MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiTrong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống BPG ngàycàng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà các biện pháp chống BPG đang đượcnhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cảntrong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa. Trong vòng 17 năm, tínhtừ ngày 1/1/1995 cho tới ngày 30/06/2013, đã có tổng cộng 4.358 vụ điều trachống BPG mới được khởi xướng với 2.795 biện pháp chống BPG đã được ápdụng bởi các thành viên WTO. Các vụ điều tra chống BPG và sử dụng các biệnpháp chống BPG của các thành viên WTO mặc dù không tăng nhiều về số lượngnhưng chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn. Tính đến hếttháng 12/2013, khoảng hơn 100 thành viên WTO đã có khung pháp lý về điều trachống BPG, trong số đó, có đến hơn nửa số thành viên mỗi năm khởi xướng ítnhất 1 vụ điều tra chống BPG [64], và khoảng 70 thành viên WTO đã tiến hànhcác vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54]. Bởi vậy, trước thực trạng nói trên,các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với cáccuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích cực sử dụngnhững cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình. Mộttrong những cơ chế được đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSMcủa WTO.Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp vềchống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này. Trên thực tế, tính đến hếttháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và đang được giải quyết tạiWTO [78]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồntại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nóichung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện.2Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển. Kể từthời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và được hưởng sự đối xửđặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranhchấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình. Tính đến hết tháng12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổngsố mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59]. Qua từng vụtranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cựcvào DSM của WTO. Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tínhphức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ chế điềuphối của chính Việt Nam.Việc nghiên cứu pháp luật của WTO, cũng như yêu cầu chủ động và tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranhchấp quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng vàNhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ Chính trị vềhội nhập quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lầnthứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về một số chủ trương, chínhsách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viêncủa Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP củaChính phủ ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW; Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủthực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/11/2012 củaThủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tíchcực hội nhập quốc tế.3Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong các vụ tranh chấp vềchống BPG đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cáchtoàn diện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPGtại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợpgiữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó, có thể đề xuất cácgiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyếttranh chấp về chống BPG tại WTO.Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham giacủa Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũngnhư những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thiếtcao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấpvề chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang pháttriển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tàiĐối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành,phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp vềchống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấpvề chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chốngBPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốctế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn giảiquyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nướcđang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranhchấp về chống BPG tại WTO.Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trongkhuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng. Bởivậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến4hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốctế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quanniệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luậtquốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; (3) phân tích nộidung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụngtrong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, tập trung vàonhững điểm đặc thù của lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG và phạmvi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB. Mặc dù có liệtkê tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, tuynhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp vềchống BPG tại DSB/WTO; (4) trình bày khái quát về thực tiễn giải quyết tranhchấp tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm và thực tiễn thamgia vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG của ba nước Ấn Độ,Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam. Tác giả lựa chọn ba nước ẤnĐộ, Trung Quốc và Thái Lan bởi lẽ đây cũng là những nước đang phát triển,cùng ở khu vực Châu Á, rất “tích cực” tham gia vào việc giải quyết tranh chấpvề chống BPG tại WTO, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam vềcác mặt hàng thường xuyên bị điều tra chống BPG, và một phần nào đó là vềđiều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO VÀ SỰ THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 62 38 01 08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NCS Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4ACWL Advisory Centre on WTO Law – Trung tâm tư vấn về pháp
luật WTO
ADA Anti-Dumping Agreement - Hiệp định về chống bán phá giá
ADC Anti-Dumping Code - Bộ luật về chống bán phá giá
DSB Dispute Settlement Body - Cơ quan giải quyết tranh chấp
DSM Dispute Settlement Mechanism – Cơ chế giải quyết tranh
chấp
DSU Understanding on rules and procedures governing the
settlement of disputes - Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục
điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp
EC European Communities – Cộng đồng Châu Âu
EU European Union – Liên minh Châu Âu
GATT General Agreement on Trade and Tariffs - Hiệp định chung về
thương mại và thuế quan
GATT 1947 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1947
GATT 1994 Hiệp định chung về thương mại và thuế quan năm 1994
USDOC United States Department of Commerce – Bộ thương mại Hoa
Kỳ
VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry - Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WTO World Trade Organization - Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN
CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
8
1.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý
LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO
26
2.1 Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật
quốc tế trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO
26
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995 27
2.2 Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá, tranh
chấp về chống bán phá giá và pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá
31
2.2.1 Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá và
tranh chấp về chống bán phá giá
31
Trang 6dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO
2.3.1 DSM của WTO – Nền tảng pháp luật áp dụng trong giải
quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
44
2.3.2 Qui định đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành
cho các nước đang phát triển
59
2.3.3 Quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống bán
phá giá theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về bán
phá giá theo pháp luật quốc gia thành viên
62
2.4 Nội dung những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
64
2.4.1 Phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống bán phá giá được
giải quyết tại DSB
64
2.4.2 Nội dung một số vấn đề cụ thể khác của pháp luật quốc tế
áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại
WTO
76
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP TẠI WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ SỰ
THAM GIA CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Trang 73.2 Thực tiễn tham gia của một số nước đang phát triển vào việc
giải quyết tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá và
những bài học kinh nghiệm cần chú ý
95
3.2.1 Thực tiễn tham gia của Ấn Độ vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
96
3.2.2 Thực tiễn tham gia của Trung Quốc vào việc giải quyết
tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá
99
3.2.3 Thực tiễn tham gia của Thái Lan vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
107
3.3 Thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
111
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỰ THAM GIA CỦA VIỆT
NAM VÀO VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI
WTO VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
120
4.1 Những quan điểm và định hướng cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh
chấp tại WTO về chống bán phá giá
120
4.2 Những giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sự
tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại
WTO về chống bán phá giá
125
4.2.1 Nhóm giải pháp chung nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia
của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về
125
Trang 8là nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA
TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC
CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong thương mại quốc tế hiện nay, các tranh chấp về chống BPG ngày càng trở nên phức tạp và phổ biến khi mà các biện pháp chống BPG đang được nhiều quốc gia, trong đó chủ yếu là các nước phát triển, sử dụng như một rào cản trong thương mại và bảo hộ cho ngành sản xuất nội địa Trong vòng 17 năm, tính
từ ngày 1/1/1995 cho tới ngày 30/06/2013, đã có tổng cộng 4.358 vụ điều tra chống BPG mới được khởi xướng với 2.795 biện pháp chống BPG đã được áp dụng bởi các thành viên WTO Các vụ điều tra chống BPG và sử dụng các biện pháp chống BPG của các thành viên WTO mặc dù không tăng nhiều về số lượng nhưng chúng ngày càng trở nên phức tạp và khó kiểm soát hơn Tính đến hết tháng 12/2013, khoảng hơn 100 thành viên WTO đã có khung pháp lý về điều tra chống BPG, trong số đó, có đến hơn nửa số thành viên mỗi năm khởi xướng ít nhất 1 vụ điều tra chống BPG [64], và khoảng 70 thành viên WTO đã tiến hành các vụ điều tra chống BPG trên thực tế [54] Bởi vậy, trước thực trạng nói trên, các thành viên WTO, bên cạnh việc tìm ra những giải pháp để đối phó với các cuộc điều tra về chống BPG và việc áp thuế chống BPG, đã tích cực sử dụng những cơ chế thích hợp để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình Một trong những cơ chế được đánh giá là có hiệu quả nhất hiện nay chính là DSM của WTO
Theo Điều 17 của ADA, các thành viên WTO có thể đưa các tranh chấp về chống BPG ra giải quyết theo DSM của tổ chức này Trên thực tế, tính đến hết tháng 12/2013, 102 vụ tranh chấp về chống BPG đã và đang được giải quyết tại WTO [78] Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đạt được, qua hơn 19 năm tồn tại, việc giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng và DSM của WTO nói chung đã bộc lộ một số điểm hạn chế và bất cập cần phải được hoàn thiện
Trang 10Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO và được hưởng qui chế dành cho một thành viên đang phát triển Kể từ thời điểm đó, Việt Nam có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ và được hưởng sự đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho thành viên đang phát triển trong giải quyết tranh chấp tại WTO để bảo vệ những lợi ích chính đáng của mình Tính đến hết tháng 12/2013, Việt Nam đã tham gia vào chín vụ tranh chấp về chống BPG trên tổng
số mười chín vụ kiện có sự tham gia của Việt Nam tại WTO [59] Qua từng vụ tranh chấp, Việt Nam, ở một mức độ nhất định, đã tham gia chủ động và tích cực vào DSM của WTO Tuy nhiên, sự tham gia đó vẫn còn những hạn chế bởi tính phức tạp của các vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như cơ chế điều phối của chính Việt Nam
Việc nghiên cứu pháp luật của WTO, cũng như yêu cầu chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế là nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/04/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế; Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW; Quyết định số 37/2002/QĐ-TTg ngày 14/03/2002 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW; Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số biện pháp triển khai chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Trang 11Bên cạnh đó, thực tiễn tham gia của Việt Nam trong các vụ tranh chấp về chống BPG đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, học hỏi kinh nghiệm của các nước cũng như xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan ở trong và ngoài nước, để từ đó, có thể đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Thực hiện các chủ trương mà Đảng đề ra, xuất phát từ thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO cũng như những yêu cầu cấp bách đặt ra cho Việt Nam v.v., cho thấy tính cấp thiết
cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp
về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề: lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp
về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc
tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG; thực tiễn tham gia của một số nước đang phát triển và thực tiễn tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Tranh chấp về chống BPG và cơ chế giải quyết các tranh chấp này trong khuôn khổ WTO là những vấn đề phức tạp và có phạm vi nghiên cứu rộng Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn định về số trang đối với một luận án, tác giả sẽ chỉ tiến
Trang 12hành: (1) phân tích lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc
tế trong giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO; (2) phân tích quan niệm hiện hành của WTO về chống BPG, tranh chấp về chống BPG và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG; (3) phân tích nội dung những vấn đề chung và những vấn đề cụ thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, trong đó, tập trung vào những điểm đặc thù của lĩnh vực giải quyết tranh chấp về chống BPG và phạm
vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB Mặc dù có liệt
kê tất cả các phương thức giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO, tuy nhiên, tác giả cũng sẽ chỉ chủ yếu phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp về chống BPG tại DSB/WTO; (4) trình bày khái quát về thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG, tập trung phân tích kinh nghiệm và thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và thực tiễn của Việt Nam Tác giả lựa chọn ba nước Ấn
Độ, Trung Quốc và Thái Lan bởi lẽ đây cũng là những nước đang phát triển, cùng ở khu vực Châu Á, rất “tích cực” tham gia vào việc giải quyết tranh chấp
về chống BPG tại WTO, đồng thời có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về các mặt hàng thường xuyên bị điều tra chống BPG, và một phần nào đó là về điều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau như: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh
và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn để đưa ra các giải pháp cụ thể và khả thi Trong khuôn khổ của Luận án này, phương pháp so sánh là
Trang 13phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương, đặc biệt là Chương 2 khi phân biệt khái niệm “tranh chấp về chống BPG” tại WTO với khái niệm “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời, tác giả cũng tiến hành phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp
về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại” Tương tự, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án Phương pháp tổng hợp và phân tích được sử dụng như những phương pháp bổ trợ cho phương pháp so sánh
4 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn thông qua việc nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề liên quan tới giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, vị thế của các nước đang phát triển cũng như làm rõ thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển nói chung và của Việt Nam nói riêng vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG,
để trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích các quan điểm về chống BPG, tranh chấp về chống BPG cũng như những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ những điểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ của
tổ chức này; đồng thời, phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Ấn Độ,
Trang 14Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Phân tích các quan điểm và định hướng cơ bản, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
5 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận án
- Luận án đã phân biệt “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của WTO với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp theo pháp luật của WTO liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp”
và “tranh chấp về tự vệ thương mại”, qua đó, làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với “tranh chấp về chống BPG” Đây là những thuật ngữ thường dễ bị nhầm lẫn trong quá trình sử dụng, bởi vậy, các kết quả nghiên cứu nói trên đã góp phần làm sáng tỏ và giúp phân biệt rõ ràng những thuật ngữ này;
- Luận án đã làm rõ nội dung và điểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG so với việc giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung tại WTO;
- Luận án đã làm rõ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên;
- Luận án đã làm rõ phạm vi và đặc điểm của bốn vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB, bao gồm tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp
về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA;
Trang 15- Luận án đã nhận định được xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO;
- Luận án đã làm sáng tỏ được thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; tổng hợp được kinh nghiệm tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan; đồng thời Luận án cũng đã chỉ ra được thực trạng và nguyên nhân sự tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng vào quá trình giải quyết các tranh chấp này;
- Luận án, dựa trên cơ sở những kết quả phân tích và đánh giá khách quan,
đã nêu ra được những bài học kinh nghiệm và đưa ra được các giải pháp mới, có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là những đề xuất cụ thể khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba trong các
vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO
6 Cấu trúc của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục Nội dung luận án được bố cục thành bốn chương, có kết luận của từng chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam
liên quan đến đề tài Luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận đối với tranh chấp về chống BPG và
pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG và sự
tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của
Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG
Trang 16CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT
NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước
Ở các nước, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển Điển hình trong số những tác giả và công trình nghiên cứu nói trên phải kể đến: (i) J.G Merrills (2011), International Dispute Settlement, 5th ed., Cambridge University Press; (ii) James P Durling (2002), Matthew R Nicely, Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation, Cameron May Ltd.,; (iii) David Palmeter, Petros
C Mavroidis (2004), Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure, 2nd ed., Cambridge: Cambridge Univ.,; (iv) Peter Van den Bossche (2008), The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials, 2nd ed., Cambridge University Press; (v) Terence P Stewart (1993), The GATT Uruguay Round: A negotiating history (1986-1992), Volume II: Commentary, Deventer: Kluwer Law and Taxation Publishers v.v
Ngoài ra, còn có các tài liệu đăng trên các trang thông tin điện tử như tài liệu về “Anti-dumping measures” trong khuôn khổ khóa học về “Dispute Settlement – World Trade Organization” của Hội nghị của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD); bài viết “The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của tác giả Joost Pauwelyn; bài viết
“Does WTO Dispute Settlement provide effective remedies for Anti-dumping Measure” của tác giả Alam Mansoor; bài viết “WTO Dispute Settlement: Challenges faced by developing countries in the implementation and enforcement of DSB recommendations and rulings” của tác giả Jimcall
Trang 17Pfumorodze; bài viết “Developing Countries and General Agreement on Tariffs and Trade/World Trade Organization Dispute Settlement” của các tác giả Marc
L Busch và Eric Reinhardt; bài viết “Developing Countries and Dispute Settlement: Having One’s Day in Court;” của tác giả Roderick Abbott; bài viết
“Developing Countries and the Initiation of GATT/WTO Disputes” của tác giả Todd Allee; bài viết “The WTO Dispute Settlement System: How have Developing Countries fared?” của tác giả William J Davey; bài viết “Shifting Coordinates of India’s Stance at the WTO: Understanding the Domestic and International Economic Drivers” của tác giả Amit Shovon RAY; bài viết
“China's WTO entry: Antidumping, Safeguards, and Dispute Settlement” của tác giả Chad P Bown; sách tham khảo “Dispute Settlement at the WTO: The Developing country experience” của các tác giả Gregory C Shaffer và Ricardo Meléndez-Ortiz; bài viết “China: How to Fight the Antidumping War?” của tác giả Jason Z Yin; bài viết “Dispute Settlement in the WTO and the Least Developed Countries: the Case of India’s Anti-Dumping Duties on Lead Acid Battery Import from Bangladesh” của tác giả M A Taslim; bài viết “Sense and Sensibilities of China and WTO Dispute Settlement” của tác giả Marcia Don Harpaz; bài viết “The WTO Dispute Settlement Understanding from a Developing Country Perspective: The Example of Thailand” của tác giả Mickey
J Wheatley; bài viết “China in the WTO: Antidumping and Safeguards” của tác giả Patrick A Messerlin; bài viết “India at Dispute Settlement Understanding” của tác giả Simi T.B v.v Bên cạnh đó, một số tài liệu đã được dịch sang tiếng Việt như cuốn “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO”, bản dịch của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế xuất bản năm 2006 v.v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập, ở những mức
độ chi tiết khác nhau, về:
Trang 18Một là, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế và việc áp
dụng pháp luật đó trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá tại WTO Có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước về vấn đề này, trong đó, điển hình là một
số công trình nghiên cứu như cuốn “The GATT Uruguay Round: A negotiating history (1986-1992), Volume II: Commentary” của Terence P Stewart; cuốn
“Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation” của James P Durling và Matthew R Nicely; cuốn
“Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C Mavroidis; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; và cuốn sách dịch “Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế v.v Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu phân tích lịch sử của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO bắt đầu từ sự ra đời và trên
cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947, có phân chia thành các giai đoạn cụ thể tương ứng với những cột mốc quan trọng (trước và sau khi có GATT 1947 và sự ra đời của WTO, các bản ADC, ADA và DSU v.v), đồng thời
có đánh giá xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ phân tích, một cách riêng rẽ, lịch sử hình thành và phát triển của các yếu tố cấu thành lên pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, chủ yếu là DSU và ADA, mà chưa đặt chúng trong một bức tranh tổng thể của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Hai là, các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh
chấp tại WTO Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể nhắc tới như cuốn
“Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure”
Trang 19của Palmeter, N David; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; bài viết
“The role of Public International Law in the WTO: How far can we go?” của Joost Pauwelyn đăng trên tạp chí “The American Journal of International Law”, VOL (95):3 v.v Mặc dù vẫn còn có những quan điểm khác nhau về số lượng, tên gọi, vị trí, vai trò đối với từng loại nguồn, nhưng nhìn chung, trong những nghiên cứu của các học giả trên thế giới, việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp tại WTO, cơ bản cũng đều dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theo Điều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế và có tính tới cả những đặc thù của WTO
Ba là, DSM của WTO với những vấn đề chung như hệ thống các nguyên
tắc, các cơ quan tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, các phương thức giải quyết tranh chấp, các loại khiếu kiện trong những tranh chấp được giải quyết tại WTO (khiếu kiện vi phạm, khiếu kiện không vi phạm và khiếu kiện tình huống); các bên nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba và các tổ chức, cá nhân khác trong vụ tranh chấp tại WTO; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại WTO với bốn giai đoạn bao gồm tham vấn, xét xử tại Ban hội thẩm, kháng cáo và xét xử phúc thẩm và giai đoạn thực thi quyết định của DSB; vấn đề bảo mật và qui tắc đạo đức nghề nghiệp trong giải quyết tranh chấp nói chung tại WTO v.v Đây là nội dung đã được những công trình nghiên cứu ở các nước đề cập và phân tích một cách tương đối chi tiết và toàn diện, trong số đó có thể kể tới cuốn sách
“WTO disputes: anti-dumping, subsidies and safeguards” của Edwin A Vermulst, Folkert Graafsma; cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C Mavroidis; cuốn sách “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years” của Rufus Yerxa và Bruce Wilson; giáo trình “The Law and Policy of the World
Trang 20Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; cuốn sách “International Dispute Settlement” của J.G Merrills; cuốn sách dịch
“Sổ tay về hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO” của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế v.v
Bốn là, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt trong DSM của WTO dành cho
các nước đang phát triển Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các nước như cuốn sách “Dispute settlement in the World Trade Organization: Practice and procedure” của David Palmeter và Petros C Mavroidis; giáo trình
“The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche v.v Ngoài việc phân tích nội dung chế
độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp về chống BPG nói riêng, các công trình nghiên cứu nói trên còn có sự đánh giá về tính khả thi của những đối
xử đặc biệt và khác biệt này Phần lớn các ý kiến đều cho rằng, chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt chỉ mang tính hình thức và không mang lại hiệu quả thiết thực trong việc thúc đẩy và trợ giúp các nước đang phát triển khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO
Năm là, quan niệm của WTO về chống BPG và pháp luật của WTO về
chống BPG Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ ở các nước, với một số công trình nghiên cứu điển hình như cuốn “Understanding the WTO Anti-Dumping Agreement: Negotiating History and Subsequent Interpretation” của James P Durling và Matthew R Nicely; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; các tài liệu sử dụng trong khóa học “Dispute Settlement – World Trade Organization” của UNCTAD với chủ đề “Anti-dumping measures” và tài liệu đào tạo về “The WTO Agreement on Anti-dumping” v.v
Trang 21Sáu là, phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại
DSB, bao gồm, tranh chấp về thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời và tranh chấp
về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một thành viên với nội dung của ADA Điển hình trong số các công trình nghiên cứu đề cập tới nội dung này là cuốn “Key issues in WTO dispute settlement: the first ten years” của Rufus Yerxa và Bruce Wilson; giáo trình “The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases and Materials” của Peter Van den Bossche; cuốn “WTO Dispute Settlement Understanding: A Detailed Interpretation” của Guohua Yang; cuốn “WTO disputes: anti-dumping, subsidies and safeguards” của Edwin A Vermulst và Folkert Graafsma; bài nghiên cứu “The Case for Tradable Remedies in WTO Dispute Settlement” của Kyle Bagwell, Petros C Mavroidis, và Robert W Staiger v.v Tuy nhiên các công trình nghiên cứu nói trên còn chưa phân tích chuyên sâu về những vấn đề mà Việt Nam cần lưu ý đối với phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB
Bảy là, thực tiễn giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung
và các tranh chấp về chống BPG nói riêng tại WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có thể
kể đến cuốn sách “Dispute Settlement at the WTO: The Developing country experience” của Gregory C Shaffer và Ricardo Meléndez-Ortiz; bài viết “Sense and Sensibilities of China and WTO Dispute Settlement” của Marcia Don Harpaz; bài viết “The WTO Dispute Settlement Understanding from a Developing Country Perspective: The Example of Thailand” của Mickey J Wheatley; bài viết “India at Dispute Settlement Understanding” của Simi T.B v.v Ngoài việc phân tích được thực trạng giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và các tranh chấp về chống BPG nói riêng tại WTO, các công
Trang 22trình nghiên cứu nói trên đã đánh giá được những thành công, thất bại, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát triển Không những thế, các tác giả cũng đã tiến hành phân tích vai trò quan trọng và sự tham gia ngày càng chủ động và tích cực của các nước đang phát triển trong việc giải quyết các tranh chấp, bao gồm cả các tranh chấp về chống BPG, trên cả hai lĩnh vực (i) tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp và (ii) hoàn thiện DSM của WTO Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã tiến hành phân tích và đánh giá về những khó khăn, thách thức mà các nước đang phát triển có thể phải đối diện khi tham gia vào DSM của WTO, cũng như khả năng và cơ hội của họ khi được đại diện bởi ACWL Không chỉ dừng lại ở việc phân tích về thực trạng tham gia của các nước đang phát triển nói chung trong DSM của WTO, một số công trình nghiên cứu còn phân tích được thực tiễn và kinh nghiệm tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan
Nhìn chung, cho đến nay, vẫn chưa có các nghiên cứu mang tính học thuật
ở các nước kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; đồng thời có liên hệ cụ thể tới trường hợp của Việt Nam để
từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp thiết thực nhằm giúp Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Trước, trong và sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, ở Việt Nam, đã
có nhiều công trình nghiên cứu liên quan tới vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển
và Việt Nam ở cả góc độ lý luận và thực tiễn
Nổi bật nhất trong số đó phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại
Trang 23quốc tế của WTO” và Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Vũ Thị Phương Lan với đề tài “Pháp luật về chống BPG trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” Ngoài ra, còn có một số Luận văn thạc
sỹ luật học và đề tài nghiên cứu khoa học pháp lý như luận văn Thạc sĩ luật học của học viên cao học Nguyễn Thị Hường với đề tài “Các nước đang phát triển và
cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO”; Bạch Quốc An với đề tài
“Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của Tổ chức thương mại thế giới (WTO); Lê Thị Hà với đề tài “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới”; Lê Thị Hồng Hải với đề tài
“Giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO”; Trần Văn Hải với đề tài “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật chống BPG của WTO” v.v
Bên cạnh đó, ở cấp độ sách chuyên khảo, có thể nhắc đến các cuốn sách của (i) TS Nguyễn Vĩnh Thanh và Th.s Lê Thị Hà (2006), Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới, Nxb Lao động xã hội; (ii) Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên giai đoạn II (EU-VIETNAM MUTRAP II) (2007), Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới trong hệ thống thương mại đa phương; (iii) VCCI (2010), Tranh chấp về chống BPG trong WTO; (iv) Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ (2010), Tóm tắt những vụ tranh chấp điển hình của WTO – Báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm từ năm 1995-2010 v.v
Trong số các công trình nghiên cứu ở qui mô nhỏ hơn có (i) bài viết “Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO: Nhìn từ các nước đang phát triển” của tác giả Lý Vân Anh đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (61), 2005; (ii) bài viết “Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và gợi ý cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Vĩnh Thanh và Phạm Thanh Hà đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Châu Phi
& Trung Đông, số 8, năm 2006; (iii) bài viết “Các vụ kiện chống BPG và cơ chế
Trang 24giải quyết tranh chấp của WTO” của tác giả Bùi Anh Thủy đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2, năm 2007; (iv) bài viết “Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO” của tác giả Nguyễn Linh Giang đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3, năm 2008; (v) bài viết “Những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO mà Luật sư cần lưu ý” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đăng trên Tạp chí Nghề luật số 3/2009; (vi) bài viết “Cơ quan đầu mối và cơ chế phối kết hợp trong giải quyết tranh chấp thương mại trong WTO: kinh nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thanh Tú đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10/2012 v.v
Ngoài ra, còn có các bài đăng trên các trang thông tin điện tử như các (i) bài viết “Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong lần đầu tiên sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO” của Cục Quản lý cạnh tranh; (ii) bài viết “Tranh chấp về chống BPG: Kinh nghiệm bảo vệ doanh nghiệp xuất khẩu” của Đỗ Thành Công; (iii) bài viết “Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của Việt Nam tại WTO - Các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh” của Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ Thương mại, VCCI; (iv) bài viết “Một
số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt nam tại WTO” của Nguyễn Tiến Vinh; và (v) bài viết “Kiện Mỹ ra WTO: Thông điệp của Việt Nam” của Tuấn Ý v.v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập tới những nội dung cụ thể sau đây:
Thứ nhất là, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng
trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá tại WTO Điển hình trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương
Trang 25mại quốc tế của WTO”; Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Vũ Thị Phương Lan với đề tài “Pháp luật về chống BPG trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”; sách tham khảo “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới” của TS Nguyễn Vĩnh Thanh và Th.s Lê Thị Hà v.v Các công trình nghiên cứu nói trên
đã tiến hành phân tích một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về lịch sử hình thành và phát triển của DSM trong WTO và pháp luật của WTO về chống BPG
Thứ hai là, quan niệm của WTO về chống BPG và pháp luật của WTO về
chống BPG Đây là vấn đề đã được nghiên cứu tương đối chi tiết và đầy đủ ở Việt Nam, bao quát được tất cả các khía cạnh liên quan từ khái niệm một sản phẩm bị coi là BPG theo qui định của WTO, khái niệm sản phẩm tương tự, giá xuất khẩu, trị giá thông thường, biên độ BPG, các căn cứ cơ bản để áp thuế chống BPG, khởi xướng điều tra chống BPG, các biện pháp chống BPG, rà soát thuế chống BPG v.v Điển hình trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này
ở Việt Nam phải kể đến Luận án Tiến sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Vũ Thị Phương Lan với đề tài “Pháp luật về chống BPG trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ của Trần Văn Hải với
đề tài “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật chống BPG của WTO”, sách tham khảo “Tranh chấp về chống BPG trong WTO” của VCCI v.v
Thứ ba là, DSM của WTO Đây cũng là vấn đề đã được các công trình
nghiên cứu ở Việt Nam phân tích một cách tương đối toàn diện và đầy đủ, bao gồm cả khái niệm và nội dung những yếu tố cấu thành, điển hình là Luận án Tiến
sĩ luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO”; sách tham khảo “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới” của TS
Trang 26Nguyễn Vĩnh Thanh và Th.s Lê Thị Hà; phần nội dung về “Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO” của TS Nông Quốc Bình tại Chương VIII trong sách tham khảo “Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới trong hệ thống thương mại đa phương”; sách tham khảo “Tranh chấp về chống BPG trong WTO” của VCCI v.v Tuy nhiên, khi trình bày về DSM của WTO, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ chủ yếu phân tích các qui định chung của DSU mà chưa phân tích những qui định áp dụng riêng cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG, cụ thể là các Điều từ 17.4 đến 17.7 của ADA, cũng như mối quan hệ giữa các qui định này
Thứ tư là, những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển trong DSM của
WTO Có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam, trong đó có thể kể đến Luận án Tiến sĩ Luật học của Nghiên cứu sinh Bùi Anh Thủy với đề tài “Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của WTO”; Phần nội dung
về “Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO” của TS Nông Quốc Bình tại Chương VIII trong sách tham khảo “Vị trí, vai trò và cơ chế hoạt động của Tổ chức thương mại thế giới trong hệ thống thương mại đa phương”; sách tham khảo “Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới” của TS Nguyễn Vĩnh Thanh và Th.s Lê Thị Hà; bài viết
“Những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển trong cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại của WTO mà Luật sư cần lưu ý” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đăng trên Tạp chí Nghề luật số 3/2009; bài viết “Sự đối xử đặc biệt và khác biệt của WTO dành cho các nước đang phát triển và những đề xuất sửa đổi Hiệp định về chống BPG hiện nay” của tác giả Trịnh Hải Yến đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 11/2008 v.v Ngoài việc phân tích nội dung chế độ đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển trong DSM của WTO, các công trình nghiên cứu nói trên, ở những mức độ khác khau, đã đánh giá được
Trang 27về tính khả thi, những cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển khi tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO
Thứ năm là, phạm vi các vấn đề tranh chấp về chống BPG được giải quyết
tại DSB Không nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam phân tích chuyên sâu
về vấn đề này, có thể kể đến một số bài viết như “Các vụ kiện chống BPG và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO” của tác giả Bùi Anh Thủy đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2, năm 2007; “Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO” của tác giả Nguyễn Linh Giang đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3, năm 2008 v.v Mặc dù có đề cập tới vấn đề tranh chấp về chống BPG và có phân tích một số vụ tranh chấp, tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nói trên đều chưa đưa ra được khái niệm, đặc điểm, các trường hợp khởi kiện, cũng như phân tích về nguyên nhân và đánh giá hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp khi các thành viên WTO lựa chọn và quyết định khởi kiện đối với từng loại tranh chấp này
Thứ sáu là, thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại WTO
Điển hình trong một số các tài liệu nghiên cứu về vấn đề này là sách tham khảo
“Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức thương mại thế giới” của TS Nguyễn Vĩnh Thanh và Th.s Lê Thị Hà; sách tham khảo
“Tranh chấp về chống BPG trong WTO” của VCCI; bài viết “Vụ giải quyết tranh chấp đầu tiên của Việt Nam tại WTO – Các biện pháp chống BPG đối với sản phẩm tôm nước ấm đông lạnh” của Hội đồng Tư vấn về Phòng vệ Thương mại – VCCI; bài viết “Một số vấn đề nhìn từ góc độ tố tụng trong vụ kiện đầu tiên của Việt nam tại WTO” của tác giả Nguyễn Tiến Vinh v.v Các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ phân tích về thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế nói chung tại WTO, liệt kê và phân tích sơ lược đối với một số vụ tranh chấp điển hình về chống BPG, trong đó chủ yếu tập trung vào vụ kiện
Trang 28DS404 với Hoa Kỳ, vụ kiện đầu tiên mà Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn trong DSM của WTO Ngoài ra các công trình nghiên cứu nói trên cũng đã phân tích một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như việc lựa chọn vấn đề và thời điểm khởi kiện
Thứ bảy là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
tranh chấp trong khuôn khổ WTO như chủ động và tích cực theo kiện; thành lập
cơ quan chuyên trách về giải quyết tranh chấp tại WTO; chuẩn bị tài liệu tố tụng một cách tích cực và chuyên nghiệp; tăng cường nguồn nhân lực tham gia giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế; tuyên truyền, phổ biến cho doanh nghiệp Việt Nam kiến thức về tranh chấp thương mại quốc tế và DSM của WTO; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan của Chính phủ; xây dựng chiến lược đưa các chuyên gia của Việt Nam tham gia sâu vào hoạt động của các cơ quan của WTO, tham gia vào Ban hội thẩm và AB; tranh thủ sự ủng hộ của các thành viên khác; sử dụng hiệu quả sự tư vấn và trợ giúp của ACWL v.v Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ chủ yếu tập trung phân tích các giải pháp chung khi Việt Nam tham gia vào DSM của WTO đối với tất cả các loại tranh chấp mà chưa có nhiều liên hệ cụ thể tới lĩnh vực tranh chấp về chống BPG
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, hoặc chỉ chủ yếu phân tích một cách chung nhất về hành vi BPG và pháp luật về chống BPG; hoặc chỉ phân tích về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO nói chung, có liên hệ với trường hợp của các nước đang phát triển và của Việt Nam mà chưa có sự đánh giá một cách tổng thể và toàn diện đối với tranh chấp về chống BPG; khái niệm, nội dung, xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO; thái độ của các nhóm nước khác nhau đối với tranh chấp về chống BPG; mối quan hệ tương tác giữa việc giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật của WTO và giải quyết tranh
Trang 29chấp về BPG theo pháp luật của quốc gia thành viên; khái niệm, bản chất và đặc điểm cơ bản của bốn loại tranh chấp cụ thể về chống BPG được giải quyết tại DSB; cập nhật thực trạng giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam, tổng hợp và phân tích kinh nghiệm giải quyết tranh chấp về chống BPG của một số nước đang phát triển điển hình, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp về chống BPG tại WTO Đặc biệt, ở trình độ Tiến sĩ luật học, chưa có công trình nào nghiên cứu kết hợp cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển, đồng thời có liên hệ cụ thể tới trường hợp của Việt Nam
1.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và phương pháp xử lý vấn đề
Trên cơ sở đánh giá và kế thừa những kết quả đã đạt được của các công trình nghiên cứu ở các nước và ở Việt Nam, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời có định hướng về việc xây dựng và đề xuất các giải pháp như sau:
Thứ nhất là, về mặt lý luận:
- Phân tích và nhận định về xu hướng vận động và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO Trên cơ sở phân chia lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO thành các giai đoạn cụ thể, luận án
sẽ tiến hành đánh giá tổng thể những thành công và hạn chế của pháp luật quốc
tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, bao gồm cả luật tố tụng và nội dung, qua từng giai đoạn, để từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của pháp luật WTO so với GATT 1947, cũng như xu hướng vận động và phát triển của lĩnh vực pháp luật này trong thời gian tới;
Trang 30- Làm rõ quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG Ngoài việc đưa ra một cách hiểu theo quan niệm hiện hành của WTO đối với tranh chấp về chống BPG, luận án sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm cơ bản của loại tranh chấp này về tính chất, về chủ thể, về phạm vi các vấn đề tranh chấp được giải quyết tại DSB và về cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp về chống BPG, cả ở khía cạnh luật nội dung và tố tụng Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn thuật ngữ “tranh chấp về chống BPG” trong khuôn khổ WTO, luận án sẽ tiến hành phân biệt loại tranh chấp này với “tranh chấp về BPG” và “tranh chấp về chống BPG” theo pháp luật của quốc gia thành viên, đồng thời phân biệt ba loại tranh chấp liên quan tới các biện pháp khắc phục thương mại có mối liên hệ gần gũi với nhau trong khuôn khổ WTO, đó là “tranh chấp về chống BPG”, “tranh chấp về chống trợ cấp” và “tranh chấp về tự vệ thương mại”;
- Làm rõ nội dung và điểm đặc thù của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO Việc xác định các loại nguồn của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO,
về cơ bản, cũng dựa trên cách xác định nguồn luật áp dụng truyền thống theo Điều 38(1) của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế, có tính tới cả những đặc thù của WTO và lĩnh vực chống BPG;
- Làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác giữa giải quyết tranh chấp về chống BPG theo pháp luật WTO và giải quyết tranh chấp về BPG theo pháp luật quốc gia thành viên Việc nghiên cứu về mối quan hệ tương tác nói trên có một vị trí quan trọng trong việc nhận diện và hiểu rõ bản chất của việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO, nhằm hạn chế những sự nhầm lẫn, ở cả góc độ thuật ngữ và thực tiễn áp dụng;
- Làm sáng tỏ khái niệm và đặc điểm của bốn loại tranh chấp về chống BPG được giải quyết tại DSB trong khuôn khổ WTO, bao gồm tranh chấp về
Trang 31thuế chống BPG chính thức, tranh chấp về sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá, tranh chấp về biện pháp tạm thời, và tranh chấp về sự không phù hợp trong các qui định pháp luật của một quốc gia thành viên với nội dung của ADA Luận
án cũng sẽ tiến hành phân tích những lý do mà các thành viên WTO lựa chọn và quyết định khởi kiện đối với từng loại tranh chấp này
Thứ hai là, về mặt thực tiễn:
- Phân tích và đánh giá một cách tổng thể và toàn diện đối với thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO Sau khi tiến hành thống kê và phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG, Luận án sẽ đưa ra những nhận xét về tình hình giải quyết tranh chấp, về các nhóm mặt hàng và lĩnh vực tranh chấp, sự tham gia của các đối tượng chủ thể khác nhau v.v Đồng thời, Luận án cũng sẽ tiến hành phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG ở các giai đoạn tham vấn, xét xử hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, thi hành quyết định của DSB thông qua các số liệu thống kê cụ thể Đặc biệt, Luận
án sẽ tiến hành phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên để từ đó
có thể rút ra những nhận xét và những điểm cần lưu ý đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng;
- Làm sáng tỏ thực trạng sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO Qua phân tích và đánh giá thực trạng nói trên, Luận án sẽ làm rõ những nguyên nhân của việc tham gia hạn chế của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng như sự hạn chế về năng lực, điều kiện tài chính và nguồn nhân lực để theo đuổi các vụ kiện, thiếu kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp, tâm lý lo ngại “sự trả đũa” v.v.;
- Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan Luận án sẽ làm sáng tỏ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của ba nước này
Trang 32với tư cách là nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba, để từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Làm rõ thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO của Việt Nam, chủ yếu là từ hai vụ kiện DS404 và DS429 với Hoa Kỳ, đồng thời, tiến hành tổng hợp và đánh giá về toàn bộ thực tiễn tham gia vào việc giải quyết tranh chấp của Việt Nam dù là với tư cách nguyên đơn hay bên thứ ba, cũng như đánh giá khả năng Việt Nam phải đối diện với những vụ tranh chấp về chống BPG tại WTO trong tương lai, trong đó bao gồm cả khả năng trở thành bị đơn trong các vụ tranh chấp
Thứ ba là, định hướng về việc xây dựng các giải pháp và đưa ra đề xuất:
- Làm sáng tỏ những quan điểm và định hướng cơ bản cho việc nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG, về cơ bản, sẽ được tiến hành phân tích dựa trên các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, những yêu cầu của quá trình hội nhập nói chung và việc tham gia vào WTO nói riêng cũng như điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam;
- Kiến nghị một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG bao gồm việc tổng hợp và kế thừa một số giải pháp đã được trình bày trong các công trình nghiên cứu trước đó, đồng thời, đưa ra một số đề xuất mới, cụ thể đối với Việt Nam trong từng trường hợp khi Việt Nam tham gia với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hay bên thứ ba
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam luôn là vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà khoa học pháp lý ở trong và ngoài nước Một loạt các công trình nghiên cứu được công bố, ở những mức độ chi tiết khác nhau, đã phân tích được một số nội dung cơ bản của vấn đề này
Mặc dù có nhiều nội dung đã được đề cập tới trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển; phân tích kinh nghiệm của một số nước đang phát triển, đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu về trường hợp của Việt Nam để từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp thiết thực nhằm giúp Việt Nam tham gia hiệu quả hơn vào việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề giải quyết tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ WTO và sự tham gia của các nước đang phát triển và Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp phù hợp với Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả tham gia của Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp tại WTO về chống BPG
Trang 34CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ĐỐI VỚI TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ÁP DỤNG TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI WTO
2.1 Lịch sử hình thành, phát triển và việc áp dụng pháp luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO
Pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO là sự kế thừa và phát triển pháp luật của GATT 1947 Lịch sử hình thành
và phát triển của lĩnh vực pháp luật này có thể được chia thành ba giai đoạn với những cột mốc phát triển quan trọng
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1947
Không phải tới khi có GATT 1947, pháp luật quốc tế mới có những qui định đầu tiên được áp dụng để giải quyết tranh chấp về chống BPG Sau những
nỗ lực đơn phương của một số quốc gia như Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Canađa v.v, nhằm xử lý thực tiễn thương mại không lành mạnh những năm đầu thế kỷ 20, tại một diễn đàn đa phương được tổ chức tại Giơnoa (Italia) vào tháng 5 năm 1922, Hội Quốc liên, tổ chức tiền thân của Liên Hợp quốc, đã soạn thảo và cho ra đời
một Bản ghi nhớ về BPG (Memorandum on Dumping) Tuy nhiên, bản ghi nhớ
này không có giá trị ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, bởi vậy tầm ảnh hưởng của văn bản này rất hạn chế [43, tr 1404-1405] Đến hội nghị Bretton Woods (1944-1945), các bên tham gia đã chính thức đưa vấn đề BPG ra để thảo luận trong khuôn khổ đa phương Tại hội nghị này, Tổ chức
thương mại quốc tế (International Trade Organization - ITO) cũng được dự kiến
thành lập cùng với một số thiết chế thương mại quốc tế khác Ngày 05/03/1946, Hội đồng Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp quốc đã thông qua một nghị quyết thành lập một ủy ban chuẩn bị cho Hội nghị của Liên Hợp quốc về Thương mại
Trang 35và Phát triển Sau đó, các bên tham gia đã tiến hành thông qua Hiến chương Havana vào năm 1948, trong đó có những điều khoản cơ bản để thành lập ITO Tuy rằng ITO sau đó không được thành lập nhưng những nội dung liên quan tới chính sách thương mại trong Chương 4 của bản Hiến chương này đã tiếp tục được ghi nhận trong GATT 1947, tại Điều VI [12, tr 44-45]
Có thể thấy, giai đoạn trước năm 1947 là giai đoạn khởi đầu ghi nhận những nỗ lực đơn phương của một số quốc gia trong việc xây dựng các qui tắc
đa phương điều chỉnh vấn đề chống BPG Các qui tắc được ra đời trong giai đoạn này, mặc dù có tầm ảnh hưởng rất hạn chế, nhưng rõ ràng, chúng là sự
“khởi nguồn” cho một loạt các qui định sau này của GATT và WTO
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995
Ngày 01/01/1948, GATT 1947 chính thức có hiệu lực Trong giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995, các bên ký kết của GATT đã tiến hành tám vòng đàm phán và kết thúc là sự ra đời của WTO cùng một loạt các hiệp định làm nền tảng cho hoạt động của WTO sau này, trong đó bao gồm cả lĩnh vực pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG, cụ thể:
Thứ nhất là, về mặt tố tụng, cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc giải quyết
tranh chấp về chống BPG trong khuôn khổ GATT 1947 là Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947 Tuy nhiên, những qui định này đã không ghi nhận các thủ tục cụ thể và rõ ràng, và do đó, trên thực tế, hiệu quả giải quyết tranh chấp còn hạn chế Sau đó, lần lượt ADC 1967 và ADC 1979 ra đời tại các Vòng đàm phán Kenơđi và Vòng đàm phán Tôkyô, được xem là sự bổ sung quan trọng cho Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947 Nếu Điều 17 của ADC 1967, chỉ dừng lại ở việc khẳng định về thủ tục tham vấn và dẫn chiếu đến Điều XXII và Điều XXIII của GATT 1947, thì Điều 15 của ADC 1979 đã đề cập tới ba thủ tục bao gồm: tham vấn, hòa giải và giải quyết tranh chấp, và đặc biệt, nó đã bước
Trang 36đầu đặt ra phạm vi các tranh chấp về chống BPG liên quan tới ba vấn đề: (i) thuế chống BPG chính thức; (ii) biện pháp tạm thời; và (iii) sự chấp thuận một biện pháp cam kết giá (Điều 15.3, ADC 1979) Ngoài ra, trong khoảng thời gian này còn diễn ra một số sự thay đổi liên quan tới các qui định về giải quyết tranh chấp nói chung [26, tr 43-44] Sự ra đời của DSU, một hiệp định điều chỉnh riêng về các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp tại Vòng đàm phán Uruguay (1986 – 1994) chính là bước ngoặt quan trọng cho sự phát triển của pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO [42, tr 5]
Thứ hai là, về mặt nội dung, Điều VI của GATT 1947 đã tạo ra một khuôn
khổ pháp lý cơ bản để các bên ký kết của GATT 1947 ứng phó với các vụ việc BPG Tuy nhiên, trước thực trạng Điều VI được giải thích và áp dụng theo những cách thức không phù hợp, các bên ký kết đã bắt đầu tính tới sự cần thiết phải cho ra đời một hiệp định riêng điều chỉnh trong lĩnh vực này, nhưng trong suốt khoảng thời gian sau đó, đã không có bất kỳ sự thay đổi căn bản nào diễn ra với Điều VI của GATT 1947, ngoại trừ một số kết quả đạt được trong các nghiên cứu của Ban thư ký GATT năm 1958 về pháp luật chống BPG của các quốc gia
và kết quả hoạt động của Nhóm chuyên gia (Group of Experts) [43, tr
1413-1415],[89, tr 3-4] Khi ADC 1967 và ADC 1979 ra đời, mặc dù có những qui định mới và cụ thể hơn về vấn đề chống BPG, nhưng trên thực tế, vai trò của các ADC này còn hạn chế bởi chúng chỉ là những hiệp định nhiều bên, không bắt buộc đối với tất cả các bên ký kết GATT [18, tr 25-26] Sau một loạt các bản dự thảo “Carlisle I”, “Carlisle II”, “New Zealand I”, “New Zealand II”, “New Zealand III”, “Ramsauer Text”, và “Dunkel Draft”, kết thúc Vòng đàm phán Uruguay, ADA đã ra đời [38, tr 549-586]
Ngoài ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống BPG trong suốt giai đoạn 1948 - 1995, mới chỉ ghi nhận tám vụ tranh chấp (xem Phụ lục số 1) Thực
Trang 37tiễn của GATT cũng như các báo cáo của Ban hội thẩm GATT đã trở thành các nguồn bổ sung quan trọng cho việc giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO sau này Một số báo cáo của Ban hội thẩm GATT vẫn thường xuyên được viện dẫn trong quá trình giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO như vụ Cộng đồng kinh tế Châu Âu – Khăn trải giường, vụ Hoa Kỳ – Thuế chống BPG đối với cá hồi nhập khẩu từ Nauy; và vụ Thụy Điển – Thuế chống BPG v.v
Rõ ràng, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn từ năm 1947 cho đến năm 1995 đã đạt được những thành công quan trọng với sự ra đời của hàng loạt các hiệp định đa phương có giá trị pháp lý bắt buộc, cung cấp một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ cùng với một phạm
vi ảnh hưởng rộng lớn khi WTO ra đời Tuy nhiên, bên cạnh những thành công
đó, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG ở giai đoạn này vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập Có những điểm hạn chế, bất cập nảy sinh trong quá trình áp dụng ADA và DSU nhưng cũng có những điểm bất cập đã được chỉ ra từ giai đoạn đàm phán, soạn thảo ADA và DSU với rất nhiều ý kiến khác nhau được nêu trong các bản đề xuất, bản dự thảo và tại các phiên đàm phán Điều này đủ để cho thấy sự xung đột lớn về mặt lợi ích giữa các nhóm nước cũng như tính phức tạp của lĩnh vực này Bởi vậy, sau khi WTO ra đời, các thành viên WTO vẫn cần phải tiếp tục đàm phán và nỗ lực hơn nữa để hoàn thiện pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG
2.1.3 Giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay
Ngay khi WTO vừa ra đời, rất nhiều các hiệp định được ký kết tại Vòng đàm phán Uruguay đã đặt ra thời gian biểu cho các cuộc đàm phán trong tương lai Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, cuối năm 1998, các thành viên WTO cũng đã tiến hành một hoạt động rà soát toàn diện các qui tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp, nhưng không đạt được một kết quả rõ rệt nào Sau đó, trong
Trang 38khuôn khổ Chương trình nghị sự phát triển Đôha (Doha Development Agenda –
DDA) được khởi động từ năm 2001, những vấn đề liên quan tới pháp luật quốc tế
áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO được các thành viên WTO tiếp tục đàm phán, chủ yếu là về ADA và DSU, cụ thể:
Thứ nhất, theo DDA, các thành viên WTO, sẽ tiến hành đàm phán về
những sửa đổi đối với ADA Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ tư ở Đôha (Quata), các Bộ trưởng đã thống nhất tiến hành đàm phán về ADA với mục đích
là làm rõ và cải tiến các qui định bên cạnh việc vẫn giữ lại những nguyên tắc, khái niệm và nội dung căn bản của hiệp định, có tính tới lợi ích của các nước đang phát triển và chậm phát triển [67] Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 5
ở Cancun (Mêxicô), vấn đề chống BPG lại được đưa ra thảo luận với nhiệm vụ chủ yếu là tiếp tục đàm phán và tiến hành các công việc khác trong khuôn khổ DDA Nhìn chung, nội dung của các cuộc đàm phán về ADA thường xoay quanh những chủ đề chính như nghiêm cấm sử dụng cách tính “Qui về không” trong xác định biên độ bán phá giá (Zeroing), về cách xác định thiệt hại, vấn đề cam kết giá, thủ tục rà soát cuối kì bắt buộc, vấn đề đối xử với các nước đang phát triển v.v [82],[83],[90, tr 48-64] Cho đến thời điểm này, khó có thể dự đoán trước được về diễn biến của những cuộc đàm phán sửa đổi ADA, tuy nhiên, theo như chính tuyên bố ban đầu tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 ở Đôha thì có
lẽ sẽ không có mấy thay đổi lớn trong các vấn đề cơ bản của ADA
Thứ hai, theo DDA, đối với DSU, các thành viên thống nhất sẽ tiến hành
đàm phán nhằm cải tiến và làm rõ DSU [92] Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ năm ở Cancun (Mêxicô), các cuộc thảo luận về DSU đã nhận được sự tham gia đông đảo, tích cực và chủ động hơn của các thành viên so với các cuộc đàm phán khác (ngoại trừ lĩnh vực nông nghiệp) với hơn 40 đề nghị từ hơn 80 thành viên WTO Tiếp theo đó, ngày 16/05/2003, một bản dự thảo đã được đưa ra để các
Trang 39thành viên WTO tiến hành đàm phán [79] Các thành viên WTO đã thảo luận bản dự thảo này cho đến tận cuối tháng 05/2003 nhưng vẫn còn nhiều điểm bất đồng Sau đó, tại Hội nghị Bộ trưởng WTO ở Hồng Kông, các thành viên đã tiến hành thảo luận một số nội dung chính như vấn đề quyền của bên thứ ba, thẩm quyền trả hồ sơ để xét xử lại, vấn đề hậu quả cũng như thủ tục và thời hạn để xử
lí trong trường hợp bị đơn không thi hành quyết định v.v [60] Tại Hội nghị Bộ trưởng ở Giơnevơ diễn ra vào năm 2006 và 2008, các cuộc đàm phán về DSU vẫn tiếp tục được tiến hành nhưng cũng chưa thể đạt được sự đồng thuận [66]
Tính đến hết tháng 12/2013, đã có 102 vụ tranh chấp về chống BPG được đưa ra giải quyết tại DSB, tiếp tục bổ sung loại nguồn quan trọng là các báo cáo của Ban hội thẩm và AB cho pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO
Có thể thấy, pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp về chống BPG tại WTO ở giai đoạn từ năm 1995 cho đến nay vẫn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp và từ những nỗ lực của các thành viên WTO Tuy nhiên, với những bất đồng và xung đột lợi ích còn tồn tại, những điểm hạn chế và bất cập của lĩnh vực pháp luật này cũng chưa thể sớm được khắc phục và hoàn thiện Điều này đòi hỏi phải có sự thiện chí và những nỗ lực nhiều hơn nữa của các thành viên WTO, trong đó có cả Việt Nam
2.2 Quan niệm hiện hành của WTO về chống bán phá giá, tranh chấp về chống bán phá giá và pháp luật quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp
Trang 40nước tham gia đàm phán đã chia BPG thành bốn nhóm: BPG về giá, BPG dịch
vụ, BPG hối đoái và BPG xã hội Sau này, chỉ có BPG về giá là tiếp tục được qui định trong Điều VI của GATT 1994 và trở thành khái niệm BPG trong thương mại quốc tế được sử dụng phổ biến ngày nay [12, tr 19] Theo qui định của GATT 1994 và ADA, một sản phẩm bị coi là BPG nếu giá xuất khẩu của sản phẩm thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó [34],[36] BPG trong thương mại quốc tế tác động tới nền kinh tế của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu [12, tr 22-25], do đó, trong một số trường hợp, để đối phó và hạn chế những tác động tiêu cực từ việc hàng nhập khẩu BPG, nước nhập khẩu có thể tiến hành các biện pháp chống BPG
Như vậy, chống BPG được hiểu là “việc các cơ quan có thẩm quyền của
nước nhập khẩu áp dụng các biện pháp phù hợp tác động trực tiếp lên sản phẩm nhập khẩu BPG để loại bỏ những thiệt hại mà sản phẩm nhập khẩu BPG đó gây
ra cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước mình” [12, tr 26]
Liên quan tới vấn đề BPG và chống BPG, quan điểm của WTO thể hiện ở
những nội dung cơ bản sau đây: thứ nhất, WTO không có qui định cấm việc
BPG và cũng không điều chỉnh lĩnh vực này bởi BPG là hành vi của doanh nghiệp WTO chỉ tập trung qui định cách thức mà các Chính phủ thành viên có thể hoặc không thể tiến hành các hành động để chống lại hàng nhập khẩu BPG
[61]; thứ hai, không phải mọi trường hợp hàng nhập khẩu BPG thì các Chính
phủ thành viên đều có quyền tiến hành các hành động để chống lại Hàng nhập khẩu cũng phải BPG và gây ra những thiệt hại đến một mức độ nhất định thì mới
bị áp dụng các biện pháp chống BPG; thứ ba, việc áp dụng các biện pháp chống
BPG là quyền, chứ không phải là nghĩa vụ, của Chính phủ thành viên là nước nhập khẩu Việc thành viên là nước nhập khẩu có ra quyết định khởi xướng các cuộc điều tra chống BPG cũng như có áp dụng các biện pháp chống BPG đối với