Luận văn : Sinh viên xã hội học với việc học thêm ngoại ngữ
Trang 1Phần mở đầu1.lý do chọn đề tài
Thế kỉ 21 là thế kỉ của toàn cầu hoá, thế kỉ của sự giao lu và hội nhậpquốc tế Việt Nam cũng hoà trong xu thế hội nhập của thế giới đồng thời vớiquá trình đổi mới toàn diện đất nớc.Một nét nổi bật trong quá trình đổi mới
là Đảng và Nhà nớc ta chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần với cơ chế thị trờng, theo định hớng xã hội chủ nghĩa Chủ trơng đó đãtạo ra nhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển của nhiều lĩnh vựckhác, chúng ta đang có những tiền đề để đa đất nớc chuyển sang thời kì mới,thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bớc hội nhập với các nớc trongkhu vực và trên thế giới
Chúng ta đang sống trong thời đại mà sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ và nhu cầu thơng mại, hợp tác quốc tế đang làm cho sự nhất thểhoá toàn cầu có nhiều khả năng trở thành hiện thực.Trong bối cảnh thời đại
đó, mọi quốc gia trên thế giới đều phải quan tâm tới mục tiêu đào tạo thế hệtrẻ-những chủ nhân tơng lai , ngời sẽ quyết định sự phát triển kinh tế –xãhội ở mỗi quốc gia
Khi đa ra nhữnh tiêu chuẩn về giáo dục cho thế hệ trẻ đến năm 2000, cácnhà giáo dục Mĩ và Tây Âu cho rằng một trong những điều kiện không thểthiếu là các cá nhân phải thông thạo ít nhất một ngoại ngữ Điều này quảthực rất hợp lý bởi nếu không có ngoại ngữ làm phơng tiện giao tiếp thìkhông thể nói đến chuyện giao lu, học hỏi và hội nhập quốc tế
Đối với sinh viên, ở tầm vĩ mô, sự quan trọng của ngoại ngữ đối với họcũng chính là đối với xã hội, bởi sinh viên chính là những ngời trong tơng lai
sẽ sử dụng ngoại ngữ nh một phơng tiện để giao lu, học hỏi, hội nhập vàphát triển xã hội ở tầm vi mô, ngoại ngữ chính là vốn kiến thức quan trọngcủa mỗi cá nhân, là yếu tố không thể thiếu trong hành trang gia nhập thị tr-ờng việc làm
Đối với sinh viên Xã hội học nói riêng, ngoại ngữ còn là yếu tố quantrọng cần cho sự xâm nhập thực tế, vốn là một đòi hỏi đặc trng của chuyênngành này, đồng thời là phơng tiện để mở mang kiến thức qua nguồn tài liệunớc ngoài vì tài liệu tiếng Việt còn ít Hơn nữa trong thế kỉ 21 này , khi Xãhội học sẽ thực sự trở thành một ngành khoa học mũi nhọn tại Việt Nam,ngoại ngữ sẽ trở thành điều kiện quan trọng giúp các nhà Xã hội học trao
đổi, học hỏi, mở mang tri thức từ những nền Xã hội học phát triển trên thếgiới Và ngay lúc này, khi sự thăng hoa của Xã hội học Việt Nam cha trởthành hiện thực thì ngoại ngữ vẫn là một yếu tố không thể thiếu, thúc đẩythời điểm ấy tiến lại gần hơn
Nhận thức đợc tầm quan trọng lớn lao của ngoại ngữ , các sinh viên Xãhội học đã quan tâm tới việc trau dồi trình độ ngoại ngữ của mình Họ khôngchỉ tham gia học trong chơng trình chính khoá của nhà trờng mà còn đi họcthêm nhằm củng cố và nâng cao trình độ Tuy nhiên, liệu hoạt động họcthêm ấy có thực sự đem lại hiệu quả mong muốn cho mọi sinh viên hay
không ? Để đánh giá vấn đề này, tôi lựa chọn đề tài Sinh viên Xã hội học“Sinh viên Xã hội học
với việc học thêm ngoại ngữ ”để nghiên cứu, nhằm mục đích tìm hiểu thực
trạng của hoạt động này, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp giúp sinh viên
Trang 2định hớng tốt hơn trong việc sử dụng thời gian, công sức , tiền bạc để đạt đợchiệu quả cao hơn.
Trong phạm vi đề tài này, tôi không có điều kiện nghiên cứu toàn bộ sinhviên Xã hội học trên địa bàn Hà Nội mà chỉ có thể tập trung khảo sát sinhviên Xã hội học tại trờng Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn
2.mục tiêu nghiên cứu
2.1 Tìm hiểu thực trạng hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên
Xã hội học
2.2 Phân tích những nhân tố ảnh hởng đến hoạt động học thêm ngoại ngữ 2.3 Tìm hiểu định hớng nghề nghiệp của sinh viên Xã hội học và tác độngcủa nó đối với hoạt động học thêm ngoại ngữ trong sinh viên
3.đối t ợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Việc học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
- Không gian: khoa Xã hội học , ĐH KHXH&NV
4.2 Giới hạn lĩnh vực nghiên cứu:
Mô tả thực trạng hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
Đánh giá sự ảnh hởng của các yếu tố giới, năm học, hộ khẩu thờng trú
và định hớng nghề nghiệp đối với hoạt động này
-Tỉ lệ nam nữ tồn tại ngẫu nhiên theo đơn vị lớp
-Tỉ lệ sinh viên có hộ khẩu thờng trú tại đô thị và nông thôn tồn tạingẫu nhiên theo đơn vị lớp.( hộ khẩu thờng trú ở đây hiểu là nơi sinh viên ctrú trớc khi vào đại học)
Bảng 1 : Cơ cấu mẫu điều tra
Trang 3- Chi phí về thời gian, tài chính cho hoạt động học thêm
Bảng hỏi dành cho các sinh viên không thuộc khoa Xã hội học gồm 10câu hỏi với những nội dung cơ bản nh trên
Bảng hỏi đợc tiến hành điều tra thử để rút ra và khắc phục những sai sót,hạn chế trong kĩ thuật xây dựng cũng nh nội dung của bảng hỏi để thu đợcnhững dữ liệu cần thiết, đồng thời đảm bảo tính chính xác, khách quan củathông tin
Trang 4những khía cạnh mới mẻ, sâu sắc trong những ý kiến của họ về vấn đềnghiên cứu.
5.4 Phơng pháp phân tích tài liệu
Do không đủ điều kiện thu thập thông tin về định hớng nghề nghiệp củasinh viên nói chung nhằm phục vụ cho việc so sánh với định hớng của sinhviên Xã hội học, tôi đã sử dụng và phân tích số liệu thứ cấp từ đề tài “Sinh viên Xã hội học Địnhhớng giá trị của sinh viên – con em cán bộ khoa học “Sinh viên Xã hội học trong cuốn sách cùngtên của TS Vũ Hào Quang
6.giả thuyết nghiên cứu
học thêm ngoại ngữ là một hoạt động phổ biến trong sinh viên Xã hội học hiện nay Sinh viên học thêm ngoại ngữ nhằm nâng cao trình độ để phục vụ cho công việc sau này, do đó sự khác biệt trong kết quả học ngoại ngữ của sinh viên là do sự khác biệt về định hớng nghề nghiệp sau khi ra trờng của họ.
Phần cơ sở lý luận
1 Hệ khái niệm
1.1 Khái niệm sinh viên
Trang 5Theo từ gốc La tinh, sinh viên –“Sinh viên Xã hội họcstudent”-là ngời làm việc, học tập, tìmhiểu, khai thác tri thức.
Theo nghĩa thông thờng, sinh viên là ngời học tập ở bậc trung cấp, cao
đẳng và đại học
1.2 Khái niệm ngoại ngữ
Đó là ngôn ngữ của một quốc gia khác, khác với tiếng mẹ đẻ
lý tởng Có nhiều quan niệm khác nhau về động cơ tâm lý: theo chủ nghĩahành vi, bất kì kích thích nào(bên ngoài và bên trong) có khả năng thúc đẩyhành vi con ngời đều là động cơ; Phân tâm học mô tả động cơ nh nhữngbản năng và ý tởng sự vật có sẵn trong con ngời; Tâm lý học hoạt độnghiểu động cơ tâm lý là hình ảnh phản ánh đối tợng trong hiện thực, đáp ứngnhu cầu, thúc đẩy và diều khiển hoạt động của con ngời
(Từ điển Bách khoa Việt nam –Tập 1)
1.5 Khái niệm định hớng nghề nghiệp
Định hớng nghề nghiệp là việc hình thành trong con ngời một hứng thú
đối với loại hoạt động lao động nhất định Việc lựa chọn cho con ngời mộtnghề nghiệp thích hợp nhất, có chú ý tới những đặc điểm tâm, sinh lý, lợiích, khả năng của ngời đó và cả nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về sứclao động thuộc những ngành nghề tơng ứng, việc định hớng nghề nghiệp đ-
ợc thực hiện bằng cách giới thiệu cho mọi ngời, đặc biệt là thanh niên, họcsinh, các lĩnh vực và các loại hoạt động, các nghề nghiệp, các xí nghiệp,xem xét điều kiện và dạng công việc trong phạm vi đó
(Từ điển Bách khoa Việt Nam – Tập 1)
Nh vậy "hệ thống xã hội đợc hình thành nhờ những trạng thái và quá trình
t-ơng tác mang tính xã hội của những cá nhân hành động", dồng thời đợc dựatrên bốn hệ thống phân hệ hành động của con ngời (cơ thể, hệ thống nhân sự,
hệ thống xã hội và hệ thống văn hoá ) và mỗi hệ thống này mang lại hiệusuất, chức năng khác nhau phù hợp với bốn phân hệ trên, đó là :
- Chức năng phù hợp (Adaptation) : giải quyết những nhu cầu về môitrờng và tài nguyên thiên nhiên sẵn có - chức năng thuộc lĩnh vực lao động
và kinh tế
- Chức năng hớng đích ( Goal attainment ) - chức năng chính trị
Trang 6- Chức năng hoà nhập ( Integration ) - chức năng pháp luật
- Chức năng bảo toàn cấu trúc ( Latency ) - chức năng giáo dục
Nội dung của lý thuyết này có thể đợc khái quát nh sau : xã hội ở tầm vĩmô hay vi mô đều luôn tồn tại với t cách một hệ thống toàn vẹn, mọi bộ phậncấu thành hệ thống đều phụ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ, mỗi yếu tốriêng lẻ chỉ có ý nghĩa khi đặt nó trong tổng thể, các mối tơng tác, cơ cấu vàtrạng thái cũng phải đợc đặt trong tổng thể nếu muốn hiểu rõ về chúng
Trên cơ sở đó, khi xem xét hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xãhội học, ta phải đặt nó trong mối quan hệ biên chứng và thống nhất vớinhững quá trình, những hoạt động khác của sinh viên, đồng thời đặt nó vàobối cảnh kinh tế- xã hội để có đợc cái nhìn đa diện và biện chứng
2.2 Lý thuyết hành động xã hội
Các lý thuyết Xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ Pareto,Weber, Znaniecki, Mead, Parsons Các lý thuyết này đều coi hành động xãhội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con ngời và xã hội, đồng thời là cơ sở của
đời sống xã hội Trong Xã hội học, hành động xã hội đợc hiểu một cách cụthể và thờng gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân Định nghĩa củaWeber đợc coi là định nghĩa hoàn chỉnh nhất về hành động xã hội Ông chorằng hành động xã hội là hành vi mà chủ thể gắn cho nó một ý nghĩa chủquan nhất định, trên cơ sở đó chủ thể định hớng vào hành vi của những chủthể khác Không chỉ Weber mà cả những tác giả khác của lý thuyết hành
động xã hội đều quan tâm đến một vấn đề cơ bản của hành động xã hội, đó
là sự tham gia của yếu tố ý thức, Weber thì gọi đó là ý nghĩa chủ quan và sự
định hớng mục đích, Mead thì xem đó là tâm thế xã hội của các cá nhân.Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực cá nhân Tính tích cực này lại bịquy định bởi hàng loạt những yếu tố nh nhu cầu, lợi ích, định hớng giá trịcủa chủ thể hành động Tất cả những yếu tố và quá trình đó là phơng thứctồn tại của chủ thể
Xem xét hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học dới góc
độ của lý thuyết hành động xã hội sẽ thấy đợc thực trạng của hoạt động này
đợc quy định bởi những yếu tố nh nhu cầu, lợi ích, định hớng giá trị củachính chủ thể sinh viên Từ đó thấy đợc mối liên hệ biện chứng giữa động cơ
và thực trạng hoạt động học thêm ngoại ngữ trong sinh viên Xã hội học hiệnnay
Trang 7KếT QUả NGHIÊN CứU
1 Tổng quan tình hình học ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
Khoa Xã hội học trờng ĐH KHXH&NV thuộc ĐHQG Hà Nội đợc chínhthức thành lập, tách ra khỏi khoa Tâm lý học xã hội vào năm 1996 Hiện naykhoa đang đào tạo hơn 500 sinh viên hệ cử nhân chính quy Việc thi tuyển
đầu vào đợc thực hiên ở các khối A,C,D trong đó khối C chiếm tỉ lệ cao nhất,khối D chỉ chiếm gần 30%
Sinh viên học tập tại khoa, cũng nh sinh viên các khoa khác trong trờng,
đợc đăng ký học ngoại ngữ theo nguyện vọng Tuy nhiên, do ở chơng trìnhphổ thông sinh viên chủ yếu đợc đào tạo môn tiếng Anh nên đa phần sinhviên đăng ký theo học tiếng Anh tại trờng, chỉ có khoảng 10% đăng kí cácthứ tiếng khác nh Pháp, Nga, Trung Sinh viên Xã hội học đợc học ngoại ngữtrong 5/8 kì học và đợc giảng dạy bằng những giáo trình thông dụng do giáotrình ngoại ngữ chuyên ngành cha đợc biên soạn
Do thi đầu vào từ nhiều khối, nhiều miền khác nhau với trình độ ngoại ngữrất khác nhau, nhìn chung kết quả học ngoại ngữ tại trờng của sinh viên Xãhội học có một sự phân hoá rất lớn, nhiều sinh viên dễ dàng vợt qua các kỳthi với điểm khá, giỏi và thấy chơng trình học có phần đơn giản không phùhợp với trình độ Trong khi đó có một bộ phận lớn các sinh viên thi khốiA,C, sinh viên vùng cao, vùng sâu vùng xa lại thấy chơng trình học ngoạingữ chính khoá quá phức tạp đối với họ và không thể tránh khỏi việc thi lại Hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học rất đa dạng về
động cơ, hình thức cũng nh hiệu quả thu đợc Sinh viên có thể học thêm mộtngoại ngữ mới hoặc chỉ củng cố và nâng cao ngoại ngữ đang theo học tại tr -ờng Sinh viên có thể học với hình thức gia s, lớp tự tổ chức, các lớp tại chức,
đào tạo từ xa, nhng phổ biến nhất vẫn là theo học tại các trung tâm ngoạingữ, hiện là một hình thức học thông dụng nhất tại Hà Nội
Hiện nay, theo số liệu thống kê của sở GD-ĐT, tính đến thời điểm tháng
8-2000, trên địa bàn Hà Nội có 65 trung tâm ngoại ngữ có đăng kí với sở và rấtnhiều trung tâm mở không đăng kí.Các trung tâm ngoại ngữ chủ yếu tậptrung ở khu vực trờng Đại học Bách khoa, cụm các trờng đại học thuộc quậnThanh Xuân và Cầu Giấy.Tại Hà Nội, chỉ có 2 trung tâm dạy ngoại ngữ với100% giáo viên ngời nớc ngoài là trung tâm Apollo (có mặt tại đây từ năm1994) và trung tâm Language Link -UDP (có mặt từ 1996) Đây là nơi cóchất lợng đào tạo rất cao, điều kiện học tập và giảng dạy tốt nhng cũng đòihỏi ở ngời học một trình độ nhất định và đặc biệt là học phí rất cao (300USDcho 6 tháng học tại Language Link và 171 USD cho 3 tháng học tại Apollo )
Do đó , hầu hết sinh viên vẫn tìm đến những trung tâm ngoại ngữ do giáoviên Việt Nam giảng dạy dù có thể môi trờng và chất lợng học tập ở nhữngnơi này không đợc tốt
Trang 82 Nhận thức của sinh viên về vai trò của ngoại ngữ.
Phong trào học ngoại ngữ trở nên thực sự lớn mạnh ở Việt Nam trongkhoảng hơn một thập kỷ nay cũng với sự mở cửa giao lu của xã hội ViệtNam và sự phát triển của nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủnghĩa Đối với xã hội, ngoại ngữ đợc xem nh một phơng tiện để hội nhập vớithế giới, để giao lu học hỏi và thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội
Đối với cá nhân, ngoại ngữ là điều kiện để đảm bảo một tơng lai vững chắc,
là tấm vé giúp cá nhân tự tin gia nhập vào thị trờng việc làm đầy tính cạnhtranh nh hiện nay Sinh viên- những ngời trong tơng lai rất gần sẽ bớc vào thịtrờng ấy-là những đối tợng cần đặc biệt trao dồi và nâng cao vốn ngoại ngữcủa mình Vai trò to lớn của ngoại ngữ theo sinh viên từ khi họ còn học tậptại giảng đờng đại học, ngoại ngữ giúp sinh viên mở rộng thêm vốn kiến thứccủa mình qua những nguồn tài liệu phong phú, giúp họ trở nên tự tin hơn.Sau khi tốt nghiệp, ngoại ngữ sẽ là điều kiện cần thiết, có thể là thế mạnhtrong cạnh tranh của sinh viên khi xin việc và khi đã bớc vào ngỡng cửa củacông việc, ngoại ngữ vẫn sẽ theo họ, trở thành vốn kiến thức quý báu giúp họthực hiện tốt hơn công việc của mình
Trang 9Tầm quan trọng của ngoại ngữ đối với mọi ngời nói chung và đối với sinhviên nói riêng dờng nh đã trở thành một vấn đề không cần bàn cãi Tuynhiên, phải chăng mọi sinh viên đều đã có thể nhận thức đợc điều đó? Liệu
có tồn tại những sinh viên chỉ thấy đợc bề nổi của sự phát triển mạnh mẽphong trào học ngoại ngữ, chỉ thấy sự cần thiết mang tính hình thức củanhững tấm bằng khi xin việc ?
Để tìm câu trả lời cho vấn đề này, tôi tiến hành tìm hiểu nhận thức củasinh viên đối với tầm quan trọng của ngoại ngữ thông qua câu hỏi “Sinh viên Xã hội học Xin bạn
đánh giá tầm quan trọng của ngoại ngữ đối với bạn khi ra trờng” và đa ra 3phơng án trả lời :
là họ cũng thiên về phơng án với mức độ nhiều Chỉ đa ra 3 phơng án sẽ hạnchế đợc sự phân tán trong các câu trả lời
Bảng 2 : Đánh giá vai trò của ngoại ngữ
STT Mức độ đánh giá Sinh viên XHH Sinh viên
Ta hãy xét về cơ cấu của những ý kiến này để hiểu rõ hơn vấn đề
Bảng 3 : Đánh giá vai trò của ngoại ngữ theo giới, năm học và hộkhẩu thờng trú của sinh viên Xã hội học
1 Rất quan trọng Nam 69,4% Năm I- II
Trang 10Theo cơ cấu năm học, không có sự phân biệt lớn ở sự lựa chọn phơng án
đầu.Với phơng án coi ngoại ngữ là không quan trọng lắm thì có sự chênhlệch khá rõ, có tới 23,3% sinh viên những năm cuối coi ngoại ngữ là khôngquan trọng lắm, thì tỉ lệ này ở nhóm sinh viên những năm đầu là 15%.Tuynhiên, trong khi không một sinh viên năm III-IV nào đánh giá rất thấp vai tròcủa ngoại ngữ, còn ở nhóm sinh viên năm I-II, lại có 5% coi ngoại ngữ làkhông quan trọng đối với họ.Nh vậy là dù có sự chênh lệch nhất định ở cácphơng án trả lời nhng nhìn chung không có sự khác biệt lớn trong nhận thứccủa các nhóm sinh viên những năm cuối và đầu về tầm quan trọng của ngoạingữ,
Hộ khẩu thờng trú cũng là một yếu tố tác động đến nhận thức của sinhviên về tầm quan trọng của ngoại ngữ Trong nhóm sinh viên có hộ khẩu đôthị, có gần 90% coi ngoại ngữ là rất quan trọng đối với họ, tỷ lệ này trongnhóm sinh viên nông thôn chỉ là xấp xỉ 70% Hầu hết sinh viên đô thị đều
định hớng làm việc tại đô thị, đồng thời với định hớng đó họ cũng cần coingoại ngữ nh một phơng tiện, một điều kiện thiết yếu Còn đối với sinh viênnông thôn, tỷ lệ lựa chọn phơng án này thấp hơn vì có một bộ phận sinh viên
định hớng làm việc tại quê nhà sẽ không coi ngoại ngữ là yếu tố tối cần thiết.Cũng có một sự chênh lệch lớn trong sự lựa chọn phơng án thứ hai, số sinhviên nông thôn coi ngoại ngữ là không quan trọng lắm cao gấp gần 4 lần sovới sinh viên đô thị Tuy nhiên , ở phơng án cuối cùng, hớng đi của các câutrả lời đã thay đổi, không một sinh viên nông thôn nào phủ nhận vai trò củangoại ngữ nhng lại có 4,3% sinh viên đô thị coi ngoại ngữ là không quantrọng đối với họ.Mặc dù vậy, nhìn chung nhóm sinh viên đô thị vẫn có xu h-ớng coi trọng ngoại ngữ hơn
Tóm lại, ta có thể rút ra những nhận xét sau đây về nhận thức của
sinh viên Xã hội học đối với tầm quan trọng của ngoại ngữ :
- Đa số sinh viên coi ngoại ngữ là rất quan trọng đối với họ khi ra trờng
- Nhóm nữ sinh viên, nhóm có hộ khẩu thờng trú tại đô thị có xu hớng
đánh giá cao vai trò của ngoại ngữ hơn so với hai nhóm nam và thờngtrú tại nông thôn
- Trong cơ cấu đánh giá theo năm học, trong từng phơng án trả lời có sựkhác biệt nhất định những trên mặt bằng chung thì giữa hai nhóm năm
Trang 11I-II và năm III-IV không có sự khác biệt lớn trong đánh giá vai trò củangoại ngữ.
Nh vậy, có thể nói tỷ lệ sinh viên đánh giá cao vai trò của ngoại ngữchiếm phần đông là một dấu hiệu đáng mừng Tuy nhiên, cần thấy rằng từnhận thức đến hành vi là một quá trình dài và khó khăn, phụ thuộc rấtnhiều yếu tố Nhận thức của sinh viên về ngoại ngữ tốt nh vậy nhng trongthực tế họ đã hành động nh thế nào.Ta hãy tìm hiểu thực trạng việc họcthêm để hiểu phần nào một khía cạnh trong hoạt động học ngoại ngữ củahọ
3.Thực trạng hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
3.1 Một số nhận xét và t ơng quan với sinh viên nói chung
Ngoại ngữ là một môn học quan trọng trong chơng trình chính khoá củahọc sinh từ tiểu học đến đại học và trên đại học Đối với sinh viên, môn họcnày càng đặc biệt quan trọng bởi nó có ý nghĩa lớn đối với công việc của họsau khi tốt nghiệp Chính vì thế, ngoài việc học ngoại ngữ theo chơng trìnhchính khoá của nhà trờng, nhiều sinh viên đã dành thời gian cho việc họcthêm ngoại ngữ để củng cố và tăng cờng một trong những vốn tri thức quantrọng này trong hành trang vào đời của họ Sinh viên Xã hội học nói riêngcàng có nhiều lý do để trau dồi vốn kiến thức của mình, bởi trong thế kỷ 21này Xã hội học đã đợc coi là ngành khoa học mũi nhọn ở Việt Nam và ngoạingữ là vốn quý không thể thiếu giúp những nhà Xã hội học tơng lai giao lu,học hỏi những tri thức Xã hội học thế giới để Xã hội học Việt Nam sẽ ngàycàng lớn mạnh, ngày càng phát huy đợc vai trò của nó trong công cuộc xâydựng và phát triển đất nớc
Vậy thực tế hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
đang diễn ra nh thế nào và hoạt động ấy có những điểm gì tơng đồng và khácbiệt với hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên nói chung ?
Theo kết quả điều tra mẫu, số lợng sinh viên Xã hội học học thêm ngoạingữ là 78, chiếm 78%; số lợng sinh viên không học thêm là 22, chiếm22%.Trong khi đó, tỉ lệ đi học thêm ngoại ngữ trong nhóm sinh viên nóichung là 61% Nh vậy qua kết quả này ta thấy rằng học thêm ngoại ngữ làmột hoạt động khá phổ biến trong sinh viên Xã hội học hiện nay và sinh viênXã hội học có xu hớng đi học thêm nhiều hơn so với sinh viên nói chung Sựphổ biến này cũng đợc thể hiện rõ qua cơ cấu của ngời đi học thêm
Bảng 4: Cơ cấu sinh viên học thêm ngoại ngữ
Trang 12B¶ng 5: Lý do häc thªm ngo¹i ng÷ cña sinh viªn X· héi häc
tè häc tËp ngo¹i ng÷ Ph¬ng ¸n 4 cho thÊy viÖc häc thªm ngo¹i ng÷ nh»m
Trang 13một mục đích xa hơn là để dễ xin việc khi ra trờng Phơng án 5 đa ra để tránh
bỏ sót một lý do nào đó nằm ngoài những lý do đã nêu
Kết quả thu đợc ở bảng 5 cho thấy phần đông sinh viên đi học thêm ngoạingữ vì những lý do rất thiết thực, đi học theo phong trào chiếm một tỷ lệ rấtnhỏ trong sinh viên.Sinh viên Xã hội học có xu hớng đi học với lí do để kiếmviệc làm nhiều hơn so với sinh viên nói chung, còn sinh viên nói chung lại đihọc vì muốn củng cố trình độ với tỉ lệ cao hơn hẳn ở những lí do khác,chênh lệch là không đáng kể
Bảng 6 cho thấy khi lựa chon địa điểm học thêm, một bộ phận lớn sinh viên
đã lựa chọn căn cứ vào uy tín của nơi học, một phần nhỏ khác lựa chọn nơigần chỗ ở để thuận tiện cho việc đi lại, những địa điểm còn lại(nơi có học phíthấp, trung tâm nớc ngoài, gia s hoặc lớp riêng) chiếm tỉ lệ không cao.Trong
4 phơng án đầu, hầu nh không có sự phân biệt đáng kể giữa hai nhóm sinhviên, chỉ ở hình thức học gia s hoặc lớp riêng nhóm sinh viên nói chung có sựlựa chọn nhiều hơn khá rõ so với nhóm sinh viên Xã hội học
Bảng 7: Thời gian dành cho học thêm
Trang 14Theo kết quả của bảng7, phần lớn sinh viên dành từ 2 đến 5 buổi một tuầncho hoạt động học thêm ngoại ngữ, trong đó số dành từ 2-3 buổi chiếm đônghơn Chỉ có một phần nhỏ sinh viên dành 1 buổi hoặc hơn 5 buổi một tuầncho hoạt động học thêm này.Nhìn chung, đây là lợng thời gian khá hợp lí bởinếu dành quá ít thời gian thì sẽ khó thu đợc hiệu quả cao, còn dành quánhiều thời gian thì lại ảnh hởng tới các hoạt động khác.So sánh giữa hainhóm sinh viên, ta thấy rằng dù có sự khác biệt tơng đối trong các phơng ántrả lời nhng trên mặt bằng chung, cả hai nhóm đều dành một lợng thời gian
nh nhau cho hoạt động học thêm ngoại ngữ
Bảng 9: Hiệu quả của việc học thêm
Theo kết quả thu đợc, đa số sinh viên cho rằng việc học thêm ngoại ngữ
đem lại cho họ hiệu quả tích cực, trong đó số thu đợc hiệu quả cao ít hơn sovới số có hiệu quả nhng không cao Bên cạnh đó còn một bộ phận cho rằngviệc học thêm không có tác động gì đến trình độ ngoại ngữ của họ.Hiệu quảhọc thêm ngoại ngữ cũng không có sự khác biệt giữa các nhóm sinh viên
Tóm lại, qua những kết quả sơ bộ ban đầu ta thấy:
Trang 15- Hoạt động học thêm ngoại ngữ là hoạt động tơng đối phổ biến trongsinh viên Xã hội học hiện nay.
- Sinh viên đi học thêm phần lớn là vì những lý do rất thiết thực là nhằmnâng cao trình độ ngoại ngữ hoặc để dễ kiếm việc làm khi ra trờng
- Với mục đích nh vậy phần lớn sinh viên lựa chọn nơi có uy tín để họcthêm Tỷ lệ lựa chọn những địa điểm khác không cao
- Thời gian dành cho học thêm ngoại ngữ của sinh viên phần lớn dao
động từ 2 đến 5 buổi một tuần
- Về cơ bản hoạt động học thêm ngoại ngữ đem lại cho sinh viên nhữngtác động tích cực giúp củng cố hoặc nâng cao trình độ ngoại ngữ củahọ
- Trong tơng quan với sinh viên nói chung, sinh viên Xã hội học có xu ớng đi học thêm nhiều hơn Về mặt động cơ học thêm, sinh viên Xã hộihọc đi học vì mục đích kiếm việc nhiều hơn so với sinh viên nói chung
h-Về địa điểm học, thời gian và chi phí học chỉ có những chênh lệch khônglớn ở hai nhóm sinh viên
Tóm lại, có thể nói rằng dù có những chênh lệch nhỏ nhng hầu nhkhông có sự phân biệt trong hoạt động học thêm ngoại ngữ ở sinh viên Xãhội học và sinh viên nói chung
3.2 Mô tả hoạt động học thêm ngoại ngữ của sinh viên Xã hội học
Phơng án 1 cho thấy chủ thể phần nào không gặp phải những khó khănvới chơng trình học ngoại ngữ chính khoá và cần học thêm để nâng cao hơnnữa trình độ ngoại ngữ của mình
Phơng án 2, ngợc lại, nói lên rằng chủ thể gặp phải những khó khăn vớichơng trình học ngoại ngữ chính khoá và cần học thêm để nắm chắc hơn.Cả 2 phơng án đều hớng vào mục đích gần là phục vụ cho chính hoạt
động học tập đang diễn ra
Phơng án 3 thể hiện tính chất phong trào của hoạt động học thêm Chủthể có thể chỉ đi học cho vui vì bạn bè rủ mà không có một mục đích tích cựcnào khác
Phơng án 4 cho thấy chủ thể học thêm có thể để nâng cao trình độ để saunày thi xin việc, nhng cũng có thể chỉ học vì một tấm bằng để sau này cótrong hồ sơ xin việc Tuy nhiên, dù mục đích nào thì phơng án này cũng chothấy chủ thể hớng vào một cái đích xa hơn, đó là việc làm sau khi ra trờng Phơng án 5 đợc đa ra để tránh bỏ xót các lí do còn lại Trên thực tế, trongmẫu có một trờng hợp lựa chọn phơng án này với lí do cụ thể là "để làm việc
", suy cho cùng đó cũng là lí do gắn với công việc sau này
Trang 16độ hoàn toàn có thể bao hàm lí do vì công việc sau naỳ Hơn nữa lí do nângcao trình độ có thể phần nào toát lên rằng chủ thể hớng đến chất lợng thực sựcủa việc học còn lí do kiếm việc không toát lên đợc điều đó Vậy, có thể nóigiới tính là một nhân tố ảnh hởng đến động cơ học thêm ngoại ngữ của sinhviên.
Trang 17Lý do nâng cao trình độ thu đợc câu trả lời khá chênh lệch theo nhóm nămhọc Sinh viên năm thứ I-II có xu hớng lựa chọn lý do này nhiều hơn sinhviên năm III-IV.
Lý do thứ 2 không có sự chênh lệch đáng kể ở hai nhóm
Năm thứ III-IV không có sinh viên nào đi học vì vui bạn bè, còn tỷ lệ này ởsinh viên năm I-II là 3,3%.Có lẽ việc đi học vì phong trào, vì vui bạn bè ítxảy ra trong sinh viên và nếu có cũng khó rơi vào sinh viên những năm cuốibởi bớc vào những năm bản lề dù sinh viên học tốt hay không, dù có tự giáchọc hay không thì họ cũng không còn nhiều thời gian để phung phí
Có một sự chênh lệch nhỏ trong việc lựa chọn lý do để dễ kiếm việc theohớng nghiêng về những sinh viên năm thứ III-IV bởi những sinh viên nămcuối đã gần với thực tế ra trờng hơn
Lý do khác không có ở sinh viên những năm đầu mà có ở 2,1% sinh viênnhững năm cuối
Nh vậy, có một sự chênh lệch hợp lý rằng sinh viên năm III-IV thì chútrọng nhiều đến mục đích lâu dài vì công việc sau này còn sinh viên năm I-IIthì quan tâm chủ yếu tới bản thân việc học
Bảng 12: Lý do học thêm theo hộ khẩu thờng trú
Với sinh viên có hộ khẩu thờng trú tại nông thôn, 2 lý do này cũng có tỷ lệtrả lời cao, đặc biệt với lí do " để dễ kiếm việc" nhóm sinh viên nông thôn có
sự lựa chọn cao hơn hẳn các sinh viên đô thị Dờng nh với nhóm sinh viênnông thôn, việc họ đi học thêm vì một lí do thực tế là rất quan trọng bởi vớinhững điều kiện không thuận lợi về nhiều mặt, họ phải cố gắng tìm kiếm “Sinh viên Xã hội họclợinhuận” hết sức cụ thể cho chi phí bỏ ra Không thể nói lí do học thêm đểnâng cao trình độ là không thực tế nhng ở một khía cạnh nào đó nâng caokhông phải chỉ để nâng cao mà phải có một mục đích cuối cùng nào khác,xét cho cùng mục đích ấy chính là công việc
Còn 3 lý do để củng cố, vui bạn bè, lý do khác đều chiếm tỷ lệ không lớn ởcả hai nhóm sinh viên
Vậy, hộ khẩu thờng trú cũng là một nhân tố tác động đến động cơ học thêmngoại ngữ của sinh viên
Trang 18Tóm lại, qua phân tích lý do học thêm ngoại ngữ có thể rút ra nhận xét sau:
- Những nhân tố ảnh hởng đến động cơ học thêm ngoại ngữ là giới, nămhọc và hộ khẩu thờng trú của sinh viên
+ Nam sinh viên có xu hớng đi học thêm vì lý do kiếm việc là chủ yếu,còn nữ sinh viên lại phần đông đi học vì muốn nâng cao trình độ
+ Sinh viên năm I-II phần lớn đi học để nâng cao trình độ còn sinh viênnăm cuối chủ yếu đi học để phục vụ cho mục đích xin việc
+ Sinh viên có hộ khẩu thờng trú tại đô thị có xu hớng đi học thêm vìmuốn nâng cao, củng cố trình độ nhiêù hơn là sinh viên nông thôn, cònsinh viên nông thôn lại đi học vì muốn dễ xin việc nhiều hơn sinh viên đôthị
5 Gia s hoặc lớp riêng
Nơi có uy tín thờng là những cơ sở của những trờng đại học có đào tạochuyên ngành ngoại ngữ nh ĐHNN Thanh Xuân, ĐHNN ĐHQG, ĐH NgoạiThơng….Uy tín đào tạo của các cơ sở này đem lại cho ngời ta cảm giác tin t-ởng khi lựa chọn Nó làm cho sinh viên tin rằng học ở đó sẽ thu đợc hiệu quảcao
Nơi gần chỗ ở sẽ thuận tiện cho việc đi lại Đối với những sinh viên không
có những phơng tiện đi lại tiện nghi thì đây cũng là một tiêu chí rất đángquan tâm
Nơi có học phí thấp cũng là một tiêu chí quan trọng đối với những sinh viên
có hoàn cảnh kinh tế không thuận lợi, đặc biệt là sinh viên ngoại tỉnh
Trung tâm nớc ngoài là nơi thờng có học phí cao nhng đồng thời cũng cóchất lợng cao vì lớp học ít và đợc giáo viên nớc ngoài trực tiếp giảng dạy Hình thức gia s tại nhà hoặc mở lớp riêng có lẽ không mấy phổ biến trongsinh viên nhng cũng không thể không đề cập đến
Biểu đồ địa điểm học thêm
Trang 19Xét theo giới tính ta có bảng sau
Bảng 13 : Địa điểm học thêm theo giới
1 Nơi có uy tín 52% 62,3%
2 Nơi gần chỗ ở 24% 24,5%
3 Nơi có học phí thấp 8% 5,7%
4 Trung tâm nớc ngoài 16% 1,9%
5 Gia s hoặc lớp riêng 0 5,7%
ở cả hai giới địa điểm có uy tín đều đợc lựa chọn với tỉ lệ cao nhất (nhngcũng có sự chênh lệch tơng đối với xu hớng thiên về sinh viên nữ).Đây là
điều dễ hiểu bởi ai bỏ tiền ra học cũng đều muốn thu đợc kết quả tốt và điều
đầu tiên giúp sinh viên tin rằng họ sẽ học có hiệu quả là uy tín của nơi họ lựachọn.Phơng án "nơi gần chỗ ở " đợc lựa chọn gần nh nhau giữa hai giới Haiphơng án sau nam đều có xu hớng lựa chọn nhiều hơn nữ, đặc biệt là địa
điểm trung tâm nớc ngoài Hình thức học gia s hoặc lớp riêng không có ởnam nhng lại chiếm 5,7% số nữ
Bảng 14 : Địa điểm học thêm theo năm học
Trung tâm n ớc ngoài
Gia s hoặc lớp riêng
Trang 202 Nơi gần chỗ ở 20% 27,1%
3 Nơi có học phí thấp 10% 4,2%
4 Trung tâm nớc ngoài 6,7% 6,3%
5 Gia s hoặc lớp riêng 0 6,3%
Phơng án nơi có uy tín đợc các sinh viên năm thứ I-II lựa chọn nhiềuhơn, phơng án gần chỗ ở lại đợc nhóm sinh viên những năm cuối lựa chọnnhiều hơn Với phơng án học phí thấp và trung tâm nớc ngoài, các sinh viênnăm đầu có xu hớng lựa chọn cao hơn Với phơng án gia s hoặc lớp riêng,không một sinh viên năm I-II nào lựa chọn trong khi đó tỷ lệ này ở sinh viênnăm III-IV là 6,3%
Bảng 15: Địa điểm học thêm theo hộ khẩu
Địa điểm có uy tín là nơi đợc lựa chọn nhiều nhất ở cả 2 nhóm và nhóm
đô thị có nhỉnh hơn
Nơi gần chỗ ở đợc nhóm sinh viên nông thôn-những ngời thờng không cóphơng tiện đi lại thuận tiện-lựa chọn cao gấp đôi so với nhóm đô thị
Có sự phân hoá khá rõ ở 3 phơng án trả lời sau Nơi có học phí thấp là địa
điểm không đợc bất cứ sinh viên đô thị nào lựa chọn trong khi nó chiếm tới14.3% sinh viên nông thôn-những ngời trọ học xa nhà và thờng có khó khăn
về tài chính
Trong khi đó, ở trung tâm nớc ngoài và hình thức học gia s hoặc lớp riênglại xảy ra tình trạng ngợc lại, sinh viên đô thị lựa chọn 2 phơng án này lên tớigần 20% còn ở sinh viên nông thôn thì tỷ lệ này là 0% hoặc rất thấp không
đáng kể.Điều này rất dễ hiểu bởi trung tâm nớc ngoài là hình thức còn chaphổ biến ở Hà Nội và đặc biệt là có học phí rất cao, các sinh viên nông thônkhó lòng đáp ứng đợc Hình thức học gia s hoặc lớp riêng cũng đòi hỏi mộtchi phí lớn, ngoài ra còn phụ thuộc vào những mối quan hệ của chủ thể để cóthể tìm thầy, mời thầy do đó cũng không phù hợp với nhóm sinh viên nôngthôn
Trang 21Tóm lại, qua phân tích địa điểm học thêm ngoại ngữ của sinh viên, ta
+ Yếu tố năm học không ảnh hởng nhiều lắm đến sự lựa chọn địa điểmhọc, mặc dù vậy trong các phơng án trả lời đều có sự phân biệt giã hainhóm năm I-II và III-IV, nhìn chung do điều kiện thời gian nhóm sinhviên những năm cuối có xu hớng lựa chọn nơi học gần chỗ ở và hình thứcgia s hoặc lớp riêng nhiều hơn so với sinh viên những năm đầu
+ Hộ khẩu thờng trú là yếu tố ảnh hởng rõ nhất đến việc lựa chọn địa
điểm học thêm Bên cạnh nơi có uy tín với tỷ lệ không quá chênh lệch,nhóm sinh viên đô thị có xu hớng lựa chọn trung tâm nớc ngoài, gia shoặc lớp riêng, còn nhóm sinh viên nông thôn lại có xu hớng lựa chọn nơigần chỗ ở và nơi có học phí thấp
ơng án còn lại, phơng án 4-5 buổi đợc lựa chọn nhiều hơn so với phơng án 1buổi, đặc biệt là ở sinh viên nữ
Bảng 17: Thời gian học theo năm học
Trang 22đôi và tỉ lệ chọn 2-3 buổi thấp hơn so với nhóm sinh viên nông thôn.
Tóm lại , các bảng phân tích thời gian học thêm cho thấy:
- Giới tính là yếu tố không có tác động lớn đến việc dành thời gian chohọc thêm ngoại ngữ
- Sinh viên những năm đầu và sinh viên đô thị có xu hớng đi học thêmvới lợng thời gian lớn hơn so với những sinh viên năm cuối và sinhviên nông thôn
3.2.4 Chi phí cho học thêm
Chi phí cho việc học thêm phụ thuộc vào địa điểm và thời gian học ờng thì trung tâm nớc ngoài, học gia s hoặc lớp riêng sẽ đòi hỏi chi phí caohơn các địa điểm và hình thức còn lại Chi phí học cũng tỷ lệ thuận với thờigian học, số buổi càng nhiều chi phí càng lớn Qua khảo sát sơ bộ, tôi thấyrằng với những địa điểm, hình thức học khác nhau và lợng thời gian khác
Trang 23Th-nhau, có rất nhiều mức chi phí với độ chênh lệch rất lớn, mức thấp nhấtkhoảng xấp xỉ 50.000đ, mức cao nhất có thể lên tới 1 triệu đồng Tuy nhiên,
do những mức học phí quá cao không phổ biến trong sinh viên nên tôi chỉ đa
ra các phơng án từ dới 50.000đ đến trên 200.000đ, mọi trờng hợp vợt quá200.000đ đều đợc tính vào một nhóm
Bảng 19: Chi phí học thêm theo giới
tỉ lệ học gia s hoặc lớp riêng cao hơn nên sẽ có chi phí lớn hơn
Bảng 21: Chi phí học thêm theo hộ khẩu
Trang 242 phơng án với mức chi phí còn lại lớn hơn.Đây là kết quả có thể đợc suy ra
từ 2 bảng 15 và 18 Nhóm sinh viên đô thị dành thời gian đi học nhiều hơn,tại những địa điểm có học phí cao hơn nh trung tâm nớc ngoài, gia s hoặc lớpriêng, vì thế tất yếu họ phải bỏ ra một lợng chi phí lớn hơn
Tóm lại, phân tích chi phí cho học thêm ngoại ngữ trong sinh viên Xã
hội học ta thấy rằng :
Ba yếu tố giới, năm học, hộ khẩu thờng trú đều có tác động nhất định
đến chi phí cho việc học thêm Các nhóm sinh viên nữ, năm thứ III-IV và đôthị có xu hớng chi phí nhiều hơn so với các nhóm sinh viên nam, năm thứ I-
II và nông thôn
3.2.5 Hiệu quả của việc học thêm
Định lợng hiệu quả của việc học thêm là một công việc không dễ dàng,
định lợng một cách khách quan và chính xác lại càng khó thực hiện hơn.Để
đánh giá vấn đề này, tôi đa ra câu hỏi “Sinh viên Xã hội họcTheo bạn, so với trớc khi đi học thêm,trình độ ngoại ngữ của bạn…… ” và đa ra 3 phơng án trả lời :
1 Vẫn nh trớc
2 Khá hơn nhng không nhiều
3 Khá hơn nhiều
Kết quả thu đợc cho thấy
Bảng 22 : Cơ cấu hiệu quả học thêm
1 Vẫn nh trớc Nam 12% I-II 13,3% Đô thị 14%
Nữ 18,9% III-IV 18,8% Nông thôn 20%
Nam 56% I-II 56,7% Đô thị 51,2%