và cường độ vận động của VĐV Hainhân tố này là động lực chính nhằm tăng thành tích của VĐV
Thực tiễn chứng minh, các cường quốc Quần vợt trên thế giới như: Mỹ,Tây Ban Nha, Pháp, Nga… Trong công tác huấn luyện chú ý giải quyết khốiLVĐ cao và cường độ vận động lớn một cách hợp lý Đây là một kinh nghiệmkhông phải là mới, nhưng không phải ai cũng làm được
Điều thật sự được người ta coi trọng đó là ngày càng nhiều người vận dụngcác phương pháp huấn luyện không mang tính truyền thống, như phương pháphuấn luyện theo mô hình hoặc sử dụng các khí tài huấn luyện chuyên sâu Điềunày không những tăng cường hiệu quả của công tác huấn luyện mà còn thúc đẩy
Trang 30quá trình huấn luyện, nâng cao hiệu suất huấn luyện Ví dụ: Sử dụng máy đo tố
chất sức bền, sức mạnh trong công tác huấn luyện, như điện não đồ, có thể tiếnhành đo sức bền, sức mạnh huấn luyện của 70 loại khác nhau Khi huấn luyện,
có thể căn cứ vào đặc điểm dùng lực của môn Quần vợt và tình hình cụ thể củaVĐV chuyển vào trong điện não khống chế quá trình huấn luyện Mỗi lần kếtquả huấn luyện đều có thể tự động tồn nhập và điện não nhằm giúp cho HLVbiết được tình hình công tác và phân tích đối chiếu
Nguyên tắc tăng cường công tác huấn luyện từ nhiều hướng, vận dụng các phương pháp, phương tiện huấn luyện tiên tiến.
TDTT là cánh cửa sổ của nền khoa học hiện đại, công tác huấn luyện thểlực cho VĐV Quần vợt cũng giống như các môn khoa học khác, đối với việc mởmang kiến thức khoa học mới có tính nhạy cảm rất cao Nó có sự cảm nhận mậtthiết của sự phát triển mới không giống nhau về khoa học, về các tầng, về thànhquả mới, về bước nhảy vọt… mà nó phát triển nhanh theo nhiều hướng, vậndụng các phương pháp, phương tiện huấn luyện thể lực, làm sao sớm nhất,
nhanh nhất, đạt thành tích tốt nhất Ví dụ: Có thể sử dụng kỹ thuật vi điện tử làm
cho công tác huấn luyện được chính xác hơn, được kịp thời thu được tín hiệuphản hồi nhằm đảm bảo cho quá trình huấn luyện được tiến hành ổn định
Ngoài ra, vận dụng thành tựu nghiên cứu khoa học về sinh cơ học để cảitiến công tác huấn luyện tố chất thể lực, vận dụng kiến thức mô phỏng nhằm làmphong phú thêm phương hướng huấn luyện thể lực, vận dụng kỹ thuật đo lườngbằng điện tử không gian đối với công tác huấn luyện thể lực có thể khống chế cóhiệu quả Vận dụng thành tựu nghiên cứu vi tuần hoàn để tiến hành đánh giábình luận về tình hình huấn luyện thể lực… Tất cả những vận dụng thành tựukhoa học nêu trên đối với công tác huấn luyện thể lực có một tác dụng rất lớn
Nguyên tắc huấn luyện đơn lẻ sang huấn luyện tổng hợp.
Ngày nay, việc huấn luyện thể lực cho các VĐV Quần vợt ưu tú là dựa trên
cơ sở đo đạc mấy loại tố chất thân thể rồi quá độ lên huấn luyện toàn diện các tốchất có liên quan Một vấn đề quan trọng cần đề cập là công tác huấn luyện
Trang 31trước kia về kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý, phong cách, trí tuệ… và cả nội dunghuấn luyện từng chu kỳ hay từng giai đoạn đều được tiến hành một cách đơnđộc là chính Sự phát triển theo xu thế hiện nay (trước mắt) là bằng sự huấnluyện đồng bộ - tổng hợp, chia thành nhiều chu kỳ những nhân tố nêu trên Đặcbiệt trong công tác huấn luyện, cần sử dụng nhiều các bài tập mang tính đốikháng cao, diễn ra với tốc độ nhanh Có như vậy mới làm cho công tác huấnluyện thể lực càng phù hợp với yêu cầu chung của phát triển của nền Quần vợthiện đại
Hồi phục sau huấn luyện
Theo đà tăng trưởng về khối lượng huấn luyện và khả năng chịu đựng củaVĐV trong các cuộc thi đấu của nền Quần vợt hiện đại, đặc biệt là trong điềukiện chịu đựng khối lượng lớn nhất, thì vận dụng các biện pháp về y học và hồiphục về mặt tâm lý đã trở thành một khâu quan trọng trong quá trình huấn luyệnQuần vợt nói chung và huấn luyện thể lực nói riêng Điều này không những đềphòng được VĐV tập luyện quá sức, phòng ngừa được các chấn thương, mà cònnâng cao năng lực, khả năng chịu đựng của VĐV từ 5 đến 10%
1.3 Quan điểm nghiên cứu đánh giá TĐTL theo từng yếu tố thành phần và các tố chất thể lực đặc trưng trong môn Quần Vợt.
1.3.1 Quan điểm nghiên cứu đánh giá TĐTL theo từng yếu tố thành phần 1.3.1.1 Đánh giá TĐTL dưới góc độ hình thái.
Ở nước ta, vấn đề đánh giá TĐTL của học sinh, sinh viên bằng phươngpháp nhân trắc, được quan tâm nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 40
Đó là một số công trình đo đạc chiều cao, cân nặng, vòng ngực… của học sinh
Hà Nội do Đỗ Xuân Hợp và cộng sự (1943) tiến hành Các tác giả Trần Nhật Úc(1958), Ngô Thế Phương (1961), Thẩm Hoàng Điệp (1972), Nguyễn QuangQuyền và Đỗ Xuân Hợp (1966 - 1972), Nguyễn Khải (1985), Trần Văn Dần,Đào Ngọc Phong và Nguyễn Bá Cẩn (1990), Nguyễn Mạnh Liên (1993)…cũng
sử dụng các chỉ tiêu chiều cao đứng, cân nặng để đánh giá TĐTL Tác giả chorằng, chiều cao đứng và cân nặng là hai chỉ tiêu cơ bản để đánh giá thể lực con
Trang 32người Theo tác giả, hai chỉ tiêu này được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1983)khuyến cáo và nhiều nước trên thế giới tổ chức theo dõi hai chỉ tiêu này trên cácđối tượng một cách có hệ thống Nguyễn Quang Quyền sử dụng 4 chỉ tiêu:Chiều cao, vòng đùi chân thuận, vòng tay thuận co và vòng ngực hít vào hết sức.Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Quyền và Đỗ Xuân Hợp, đã cho nhữngkết luận xác đáng về diễn biến chiều cao đứng, cân nặng của người Việt Nam từ
1 đến 25 tuổi dễ dàng nhận thấy, giới hạn chiều cao đứng của mỗi người nằmtrong khoảng 20 - 25 tuổi, trong khi đó cân nặng sau tuổi 25 vẫn theo xu hướngtăng lên
Từ các quan điểm nêu trên, cho thấy: Đánh giá TĐTL bằng các chỉ tiêuhình thái chỉ phản ánh một phần TĐTL, vì chỉ nói lên tầm vóc là chủ yếu Thực
tế cho thấy, TĐTL còn phụ thuộc vào tuổi và các yếu tố chức năng khác Ở mộtgiai đoạn nhất định, các chỉ số nhân trắc tỷ lệ thuận với các chỉ tiêu chức năng,nhưng không phải hoàn toàn tương đồng Chính vì vậy, khả năng hoạt động thểlực lại phụ thuộc rất lớn vào yếu tố chức năng
1.3.1.2 Đánh giá TĐTL qua kiểm tra chức năng tâm - sinh lý.
Đánh giá chức năng tâm - sinh lý là phương pháp được thực hiện nhờ cácphương tiện chuyên môn để kiểm tra chức năng hô hấp, tuần hoàn, chức năngthần kinh, thần kinh - cơ, thần kinh - tâm lý… Mục đích của phương pháp kiểmtra chức năng tâm - sinh lý, là dựa vào sự biến đổi của các chỉ số sinh lý, tâm lýkhi cơ thể thực hiện một lượng vận động chuẩn hay lượng vận động tối đa, đểđánh giá chức năng các cơ quan, đánh giá năng lực vận động của cơ thể
Quan điểm đánh giá TĐTL bằng các chỉ tiêu chức năng tâm - sinh lý được
đề xuất và thực hiện bởi các nhà y - sinh học Các tác giả cho rằng, trong quátrình hoạt động, vấn đề vận chuyển ôxy và tiêu thụ ôxy có vai trò đặc biệt quantrọng, nếu lượng ôxy tiêu thụ trên một đơn vị thời gian càng lớn thì công suấthoạt động của người đó càng cao và thể lực càng tốt
Dựa vào quan điểm này, các nhà khoa học đã nghiên cứu xây dựng cáctest chủ yếu đánh giá hiệu quả của hệ vận chuyển ôxy như hệ tim mạch và hô
Trang 33hấp… Họ đã thông qua các test chức năng sinh lý hay cụ thể là thông qua cácchỉ số của hệ đáp ứng ôxy… để đánh giá TĐTL cho các đối tượng Các tác giả
sử dụng phương pháp đánh giá chức năng sinh lý đã xây dựng các test; testLetunốp (1973), Step test Haward (1942), test Margaria (1966), test Cooper(1970)…
Các tác giả đánh giá TĐTL thông qua phương pháp đánh giá chức năng
hệ thống các cơ quan trong cơ thể thường đánh giá bằng các chỉ tiêu được đotrong trạng thái động hoặc tĩnh Các chỉ tiêu đo trong trạng thái tĩnh như mạchđập trong yên tĩnh, huyết áp tĩnh, dung tích sống… Các chỉ số đo trong trạngthái tĩnh phản ánh những biến đổi thích nghi lâu dài của cơ thể, những chỉ số đotrong trạng thái động chỉ phản ánh những biến đổi tức thời của các cơ quantrong cơ thể
Tuỳ theo mục đích, điều kiện thực thi khi nghiên cứu mà người ta sử dụngcác test trong điều kiện thích hợp
1.3.1.3 Đánh giá TĐTL qua phương pháp đánh giá chức năng vận động.
Quan điểm đánh giá TĐTL bằng các chỉ tiêu chức năng vận động, được
áp dụng chủ yếu là các nhà sư phạm Các tác giả thường sử dụng các chỉ tiêuđánh giá năng lực vận động và tố chất thể lực để đánh giá TĐTL của các đốitượng nghiên cứu, như đánh giá sức nhanh, mạnh bền…
Một số tác giả sử dụng một test để đánh giá TĐTL như Cooper (testCooper), test PWC 170, Step test Harvard… Cooper K (1950) cho rằng: Sức bềnchung trong hoạt động TDTT đã đồng thời phản ánh trình độ thể lực chung củacon người
Nhiều tác giả đã sử dụng từ 3 đến 5 chỉ tiêu để đánh giá TĐTL thườngtheo hình thức mỗi một tố chất thể lực, thì sử dụng một chỉ tiêu để đánh giáVôncốp V.I (1987) sử dụng chỉ tiêu chạy 100m, chạy 1500m (đối với nam) vàchạy 500m (đối với nữ), bật xa tại chỗ; chạy 100m, để đánh giá trình độ thể lựcchung của nam và nữ lứa tuổi 17 Ở Tiệp Khắc (1987), đã sử dụng 4 test để đánhgiá trình độ thể lực của nhân dân từ 6 - 60 tuổi bao gồm: Nằm ngửa ngồi dậy,
Trang 34bật xa tại chỗ, nằm sấp co duỗi tay và test Cooper Ở Nhật Bản (1993) đã quyđịnh test kiểm tra thể lực cho mọi người từ 4 đến 64 tuổi bao gồm: Bật xa tạichỗ, ngồi gập thân trong 30 giây, nằm sấp co duỗi tay, chạy con thoi cự ly 5 mtrong 15 giây và chạy 5 phút tính quãng đường.
Đa phần tác giả sử dụng tổ hợp test từ 4 chỉ tiêu trở lên để đánh giá TĐTLcho các đối tượng Theo các tác giả, sử dụng hai hay nhiều test đánh giá một tốchất thể lực, theo hình thức sử dụng test tương đương, cho phép đánh giá chínhxác, khách quan TĐTL của đối tượng nghiên cứu Hình thức sử dụng hai haynhiều test đánh giá một tố chất thể lực thì hầu như đều sử dụng hai test đánh giásức mạnh: Một test đánh giá sức mạnh của hai tay, một test đánh giá sức mạnhcủa hai chân
Ở nước ta, các nhà sư phạm đã nghiên cứu đánh giá TĐTL bằng các tổhợp test sư phạm như Lê Định Du và cộng sự (1973), Phạm Khắc Học, Vũ BíchHuệ, Đỗ Trọng Xanh (1978 - 1980), Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Hồng Minh(1984), Trần Đồng Lâm, Vũ Đào Hùng, Vũ Bích Huệ (1984)…
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu đánh giá thể lực của học sinh thuộc 3cấp (cấp I, Cấp II, cấp III trước đây) của Tổng Cục TDTT và Bộ giáo dục (1974-1975) tiến hành Đề tài đã điều tra trên 1300 học sinh nam, nữ thuộc các tỉnh,thành phố phía Bắc, với các chỉ tiêu chạy 30m, bật xa tại chỗ, ném bóng trúngđích và chạy 500m đối với học sinh cấp I, chạy 60m, bật xa tại chỗ hoặc nhảy
xa, ném bóng trúng đích hoặc ném xa và chạy 1000m, đối với học sinh cấp II,chạy 80m, nhảy xa hoặc nhảy cao, ném lựu đạn hoặc ném tạ và chạy 2000m đốivới học sinh cấp III Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng thể lực học sinh, Bộ Giáodục đã ban hành “Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể 1975” cho học sinh phổ thông,với các tổ hợp chỉ tiêu tương ứng ở mỗi cấp học nói trên
Vũ Đức Thu (1989) đã tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễnnhằm cải tiến chương trình GDTC trong các trường đại học, đã xây dựng được
tổ hợp chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá TĐTL của sinh viên Trên cơ sở cácchuẩn mực được nghiên cứu, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã ban
Trang 35hành tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho sinh viên các trường Đại học và Caođẳng trong cả nước, theo quyết định 203/QĐ - TDTT ngày 23/1/1989.
Tập thể tác giả (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục TDTT) (1973 - 1975),
Vũ Đức Thu (1989), Nguyễn Xuân Sinh (1993), Đỗ Đình Kháng (1994),Nguyễn Mạnh Dần (1997), Nguyễn Đại Dương (1999), Lưu Quang Hiệp (2000)
… đã có những công trình nghiên cứu đánh giá TĐTL của học sinh, sinh viênnước ta và đã phát hiện ra một số đặc điểm phát triển thể lực theo lứa tuổi vàgiới tính
1.3.2 Các tố chất thể lực đặc trưng trong môn Quần Vợt.
Các mặt khác nhau của hoạt động thể lực được coi là các tố chất thể lựchay còn gọi là tố chất vận động Có năm tố chất thể lực cơ bản là: sức mạnh, sứcnhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên
cơ sở sinh lý, lý luận và phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể lực, đề tài
đi sâu phân tích đặc điểm của từng tố chất
Tố chất sức nhanh:
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong khoảng thời gian ngắnnhất, là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người, quy định chủ yếu vàtrực tiếp tốc độ động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Người ta phân biệt ba hình thức đơn giản biểu hiện sức nhanh như:
- Thời gian tiềm phục của phản ứng vận động
- Tốc độ động tác đơn (với lực đối kháng bên ngoài nhỏ)
- Tần số động tác
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau Đặc biệtnhững chỉ số về thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độđộng tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau
Trong nhiều động tác thực hiện với tốc độ tối đa người ta quan sát thấyhai giai đoạn
+ Giai đoạn tăng tốc độ
+ Giai đoạn tốc độ ổn định tương đối
Trang 36Theo quan điểm sinh lý, về thời gian tiềm phục của phản ứng vận độnggồm năm thành phần:
+ Xuất hiện hưng phấn thần kinh trong cơ quan cảm thụ
+ Dẫn truyền hưng phấn vào hệ thần kinh trung ương
+ Truyền hưng phấn trong tổ chức lưới hình thành tín hiệu ly tâm
+ Truyền tín hiệu từ hệ thần kinh trung ương tới cơ
+ Hưng phấn cơ và cơ hoạt động tich cực
Trong các giai đoạn thì giai đoạn thứ ba chiếm nhiều thời gian nhất.Những động tác được thực hiện với tốc độ tối đa khác với động tác chậm về đặcđiểm sinh lý Nguyên do của sự khác biệt thể hiện cơ bản ở chỗ: Khi thực hiệnvới tốc độ tối đa thì khả năng điều chỉnh bằng cảm giác trong tiến trình thựchiện động tác sẽ gặp nhiều khó khăn Do đó, với tốc độ cao khó có thể thực hiệnđộng tác thật chính xác trong các động tác nhanh và thực hiện với tần số cao.Trong các động tác với tốc độ lớn, hoạt động của cơ diễn ra trong thời gian ngắnđến mức cơ không kịp co lại nhiều và thực tế cơ hoạt động theo chế độ đẳngtrường Người ta thừa nhận rằng tần số động tác phụ thuộc vào tính linh hoạtcủa quá trình thần kinh, tức là phụ thuộc vào tốc độ luân chuyển giữa trạng tháihưng phấn và ức chế ở trung khu vận động
Trong tập luyện và thi đấu Quần Vợt, sức nhanh giữ vai trò ý nghĩa hếtsức quan trọng, quyết định đến thành tích thi đấu của vận động viên, thể hiện ởkhả năng kỹ năng phản ứng vận động di chuyển nhanh, dứt điểm nhanh
Tố chất sức mạnh:
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài, hoặc đề khánglại nó bằng sự nỗ lực cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh ), giảm độ dài của cơ (chế độ khắcphục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong chế độ hoạt động như vậy
cơ băp sản sinh ra các lực cơ học, các trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độhoạt động của cơ là cơ sở phân biệt các loại sức mạnh Bằng thực nghiệm vàphân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận có ý nghĩa cơ bản trong
Trang 37phân loại sức mạnh.
Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt vớicác trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộ khảnăng sinh lực của các cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát huy trong điềukiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng của tốc
độ Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năngsinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan vớinhau Trên cơ sở sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năngsinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh - tốc độ (khả năng sinhlực trong các động tác nhanh) Sức mạnh tốc độ còn được chia nhỏ tuỳ theo chế
độ vận động thành sức mạnh động lực và sức mạnh hoãn xung
Trong vận động thể thao, sức mạnh luôn có quan hệ với các tố chất thểlực khác, cụ thể là sức nhanh và sức bền Do đó năng lực sức mạnh được phânchia thành ba hình thức: năng lực sức mạnh tối đa, năng lực sức mạnh nhanh(sức mạnh - tốc độ ), năng lực sức mạnh bền Đồng thời các năng lực sức mạnhnày rất có ý nghĩa trong hoạt động thể dục thể thao, có vai trò quyết định đếnthành tích của hoạt động Song năng lực sức mạnh - tốc độ , sức mạnh bền, đặctrưng cho phần lớn các môn thể thao nói chung và môn Quần Vợt nói riêng Đặcđiểm sức mạnh của vận động viên Quần Vợt thể hiện ở sức nặng của quả giaobóng, đánh bóng xoáy lên thuận tay, đánh bóng xoáy lên trái tay hay đập bóng( hay gọi là sức mạnh tay vai)
Tố chất sức bền:
Sức bền là năng lực thực hiện lâu một hoạt động với cường độ cho trước,hay là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể cóthể chịu đựng được
Để có sức bền, vận động viên phải khắc phục mệt mỏi, nên sức bền còn lànăng lực của cơ thể chống lại mệt mỏi trong một hoạt động nào đó
Như vậy khái niệm sức bền luôn luôn liên quan đến khái niệm mệt mỏi.Sức bền đảm bảo cho vận động viên đạt được một cường độ tốt nhất (tốc
Trang 38độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu, sử dụng sức lực) trong thời gian vận động kéo dàicủa thi đấu tương ứng với khả năng tập luyện của mình Sức bền còn đảm bảochất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hảo các hành vi kỹ, chiến thuật tốt từđầu cho đến cuối cuộc đấu và khi vượt qua một khối lượng vận động lớn trongtập luyện Do đó không những là một nhân tố xác định và ảnh hưởng lớn đếnthành tích thi đấu, mà còn là một nhân tố xác định thành tích tập luyện và khảnăng chịu đựng lượng vận động của vận động viên Sức bền phát triển tốt là mộtđiều kiện quan trọng để phục hồi nhanh.
Sức bền gồm sức bền chung và sức bền chuyên môn
Sức bền chung là sức bền trong các hoạt động kéo dài, với cường độ thấp,
có sự tham gia của phần lớn hệ cơ
Sức bền chung có khả năng chuyển từ hoạt động này sang hoạt độngkhác, tức là khi được nâng cao trong một loại bài tập nào đó, nó có khả năngbiểu hiện trong các loại bài tập khác có cùng tính chất Điều này có ý nghĩa thựctiễn quan trọng Để nâng cao sức bền chung của VĐV ở một môn nào đó có thể
sử dụng nhiều hình thức bài tập khác nhau
Sức bền chuyên môn là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong loạihình bài tập nhất định
Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào nhữngnhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật Do đó,khi nâng cao sức bền chuyên môn trong một loại bài tập xác định nào đó thì hầunhư không có tác dụng làm tăng sức bền chuyên môn trong một loại bài tập kháctức là ở đây hầu như không có sự chuyển của sức bền Sự chuyển của sức bền cóthể xảy ra hay không tuỳ thuộc vào cơ chế cung cấp năng lượng trong vận động.Sức bền nói chung rất cần thiết cho con người Đối với vận động viên Quần Vợt,
nó là một thành phần tất yếu trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sựbiến đổi tốt, trước hết đó là hệ thống thần kinh trung ương, cũng như các hệthống tim mạch, hô hấp
Sức bền chung của vận động viên Quần Vợt là cơ sở để họ có thể chịu
Trang 39đựng được các lượng vận động lớn Sức bền chung là cơ sở vững chắc của vậnđộng viên Quần Vợt trong huấn luyện chuyên môn, trong phát triển sức bềnchuyên môn Sức bền chuyên môn tất nhiên rất cần thiết cho vận động viênQuần Vợt.
Vì sức bền luôn luôn là thành phần tất yếu của thể lực, có quan hệ chặtchẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh Những mối quan hệnày thể hiện bằng các tố chất như : sức mạnh - bền, sức bền - tốc độ Như vậy,
có thể nói rằng sức bền rất đa dạng, nó đặc chưng cho các môn thể thao nóichung và môn Quần Vợt nói riêng
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chấtlượng động tác Nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển đầy đủ sẽ dẫn đếnnhững hạn chế và khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao
Mềm dẻo rất cần thiết cho vận động viên Quần Vợt để hoàn thành các bàitập với biên độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, vận động viên đạtđược độ mềm dẻo tốt hơn, từ đó đáp ứng được đòi hỏi khi thực hiện các độngtác trong thi đấu đối kháng hay đi quyền, nhất là khi phải sử dụng nhiều chân
Tố chất mềm dẻo giúp vận động viên Quần Vợt thực hiện dứt điểm với biên độlớn dễ dàng hơn, nhanh hơn, mạnh hơn, chính xác hơn Tố chất mềm dẻo đóngvai trò quan trọng và quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV Quần Vợt Nếu
Trang 40không có dự trữ về khả năng mềm dẻo thì không thể đạt được sức mạnh tối đatrong động tác cũng như không đạt hiệu quả tốt, nhẹ nhàng trong động tác.
Năng lực phối hợp vận động (Tố chất khéo léo)
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận độngviên (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhấtđịnh Năng lực này được xác định trước hết ở khả năng điều khiển động tác (xử
lý thông tin) và được vận động viên hình thành và phát triển trong tập luyện.Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý vàcác năng lực khác như : Sức mạnh, sức nhanh và sức bền
Năng lực phối hợp của VĐV còn được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanhchóng và có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹxảo về kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động về kỹ xảo
về kỹ thuật thể thao có điểm khác nhau cơ bản Trong khi kỹ xảo về kỹ thuật thểthao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể thì năng lực phối hợp vận động làtiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
Năng lực phối hợp vận động gồm 7 loại năng lực :
- Năng lực liên kết vận động: Đó là năng lực liên kết các hoạt động củatừng bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt độngnhất định Nó thể hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùngsức trong quá trình vận động
- Năng lực định hướng : Đó là năng lực xác định thay đổi tư thế và hoạtđộng của cơ thể trong không gian và thời gian
- Năng lực thăng bằng : Đó là năng lực ổn định trạng thái thăng bằng của
cơ thể (thăng bằng tĩnh) hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiệnđộng tác (thăng bằng động)
- Năng lực nhịp điệu: đó là năng lực nhận biết được sự luân chuyển củamột động tác trong quá trình hoặc thể hiện nó trong khi thực hiện động tác
- Năng lực phản ứng: là khả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiệncác phản ứng vận động một cách hợp lý và nhanh chóng đối với một tín hiệu