1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài thương mại từ thực tiễn thành phố hà nội

82 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài thương mại từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Tác giả Đặng Thị Tâm
Người hướng dẫn PGS. TS Bùi Nguyên Khánh
Trường học Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
Chuyên ngành Luật Kinh tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 396,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI *** ĐẶNG THỊ TÂM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành Luật Kinh tế[.]

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

-*** -ĐẶNG THỊ TÂM

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI

BẰNG TRỌNG TÀI TỪ THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số:60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS Bùi Nguyên Khánh

Hà Nội - 2015

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độclập của tôi Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn

rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đặng Thị Tâm

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin trân trọng cảm ơn sự hướngdẫn, giúp đỡ hết sức nhiệt tình, trách nhiệm và hiệu quả của PGS.TS BùiNguyên Khánh – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xãhội Việt Nam.

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin được gửi lời cảm ơntới tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Luật, tập thể thầy, cô giáo Học việnKhoa học xã hội đã dày công giúp đỡ, giảng dạy, truyền thụ kiến thức vàgiúp đỡ tôi trong suốt khoá học và thời gian nghiên cứu luận văn

Trân trọng cảm ơn.

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 6

1.1 Tranh chấp trong thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp 6

1.1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại 6

1.1.2.Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 8

1.1.3 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại 10

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Trọng tài 16

1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài 16

1.2.2 Thẩm quyền của Trọng tài thương mại 17

1.2.3 Trình tự giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài .18

1.3 Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của một số nước 23

1.3.1 Trọng tài là một loại cơ quan tài phán tư 23

1.3.2 Thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại 24

1.3.3 Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài 25

1 3 4 Về sự giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG

Trang 5

2.1 Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

bằng trọng tài 30

2.1.1 Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Việt Nam 30

2.1.2 Pháp luật hiện hành về Trọng tài thương mại ở Việt Nam 34

2.2 Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng taì tại thành phố Hà Nội 41

2.2.1 Trung tâm trọng tài 41

2.2 2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại thành phố Hà Nội 42

2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động trọng tài thương mại 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 49

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 50

3.1 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật 50

3.2 Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách của Nhà nước 62

3.3 Giải pháp từ phía tổ chức trọng tài và trọng tài viên 65

3.4 Giải pháp từ các doanh nghiệp 66

3.5 Tăng cường hợp tác quốc tế 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

VBQPPL : Văn bản qui phạm pháp luật

Luật TTTM : Luật Trọng tài thương mại

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng Dân sự

TAND : Tòa án nhân dân

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thếgiới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa, trong đó quan hệ họp tác kinh tếquốc tế luôn được củng cố và phát triển Trong điều kiện hội nhập quốc tếdiễn ra mạnh mẽ đó thì cũng phát sinh ngày càng nhiều những tranh chấpthương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phức tạpcủa các tranh chấp cũng ngày một nâng cao Trong quan hệ kinh tế quốc tế,trong kinh doanh thương mại tranh chấp phát sinh luôn là hiện tượngđương nhiên, giải quyết tranh chấp là việc làm tất yếu và đang là một vấn

đề được bàn đến nhiều của nền kinh tế thế giới hiện nay Điều đó cũng giúpđịnh hướng tư duy của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế cóphát sinh tranh chấp các phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu trong đó

có trọng tài Theo đánh giá của Tổng thư ký Tòa án trọng tài quốc tế thìtrọng tài được coi là lựa chọn có nhiều ưu thế nổi bật là tính liên tục, mềmdẻo, bí mật và phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm Với tính năng ưuviệt của mình mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được coi

là lựa chọn được ưa chuộng của các doanh nghiệp trên thế giới Tuy nhiên,thực trạng Việt Nam lại cho thấy các doanh nghiệp chưa thực sự "mặn mà"với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê

có hơn 95% tranh chấp thương mại trong nước được- đưa ra Tòa án có thẩmquyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Sở

dĩ có tình trạng trên thì bên cạnh nguyên nhân chủ quan từ phía các doanhnghiệp còn có nguyên nhân xuất phát từ hệ thống pháp luật về trọng tài củaViệt Nam, đó là hệ thống chưa thực sự tạo ra một hành lang pháp lý antoàn, hiệu quả để doanh nghiệp trong và ngoài nước tự tin khi lựa chọntrọng tài

Sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) năm 2003 đã

Trang 8

đánh dấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật

về trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựa chọn phương thức giải quyếttranh chấp của cộng đồng doanh nghiệp Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh tronghơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùng với sự xuấthiện của nhiều nhân tố mới như việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO), việc ban hành Luật Thương mại năm 2005, Luật Đầu

tư năm 2005 nhưng một số quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ sự bất cậpnhư thẩm quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế, đội ngũ trọng tài viêntrong nước chưa phát triển, cơ chế hỗ trợ của Tòa án đối với trọng tài chưahiệu quả

Xuất phát từ thực tế trên đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thựcthi các cam kết khi gia nhập WTO thì việc ban hành Luật TTTM là một tấtyếu khách quan Sự ra đời của Luật TTTM với nhiều quy định mới về cơbản phù họp với pháp luật và thông lệ quốc tế góp phần tạo niềm tin cho các

cá nhân, tổ chức khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọngtài Một trong những điểm mới đáng ghi nhận là Luật TTTM chính thứcquy định hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài

vụ việc và có các quy định nhằm hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơhội phát triển ngang bằng nhau và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng

cả hai hình thức này Tuy nhiên để các quy định này không chỉ có hiệu lựctrên giấy thì cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ sở lý luận

và thực tiễn của việc ban hành các quy định về hình thức giải quyết tranhchấp bằng trọng tài vụ việc để thực tiễn hóa các quy định này vào dời sốngkinh tế của các cá nhân, tổ chức Với mong muốn được luận bàn chuyênsâu, góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, nâng cao hiệu quảcủa việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Trọng tài tài tại

Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung tác giả chọn đề tài: "Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài thương mại từ thực tiễn thành phố Hà Nội".

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thực tiễn và trong khoa học pháp lý đã có một số bài viết và một

số công trình nghiên cứu ở cấp độ khác nhau về phương thức giải quyết tranhchấp bằng trọng tài, có thể nêu một số công trình như: "Hoàn thiện pháp luât

về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế",Luận án tiến sĩ Luật học của Nguyễn Đình Thơ, Trường Đại học Luật HàNội, 2007 "Pháp luật giải quyết tranh chấp bằng hình thức trọng tài", Luậnvăn thạc sĩ luật học của Phạm Thị Phương Thủy, Trường Đại học Luật HàNội, 2004' "Những vấn đề pháp lý về thỏa thuận trọng tài và thực tiễn ápdụng ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Thị Kim Liên,Trường Đại học Luật Hà Nội, 2006; " Trọng tài thương mại Việt Nam trongtiến trình đổi mới", của Dương Văn Hậu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,1999…Tuy nhiên các công trình trên chỉ đề cập một cách khái quát vềphương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung mà chưa có côngtrình nào đề cập về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài từ thựctiễn thành phố Hà Nội

3.Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích

Luận văn tập trung nghiên cửu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lýluận, phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằngTrọng tài tại Thành phố Hà Nội từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng caohiệu quả sử dụng hình thức trọng tài vào giải quyết tranh chấp thương mại tại

TP Hà Nội nói chung và Việt Nam nói chung, đề xuất hưởng hoàn thiệnnhững quy định pháp luật về phương thức giải quyêt tranh chấp bằng trọng tàitại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:

-Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyếttranh chấp thương mại bằng trọng tài

Trang 10

-Phân tích các quy định hiện hành của pháp luật về trọng tài; đánh giáthực trạng sử dụng phương thức trọng tài trong thực tiễn giải quyết cáctranh chấp thương mại tại TP Hà Nội từ đó chỉ ra các khó khăn, vướngmắc đang và sẽ gặp phải và các nguyên nhân liên quan đến việc sử dụngtrọng tài trong giải quyết tranh chấp.

-Nghiên cứu kinh nghiệm của một sổ nước trên thế giới về việc ápdụng và điều chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọngtài nói chung nhằm lựa chọn những kinh nghiệp hay, phù hợp cho việc ápdụng vào Việt Nam

- Phân tích pháp luật hiện hành về TTTM và những vấn đề thực tiễntrong sử dụng trọng tài để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại

Hà Nội từ đó nêu được những hạn chế của văn bản pháp luật quy định vềtrọng tài thương mại và những bất cập khó khăn bất cập trong thực tiễn khigiải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài tại Hà Nội

-Đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một cách hiệu quả cácquy định của pháp luật nhằm khuyến khích các bên tranh chấp sử dụngphương thức trọng tài nói chung khi cần giải quyết các tranh chấp phát sinhtrong lĩnh vực thương mại

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp trong thương mại

- Thực tiễn việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằngtrọng tài tại Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm những quy định pháp luật vềcác phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, kinhnghiệm quốc tế và đi sâu phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinhdoanh thương bằng trọng tài tại TP Hà Nội

5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Trang 11

Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trìnhnghiên cứu luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duyvật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Ngoài ra, luậnvăn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương phápbình luận, diễn giải, so sánh, tổng họp, phân tích

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về phương thức giải quyếttranh chấp bằng trọng tài vụ việc, luận văn có những đóng góp mới sau đây:

Thứ nhất Luận văn giải quyết những vấn đề lý luận về tranh chấptrong hoạt động thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp, nghiêncứu một cách khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tàivới những phân tích về đặc điểm của trọng tài, ưu và nhược điểm của trọngtài

Thứ hai: Luận văn đã phân tích một cách sâu sắc những quy định phápluật hiện hành về trọng tài, bắt đầu từ việc đánh giá khái quát hiệu quả củapháp luật đối với hoạt động trọng tài, các nguyên tắc giải quyết tranh chấpbằng trọng tài, thẩm quyền của trọng tài và thủ tục của trọng tài thương mại.Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích chi tiết thực trạng sử dụng trọng tài vụviệc trong giải quyết tranh chấp tại Hà Nội nói chung và Việt Nam nóiriêng, các bất cập và các nguyên nhân cụ thể của các bất cập đó

Thứ ba: Luận văn bước đầu đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng caohiệu quả sử dụng phương thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranhchấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại bao gồm những giải pháp về mặt

cơ chế, chính sách, pháp luật; các giải pháp từ phía các trọng tài viên, từphía doanh nghiệp, từ phía tòa án và cơ quan thi hành án

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:

C

Trang 12

-Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong thươngmại bằng trọng tài vụ việc.

Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thươngmại bằng trọng tài tại thành phố Hà Nội

Chương 3: Một sổ giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài

vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG KINH DOANH THƯƠNG MẠI BẰNG

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 Tranh chấp trong thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp

1.1.1 Khái niệm tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Tranh chấp, theo cách hiểu thông thường, đó là sự bất đồng, sự mâuthuẫn về một vấn đề nào đó giữa hai hay nhiều bên liên quan Tranh chấpthường biểu hiện rất đa dạng và sinh động trong xã hội, trong đời sống:tranh chấp về chủ thực sự của vật nuôi chạy từ nhà này sang nhà khác, tranhchấp về ngõ đi chung, tranh chấp về thỏa thuận mua bán đồ vật, về thanhtoán, thời hạn thanh toán và trong quan hệ quốc tế là tranh chấp về chủquyền quốc gia- biên giới, biển đảo Suy cho cùng, tranh chấp là nhữngmâu thuẫn, bất đồng về lợi ích mà các bên không thống nhất được với nhau.Tranh chấp, theo Từ điển tiếng Việt, là sự "đấu tranh, giằng co khi có ý kiếnbất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên" [26, tr 1024].Từgóc độ pháp luật, tranh chấp được giải thích "là những mâu thuẫn về quyền

và nghĩa vụ hợp pháp giữa các bên trong quan hệ pháp luật"[27, tr 443].Pháp luật thực định của Việt Nam hiện nav chưa có quy định nào giải thíchthuật ngữ tranh chấp

Trang 13

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi không tập trung lýgiải và nghiên cứu sâu về thuật ngữ này mà chỉ đề cập khi liên quan đến đốitượng nghiên cứu Hiện nav, có rất nhiều cách diễn đạt tranh chấp trongthương mại như: tranh chấp kinh doanh-thương mại (Điều 29 BLTTDS năm2004), tranh chấp trong hoạt động thương mại, tranh chấp kinh tế, tranhchấp trong thương mại Trong luận văn, tác giả sử dụng thuật ngữ "tranhchấp trong thương mại".

Theo Điều 29 BLTTDS năm 2004 có quy định các loại tranh chấptrong kinh doanh, thương mại - đây được coi như định nghĩa về tranh chấpkinh doanh - thương mại:

Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giảiquyết của Tòa án:

1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa

cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợinhuận bao gồm: a) Mua bán hàng hóa; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối;d) Đại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h)

Tư vấn, kỹ thuật; i) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt,đường bộ, đường thủy nội địa; k) Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằngđường hàng không, đường biển; 1) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ

có giá khác; m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm dò,khai thác

2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cánhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

3 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa cácthành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức củacông ty

4 Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật cóquy định [18]

Trang 14

Luật TTTM năm 2010 cũng quy định tranh chấp thương mại theohướng xác định những tranh chấp trong thương mại thuộc thẩm quyền củaTTTM, bao gồm:

Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt độna thương mại

1 Tranh chấp phát sinh giữa các bên, trong đó ít nhất‘một bên có hoạtđộng thương mại

2 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giảiquyết bằng trọng tài[23]

Tranh chấp trong thương mại, có thể được hiểu như sau:

Tranh chấp trong thương mại là những bất đồng, xung đột về lợi íchkinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mạihoặc các hoạt động kinh tế khác mà theo quy định pháp luật là tranh chấpthuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế

Nội dung khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nộidung:

Thứ nhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủthể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại;

Thứ hai, là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng thương mạihoặc các hoạt động kinh tế khác

Thứ ba, theo quy định pháp luật những tranh chấp này thuộc thẩmquyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế (Tòa án hoặc trọng tài)

1.1.2.Các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Giải quyết tranh chấp có thể hiểu là việc dàn xếp, giải quyết các mâuthuẫn, bất đồng phát sinh từ quan hệ pháp luật bằng những phương thứckhác nhau do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn hoặc do pháp luật quyđịnh Phương thức giải quyết tranh chấp do các bên tranh chấp thỏa thuậnlựa chọn đã được giới doanh nhân thừa nhận và sử dụng rộng rãi, đặc biệttrong lĩnh vực thương mại là thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án.Nội dung của các phương thức này cụ thế như sau:

Trang 15

Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bêntranh chấp tự mình đàm phán, thỏa thuận về các giải pháp nhằm dàn xếp, giảicuyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh giữa họ mà không có sự can thiệp, giúp đỡcủa bên thứ ba dưới bất kỳ hình thức và mức độ nào Thương lượng làphương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng và phổbiến nhất được các bên áp dụng rộng rãi để giải quyết mọi tranh chấp phátsinh trong đời sống đặc biệt là trong hoạt động thương mại Thương lượng

có thể được các bên áp dụng trước khi phát sinh tranh chấp Điều này được

lý giải bởi trong thực hiện họp đồng đã ký kết, khởi nguồn của các tranhchấp là việc vi phạm hợp đồng Khi một bên vi phạm hơp đồng, các bênthường gặp gỡ trao đổi nhằm xác định rõ ai vi phạm, vi phạm gì, mức độnào, hậu quả đến đâu và nếu như quá trình này diễn ra suôn sẻ, bên viphạm công nhận và tự giác khắc phục hậu quả thì sẽ không phát sinh tranhchấp Do vậy, trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn thường cũng cóphân biệt rõ vi phạm và tranh chấp Quá trình thương lượng có thể kéo dài

từ khi vi phạm cho đến khi các bên hóa giải xong tranh chấp phát sinh

- Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bêntranh chấp nhờ bên thứ ba giúp đỡ để họ gặp gỡ, thảo luận và thỏa thuận vềcác giải pháp nhằm dàn xếp, giải quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh Hòagiải và trung gian hòa giải thông thường được đánh đồng với nhau Tuynhiên trong thực tiễn giữa hòa giải và trung gian hòa giải cũng có nhữngđiểm khác nhau về phương pháp tiến hành Người đóng vai trò trung gian

và hòa giải thường đều có những cuộc tiếp xúc với các bên tranh chấp,tuy nhiên, người trung gian thì tiếp xúc riêng với từng bên để nắm bắtquan điểm, khả năng hòa giải của từng bên sau đó mới tổ chức buổi hòagiải Người hòa giải (hòa giải viên) thườns gặp gỡ trực tiếp hai bên ngay

từ đầu, có thể đưa ra gợi ý, đề xuất một hoặc một vài giải pháp, phưong

án khác nhau đế các bên suy nghĩ, thảo luận và tự quyết định phương ánnào mà họ cho là phù họp nhất nhằm giải quyết tranh chấp Thỏa thuận

Trang 16

hòa aiải không có giá trị bắt buộc Việc thi hành thỏa thuận hòa giải hoàntoàn phụ thuộc vào sự tự nguyện của các bên tranh chấp.

Nói đến hòa giải thì cần thiết phải phân biệt hòa giải trước (tiền) tốtụng và hòa giải trong tố tụng Hòa giải tiền tố tụng là việc hòa giải đượctiến hành trước khi các bên khởi kiện ra tòa hoặc gửi đơn đến trọng tài Saukhi nhận đơn, thụ lý đơn, Tòa án hoặc Trọng tài có nghĩa vụ hòa giải giữacác bên để giải quyết tranh chấp Đây là hai quá trình, hai giai đoạn khácnhau trong giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, trong đó có giải quyếttranh chấp trong thương mại

- Xét xử của tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, mộtbên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà khôngcần có sự đồng ý, thỏa thuận của bên kia Tòa án, cụ thể là thẩm phán/hộiđồng xét xử, thụ lý và giải quyết tranh chấp theo đúng quy định của phápluật, bản án do tòa án tuyên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bêntranh chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan

- Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bêntrung gian thứ ba (trọng tài viên) do các bên lựa chọn sẽ đưa ra mộtquyết định sau khi hai bên tranh chấp đã có cơ hội bình đẳng để trìnhbày các vấn đề liên quan đến tranh chấp Nếu quá trình trọng tài bảođảm nguyên tắc tự nguyện, công bằng thì quyết định của trọng tàiviên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên Khoản 1, Điều 3,Luật TTTM năm 2010 quy định: "Trọng tài thương mại là phươngthức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theoquy định của Luật này" [23]

1.1.3 Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giải quyếtcác vụ tranh chấp khi các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc chọntrọng tài Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc "phân xửtrọng tài" phù hợp với quy định trong Luật TTTM và quy chế của Tổ chức

Trang 17

trọng tài mà các bên đã lựa chọn.

Trọng tài cũng là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mạimang tính tài phán Không giống như tòa án quốc gia, không có hội đồngtrọng tài cố định để giải quyết tranh chấp thương mại mà ở đó cùng một sốtrọng tài viên nhất định giải quyết nhiều vụ Trọng tài là một phương thứcgiải quyết tranh chấp tư, dựa trên thỏa thuận giữa các bên

có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự mà nó còn khiến các bên khôngthể chống án hay kháng cáo Xét xử tại trọng tài chỉ có một cấp xét xử Khituyên phán quyết xong, ủy ban Trọng tài (Hội đồng trọng tài) hoàn thànhnhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình Những ưu điểm này đặc biệtquan trọng đối với hoạt động đầu tư thương mại Chính những ưu điểm đóbảo đảm rằng nếu các bên ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thìcác nhà đầu tư sẽ giảm rủi ro cho bên nước ngoài khi quyết định tham giađầu tư thương mại tại Việt Nam; tạo thuận lợi cho các bên nước ngoài và cảbên Việt Nam thông qua việc giải quyết tranh chấp tại Việt Nam

Quyết định trọng tài được thực hiện ngay, đáp ứng yêu cầu khôi phụcnhanh những tổn thất về tiền, hàng trong kinh doanh thương mại Quyếtđịnh trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật, như bản áncủa Tòa án Tuy là chung thẩm, nhưng tố tụng trọng tài không đặt vấn đề

Trang 18

cưỡng chế thi hành, nên bên đương sự nào không chấp nhận phán quyết củatrọng tài thì có thể kiện ra Tòa kinh tế theo thủ tục giải quvết các vụ án.Thứ hai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật

Trọng tài là một tiến trình giải quyết tranh chấp có tính riêng biệt Hầuhết pháp luật về trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài

xử kín (in camera) nếu các bên không quy định khác Tính bí mật thể hiện

rõ ở nội dung tranh chấp và danh tính của các bên được giữ kín, đáp ứngnhu cầu tin cậy trong quan hệ thương mại Điều đó có ý nghĩa lớn trongđiều kiện cạnh tranh

Đây là ưu điểm đối với những doanh nghiệp không muốn các chi tiếttrong vụ tranh chấp của mình bị đem ra công khai, tiết lộ trước Tòa án(hoặc công chúng) - điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạtđộng kinh doanh của mình

Thứ ba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục

Các bên đương sự được tự do lựa chọn trọng tài viên Cách thức lựachọn trọng tài và Hội đồng trọng tài phát huy tính dân chủ, khách quantrong quá trình tố tụng Hoạt động trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồngtrọng tài (ủy ban trọng tài) xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặcđược chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Khi mang một vụ việc ra xét xử ởTòa án, có khả năng thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không cótrình độ chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành

có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảohiểm Khi giải quyết bằng trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọntrọng tài viên có trình độ chuyên môn (4) phù hợp với đối tượng tranh chấp,góp phần nâng cao hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranhchấp Trọng tài viên - người chủ trì phân xử tranh chấp theo suốt vụ kiện từđầu đến cuối, vì vậy, họ có cơ hội tìm hiểu tình tiết vụ việc Điều này có lợingay cả khi các bên muốn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông quađàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận

Trang 19

Thứ tư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanhchóng, lỉnh hoạt cho các bên

Tòa án, khi xét xử các bên hoàn toàn phụ thuộc vào sự chỉ đạo của Tòa

án về thủ tục, thời gian, địa điểm, cách thức xét xử được quy định trước

đó Trong khi đó, với trọng tài, các bên thông thường được tự do lựa chọnthủ tục, thời gian, địa điểm phương thức giải quyết tranh chấp theo phươngthức tiện lợi, nhanh chóng, hiệu quả nhất cho các bên trong khuôn khổ phápluật cho phép Điều này có thể làm giảm chi phí, thời gian và tăng hiệu quảcho quá trình giải quyết tranh chấp

Thứ năm, tiết kiệm thời gian

Tính liên tục, đặc biệt trong hoạt động kinh doanh quốc tế đòi hỏi cácbên không thể lãng phí thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứngđược do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, gây ra khảnăng ách tắc hồ sơ

Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án cho phép các bên được quyềnkháng án cũng làm cho tiến độ bị kéo dài Trong thực tế, giải quyết tranhchấp bằng trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéodài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời

Thứ sáu, duy trì được quan hệ đối tác

Việc thắng, thua trong tố tụng tại trọng tài kinh tế vẫn giữ được mối hòakhí lâu dài giữa các bên tranh chấp Đây là điều kiện không làm mất đi quan hệhọp tác kinh doanh giữa các đối tác Bởi lẽ tố tụng tại trọng tài là tự nguyện.Xét xử bằng trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột căng thẳng củanhững bất đồng trên cơ sỏ' những câu hỏi gợi mở, trong một không gian kínđáo, nhẹ nhàng Đó là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì đượcquan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thihành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốthơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai

Thứ bảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của

Trang 20

Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thưcmg mại bằng trọng tài - một

tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa ántrên các mặt sau:

Xác định giá trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài; giải quyết khiếu nại

về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; ra lệnh áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời; xét đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài; công nhận và thi hànhquyết định trọng tài

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu quyền và lợi ích của mộtbên bị xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại thì có quyền làm đơn yêu cầu Tòa

án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhằm: bảo toàn chứng cứ trongtrường họp chứng cứ bị tiêu hủy hoặc có nguy cơ bị tiêu hủy; kê biên tài sảntranh chấp để ngăn ngừa việc tẩu tán tài sản; cấm chuyển dịch tài sản tranhchấp; cấm thay đổi hiện trạng của tài sản tranh chấp; kê biên và niêm phongtài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng

Việc đánh giá và sử dụng nguồn chứng cứ tại các cơ quan trọng tàirộng hơn, tự do hơn, mang tính xã hội hơn, tạo điều kiện cho các bên làmsáng tỏ những vấn đề nhạy cảm Trong khi đó, Tòa án áp dụng các chứng

cứ để tố tụng bị ràng buộc hơn về mặt pháp lý, làm cho các bên tham gia tốtụng không có cơ hội làm sáng tỏ hết được nhiều vấn đề khúc mắc, khôngthể hiện trên các chứng cứ "pháp lý"

(ii) Các hình thức tổ chức TTTM

Theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như quốc tế, hiện có hai

Trang 21

hình thức trọng tài được sử dụng là Trọng tài vụ việc và Trọng tài quy chế.Tùy thuộc vào ý chí, điều kiện thực tế, thói quen hay nội dung của tranh chấp,các bên đương sự sẽ quyết định lựa chọn cho mình một hình thức trọng tài phùhọp.

Trọng tài vụ việc

Trong trọng tài vụ việc, các bên tự chịu trách nhiệm thành lập hội đồngtrọng tài để giải quyết tranh chấp và phải quy định các quy tắc sẽ điều chỉnhcách thức tiến hành tố tụng trọng tài Khi gặp khó khăn, đôi khi các bên cóthể nhờ một tòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp Bởi các bên tự tiếnhành trọng tài vụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chiphí với trọng tài viên

Trọng tài quy chế

Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặc một

tổ chức trọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quy tắc tố tụng trọng tài của

tổ chức đó

Mức độ giám sát tố tụng trọng tài của mỗi tổ chức là khác nhau Nóichung, tổ chức trọng tài quy chế giám sát một phần tố tụng trọng tài, và giớihạn sự trợ giúp trong việc thành lận hội đôna trọng tài (chỉ định các trọngtài viên), dựa trên nguyện vọng của các bên cũng như các quy tắc tố tụngtrọng tài của chính tổ chức đó

Tổ chức trọng tài có thể thông báo đơn kiện cho bên kia và yêu cầubên đó trình bày rõ quan điểm về vụ kiện và việc thành lập hội đồng trọngtài Đôi khi, tổ chức trọng tài có quyền ấn định một khoản tiền ước tính đủ

để trả chi phí trọng tài, có quyền yêu cầu các bên thanh toán và khi kết thúc

tố tụng, có quyền quyết định các chi phí cuối cùng Tổ chức trọng tài quychế cũng có thể giám sát quá trình thông báo cho các bên về quyết địnhđược hội đồng

Trọng tài ban hành Tuy nhiên, tổ chức trọng tài quy chế cũng có thểkhông thực hiện nhiều công việc nhu vậy Loại trọng tài này thường được

Trang 22

coi là trọng tài được giám sát một phần.

Trọng tài quy chế cũng có thể là trọng tài được giám sát toàn bộ.Trong trường hợp này, tổ chức trọng tài không chỉ chịu trách nhiệm nhậnđơn kiện và thông báo cho bên kia, mà còn thành lập hội đồng trọng tài, ấnđịnh khoản phí ứng trước và có thể còn xác định địa điểm tiến hành trọngtài Như vậy, tổ chức trọng tài giám sát toàn bộ quá trình tố tụng và sẽ giảiquyết một số khó khăn nhất định chẳng hạn như quyết định thay thế cáctrọng tài viên thiên vị Đôi khi, tổ chức trọng tài quy chế thậm chí phải bảođảm nội dung quyết định trọng tài được chấp nhận về mặt bố cục và có thểlưu ý trọng tài viên vào một số điểm của nội dung vụ kiện Tổ chức trọngtài còn giám sát cả việc thông báo quyết định trọng tài cho các bên và saukhi đã ấn định phí trọng tài, tố chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viênđược trả thù lao Tóm lại, tố chức trọng tài bảo đảm các trọng tài viên đượctrả thù lao và bảo đảm các bước của tố tụng trọng tài của tổ chức đó

1.2 Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Trọng tài

1.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

Theo quy định tại Điều 4 Luật Trọng tài Thương mại 2010 có 5nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài, cụthể:

-Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận

đó không vi phạm điều cấm và trái đạo đức xã hội trong quá trình tố tụngtrọng tài nguyên tắc này được thể hiện đó là việc các bên thỏa thuận chọnđịa điểm trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, thời gian trọng tài, và có thể thỏathuận cả phương án giải quyết tranh chấp nếu nó không trái quy định củapháp luật

- Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy địnhcủa pháp luật Sự độc lập của trọng tài viên thể hiện ở việc trọng tài viênkhông có lợi ích trực tiếp hoặc lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp, không

Trang 23

chịu sự chi phối của bất kì cơ quan, tổ chức cá nhân nào khi giải quyết tranhchấp Sự khách quan được đảm bảo khi trọng tài viên thực hiện đúng vai tròcủa người thứ ba phân xử đúng sai dựa trên những chứng cứ tài liệu, tìnhtiết của vụ việc và ra quyết định theo quy định của pháp luật

Nếu có căn cứ cho rằng trọng tài viên có thể hoặc không độc lập, vô tưkhi thực hiện nhiệm vụ thì trọng tài viên đó có thể bị thay thế Thậm chí khiquyết định trọng tài có hiệu lực, nếu có căn cứ chứng tỏ trọng tài viên đã viphạm nguyên tắc này thì quyết định trọng tài sẽ bị tòa án tuyên hủy

- Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Hội đồngtrọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa

vụ của mình Khi các bên tranh chấp lựa chọn giải quyết tranh chấp bằngtrọng tài thì các bên đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, không có sự phânbiệt, đối xử khi tham gia giải quyết tranh chấp

- Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không côngkhai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác các trọng tài viên khôngđược phép tiết lộ nội dung của tranh chấp khi không được các bên đồng ý.Ngoài ra, nguyên tắc này còn được thể hiện ở việc sẽ không có người ngoàiđược tham dự vào phiên xét xử trọng tài nếu các đương sự không cho phép

- Phán quyết trọng tài là chung thẩm nội dung cơ bản của nguyên tắcnày là khi Hội đồng trọng tài công bố quyết định trọng tài, quyết định trọngtài có hiệu lực thi hành ngay, các bên không có quyền kháng cáo, cũng nhưkhông tổ chức nào có quyền kháng nghị Khi xem xét yêu cầu hủy quyếtđịnh trọng tài, tòa án cũng không có quyền xét lại

Tất cả những nguyên tắc giải quyết tranh chấp mà Luật TTTM 2010đặt ra đều nhằm mục đích giúp các bên tranh chấp có thể giải quyết tranhchấp một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả đảm bảo tốt nhất nhucầu về một cơ chế giải quyết tối ưu cho các doanh nghiệp

1.2.2 Thẩm quyền của Trọng tài thương mại

Căn cứ để xác định thẩm quyền trọng tài chính là thỏa thuận trọng tài

Trang 24

và các quy định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài trong giải quyếtcác tranh chấp thương mại.

+ Thỏa thuận trọng tài:

Khoản 1 Điều 16 Luật TTTM 2010 quy định: " Thỏa thuận trọng tài cóthể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặcdưới hình thức thỏa thuận riêng "

Khoản 2 Điều 16 của Luật này cũng có quy định: "Thoả thuận trọng tàiphải được xác lập dưới dạng văn bản " Ngoài ra, một số hình thức thỏathuận khác cũng được coi là xác lập dưới dạng văn bản như: telegram, fax,telex, thư điện tử; hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty ; và một số hìnhthức thỏa thuận khác mà pháp luật cho phép

Thỏa thuận trọng tài thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranhchấp ra trọng tài giải quyết Khác với thẩm quyền của tòa án, thẩm quyềncủa trọng tài chỉ là thẩm quyền vụ việc, nếu được các bên có “vụ việc” lựachọn đích danh Thẩm quyền của trọng tài không được phân định theo lãnhthổ, vì các bên có tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn bất kì một tổchức trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho họ, không phụ thuộc vào nơi

ở cũng như nơi đặt trụ sở của các bên, cũng như không phân định theo cấp xét

xử, vì chỉ có một cấp trọng tài và lại càng không phân định theo sự lựa chọncủa nguyên đơn

+ Thỏa thuận Trọng tài phải không thuộc trường vô hiệu như quy địnhtại điều 18 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010, Thỏa thuận Trọng tàiphải tuân thủ đúng quy định về mặt hình thức, nội dung, người xác lập thỏathuận phải có đủ thẩm quyền, có đủ năng lực hành vi Dân sự, và lĩnh vựctranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng Tài

+ Các tranh chấp phát sinh giữa các bên theo quy định tại điều 2 LuậtTTTM động thương mại, tranh chấp phát sinh giữa ít nhất một bên có hoạtđộng thương mại và một số tranh chấp khác được pháp luật quy định đượcgiải quyết bằng Trọng tài

Trang 25

1.2.3 Trình tự giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài

Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc là những phương pháp khác biệtcủa quá trình tố tụng Các bên trong trọng tài vụ việc thiết lập quy tắc tốtụng riêng mà họ cho là có thê phù hợp với diễn biến và sự việc của vụtranh chấp, trong khi đó các bên trong trọng tài quy chế phải tiến hành trọngtài theo các trình tự của tổ chức trọng tài mà các bên lựa chọn

Tuy nhiên, quy tắc chung là “không có thỏa thuận giải quyết bằngphương thức trọng tài, không có tổ tụng trọng tài” Trừ một số ngoại lệ, cácbên phải thỏa thuận trong họp đồng sử dụng phương thức trọng tài, và quyđịnh chi tiết các quy tắc điều chỉnh quá trình tố tụng (chỉ định trọng tàiviên ) hoặc sử dụng các quy tắc tố tụng trọng tài dưới sự giám sát của một

tổ chức trọng tài quy chế Trong trọng tài vụ việc, các bên tự quyết định tốtụng trọng tài sẽ được tiến hành như thế nào và không có sự trợ giúp của tôchức trọng tài quy chế Trong trọng tài quy chế (cũng được coi như trọng tàiđược giám sát), tố tụng trọng tài được tiến hành với sự trợ giúp của một tổchức trọng tài quy chế

Tùy thuộc vào thỏa thuận giữa các bên, cách thức tiến hành tố tụngtrọng tài có thể khác hoặc không khác với cách thức tiến hành tố tụng tạimột tòa án quốc gia Tuy nhiên, tự các bên (hoặc tổ chức trọng tài quy chế,hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác được các bên chỉ định) tự thành lập hộiđồng trọng tài Hơn nữa, các quy tắc tố tụng trọng tài thường linh hoạt hơn

và ít nghi thức hơn các quy tắc của pháp luật quốc gia

Luật TTTM năm 2010 đã quy định khá chặt chẽ các giai đoạn tố tụngcủa trọng tài Có thể tóm tắt tố tụng trọng tài sẽ gồm các bước sau đây:

Thứ nhất: Nộp đơn và thụ lý đơn

Khoản 1 Điều 30 Luật TTTM 2010 có quy định: "trường hợp giảiquyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn khởikiện gửi đến Trung tâm trọng tài Trường hợp vụ tranh chấp được giải quyếtbằng Trọng tài vụ việc, nguyên đơn phải làm đơn khởi kiện và gửi cho bị

Trang 26

Đơn kiện phải chứa đựng các nội dung chủ yếu theo quy định tạikhoản 2 Điều 30 của Luật này Bao gồm : Ngày, tháng, năm làm đơn khởikiện; Tên, địa chỉ của các bên; tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có;Tóm tắt nội dung vụ tranh chấp; Cơ sở và chứng cứ khởi kiện, nếu có; Cácyêu cầu cụ thể của nguyên đơn và giá trị vụ tranh chấp; Tên, địa chỉ ngườiđược nguyên đơn chọn làm Trọng tài viên hoặc đề nghị chỉ định Trọng tàiviên Kèm theo đơn khởi kiện, phải có thỏa thuận trọng tài, bản chính hoặcbản sao các tài liệu có liên quan

Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi Hội đồngxét xử ra quyết định trọng tài "Nếu các bên không có thoả thuận khác hoặcquy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không có quy định khác, trong thờihạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo vàchứng từ nộp tạm ứng phí trọng tài, Trung tâm trọng tài phải gửi cho bị đơnbản sao đơn khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu theo quy định tạikhoản 3 Điều 30 của Luật này"

Về nguyên tắc, tố tụng trọng tài chỉ bắt đầu khi có đơn kiện củanguyên đơn và đơn phải được gửi khi vụ tranh chấp còn thời hiệu khởi kiện.Điều 31 Luật TTTM 2010 quy định: "Trường hợp tranh chấp được giảiquyết tại Trung tâm trọng tài, nếu các bên không có thỏa thuận khác, thìthời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi Trung tâm trọng tàinhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn" và "Trường hợp tranh chấp đượcgiải quyết bằng Trọng tài vụ việc, nếu các bên không có thoả thuận khác,thì thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài được tính từ khi bị đơn nhận đượcđơn khởi kiện của nguyên đơn" Điều 33 Luật này quy định về thời hiệukhởi kiện như sau: "Trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác, thờihiệu khởi kiện theo thủ tục trọng tài là 02 năm, kể từ thời điểm quyền và lợiích hợp pháp bị xâm phạm"

Thứ hai: Thành lập và hoạt động của Hội đồng trọng tài

Việc thành lập Hội đồng trọng tài dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền

Trang 27

tự do thỏa thuận của các bên tham gia trọng tài Về cách thức thành lập Hộiđồng trọng tài được quy định tại Điều 39 Luật TTTM 2010 " thành phầnHội đồng trọng tài có thể bao gồm một hoặc nhiều Trọng tài viên theo sựthỏa thuận của các bên Trường hợp các bên không có thỏa thuận về sốlượng Trọng tài viên thì Hội đồng trọng tài bao gồm ba trọng tài viên" Điều

40, Điều 41 Luật TTTM 2010 cũng quy định về cách thức thành lập Hộiđồng trọng tài tại trung tâm trọng tài và Hội đồng trọng tài vụ việc, việcthành lập Hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài có thể có sự giúp đỡ củaChủ tịch trung tâm trọng tài thì theo quy định tại ®iều 41, việc thành lậpHội đồng trọng tài vụ việc do các bên thành lập có thể có sự giúp đỡ của tòa

án trong việc giúp các bên chọn, chỉ định trọng tài viên

Sau khi đã chọn trọng tài viên, các bên mới phát hiện ra trọng tài viên

do mình chọn thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 42thì có quyền yêu cầu trọng tài viên này từ chối vụ tranh chấp Việc thay đổitrọng tài viên được tiến hành theo thủ tục quy định tại các khoản 2,3,4,5,6,7Điều 42 của Luật này

Sau khi thành lập, Hội đồng trọng tài nghiên cứu hồ sơ, thực hiệnnhững hoạt động cụ thể để xác minh sự việc nếu thấy cần thiết, thu thậpchứng cứ

Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có khiếu nại để xem xét thỏathuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài (Điều 43 Luật TTTM2010) Các bên có thể hòa giải hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải, cóquyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theoquy định tại các Điều 48, 49, 50, 51, 52, 53 LTTTM 2010 Bị đơn có quyềnkiện lại nguyên đơn về những vấn đề có liên quan đến vụ tranh chấp (Điều

36 LTTTM 2010)

Thứ 3 : Phiên họp giải quyết tranh chấp và phán quyết trọng tài

Điều 55 Luật này quy định: "Phiên họp giải quyết tranh chấp được tiếnhành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Các bên

Trang 28

có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giảiquyết tranh chấp; có quyền mời người làm chứng, người bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hộiđồng trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp giảiquyết tranh chấp" Về trường hợp vắng mặt của các bên được quy định cụthể tại điều 56 của Luật này.

Kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải đưa rađược phán quyết trọng tài Phán quyết trọng tài phải được đưa ra trên cơ sởxem xét, cân nhắc các chứng cứ, tài liệu của vụ việc và phải tuân thủ quyđịnh tại Điều 60: “Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểuquyết theo nguyên tắc đa số Trường hợp biểu quyết không đạt được đa sốthì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọngtài" "Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậmnhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng" "Phán quyếttrọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành"

Bên không đồng ý với phán quyết trọng tài có quyền làm đơn gửi đếnTòa án cấp tỉnh nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài, để yêu cầuhủy phán quyết trọng tài (Điều 69)

Thứ 4 : Thi hành phán quyết trọng tài

Phán quyết của trọng tài được thi hành theo quy định của pháp luật vềthi hành án dân sự Trường hợp hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hànhphán quyết không tự nguyện thi hành và cũng không yêu cầu hủy phánquyết trọng tài thì bên được thi hành phán quyết trọng tài có quyền làm đơnyêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyếttrọng tài; còn đối với phán quyết của trọng tài vụ việc, bên được thi hành cóquyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hànhphán quyết trọng tài sau khi phán quyết được đăng ký theo quy định tạiĐiều 62 của Luật này

Trang 29

Tóm lại, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài khá đơn giản, theomột trình tự được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật vàcác quy định này được các trung tâm trọng tài cụ thể hóa vào Quy tắc tốtụng của trung tâm mình, đảm bảo cho các bên tranh chấp có thể tìm hiểumột cách dễ dàng hơn Mặc dù còn một số bất cập cần sửa đổi phù hợp hơnvới thực tiễn nước ta, song không thể phủ nhận rằng so với tòa án - cơ quantài phán công, thủ tục tố tụng trọng tài đơn giản, thuận tiện hơn nhiều.

Trên nguyên tắc, một khi trọng tài đã đưa ra phán quyết thì phán quyết

đó là chung thẩm, không thể kháng cáo trước bất kỳ một Toà án hay tổ chứcnào khác

Phán quyết trọng tài được chia làm hai loại: phán quyết trọng tài trongnước và phán quyết trọng tài ở nước ngoài Về nguyên tắc, các phán quyếttrọng tài trong nước không liên quan gì đến yếu tố nước ngoài (như tổ chứctrọng tài, địa điểm xét xử, quy tắc tố tụng) và nằm trong phạm vi thẩmquyền xem xét của một quốc gia trong khuôn khổ các vấn đề nội bộ mà cácvấn đề đó không thuộc phạm vi xem xét theo luật pháp quốc tế Trong khi

đó phán quyết trọng tài nước ngoài lại liên quan đến nhiều hơn một nước,liên quan đến quan hệ giữa các nước đó Do đó, nếu như phán quyết trọngtài trong nước chỉ chịu sự điều chỉnh bởi luật quốc gia thì phán quyết trọngtài nước ngoài lại chịu sự điều chỉnh của không những luật quốc gia mà còncác điều ước quốc tế, các tập quán, thông lệ quốc tế…Như vậy việc côngnhận và thi hành phán quyết trọng tài trong nước và nước ngoài cũng khônggiống nhau

Để đảm bảo đặc trưng trên của tố tụng trọng tài, luật pháp các nướcđều qui định nguyên tắc chung là phán quyết phải được các bên tự nguyệnthi hành Trong trường hợp một bên không tự nguyện thi hành, bên kia cóquyền yêu cầu toà án công nhận và cho thi hành tức là Nhà nước hoá phánquyết trọng tài Khi nhận được yêu cầu đó, toà án phải công nhận và cho thihành phán quyết trừ khi toà nhận thấy rằng phán quyết có những điểm sai

Trang 30

sót Khi phán quyết đã được công nhận, phán quyết sẽ có hiệu lực như mộtquyết định của toà án và có thể được cưỡng chế thi hành bằng lực lượng thihành án theo qui định của pháp luật về thi hành án.

1.3 Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài của một số nước

1.3.1 Trọng tài là một loại cơ quan tài phán tư

Ở các nước có nền kinh tế thị trường, các tranh chấp trong kinhdoanh không chỉ được giải quyết bằng tòa án mà còn được giải quyếtbằng nhiều phưcmg tiện khác, trong đó có trọng tài Giải quyết tranhchấp bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạtđộng của Hội đồng trọng tài/trọng tài viên, với tư cách là bên thứ bađộc lập do các bên tranh chấp thành lập nhằm giải quyết mâu thuẫn,bất đồng phát sinh giữa họ với nhau bằng việc đưa ra phán quyết có giátrị bắt buộc các bên phải thi hành Nếu như tòa án là cơ quan tài phánnhà nước, được thay mặt Nhà nước đứng ra xét xử, giải quyết tranhchấp, bất đồng giữa các tổ chức, cá nhân trong xã hội thì ngược lại,trọng tài không phải là một cơ quan nhà nước, quyền lực của trọng tàikhông mang tính chất nhà nước mà được hình thành trên cơ sở ý chícủa các bên tranh chấp Quyền lực của trọng tài là "quyền lực hợpđồng" hay "quyền lực đại diện", do các bên tranh chấp giao phó, ủynhiệm, vì vậy, phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhànước mà mang tính đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp

Như vậy, trọng tài là cơ quan tài phán có quyền lực theo ủy quyền củacác bên tranh chấp, do đó, thường được gọi là cơ quan "tài phán tư" Sự ủyquvền này được thực hiện thông qua một công cụ aọi là "thỏa thuận trọng tài".Thỏa thuận trọng tài là sự nhất trí của các bên về việc đưa ra trọng tài giảiquyết tất cả hoặc một số tranh chấp phát sinh Thôna qua thỏa thuận trọng tài,TTTM được các bên tranh chấp tin tưởng và giao cho quyền thay mặt các bêntranh chấp trong việc xem xét nội dung tranh chấp và đưa ra phán quyết

Vì vậy, muốn đưa một tranh chấp ra trọng tài giải quyết thì trước hoặc

Trang 31

sau khi phát sinh tranh chấp các bên phải có thỏa thuận trọng tài Điều đó

có nghĩa là, cơ quan trọng tài chỉ được giải quyết các vụ tranh chấp thươngmại trên cơ sở có sự thỏa thuận của các bên và chỉ khi vụ việc tranh chấpđược các bên yêu cầu đưa ra cơ quan trọng tài nào thì cơ quan trọng tài đómới được thụ lý và giải quyết Đây chính là nguyên tắc quan trọng của tốtụng trọng tài thể hiện rõ nhất tính chất tài phán tư của hình thức giải quyếttranh chấp này

1.3.2 Thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại

Trọng tài là một loại hình cơ quan tài phán, do đó, vấn đề đầu tiên màNhà nước nào cũng phải quan tâm giải quyết là vấn đề về thẩm quyền củatrọng tài Trong lịch sử, trọng tài đã được sử dụng để giải quyết nhiều loạitranh chấp khác nhau: tranh chấn giữa các quốc gia, tranh chấp thương mại

và tranh chấp lao động Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế thế giới thì trọng tài được thành lập chủ yếu để giải quyết cáctranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Tùy theo quan điểm của mỗinước, mà thẩm quyền của trọng tài có thể được quy định khác nhau, nhưng

có một điểm chung nhất là pháp luật trọng tài các nước đều thừa nhận trọngtài là một phương thức phổ biến và hữu hiệu trong việc giải quyết tranhchấp phát sinh trong hoạt động thương mại Điều 2 Luật Trọng tài TrungQuốc thừa nhận: 'Mọi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và các tranh chấpliên quan tới quyền sở hữu và các lợi ích phát sinh giữa các chủ thể dân sự

có địa vị pháp lý ngang nhau, như giữa các công dân, pháp nhân hoặc tổchức khác có thể được giải quyết bằng trọng tài"[13] ; Điều 1 Luật Trọngtài Thụy Điển quy định: "Mọi tranh chấp liên quan đến một vụ việc dân sựcũng như việc bồi thường thiệt hại do hành vi tội phạm có thể được các bênthỏa thuận giải quyết bởi một hoặc các trọng tài viên"[16] Như vậy, phạm

vi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài rất rộng, bao gồm hầu như mọi tranhchấp phát sinh giữa các chủ thể có địa vị pháp lý ngang bằng nhau

Trang 32

1.3.3 Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Thỏa thuận trọng tài thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranhchấp ra trọng tài giải quyết theo một quy tắc của tổ chức trọng tài nhất địnhđưa ra Đây là cơ sở cho các bên tiến hành giải quyết bằng trọng tài cũngnhư giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình trọng tài Thỏa thuậntrọng tài có hiệu lực không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thảo thuậncủa các bên, mà còn là căn cứ pháp lý để dựa vào đó bên vi phạm có quyềnyêu cầu bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận Vì thỏa thuậntrọng tài có vị trí, vai trò quan trọng mang tính quyết định đối với việc ápdụng phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nên pháp luật cácnước cũng như pháp luật quốc tế đều dành cho thỏa thuận trọng tài một sựquan tâm đặc biệt, thể hiện ở chỗ, trong các đạo luật về trọng tài thường cómột chương riêng, thường là Chương II, để quy định về vấn đề này (LuậtTTTM quốc tế Liên bang Nga 1993; Luật Trọng tài Canada 1986; LuậtTrọng tài Đức 1998; Luật Trọng tài Croatia 2001; Luật Trọng tài Nhật Bảnnăm 2003; Luật Trọng tài Singapore năm 2001) Điều này cho thấy vị trícủa thỏa thuận trọng tài vô cùng quan trọng Tuy nhiên, các quy định vềthỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, đầy đủ thì mới tạo cơ sở cho việc tiếnhành trọng tài một cách thuận lợi

Theo quy định của Luật TTTM 2010 thì một thỏa thuận trọng tài sẽ cóhiệu lực khi các bên tranh chấp đã thỏa thuận bằng văn bản đưa tranh chấpcủa họ ra giải quyết bằng trọng tài Điều này có khâc với quan điểm củamột vài nước khác của hệ thống luật án lệ Ví dụ ở Australia, thỏa thuậntrọng tài có thể là thỏa thuận miệng Tương tự, theo luật án lệ, một thỏathuận bằng miệng có thể được thi hành ở Hồng Kông hoặc ở Anh Ở một sốnước khác, ví dụ, Đan Mạch, Thụy Điển, thỏa thuận trọng tài không nhấtthiết phải được làm bằng văn bản

1 3 4 Về sự giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải

quyết vụ việc

Trang 33

Do bản chất phi chính phủ của mình, nên trọng tài không thể có tínhquyền lực nhà nước để thực hiện một số công việc phát sinh trong quá trìnhgiải quyết tranh chấp và vì vậy, rất cần sự giúp đỡ của Nhà nước, nhất làcủa cơ quan tòa án Vai trò hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài làmột yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả hoạt động của trọngtài Có nhiều hình thức hỗ trợ và giám sát của tòa án đối với trọng tài nhưngchủ yếu là các hình thức sau đây:

Thứ nhất, tòa án có quyền xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận trọngtài Thỏa thuận trọng tài là cơ sở có tính chất nền tảng của thủ tục trọng tài.Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải mọi thỏa thuận trọng tài đều đượcthể hiện một cách chuẩn xác, theo đúng quy định của pháp luật và do đókhông thể tránh khỏi tranh chấp giữa các bên về hiệu lực của thỏa thuậnnày Trong trường họp này thì ai là người cuối cùng có thể can thiệp để giúpcác bên giải quyết dứt điểm sự bất đồng quan điểm thể thỏa thuận trọng tài.Luật trọng tài của nhiều nước quy định tòa án có quyền quyết định về hiệulực của thỏa thuận trọng tài

Thứ hai, tòa án giúp các bên trong việc chọn trọng tài viên trongnhững tình huống cần thiết, về nguyên tắc, việc lựa chọn trọng tài viên làquyền của các bên tranh chấp Tuy nhiên, không phải bao giờ các bên cũng

có thể cùng nhau lựa chọn được một Trọng tài viên duy nhất hoặc chọnđược một trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch hội đồng trọng tài để giải quyếttranh chấp cho mình Trong những trường họp này, sự hỗ trợ của tòa án làhết sức cần thiết Ví dụ, thông thường, hai trọng tài viên do mỗi bên lựachọn phải thống nhất chọn một trọng tài viên thứ ba là Chủ tịch hội đồngtrọng tài Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng đạt được sự thống nhất ýchí trong việc lựa chọn người thứ ba này Lúc này lại xuất hiện nhu cầu hỗtrợ của tòa án với tư cách là cơ quan công quyền Theo quy định của nhiềunước, trong trường họp này, tòa án sẽ chỉ định cho họ một trọng tài viên thứ

ba làm Chủ tịch hội đồng Ví dụ, Điều 1035 Luật Trọng tài Cộng hòa Liên

Trang 34

bang Đức quy định:

Khi các bên không đạt được thỏa thuận về việc chỉ định các trọng tàiviên, một trọng tài viên duy nhất sẽ được tòa án chỉ định theo yêu cầu củamột bên nếu các bên không thỏa thuận vệ sự chỉ định trọng tài viên đó.Trong vụ tố tụng có ba trọng tài viên thì mỗi bên sẽ chỉ định một trọng tài

và hai trọng tài viên tiếp theo đó sẽ chỉ định trọng tài thứ ba, trọng tài thứ bađóng vai trò Chủ tịch ủy ban trọng tài Nếu một bên không chỉ định đượctrọng tài viên trong vòng một tháng từ khi nhận được yêu cầu chỉ định từphía bên kia, hoặc nếu hai trọng tài viên của các bên không thỏa thuận được

về trọng tài viên thứ ba trong vòng một tháng kể từ ngày họ được chỉ địnhthì tòa án sẽ chỉ định theo yêu cầu của một bên[15]

Thứ ba, tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thờinhằm tạo điều kiện thuận lợi cho trọng tài hoạt động Trong quá trình giảiquyết tranh chấp có thể phát sinh nhiều vấn đề mà nếu không xử lý kịp thờithì chúng sẽ ảnh hưởng xấu đến việc giải quyết tranh chấp của trọng tài Ví

dụ, trọng tài viên sẽ rất khó giải quyết tranh chấp và rất khó bảo đảm choviệc thi hành quyết định trọng tài sau này nếu các tài liệu, giấy tờ nằm trongtay người thứ ba không được thu thập; tài sản của con nợ không được kêbiên; tài khoản tại ngân hàng không được phong tỏa kịp thời Do tính chấtphi chính phủ của trọng tài nên các trọng tài viên không thể tự mình làmhoặc ra lệnh cho người khác thực hiện các công việc nêu trên Vì vậy, phápluật trọng tài của các nước đều quy định về việc tòa án có trách nhiệm ápdụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để hỗ trợ trọng tài trong quá trình giảiquyết tranh chấp (Điều 13 Luật trọng tài Malaysia năm 1952 và Điều 28 vàĐiều 46 Luật Trọng tài Trung Quốc )

Thứ tư, tòa án có quyền xem xét và hủy quyết định trọng tài khi có yêucầu Một trong các nguyên tắc của tố tụng trọng tài là trọng tài hoạt độngmột cách độc lập; không ai, không tổ chức nào, kể cả các cơ quan nhà nướcđược quyền can thiệp vào các hoạt động hợp pháp của hội đồng trọng tài.Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là trọng tài muốn làm gì thì làm Để hạn

Trang 35

chế sự tùy tiện của các trọng tài viên trong việc giải quyết tranh chấp, làmcho họ phải vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết tranh chấp, phápluật trọng tài các nước đều quy định cơ chế cho phép tòa án có thể hủyquyết định của trọng tài trong điều kiện nhất định Ví dụ: Điều 12 LuậtTrọng tài thống nhất Hoa Kỳ năm 1955 quy định, theo đơn đề nghị của mộtbên, tòa án sẽ hủy bỏ một phán quyết khi:

1 Phán quyết được đưa ra bởi sự hối lộ, gian lận hoặc các phương thứckhông hợp pháp khác; 2 Có sự thiên vị rõ ràng của một trọng tài viên đượcchỉ định làm trung gian hoặc có sự hối lộ bất kỳ trọng tài viên nào gây tổnhại các quyền của bất kỳ bên nào; 3 Các trọng tài viên vượt quá thẩmquyền của mình; 4 Các trọng tài viên từ chối hoãn phiên tòa xét xử khi có

lý do chính đáng hoặc từ chối xem xét các tài liệu, bằng chứng cơ bản vềtranh chấp hoặc bằng cách khác đã tiến hành phiên xử trái với quy định tạiĐiều 5, gây tổn hại căn bản đến quyền của một bên [16]

Các căn cứ để tòa án hủy bỏ phán quyết trọng tài cũng được ghi nhậntại các Điều 1059 Luật Trọng tài Đức, Điều 44 Luật Trọng tài Nhật Bản,Điều 34 Luật Trọng tài Canada, Điều 36 Luật Trọng tài Croatia, Điều 48Luật Trọng tài Singapore, Điều 829 Luật Trọng tài Italia, Điều 34 Luật

TTTM quốc tế Liên bang Nga

Trang 36

Hai là, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thương mại là yêu cầutất yếu, khách quan với các phương thức từ đơn giản đến phức tạp, từ tựgiải quyết với nhau đến nhờ bên thứ ba giải quyết đó là: thương lượng, hòagiải, trọng tài và tòa án.

Ba là, giải quyết tranh trong thương mại bằng trọng tài là phương thứcđược các doanh nhân trên thế giới chấp nhận và ưu tiên lựa chọn, các hìnhthức ngày càng phong phú và được hoàn thiện hơn Trong xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế, các doanh nhân Việt Nam không thể đứng ngoài và khôngthể mãi ưu tiên chọn tòa án, khi hệ thống này cũng đang bị quá tải bởi các

vụ án hình sự, dân sự, hành chính

Bốn là, Ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp trong thươngmại cũng luôn được hoàn thiện và không ngừng phát triển Nhà nước cũngluôn chú trọng hoàn thiện điều chỉnh pháp luật giải quyết tranh chấp trongthương mại với các phương thức: Trọng tài kinh tế (nhà nước), Trọng tàikinh tế (phi Chính phủ), TTTM với các hình thức điều chỉnh pháp luật ngàycàng cao hơn, hoàn chỉnh hơn (từ Quyết định của Thủ tướng, Nghị định củachính phủ, Pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Luật TTTM năm2010)

Năm là, trọng tài thương mại đã được pháp luật nước ta thừa nhậnnhưng chưa được các bên tranh chấp lựa chọn Trước thực trạng đó đặt chocác nhà luật học nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân và có giải pháp nhằm đưaquy định pháp luật vào cuộc sống

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT

Trang 37

TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

BẰNG TRỌNG TÀI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài

2.1.1 Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Việt Nam

Ở Việt Nam, Trọng tài đã xuất hiện từ thời kì nền kinh tế kế hoạch hóavào đầu những năm của thập kỉ 60 của thế kỉ XX dưới tên gọi là “ Trọng tàikinh tế” Trọng tài kinh tế khi đó có những đặc trưng phản ánh sự vận hànhcủa cơ chế kinh tế kế hoạch hóa, vừa mang chức năng quản lý vừa mang chứcnăng giải quyết tranh chấp; do đó trọng tài kinh tế ở Việt Nam thời đó khôngphải là tổ chức trọng tài phi chính phủ theo đúng nghĩa Khoa học pháp lýcũng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, làm rõ bản chất pháp lý của cơquan này Chính sách đổi mới đã dẫn đến sự phát triển của kinh tế thị trường,xây dựng Nhà nước pháp quyền dẫn đến sự chấm dứt tồn tại của một số chếđịnh đặc trưng cho kế hoạch hóa, trong đó có hợp đồng kinh tế và trọng tàikinh tế Sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến nhu cầu thành lập cáctrung tâm trọng tài đúng nghĩa ( phi Chính phủ) ở Việt Nam Hiện nay ở ViệtNam có 8 trung tâm trọng tài kinh tế đang hoạt động

Sau khi công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền bắc cơ bản hoànthành, Đảng ta đã xác định vì hoạt động kinh tế là hoạt động nền tảng chonhững hoạt động khác, đồng thời là mộ nhiệm vụ tương đối mới mẻ và khókhăn đối với Nhà nước ta, cho nên trước hết phải đặc biệt chú ý tăng cườnghiệu lực của

Nhà nước về tổ chức quản lý kinh tế Theo đó, nguyên tắc tập chung,chuyên môn hóa, hợp tác hóa… trong các ngành kinh tế được đề cao Mọihạt động kinh tế diễn ra trong chế độ ta đều diễn ra theo kế hoạch , mà kế

Trang 38

hoạch Nhà nước là công cụ chủ yếu để quản lý kinh tế Công tác kế hoạchhóa của Nhà nước kết hợp với đề cao trách nhiệm và phát huy sang tạo củacác ngành, các địa phương và cơ sở Bộ máy quản lý kinh tế cũng được xâydựng trên nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địaphương và vùng lãnh thổ, bảo đảm hình thành các ngành kinh tế- kỹ thuật,các tổ chức kinh tế liên hiệp, các vùng kinh tế và các cơ cấu kinh tế địaphương.

Xét về mặt lịch sử, Trọng tài kinh tế xuất hiện và phát triển cùng với

sự ra đời của chế độ hợp đồng kinh tế Năm 1960, Thủ tướng Chính phủ đã

ra Nghị định số 04/TTg ngày 04/01/1960 để ban hành Điều lệ tạm thời ềhợp đồng kinh tế Ngày 14/1/1960 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh 20/TTg về Tổ chức Trọng tài kinh tế ( Nhà nước) quy định về nguyêntắc hoạt động của trọng tài nhà nước Trọng tài kinh tế được tổ chức ở cáccấp từ Trung ương đến địa phương với chức năng chủ yếu là xử lý cáctranh chấp hợp đồng kinh tế

Tiếp theo, sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 54- CP, ngày10/3/1975 về chế độ hợp đồng kinh tế thay cho Nghị định số 04-TTg, ngày14/04/1975, Chính phủ đã ra Nghị định số 75- CP ban hành điều lệ tổ chức

và hoạt động của hội đồng Trọng tài kinh tế Nhà nước Theo bản điều lệnày, Trọng tài kinh tế Nhà nước được thành lập như một cơ quan Nhà nước

có chức năng quản lý công tác Hợp đồng kinh tế à giải quyết các tranh chấphợp đồng kinh tế Đó là chức năng giữ vững tính kỉ luật nhà nước về hợpđồng kinh tế, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và xử lý viphạm hợp đồng kinh tế

Với Nghị định số 24/ H ĐBT ngày 10/8/1981 của Hội đồng Bộtrưởng, Hội đồng Trọng tài kinh tế các cấp được thống nhất tên gọi là Trọngtài kinh tế, ngạch trọng tài viên được xác lập Ngày 17/04/1984, Hội đồng

Bộ trưởng đã ban hành đã ban hành Nghị định số 62/ HĐBT quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trọng tài kinh tế cấp bộ,

Trang 39

tỉnh, huyện Ngày 10/1/1990, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh vềTrọng tài kinh tế quy định tổ chức, thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranhchấp hợp đồng kinh tế Đặc biệt, Pháp lệnh Trọng tài kinh tế đã bỏ trọng tàicấp Bộ, nguyên tắc các bên có quyền thỏa thuận, lựa chọn trọng tài đứng ragiải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế được ghi nhận.

Như vậy, Trọng tài kinh tế là cơ quan thuộc hệ thống cơ quan chấphành và điều hành của Nhà nước ( Hội đồng bộ trưởng, UBND các cấp), cóchức năng quản lý đối với công tác hợp đồng kinh tế và giải quyết tranhchấp hợp đồng kinh tế Nét đặc thù của Trọng tài kinh tế thể hiện ở chỗ,hoạt động giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế cũng chính

là phương tiện để đạt được mục đích trực tiếp điều hành, tổ chức các quan

hệ kinh tế

Nhìn khái quát từ góc độ lịch sử, ta thấy Trọng tài kinh tế từ chỗ là cơquan Nhà nước có chức năng chủ yếu là xử lý các vi phạm hợp đồng kinh tế( Nghị định 20/TTg ngày 14/1/1960) đã phát triển thành cơ quan Nhà nước

có chức năng chủ yếu là quản lý công tác hợp đồng kinh tế ( Nghị định số75/ CP gày 14/4/1975, Nghị định 24/ HĐBT ngày 10/8/1981), Nghị định số62/ HĐBT ngày 17/4/1984 , Pháp lệnh Trọng tài kinh tế ngày12/1/1990).Quá trình phát triển của trọng tài kinh tế tương ứng với việc ngày càng mởrộng vai trò của hợp đồng kinh tế

Khi đất nước chuyển sang cơ chế kinh tế mới thì sự tồn tài của Trọngtài kinh tế với chức năng là một cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước-sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung tỏ ra không còn phù hợp Sựphát triển đa dạng các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều ó sởhữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi cả về hình thức lẫn tính chất ác tranhchấp và đi liền với nó là nội dung tranh chấp kinh tế cũng đòi hỏi phải đổimới Chính vì thế, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chứcTAND ngày 28/12/1993, Tòa Kinh tế chuyên trách được hình thành trong

hệ thống TAND từ ngày 1/7/1994 với chức năng giải quyết các tranh chấp

Trang 40

kinh tế Hệ thống trọng tài kinh tế nhà nước cũng giải thể từ đó.

Trước những đòi hỏi khách quan về đa dạng hóa các hình thức và cácphương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh phù hợp với đặc điểmcủa cơ chế thị trường, cũng như góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhậpquốc tế, ngày 5/9/1994, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 116- CP về tổchức hoạt động của các trung tâm Trọng tài kinh tế Theo các quy định củaNghị định này, Trọng tài Kinh tế thực sự được xác định là một tổ chức xãhội- nghề nghiệp, tức là tổ chức phi Chính phủ có thẩm quyền giải quyếtmột số tranh chấp theo quy định, hoàn toán tách rời với chức năng quản lýNhà nước như trước đây Sau gần 10 năm thực hiệnNghij định 116- CP, đã

có 6 Trung tâm tâm trọng tài được thành lập với hơn 130 trọng tài viên Tuynhiên đánh giá một cách khách quan , khái quát thì trọng tài chưa thể hiệnđược vai trò của mình với chức năng là cơ quan tài phán có vài trò hỗ trợđắc lực cho Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương maị.Nhằm khắc phục những hạn chế, tăng cường hiệu quả và năng lực củacác trung tâm trọng tài với đội ngũ Trọng tài viên, ngày 25/02/2003, Ủy banThường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh TTTM số 08/2003/PL-UBTVQH Ngày 31/7/2003 Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã banhành Nghị quyết số 05/2003/ NQ- HĐTP hướng dẫn thi hành một số quyđịnh của Pháp lệnh TTTM Có thể nói Pháp lệnh đã mở rộng một cách đáng

kể thẩm quyền cho Trọng tài nước ta so với Nghị định 116-CP; quy địnhđầy đủ, rõ rang về thỏa thuận trọng tài, góp phần chấm dứt tình trạng “ lấnquyền của Tòa án đối với Trọng tài”; tạo điều kiện thuận lợi cho việc trởthành trọng tài viên gi nhận hình thức trọng tài mới là trọng tài vụ việc; mởrộng thẩm quyền chọn trọng tài viên cho các bên tranh chấp; ghi nhận mốiquan hệ chặt chẽ giữa Trọng tài và Tòa án; nâng cao vị thế của Trọng tàibằng việc ghi nhận tính cưỡng chế thi hành của các phán quyết trọng tài;quy định nhiều cơ chế mới để đảm bảo cho việc thành lập các Trung tâmTrọng tài được chặt chẽ hơn, trên cơ sở đó mà nâng cao chất lượng và uy

Ngày đăng: 16/02/2023, 16:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alan Redfem, Martin Hunter, Nigel Blackaby, Constantine Partasides (2004), Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, NXB Sweet &Maxwell, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế
Tác giả: Alan Redfem, Martin Hunter, Nigel Blackaby, Constantine Partasides
Nhà XB: NXB Sweet &Maxwell
Năm: 2004
2. Albert Jan Van Den Berg (2010), Trọng tài quốc tế và Tòa án quốc gia: Câu chuyện không hồi kết, Hội nghị Trọng tài quốc tế ICCA, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài quốc tế và Tòa án quốcgia: Câu chuyện không hồi kết
Tác giả: Albert Jan Van Den Berg
Nhà XB: NXB Laođộng
Năm: 2010
3. Th.s Đặng Hoàng Anh (2006), “Một số điểm bất cập của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại Việt Nam về quy định tuyên quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số”, Tạp chí Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số điểm bất cập của Pháp lệnhTrọng tài Thương mại Việt Nam về quy định tuyên quyết định trọng tài theonguyên tắc đa số
Tác giả: Th.s Đặng Hoàng Anh
Năm: 2006
4. Vũ Ánh Dương (2010) “Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài Quốc tế tại Việt Nam” Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam và Dự án DANIDA tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng giải quyết tranh chấp tại Trungtâm trọng tài Quốc tế tại Việt Nam
5. Đặng Trung Hà (2003), “Bàn về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam qua một vụ kiện”, Nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về công nhận và thi hành quyết định củatrọng tài nước ngoài tại Việt Nam qua một vụ kiện”
Tác giả: Đặng Trung Hà
Năm: 2003
6. Dương Đăng Huệ (2003), “Một điển hình của việc xây dựng pháp luật theo hướng hội nhập”, Tạp chỉ Nghiên cứu lập pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một điển hình của việc xây dựng phápluật theo hướng hội nhập”
Tác giả: Dương Đăng Huệ
Năm: 2003
7. Trương Hưng (2004), “Một số vấn đề về thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thẩm quyền của Tòa án nhândân theo Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam”
Tác giả: Trương Hưng
Năm: 2004
9. Hội Luật gia Việt Nam (2009),Thuyết minh chi tiết dự thảo Luật trọng tài thương mại số 10/TMCT-HLGVN,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),Thuyết minh chi tiết dự thảo Luậttrọng tài thương mại số 10/TMCT-HLGVN
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
10. Hội Luật gia Việt Nam (2009), Kỷ yếu Hội thảo về Dự thảo Luật Trọng tài Thương mại,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kỷ yếu Hội thảo về Dự thảo LuậtTrọng tài Thương mại
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2009
11. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 1998), Quy tắc trọng tài ICC ấn bản ngày 1/61998, ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy tắctrọng tài ICC ấn bản ngày 1/61998
12. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 2008), Quy tắc tố tụng của trọng tài stockhome ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quy tắc tốtụng của trọng tài stockhome
13. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 2008), Luật Trọng tài thương mại Trung Quốc 1994 ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật Trọngtài thương mại Trung Quốc 1994
14. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 2008), Luật Trọng tài thương mại Thụy Điển 1964 ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật Trọngtài thương mại Thụy Điển 1964
15. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 2008), Luật Trọng tài thương mại CHLB Đức 1998 ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Luật Trọngtài thương mại CHLB Đức 1998
16. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam ( 2008), Luật Trọng tài thống nhất Hoa Kì 1955 ( Bản dịch Tiếng Việt ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), LuậtTrọng tài thống nhất Hoa Kì 1955
17. Nguyễn Thái Phúc (2003), “Một số ý kiến về Pháp lệnh trọng tài thương mại”, Tạp chí khoa học pháp lí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về Pháp lệnh trọng tàithương mại
Tác giả: Nguyễn Thái Phúc
Năm: 2003
18. Quốc hội ( 2011) Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung
23. Quốc hội ( 2005) Luật trọng tài thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật trọng tài thương mại
24. Trung tâm thương mại quốc tế (2008), Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng tài và các phươngthức giải quyết tranh chấp lựa chọn
Tác giả: Trung tâm thương mại quốc tế
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2008
26. Trung tâm từ điển học ( 2005), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.Từ điển Giải thích thuật ngữ pháp luật thông dụng ( 2001), NXb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt", NXB ĐàNẵng, Đà Nẵng."Từ điển Giải thích thuật ngữ pháp luật thông dụng (
Nhà XB: NXB ĐàNẵng

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w