1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận án đóng góp của văn xuôi tự sự lưu trọng lư giai đoạn trước 1945

164 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận án đóng góp của văn xuôi tự sự lưu trọng Lư giai đoạn trước 1945
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì điều này, việc nghiên cứu văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư có ý nghĩa cung cấp thêm một tham số thuyết phục giúp chúng ta hiểu được thực chất của hoạt động giao lưu văn học Đông - Tâ

Trang 1

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 2

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của luận án 5

6 Cấu trúc của luận án 6

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Nghiên cứu lý thuyết về văn xuôi tự sự 7

1.1.1 Khái niệm văn xuôi tự sự 7

1.1.2 Nghiên cứu lý thuyết của các tác giả nước ngoài về văn xuôi tự sự 10

1.1.3 Nghiên cứu lý thuyết của các tác giả trong nước về văn xuôi tự sự 13

1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi tự sự Việt Nam nói riêng 17

1.2.1 Những nghiên cứu công bố trước 1945 17

1.2.2 Những nghiên cứu công bố sau 1945 21

1.3 Nghiên cứu mang tính khái quát về vị trí Lưu Trọng Lư trong bức tranh chung của văn học Việt Nam trước 1945 25

1.3.1 Nghiên cứu công bố trước 1945 25

1.3.2 Nghiên cứu công bố sau 1945 28

1.4 Nghiên cứu chuyên sâu về bộ phận văn xuôi tự sự sáng tác trước 1945 của Lưu Trọng Lư 33

1.4.1 Nghiên cứu công bố trước 1945 về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư 33

1.4.2 Nghiên cứu công bố sau 1945 về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư thời kỳ trước Cách mạng 35

Tiểu kết chương 1 41

Trang 2

TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ LƯU TRỌNG LƯ TRƯỚC 1945 42

2.1 Một số khuynh hướng thẩm mỹ chính chi phối văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 42

2.1.1 Khái niệm khuynh hướng thẩm mỹ 42

2.1.2 Khuynh hướng thẩm mỹ cổ điển 44

2.1.3 Khuynh hướng thẩm mỹ thị dân 47

2.2 Sự tiếp biến các khuynh hướng thẩm mỹ thời đại trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 50

2.2.1 Tiền đề của việc tiếp biến 50

2.2.2 Sự hội tụ của các khuynh hướng thẩm mỹ ở văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 52

2.3 Nguyên tắc phản ánh - biểu hiện trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 58

2.3.1 Chú ý đến những uẩn khúc trong tình cảm của nhân vật 58

2.3.2 Chú ý miêu tả những thân phận phụ nữ không may mắn 64

2.3.3 Phối trí hài hòa không gian xa xăm với không gian cụ thể 73

Tiểu kết chương 2 78

Chương 3 DẤU ẤN CỦA VĂN XUÔI TỰ SỰ LƯU TRỌNG LƯ TRƯỚC 1945 Ở HỆ THỐNG ĐỀ TÀI VÀ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG 79

3.1 Một số đề tài và hình tượng nổi bật của văn xuôi tự sự Việt Nam trước 1945 79

3.1.1 Đề tài chính 79

3.1.2 Những hình tượng nhân vật nổi bật 90

3.2 Nét riêng của hệ đề tài trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 96

3.2.1 Đề tài con người trong môi trường đô thị 96

3.2.2 Đề tài con người lỡ vận 101

3.2.3 Đề tài kỷ niệm riêng tư 103

3.3 Nét riêng của hệ thống hình tượng con người trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 109

Trang 3

3.3.2 Hình tượng con người chìm đắm trong ái tình 112

3.3.3 Hình tượng con người mộng ảo 117

Tiểu kết chương 3 120

Chương 4 NHỮNG KIỂU LỰA CHỌN NGHỆ THUẬT ĐẶC THÙ TRONG VĂN XUÔI TỰ SỰ LƯU TRỌNG LƯ TRƯỚC 1945 121

4.1 Sử dụng và cải biến các mô típ quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn 121

4.1.1 Khái niệm mô típ và tiền đề của việc sử dụng, cải biến các mô típ nghệ thuật quen thuộc ở văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư 121

4.1.2 Dấu ấn Lưu Trọng Lư trong việc sử dụng và cải biến các mô típ quen thuộc 123

4.2 Nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa 126

4.2.1 Sự khác nhau giữa xu hướng phong tục hóa và tiểu thuyết hóa trong văn xuôi tự sự 126

4.2.2 Việc nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa trong văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư 128

4.2.3 Nét riêng của Lưu Trọng Lư với các nhà văn cùng thời trên vấn đề nhào nặn chất liệu hiện thực theo hướng phong tục hóa 131

4.3 Tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất văn xuôi và chất thơ 134

4.3.1 Cơ sở của việc tạo sự kết hợp giữa chất văn xuôi và chất thơ 134

4.3.2 Biểu hiện của cái nhìn thơ về hiện thực 138

4.3.3 Sự kết hợp giữa chất văn xuôi và chất thơ trên bình diện ngôn ngữ và giọng điệu 141

Tiểu kết chương 4 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Trọng Lư được đánh giá là một trong những cây bút tiên phong của phong trào Thơ mới Trước Cách mạng, bên cạnh những bài thơ nổi tiếng, ông còn sáng tác một khối lượng tác phẩm văn xuôi khá lớn với 27 truyện ngắn, 27 tiểu thuyết Văn xuôi tự sự trước Cách mạng của ông phong phú về đề tài, ngôn từ, giọng điệu, thể hiện cái nhìn

đa chiều về cuộc sống Trong khi thơ Lưu Trọng Lư đã được nghiên cứu khá

kỹ thì mảng văn xuôi tự sự của ông lại chưa được quan tâm đúng mức Trong các lý do, có lý do là ở giai đoạn văn học 1930 - 1945, có nhiều cây bút có cách viết gần gũi với ông và cũng nổi tiếng hơn ông Tuy nhiên để hiểu đầy đủ hơn về đóng góp của Lưu Trọng Lư trong tư cách một tác gia văn học, để có được cái nhìn toàn diện về bức tranh văn học nói chung, văn xuôi một giai đoạn nói riêng, chúng ta không thể không quan tâm nghiên cứu văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư

1.2 Năm 2011, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Lưu Trọng Lư, Lại Nguyên Ân và Hoàng Minh đã cho ra đời một bộ sách có dung lượng lớn gồm 2 tập (1145 trang khổ 16x24 cm), tập hợp toàn bộ truyện ngắn và tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư (cả trước và sau Cách mạng) Qua công trình này, có thể thấy rõ một phương diện tài năng khác của Lưu Trọng Lư thể hiện trên lĩnh vực văn xuôi tự sự Đọc có hệ thống những tác phẩm văn xuôi tự sự ông đã viết, độc giả cảm nhận được một cách sâu sắc bối cảnh sáng tác khá cởi mở đã thôi thúc sự tìm tòi, thể nghiệm của các nhà văn như thế nào Qua các tác phẩm, có thể nhận

ra ảnh hưởng của văn học phương Tây, trước hết là văn học Pháp đối với những trang viết của nhà văn Ở đây có cả dấu ấn của những sáng tác tình cảm chủ nghĩa và cũng thấm đượm tình điệu lãng mạn chủ nghĩa Không chỉ thế, bút pháp hiện thực, bút pháp tượng trưng của các bậc thầy hiện thực chủ nghĩa, tượng trưng chủ nghĩa cũng được tiếp thu và vận dụng theo một cách rất riêng

Trang 5

Chính vì điều này, việc nghiên cứu văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư có ý nghĩa cung cấp thêm một tham số thuyết phục giúp chúng ta hiểu được thực chất của hoạt động giao lưu văn học Đông - Tây trong bối cảnh văn học Việt Nam đang gấp rút chuyển mình theo hướng hiện đại hóa, Âu hóa; hiểu được vai trò của những tác gia nổi tiếng trước Cách mạng như Lưu Trọng Lư trong việc tạo dựng nền móng cho một nền văn học Việt Nam hiện đại, có khả năng hội nhập với thế giới Cũng qua những truyện ngắn, tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư, người nghiên cứu còn có thể phát hiện thấy sự giao thoa giữa các thể loại thuộc các loại hình sáng tác khác nhau Với một người vừa làm thơ vừa viết truyện ngắn, tiểu thuyết như Lưu Trọng Lư, sự giao thoa đó cũng cần được quan tâm tìm hiểu, phân tích thấu đáo Như vậy, đi vào đề tài này, người nghiên cứu sẽ có cơ hội thấy được nhiều mặt của đời sống văn học giai đoạn 1930 - 1945, thông qua sáng tác của một tác giả cụ thể là Lưu Trọng Lư

1.3 Đề tài hàm chứa khả năng cung cấp những dữ liệu, tư liệu cho nghiên cứu thi pháp văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn và tiểu thuyết trong văn học Việt Nam ở một giai đoạn có nhiều thành tựu và nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo Ngoài ra, luận án có thể cung cấp các tư liệu văn học có ý nghĩa cho việc dạy học văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở bậc trung học phổ thông Ở bậc Đại học, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu loại hình văn xuôi tự sự; nghiên cứu lịch sử văn học, cụ thể là sự tiếp thu những bài học từ văn học phương Tây để đưa văn học nước nhà bước vào chặng đường hiện đại hóa trên mọi phương diện

Đó là những lý do thúc đấy chúng tôi nghiên cứu đề tài: Đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án, như tên đề tài đã xác định rõ, là: Đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư giai đoạn trước 1945 Ở đây, hầu như các

bình diện chính yếu trong văn xuôi của Lưu Trọng Lư đều được đề cập, xem xét,

Trang 6

chủ yếu là để làm rõ nét đặc sắc, độc đáo trong phong cách sáng tác cũng như những đóng góp cụ thể của nhà văn cho nền văn xuôi nước nhà

2.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Phạm vi tư liệu khảo sát chính của luận án là 27 truyện ngắn, 27 tiểu

thuyết của Lưu Trọng Lư sáng tác trước năm 1945 được tập hợp trong Lưu Trọng Lư, Tác phẩm - truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ hai tập), Nxb Lao

Động, Trung tâm Văn hóa - Ngôn ngữ Đông Tây, 2011

Để có cái nhìn bao quát về vấn đề, luận án còn khảo sát sáng tác của nhiều tác giả gần gũi hoặc khác biệt về xu hướng, cùng giai đoạn hoặc khác giai đoạn sáng tác với Lưu Trọng Lư

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

công bố

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hướng tới mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Tổng thuật tình hình nghiên cứu về sáng tác của Lưu Trọng Lư nói chung, văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư nói riêng và minh định một số khái niệm,

thuật ngữ then chốt được dùng để nghiên cứu đối tượng này

- Nhận diện, phân tích những nét riêng về khuynh hướng thẩm mỹ của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trong mối quan hệ với những khuynh hướng thẩm

mỹ chủ đạo của văn học (trước hết là văn xuôi) Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

- Làm sáng tỏ những nét độc đáo của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trên

Trang 7

phương diện đề tài và hệ thống hình tượng, trong sự so sánh cùng bình diện với

sáng tác của những nhà văn khác cùng thời

- Chỉ ra, phân tích và đánh giá (trên cơ sở so sánh đa chiều) những kiểu

lựa chọn nghệ thuật đặc thù của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phương pháp này đòi hỏi sự quan

tâm trước hết đến văn bản ngôn từ (27 truyện ngắn, 27 tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư sáng tác trước 1945) - một điều kiện thiết yếu giúp người nghiên cứu chỉ ra được hình thức mang tính chỉnh thể của đối tượng (bao gồm sự tùy thuộc

và chi phối lẫn nhau giữa các phạm trù: quan niệm con người, tình điệu thẩm

mỹ, nghệ thuật tổ chức không - thời gian và hệ thống hình tượng, sự lựa chọn hệ thống thủ pháp biểu hiện…)

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đây là phương pháp xem xét đối

tượng trong cái nhìn tổng thể, hình dung mỗi đối tượng là một hệ thống nhỏ của

hệ thống lớn, và trong từng hệ thống như vậy, mối quan hệ vừa ổn định vừa biến đổi giữa các yếu tố cấu trúc luôn có ý nghĩa đặc biệt Phương pháp này một mặt xem văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư là một chỉnh thể có cấu trúc riêng, mặt khác, lại nhìn nhận nó như một yếu tố năng động của chỉnh thể lớn hơn: toàn bộ sáng tác của nhà văn và cả nền văn học trong giai đoạn phát triển đặc biệt, nhiều thành tựu của nó

- Phương pháp loại hình: Phương pháp này quy văn xuôi tự sự Lưu Trọng

Lư về loại thích hợp để có được những đánh giá thỏa đáng, phù hợp với đặc trưng thẩm mỹ của đối tượng Theo đó, có thể nhận thấy: mặc dù có những điểm riêng không thể trộn lẫn, văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư lại khá gần gũi về loại hình với nhiều sáng tác của Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này đòi hỏi người nghiên cứu phải

thực hiện vừa những so sánh mang tính chất đồng đại, vừa những so sánh mang

Trang 8

tính chất lịch đại Theo đó, văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước hết sẽ được so sánh với văn xuôi tự sự của các tác giả khác cùng giai đoạn 1930 - 1945, tiếp nữa

sẽ được đặt trong tương quan đối chiếu với văn xuôi tự sự 30 năm đầu thế kỷ XX

- Phương pháp lịch sử - xã hội: Phương pháp này đặt đối tượng nghiên cứu

vào bối cảnh ra đời của nó, giúp người nghiên cứu nhìn nhận đối tượng như sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, với rất nhiều mối quan hệ phức tạp bao quanh Theo đó, văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư sẽ được đánh giá như là sự đáp ứng tích cực những nhu cầu phát triển (trước hết là nhu cầu thẩm mỹ) của một xã hội đang vận động theo hướng hiện đại hóa, Tây hóa

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng các thao tác, thủ pháp nghiên cứu quen thuộc của ngành Ngữ văn như khảo sát văn bản; phân tích, tổng hợp; phân loại, thống kê

5 Đóng góp của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu quy mô đầu tiên về văn xuôi tự sự Lưu

Trọng Lư trước 1945, sau khi bộ sách Lưu Trọng Lư tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết (trọn bộ 2 tập, khoảng 1.500 trang, do Lại Nguyên Ân - Hoàng Minh

sưu tầm và biên soạn) được ấn hành vào năm 2011 Với công trình này, những đóng góp riêng, hết sức có ý nghĩa của của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước

1945 được bước đầu nhận diện, phân tích, khẳng định, thông qua hệ thống dẫn liệu phong phú, góp phần vào việc đánh giá toàn diện hơn, khoa học hơn về tác gia Lưu Trọng Lư và phần nào xác định tính đa dạng của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945

Luận án cũng góp thêm cứ liệu để nhìn nhận đầy đủ hơn về vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng của văn học Phương Tây ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - một

sự tiếp nhận có tính đặc thù, giúp cho quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đạt được những thành tựu có ý nghĩa

Luận án có thể được dùng làm tư liệu tham khảo bổ ích cho việc dạy học văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở cả hai bậc phổ thông và Đại học

Trang 9

6 Cấu trúc của luận án

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án

gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Sự hòa trộn các khuynh hướng thẩm mỹ trong văn xuôi tự sự

Lưu Trọng Lư trước 1945 Chương 3: Dấu ấn của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước 1945 ở hệ

thống đề tài và hệ thống hình tượng Chương 4: Những kiểu lựa chọn nghệ thuật đặc thù trong văn xuôi tự sự

Lưu Trọng Lư trước 1945

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nghiên cứu lý thuyết về văn xuôi tự sự

1.1.1 Khái niệm văn xuôi tự sự

Chúng tôi sử dụng khái niệm văn xuôi tự sự trong sự phân biệt có tính tương đối với văn xuôi trữ tình Gọi là tương đối bởi đường biên giữa chúng

không phải lúc nào cũng rõ rệt Khi dùng khái niệm văn xuôi tự sự, dĩ nhiên người nghiên cứu luôn có ý thức phân biệt nó với các loại sản phẩm ngôn từ khác cũng dùng hình thức văn xuôi nhưng không nhằm mục đích thẩm mỹ, không dùng hình thức hư cấu như văn xuôi nghị luận và các loại văn bản nằm ngoài phạm vi nghệ thuật ngôn từ

Trong văn xuôi trữ tình có sự xâm nhập rõ nét của yếu tố thơ Điều đó

khiến cho nhiều tác phẩm văn xuôi trữ tình có dáng dấp của một áng thơ văn xuôi Ở văn xuôi trữ tình, tác giả chủ yếu thể hiện cảm xúc của người trần thuật, thể hiện những suy tư, rung động của thế giới nội tâm; giọng văn thường giàu cảm xúc Về cơ bản, có thể xếp văn xuôi trữ tình vào loại hình trữ tình, bao gồm thơ trữ tình, trường ca, ngâm khúc trữ tình, tùy bút… Trong văn xuôi Việt Nam

hiện đại, có những áng văn xuôi trữ tình nổi tiếng như Tóc chị Hoài, Trang hoa,

Tờ hoa của Nguyễn Tuân, Vàng sao, Thăm Trung Quốc của Chế Lan Viên, Tre Việt Nam của Thép Mới

Văn xuôi tự sự chú trọng miêu tả con người và môi trường xã hội, miêu

tả cử chỉ, hành động, ngôn ngữ nhân vật Văn xuôi tự sự thuộc loại hình tự sự,

có chức năng tái hiện “tính khách quan” của thế giới, luôn có nhân vật, sự kiện, hành động, xung đột Thuộc về văn xuôi tự sự có các thể loại như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết Tuy thuộc loại hình tự sự nhưng trong văn xuôi tự sự vẫn có thể có (thậm chí có nhiều) yếu tố trữ tình, nhưng những yếu tố này không phá vỡ bản chất loại tự sự của văn xuôi tự sự Việc xuất hiện nhiều hay

ít của yếu tố trữ tình hoàn toàn phụ thuộc vào phong cách cá nhân của tác giả, vào mục đích sáng tác và thể loại cụ thể được chọn lựa Tất nhiên, có những

Trang 11

thể loại có thể đứng ở đường biên của tự sự và trữ tình như bút ký, tản văn, chân dung văn học

Nói đến văn xuôi tự sự, không thể không nói đến nhân vật, cốt truyện, sự

kiện, người trần thuật như là những yếu tố cấu thành cơ bản nhất của nó Nhằm

có được nhận thức đầy đủ về khái niệm văn xuôi tự sự - khái niệm mà chúng tôi

dùng trong luận án để khoanh vùng đối tượng nghiên cứu -, sau đây, xin điểm qua những nhận định trong các tài liệu lý luận mang tính giáo khoa về những yếu tố cấu thành nói trên của văn xuôi tự sự

Tự sự không thể thiếu nhân vật vì nó thực hiện ý đồ khái quát hiện thực đời

sống bằng hình tượng, mà hình tượng nổi bật nhất là hình tượng nhân vật Từ điển văn học (Bộ mới) định nghĩa về nhân vật: “Là thuật ngữ chỉ hình tượng nghệ thuật

về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là con vật, các loại cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người (…) Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước

lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay khi tác giả xây dựng nhân

vật có những nét rất gần với nguyên mẫu có thật” [58, tr.1254 - 1255]

Về trần thuật, Từ điển văn học (Bộ mới) xác định: “Khái niệm chỉ một bộ

phận ngôn bản quan trọng trong tác phẩm tự sự, là thành phần lời của tác giả, của người trần thuật (được đưa vào tác phẩm ít nhiều như một nhân vật), hoặc của một người kể chuyện; tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ các lời nói trực tiếp của các nhân vật” [58, tr.1806] Theo tài liệu này thì kết cấu của trần thuật “được hình thành bằng việc khai triển, bằng những tương tác và phối hợp các “điểm nhìn” Các nhân tố như: thể loại, thể tài tác phẩm; khuynh hướng

và trường phái văn học mà tác giả can dự; lập trường xã hội, tư tưởng, dân tộc của tác giả - đều ảnh hưởng đến tính chất của trần thuật” [58, tr.1806] “Trần thuật bao gồm việc kể và miêu tả các hành động và các biến cố trong thời gian;

mô tả chân dung, hoàn cảnh hành động, tả ngoại cảnh, tả nội thất, v.v…; bàn luận; lời nói bán trực tiếp của các nhân vật Do vậy trần thuật là phương thức chủ yếu để cấu tạo tác phẩm tự sự” [58, tr.1806]

Trang 12

Cốt truyện là một yếu tố cấu trúc cơ sở của những sáng tác thuộc loại hình

tự sự Theo Từ điển văn học (Bộ mới), cốt truyện là: “Thuật ngữ chỉ sự phát triển

của hành động, của tiến trình các sự việc, các biến cố trong tác phẩm tự sự… Chính hệ thống biến cố (tức cốt truyện) đã tạo ra sự vận động của nội dung cuộc sống được miêu tả trong tác phẩm Tính truyện (có cốt truyện) là một phẩm chất

có giá trị quan trọng của văn học… trong các thể loại văn học, các cốt truyện là thành phần quan trọng thiết yếu của tự sự và kịch” [58, tr.324]

Trong sách Lý luận văn học, các tác giả cho rằng cốt truyện: “Phải được

tổ chức một cách chặt chẽ, tránh tình trạng phân tán, rời rạc, thừa hoặc thiếu, sao cho sự kiện trước là nguyên nhân của sự kiện sau, sự kiện này phát triển thông

qua sự kiện khác, đúng như Aristote đã viết trong Nghệ thuật thơ ca: “Cốt

truyện phải là sự miêu tả một hành động hoàn chỉnh và các sự kiện cần phải sắp xếp như thế nào để khi thay đổi hay bỏ đi một sự kiện thì cái chỉnh thể cũng biến động theo Cái gì mà có hoặc thiếu nó cũng được thì cái đó không phải là bộ phận hữu cơ của một chỉnh thể thống nhất” [45, tr.139 - 140]

Bàn về kết cấu, Từ điển văn học (Bộ mới) khẳng định: “Lối kết cấu bằng

trình tự liên tiếp trước sau của các sự kiện, ở những tác phẩm có giá trị nghệ thuật thực sự, khiến cho người đọc luôn thấy sự mới mẻ qua từng tình tiết, và đoạn cuối thường là yếu tố cột trụ của cốt truyện Có khi nhà văn gài bẫy độc giả, dùng lối kết cấu che dấu, để đến lúc nào đó cho người đọc nhận ra điều trái ngược hoặc điều bí mật… Một cách kết cấu quan trọng là đảo lộn trật tự thời gian của các sự kiện, nhằm chuyển chú ý của người đọc từ sự việc sang nội tình bên trong nhân vật” [58, tr.326] Như vậy, một trong những đặc điểm của cốt truyện là tính hoàn chỉnh, trong tư cách là hệ thống sự kiện Còn kết cấu của cốt truyện được nhận diện qua việc sắp xếp theo trình tự các sự kiện được diễn ra Các sự kiện đó không bắt buộc phải sắp xếp giống ngoài đời sống mà nó có thể đảo lộn

Khi nói tới tác phẩm văn xuôi tự sự, người ta thường nhắc tới điểm nhìn

nghệ thuật Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong bài viết Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện (trong Tự sự học do Trần Đình

Trang 13

Sử chủ biên) đã viết: “Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện về cơ bản cũng được suy ý từ văn bản và hành động kể chuyện, nhưng văn bản là hệ thống rất phức tạp gồm nhiều hành động kể (phát ngôn) cùng thể hiện ở nhiều thủ pháp khác

nhau Tuy vậy, đó là mối quan hệ giữa người viết - văn bản - người nhận ở hai

bậc hiển ngôn và hàm ẩn” [130, tr.95 - 96] Trong bài viết này, Nguyễn Thái Hòa cũng nhận định xuất phát của một cấu trúc nghệ thuật chính là điểm nhìn nghệ thuật Điểm nhìn còn được xác định bởi ba tham tố “tiêu điểm”, “khoảng cách”, “phương vị” khi xét đoạn văn, chương, hồi, diễn ngôn, màn cảnh (những cấp độ thấp hơn so với văn bản)

1.1.2 Nghiên cứu lý thuyết của các tác giả nước ngoài về văn xuôi tự sự

Để có được chỗ dựa lý luận khi tìm hiểu đóng góp của mảng văn xuôi

tự sự Lưu Trọng Lư thời kì trước năm 1945, chúng tôi đã khảo sát những nghiên cứu lý thuyết về văn xuôi tự sự của các tác giả nước ngoài Đây là một lĩnh vực nghiên cứu rất rộng, hàm chứa nhiều vấn đề phong phú, đã đạt được những thành tựu lớn Nhắc đến văn xuôi, người ta thường nghĩ đó là một hình thức đối lập với thơ, có tổ chức ngôn ngữ như lời nói thường, không bị chi phối bởi “nguyên lý tương đương” hay nhịp điệu, vần điệu Nhờ vậy, văn xuôi có thể khai thác tối đa khả năng mô tả thế giới của ngôn từ, giúp cho người đọc hình dung cụ thể các sự vật, tình huống; gây cảm tưởng như chúng đang hiển hiện trước mắt người đọc Đây là thế mạnh của văn xuôi mà thơ khó lòng sánh được

Khi minh định khái niệm văn xuôi và các thể loại văn xuôi, G.N Pospelov

trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học (tập II) đã nhận định: “Ngoài việc

phân chia văn học ra loại (tự sự, trữ tình và kịch) còn có sự phân chia văn học

ra thơ và văn xuôi Trong ngôn ngữ thông thường tác phẩm trữ tình thường bị đồng nhất với thơ ca, còn tác phẩm tự sự thì đồng nhất với văn xuôi Cách dùng từ như vậy là không chính xác Mỗi loại văn học đều bao hàm vừa các tác phẩm thơ (văn vần) vừa văn xuôi (không vần) Tự sự trong các giai đoạn phát triển đầu tiên của ngôn từ nghệ thuật thường là có vần (sử thi cổ đại, các bài ca chiến công của Pháp, các bưlin và sử ca của Nga…) Các tác phẩm tự sự được

Trang 14

viết bằng thơ cũng thường gặp trong văn học cận đại (Don-juan của Byron, Evgheni Oneghin của Pushkin, Ai được sống sung sướng ở nước Nga của

Nekrasov) Trong loại văn học kịch người ta cũng sử dụng cả thơ và văn xuôi,

có khi cả hai cùng kết hợp trong một tác phẩm (nhiều vở kịch của Shakespeare,

Boris Godunov của Pushkin) Và cả loại trữ tình, chủ yếu là viết bằng thơ,

nhưng cũng có khi là bằng văn xuôi Chẳng hạn là chuỗi các bài tả cảnh cuối đời của Turghenev mà người ta gọi một cách không chính xác là “thơ bằng văn xuôi” [122, tr.12]

G.N Pospelov cũng chỉ ra những thuộc tính chung của hình thức tác phẩm tự sự Trước tiên là nhân vật và hệ thống nhân vật Nhà nghiên cứu đã dẫn lời của B Brecht để khẳng định vai trò của nhân vật: “Các nhân vật của tác phẩm nghệ thuật không phải đơn giản là những bản dập của những con người sống, mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả Đó là phương tiện tất yếu quan trọng nhất để thể hiện tư tưởng trong các tác phẩm tự sự và kịch - nó là phương diện có tính thứ nhất trong hình thức của tác phẩm ấy, quyết định phần lớn vừa cốt truyện vừa lựa chọn chi tiết vừa phương tiện ngôn ngữ và thậm chí cả kết cấu nữa” [122, tr.18]

Bên cạnh đó, Pospelov còn bàn về đặc điểm của tác phẩm tự sự Các phương tiện cơ bản của miêu tả tự sự ngoài trần thuật còn có miêu tả, chúng đóng vai trò quyết định trong loại văn học tự sự Khi nói tới đối thoại và độc thoại, chân dung và phong cảnh… là nói tới đặc điểm về tạo hình khách thể trong tác phẩm tự sự Bởi vì: “Loại tự sự có nhiều khả năng để tái hiện các sự vật xung quanh con người, miêu tả diện mạo bề ngoài, hành vi và thế giới bên trong của nó” [122, tr.69]

Ngoài ra, tự sự còn được ông nghiên cứu dựa trên sự phân loại hình thức thể tài: “Những điểm khác nhau về dung lượng tác phẩm rất quan trọng Song song với các hình thức văn xuôi ngắn (truyện ngắn) và trung bình (truyện vừa) còn có hình thức tự sự với quy mô lớn vẫn thường được gọi là tiểu thuyết Tên gọi này không chính xác, bởi vì tiểu thuyết chứa đựng trong nó một nội dung đặc biệt gắn liền với chủ đề “đời tư”, trong khi đó hình thức tự sự với quy mô

Trang 15

lớn có thể mang cả nội dung lịch sử dân tộc (Taras Bulba của Gogol) lẫn thế sự (Lịch sử của một thành phố của Saltykov Shedrin)” [122, tr.262 - 263]

Ngoài G.N Pospelov, các nhà nghiên cứu khác như nhà lý luận văn học người Mỹ J Culler đã nhấn mạnh về vị trí của tự sự: “Lý luận văn học và văn hóa ngày càng nhận rõ tự sự chiếm vị trí trung tâm trong đời sống văn hóa Lý luận này cho rằng, bất kể ta xem đời sống là một chuỗi sự kiện liên tục dẫn đến một mục tiêu nào đó, hay là kể bất cứ cái gì đang diễn ra trên thế giới, thì câu chuyện đều là phương thức chủ yếu để chúng ta hiểu được sự vật” [131, tr.9]

Trong công trình Tự sự học - lý thuyết và ứng dụng, nhà nghiên cứu Trần

Đình Sử đã dẫn nhận định của F Lyotard về khái niệm tự sự: “Triết gia Pháp

F Lyotard cho rằng con người có hai loại kiến thức: kiến thức khoa học và kiến thức tự sự Tự sự là một phương thức đúc kết kinh nghiệm Nó thường hướng tới một kết cục nhất định, có tác dụng định hướng giá trị cho cuộc đời

Tự sự là một hình thức mang ý nghĩa văn hóa Mỗi thời thịnh hành một số kiểu truyện, những kiểu nhân quả khác nhau Tự sự là một hoạt động giao tiếp Khi truyện kể được tiếp nhận, người đọc (nghe) nhận được thông tin là một sự kiện giao tiếp Thông tin tự sự có thể làm thay đổi nhận thức, niềm tin, thái độ, tình cảm của người tiếp nhận Trong trường hợp sáng tạo hư cấu, tự sự có ý nghĩa thẩm mỹ, có khả năng đem đến sự hứng thú, niềm vui, sự thăng hoa, thanh lọc cho tâm hồn” [131, tr.69 - 70]

Cũng ở cuốn sách này, Trần Đình Sử đã trích dẫn nhận định của Tz Todorov, S Chatman và G Prince về cấu trúc của tác phẩm tự sự: “Tz Todorov

đề xuất cấu trúc hai phần: diễn ngôn (discours) và câu chuyện (histoire) trên cơ

sở cái biểu đạt và cái được biểu đạt S Chatman cũng chủ trương cấu trúc hai

thành phần discourse và story trên cơ sở phân biệt nội dung và hình thức G Prince cũng chia tự sự thành trần thuật và được trần thuật, hàm ý cái thứ nhất là

diễn ngôn kể, còn cái thứ hai là sự kiện, nhân vật được kể” [131, tr.73]

Các tác phẩm văn xuôi tự sự là đối tượng chính của một ngành nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn hiện nay là tự sự học Tự sự học (Narratology) là thuật ngữ do nhà nghiên cứu người Pháp gốc Bungari Tz Todorov đề xuất năm 1969

Trang 16

trong sách Ngữ pháp Câu chuyện mười ngày Thuật ngữ này làm cho việc

nghiên cứu tự sự có tên gọi xác định, dẫn tới hình thành một khoa nghiên cứu độc lập, dần thay thế cho lý luận về tiểu thuyết đã trở thành chiếc áo quá chật Roland Bathes có nói đại ý: tự sự xuất hiện cùng bản thân lịch sử loài người Thế nhưng nghiên cứu tự sự chỉ thực sự trở thành một khoa độc lập dưới ảnh hưởng trực tiếp của trường phái Cấu trúc luận Pháp trong khoảng thập niên 60 của thế kỉ trước Năm 1966, tạp chí “Giao tế” xuất bản tại Paris đã dành hẳn kì

số 8 cho chuyên san Nghiên cứu kí hiệu học - Phân tích cấu trúc tác phẩm tự

sự giới thiệu tập trung lí luận căn bản của tự sự học Và phải đến năm 1969,

Tezvetan Todorov, một trong những đại biểu lớn của Cấu trúc luận Pháp mới

chính thức khai sinh danh xưng Tự sự học Tự sự học có thể phân chia ra tự sự học kinh điển (những năm 60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỉ

trước) với vai trò tiên phong là các học giả Pháp Giai đoạn hậu kinh điển diễn

ra từ những năm 90 thế kỷ XX trở về sau, với nhiều bổ sung về mặt lý thuyết của các học giả Anh, Mỹ, Pháp Về cách dịch thuật ngữ, một số người, trong đó

có Lại Nguyên Ân đề nghị nên dịch Narratology là trần thuật học

Tiếp thu các ý kiến trên, chúng tôi dùng khái niệm văn xuôi tự sự để nghiên cứu mảng văn xuôi quan trọng nhất của Lưu Trọng Lư, với cách hiểu là

mảng văn xuôi thuộc loại hình tự sự, hướng tới việc kể chuyện, trần thuật con người, sự kiện, không gian, thời gian một cách khách quan, gắn liền với lời

trần thuật của tác giả Thực ra, cho đến nay, văn xuôi tự sự không hề là khái

niệm xa lạ trong nghiên cứu, lý luận - phê bình ở Việt Nam Khi nghiên cứu, tổng hợp tư liệu về văn học Việt Nam trung đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng

Na đã dùng khái niệm này trong tên sách Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Gần hơn, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân khi giới thiệu bộ sưu tập truyện

ngắn, tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư đã viết một bài giới thiệu công phu có nhan

đề Văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư…

1.1.3 Nghiên cứu lý thuyết của các tác giả trong nước về văn xuôi tự sự

Trong Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm đã nhận định về sự ra

đời của văn xuôi cùng quá trình phát triển của nó: “Đến khi nền quốc văn mới thành lập, văn xuôi bắt đầu xuất hiện và ngày một phát đạt mà thành ra thể văn

Trang 17

chính trong nền Việt văn ngày nay” [49, tr.436] Nhà nghiên cứu cũng nhận định văn xuôi biến hóa theo ba khuynh hướng: “Văn xuôi chịu ảnh hưởng của Hán văn” nên các nhà viết quốc văn thường “chú trọng về âm điệu”; diễn đạt ý thường theo “phép tổng hợp”; lời văn theo lối “biền ngẫu”, “kiểu cách”, “cầu kì” Còn

“Văn xuôi chịu ảnh hưởng của Pháp văn” thì câu dùng thường “ngắn”; có sự phân biệt, liên lạc các ý trong câu; ứng dụng phép “đặt câu đặc biệt của Pháp văn” Và

“văn xuôi hợp với tinh thần Việt văn và có tính cách tự lập”; ở khuynh hướng này, lời văn “trọng sự bình giản, sáng sủa”, câu văn tùy theo “tình ý trong văn mà thay đổi” dài ngắn hay đối và không đối, chữ dùng “tham bác”

Đối với một số nhà nghiên cứu trong nước, văn xuôi tự sự được xem là

một trong hai hình thức (kiểu) của văn học bên cạnh thơ Các tác giả trong Từ điển văn học (Bộ mới) có nhận định rằng: “Văn học ở thời kì nào cũng đa dạng

Có thể phân chia văn học theo hai kiểu (hình thức) chính là thơ và văn xuôi, đồng thời cũng có thể chia theo ba loại: tự sự, trữ tình và kịch Mặc dù không có ranh giới tuyệt đối giữa các loại và có nhiều dạng chuyển tiếp, những đặc điểm căn bản của mỗi loại là khá xác định Mỗi loại bao gồm những thể loại hoặc thể tài nhất định (ví dụ loại hình tự sự bao gồm các thể loại: sử thi, truyện, tiểu thuyết, v.v…) Mỗi thời đại hoặc thời kì văn học đều nảy nở những hình thức thể loại đa dạng” [58, tr.1944]

Bàn về văn xuôi, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, nhà

nghiên cứu Phạm Thế Ngũ khi phân biệt hai thứ văn của Phạm Quỳnh (văn nghệ thuật và văn luận thuyết) đã nhấn mạnh chức năng của văn xuôi (văn luận thuyết) trong giai đoạn học tập phương Tây: “Văn luận thuyết, văn xuôi dùng để diễn giải những lý thuyết về triết lý, khoa học Về văn nghệ thuật, theo ông,

nước ta đã có và có với một trình độ rất cao nữa Thơ Thanh Quan, Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, đều là những gì biện minh cho sự cao đạt tuyệt vời của nghệ

thuật Nước Nam đã không thiếu những thi ông mặc khách đem cây bút tỉ mỉ tạo

ra những áng văn chương gấm vóc Cái thiếu cho nước Nam ngày nay, cái tối cần bây giờ là học thuật mới của Tây phương Để diễn giải và thâu thái được cái học thuật ấy cần phải tạo ra một cái văn luận thuyết vững vàng” [104, tr.171]

Trang 18

Để đi tìm khái niệm văn xuôi, một số nhà nghiên cứu thường đem so sánh

văn xuôi với thơ Chẳng hạn, Vương Trí Nhàn trong tiểu luận Nhà văn tiền chiến và quá trình hiện đại hóa văn học đã viết: “Đọc các từ điển chuyên về văn

học, người ta nhận thấy các khái niệm văn xuôi và thơ thường được viết trong thế đối lập nhau Một bên thiên về đời thường (trong nhiều ngôn ngữ phương Tây, chữ prose, proza tức văn xuôi, khi chuyển thành hình dung từ, thì có nghĩa tầm thường), một bên thiên về cái cao thượng, cái siêu việt Một bên bảo tôi thấy

gì viết nấy; bên kia bảo không, hành động viết của tôi là một hành động sáng tạo

với nghĩa đầy đủ của nó […] Mỗi tác phẩm văn xuôi được viết - dù tiểu thuyết,

hay phóng sự ký sự dài cũng vậy - đều là một câu chuyện Nghe câu chuyện ấy người ta hình dung ra một khung cảnh ở đó, có những con người hoạt động Kể chuyện tức là tác giả tạo ra một thế giới thu nhỏ Tiếng nói của tác giả giống như một luồng ánh sáng soi đến đâu thì người đọc lần theo đến đấy Cái ông tác giả đóng vai thượng đế ấy bao giờ cũng đứng cách xa bạn đọc một khoảng cách, cái

gì ông cũng biết sẵn Song chỉ dần dà ông mới khéo léo gỡ mối và khiến cho mọi chuyện rắc rối do ông bố trí trở nên mạch lạc” [106, tr.226 - 227]

Tác giả Nguyễn Đăng Na trong bài nghiên cứu Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại: những bước đi lịch sử đã khẳng định: “Văn xuôi tự sự là một bộ

phận hữu cơ cấu thành nền văn học của một dân tộc, mà còn là ánh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ thuật của nền văn học đã sản sinh ra chúng” [103, tr.32]

Văn xuôi tự sự có từ thời trung đại, cũng trong bài viết nêu trên, Nguyễn Đăng Na đã khái quát tiến trình của văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại diễn ra qua ba bước: Thế kỷ X - XIV, thế kỷ XV - XVI, thế kỷ XVIII - XIX Ở bước thứ nhất: “Thế kỷ lấy văn học dân gian và văn học chức năng làm cơ sở”, tác giả chỉ ra đặc điểm của thời kỳ này là: “Văn xuôi tự sự chưa tách khỏi văn học dân

gian và văn xuôi chức năng Tác phẩm gồm hai loại chính: một là truyện dân gian (gồm sưu tầm, ghi chép, chỉnh lý); hai là truyện lịch sử và truyện tôn giáo”

[103, tr.32] Từ đó tác giả khẳng định: “Văn xuôi tự sự thế kỷ X - XIV có vị trí cực kỳ quan trọng, bởi nó làm nhiệm vụ đặt nền móng cho toàn bộ văn xuôi tự

sự trung đại cũng như truyện văn xuôi cận hiện đại về nội dung cùng phương

Trang 19

thức tư duy nghệ thuật” [103, tr.32] Ở bước thứ hai: thời kỳ đột khởi của văn

xuôi tự sự: “Đặc điểm của giai đoạn này là, tự sự văn xuôi đã thoát khỏi mối ràng buộc của văn học dân gian và văn học chức năng, tự sáng tạo ra truyện mới vừa mang đậm sắc thái dân tộc, vừa phản ánh được hiện thực đương thời” [103, tr.33] Từ đó, tác giả khẳng định đây là thời kỳ: “Văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” [103, tr.35] Đồng thời nhà nghiên cứu cũng đã cho rằng ở thời kì này: “Dòng văn xuôi tự sự Nôm cũng đã ra đời Thành tựu chủ yếu của nó là dịch các truyện Việt Nam Sang bước thứ ba: thế kỷ của ký và tiểu thuyết chương hồi: “Giai đoạn này đã hoàn chỉnh cả ba hình thức tự sự trung đại: truyện ngắn, ký, tiểu thuyết chương hồi” [103, tr.35] Tác giả cũng khẳng định: “Khi “Tây học” thắng thế, văn xuôi tự sự trung đại kết thúc nhiệm

vụ lịch sử của mình Với mười thế kỷ lao động sáng tạo, các tác gia văn xuôi tự

sự đã để lại một kho tàng kinh nghiệm nghệ thuật quý báu, tạo cơ sở cho tự sự văn xuôi hiện đại làm đà phát triển” [103, tr.38]

Trong bài viết Thiền uyển tập anh - tác phẩm mở đầu loại hình văn xuôi

tự sự Việt Nam thời trung đại (in trong Tự sự học (Một số vấn đề lý luận và lịch sử) do Trần Đình Sử chủ biên), tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã nhận định: “Việc

đặt bộ sách như một tác phẩm văn xuôi tự sự sẽ bao quát được tất cả các nội dung văn - sử - triết, giải thích được đầy đủ tính chất hỗn dung thể loại, sự đan xen lời đối thoại, văn xuôi và thơ ca trong cùng một cấu trúc văn bản tự sự, việc ghi chép tiểu sử cuộc đời thiền sư với khả năng tích hợp các yếu tố folklore…

Như vậy, hoàn toàn có thể xác định Thiền uyển tập anh là một trong những tác

phẩm khởi đầu và có ý nghĩa điển hình cho loại hình văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại” [130, tr.253 - 254]

Nếu thời trung đại, văn xuôi tự sự được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, với ba hình thức tự sự chủ yếu: truyện, tiểu thuyết (chương hồi) và ký thì sang thời hiện đại nó lại mang một diện mạo, hình thức khác trước, đó là sự ra đời các hình thức thể loại hiện đại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, phóng sự

Khi bàn về văn xuôi tự sự hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng trong

bài viết Các nhà văn Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nói về văn tự sự (Tự sự học -

Trang 20

Trần Đình Sử chủ biên) đã dẫn ra những nhận định về văn tự sự của Phan Kế Bính, Nguyễn Bá Học, Hoàng Tích Chu, Phạm Quỳnh, Vũ Đình Long, Trúc

Hà, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều, Trương Tửu, Hải Triều, Như Phong, Vũ Ngọc Phan, Thạch Lam, Vũ Bằng Cuối cùng, Nguyễn Nghĩa Trọng kết luận: “Các nhà văn thống nhất xem văn tự sự là văn kể chuyện, trần thuật sự việc, mô tả hành động, bao gồm cả tả cảnh, tả tình, tả ngoại hình, nội tâm… Văn tự sự có đầy đủ trong tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, tùy bút, ký sự, phóng sự, truyện ký… Nó tổng hợp các loại văn xuôi, đa dạng, phong phú Tuy nhiên có trường hợp tự sự là văn vần Văn tự sự ngày càng phát triển và có triển vọng to lớn nhưng luôn đổi mới tùy hoàn cảnh lịch sử xã hội và tài năng của các nhà

văn” [130, tr.315 - 316]

Về phương thức tự sự, trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức cho

rằng tự sự ghi chép lại “Quan hệ giữa con người với cuộc sống khách quan, và không tập trung ở sự khai thác tâm trạng chủ quan của người viết mà hướng về thế giới khách quan Nhận thức thế giới khách quan một cách chân thực, phát hiện vào chiều sâu của thực tại, ghi chép được những mặt phong phú của đời sống để góp phần cải tạo cuộc sống là yêu cầu chân chính của phương thức tự sự” [45, tr.160]

Tất cả những nghiên cứu lý thuyết được điểm qua ở trên giúp chúng tôi có chỗ dựa về lý luận để triển khai đánh giá văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư theo những phương diện phù hợp với đặc trưng loại hình của nó, từ đó, có thể chỉ ra một cách thuyết phục những đóng góp của của mảng sáng tác này cho văn xuôi

tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 nói riêng và văn xuôi tự sự Việt Nam hiện

đại nói chung

1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nói chung, văn xuôi tự sự Việt Nam nói riêng

1.2.1 Những nghiên cứu công bố trước 1945

Trong phần viết này, điều chúng tôi quan tâm là những gợi mở từ những nghiên cứu về vấn đề nói trên đối với việc tìm hiểu những đặc điểm của văn

Trang 21

xuôi tự sự Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (trong đó có văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư) - những đặc điểm được hình thành trong sự cọ xát văn hóa và trong những nỗ lực hiện đại hóa văn học của những nhà văn thức thời, được đào tạo từ

“trường Tây”, trong khi đón ngọn gió văn minh từ phương xa thổi tới vẫn không thôi thao thức với bẳn sắc và tiền đồ của nền văn hóa, văn học Việt Nam

Trước khi tiếp xúc với văn hóa, văn học phương Tây, văn học Việt Nam

đã có truyền thống tự sự bằng văn xuôi với những thành tựu đáng tự hào Điều

này có thể được kiểm chứng qua những bộ sưu tập dày dặn như Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại gồm 3 tập do nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na tuyển

soạn và giới thiệu (Nxb Giáo dục 1997 - 2000) mà ở trên chúng tôi đã nhắc tới Đến cuối thế kỷ XIX, văn xuôi tự sự Việt Nam đã có một khuôn mặt khác: truyện ngắn khác truyện truyền kỳ xưa, tiểu thuyết không còn là tiểu thuyết chương hồi nữa và ký thì có nhiều tiểu loại phong phú hơn, với việc đề cao nguyên tắc ghi chép trung thành những sinh hoạt thường ngày… Đây chính là lý

do thúc đẩy các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ảnh hưởng của văn học phương Tây, văn học Pháp đến văn học Việt Nam cũng như sự tiếp nhận chủ động những ảnh hưởng đó của các nhà văn Việt Nam đang khát khao đổi mới và hiện đại hóa sáng tác

Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, văn học Việt Nam cuối thể kỷ XIX đã có một cuộc tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa, văn học phương Tây qua văn hóa, văn học Pháp Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu như Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Hoài Thanh - Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan, Kiều Thanh Quế… xác nhận, khẳng định

Có thể nêu ý kiến tiêu biểu sau đây của Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu khi nhận định về số người Nam ảnh hưởng văn hóa văn học

phương Tây (đặc biệt là nước Pháp) ngày càng nhiều: “Sau khi người Pháp cai trị nước ta, Pháp học một ngày một phát đạt, số người Nam học chữ Pháp càng ngày càng nhiều, trước còn ở bậc tiểu học, trung học, sau lên đến bậc đại học, nhờ đó mà các bậc học thức trong nước được tiếp xúc thẳng với nền văn học của

Âu Tây, thứ nhất là của nước Pháp và chịu ảnh hưởng sâu xa của nền văn hóa

Trang 22

ấy” [49, tr.418]1 Nhà nghiên cứu còn khẳng định cuộc tiếp xúc với phương Tây

đã khiến cho luân lý, xã hội Việt Nam có sự thay đổi, chẳng hạn: con người bấy giờ thường hay nhắc đến chủ nghĩa cá nhân, những quan niệm về công dân, nghề nghiệp, danh dự… Dương Quảng Hàm đã phân tích khá kỹ lưỡng sự thay đổi nhiều mặt của văn học nước Nam khi tiếp xúc với nền văn học phương Tây (cụ thể là văn học Pháp) Về đường học thuật: “Các nhà trí thức biết để ý đến học thuật của các nước trên hoàn cầu, đến việc nước ta và việc thiên hạ; biết giá trị của phương pháp khoa học, của sự tìm tòi, sự phát minh và biết trọng những đặc sắc” [49, tr.419] Còn ngôn ngữ và văn tự, Dương Quảng Hàm nhận định nó

đã có nhiều đổi mới: “Nhờ ảnh hưởng của Pháp văn, nhiều nhà viết quốc văn ta gần đây đã biết trọng sự bình giảng sáng sủa, gãy gọn Có nhiều cú pháp mới phỏng theo cú pháp văn Tây mà đặt ra Đồng thời có nhiều danh từ gốc ở chữ Pháp đã theo cách phiên âm mà sáp nhập tiếng ta và có nhiều thành ngữ của Pháp đã do các nhà viết văn đem dịch ra tiếng ta” [49, tr.419] Khi nói tới

“đường văn chương”, nhà nghiên cứu đem so sánh văn chương của “các cụ” xưa kia với các nhà học thức quốc văn Các cụ thường viết văn bằng chữ Nho nhưng

“nhãng bỏ quốc văn”, họ thường “chuộng từ chương mà không vụ thực sự”, chú trọng đến “hạng người cao quý” mà không quan tâm tới lớp “thường dân” Còn nay: “Các nhà học thức đã biết trọng quốc văn, biết quan sát và mô tả các cảnh vật xác thực, biết để ý đến cuộc sinh hoạt của người bình dân” [49, tr.419]

Hoài Thanh và Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam khẳng định về ảnh

hưởng phương Tây trên mọi phương diện của đời sống: “Chúng ta ở nhà tây, đội

mũ tây, đi giày tây, mặc áo tây Chúng ta dùng đèn điện, đồng hồ, ô tô, xe lửa,

xe đạp… còn gì nữa! Nói làm sao cho xiết mọi sự thay đổi về vật chất, phương Tây đã đưa tới giữa chúng ta! Cho đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, cuộc sống cũng không còn giữ nguyên hình như ngày trước Nào dầu Tây, diêm Tây, nào vải Tây, chỉ Tây, kim Tây, đinh Tây Đừng tưởng tôi ngụy biện Một cái đinh cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương Tây về nhân sinh, về

1

Khi trích dẫn ý kiến của Dương Quảng Hàm, chúng tôi bỏ gạch nối giữa các từ ghép mà tác giả đã sử dụng một cách nhất quán, để phù hợp với quy cách chính tả hiện nay

Trang 23

vũ trụ, và có ngày ta sẽ thấy thay đổi cả quan niệm của phương Đông Những đồ dùng kiểu mới ấy chính đã dẫn đường cho tư tưởng mới” [133, tr.16]

Cũng như Dương Quảng Hàm, Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhìn rõ sự thay đổi cả ở trong văn học, trong tư tưởng, hành động để hướng tới một nền quốc văn mới: “Họ bắt đầu viết quốc ngữ, một thứ chữ mượn của người phương Tây Câu văn của họ cũng bắt đầu có cái rõ ràng, cái sáng sủa của văn tây

Những tư tưởng phương Tây đầy rẫy trên Đông Dương tạp chí, trên Nam phong tạp chí và từ hai cơ quan ấy thấm dần vào các hạng người có học Người ta đua

nhau cho con em đến trường Pháp Việt, người ta gửi con em sang tận bên Pháp Thế rồi có những người Việt Nam đậu kỹ sư, đậu bác sỹ, đậu thạc sỹ, có những người Việt Nam nghiên cứu khoa học, triết học; và có những người Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền học riêng cho nước Việt Nam […] Những hình thức mới của cuộc đời, những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí Âu hóa” [133, tr.16 - 17]

Cả Dương Quảng Hàm lẫn Hoài Thanh - Hoài Chân đều nhận định sự tiếp xúc với phương Tây tỏa khắp đời sống của dân tộc Việc tiếp xúc cụ thể với văn học Pháp là con đường đầu tiên để cho lớp trí thức Tây học đến với nền văn minh phương Tây Từ đó, nước nhà đã có phong trào quốc văn mới dựa trên sự thay đổi về tư tưởng, ngôn ngữ, văn chương

Về Lưu Trọng Lư, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân cho

rằng Lưu Trọng Lư “xếp riêng vào một dòng những nhà thơ tuy có chịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng của thơ Đường Thơ của họ có tính cách Việt Nam rõ nét” Điều này có thể đúng trong thơ nhưng chưa hẳn đúng trong văn xuôi Nhưng nói rằng Lưu Trọng Lư có ảnh hưởng văn học phương Tây thì hoàn toàn chính xác khi ta đọc các sáng tác văn xuôi của ông

Những ý kiến của giới nghiên cứu trước 1945 (được lược thuật ở trên) về việc tiếp nhận ảnh hưởng của văn học phương Tây ở Việt Nam đã chứa đựng nhiều gợi ý quý báu, giúp chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng đó trong văn xuôi tự

sự của Lưu Trọng Lư giai đoạn 1930 - 1945 một cách thuận lợi

Trang 24

1.2.2 Những nghiên cứu công bố sau 1945

Sau Cách mạng tháng Tám, vấn đề tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa, văn học phương Tây ở nước ta vẫn được các nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm Ở miền Nam có Bùi Đức Tịnh, Phạm Thế Ngũ…; ở miền Bắc có các tác giả như Huỳnh Lý, Đỗ Đức Hiểu, Đặng Anh Đào, Đào Duy Hiệp, Đỗ Lai Thúy…

Trong Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, thiểu thuyết & Thơ mới,

tác giả Bùi Đức Tịnh đã khẳng định sự ảnh hưởng của văn học phương Tây tới văn học Việt Nam qua văn học Pháp bằng việc khảo sát nội dung một số truyện ngắn trong nền văn học Nam Bộ từ 1911 đến 1932: “Các truyện ngắn của giai đoạn đầu nền văn học Nam Bộ đã phản ánh khá rõ nét cuộc tiếp xúc giữa văn hóa dân tộc và văn hóa Pháp do nhà trường và lối sống dưới chế độ thuộc địa đưa vào Văn hóa dân tộc đang phát triển bằng cách xóa bỏ những tư tưởng xưa

cũ, những lề thói lạc hậu và tiếp nhận những đổi mới phù hợp với tinh thần dân tộc Văn hóa do chế độ thuộc địa đưa vào dựa trên chủ nghĩa cá nhân và những tiện nghi của đời sống vật chất Trong cuộc tiếp xúc giữa hai nền văn hóa, đã có

sự bảo vệ văn hóa dân tộc, tiếp nhận đổi mới để tiến bộ và sự xung đột với văn hóa ngoại lai” [143, tr.126]

Còn khi nhận định về tiểu thuyết, cũng trong cuốn sách này, Bùi Đức Tịnh cho rằng: “Khi nói tiểu thuyết, chúng ta hiểu từ này theo định nghĩa tổng quát tiếp nhận của văn học phương Tây: tác phẩm kể lại một câu chuyện tưởng tượng khá dài, trong đó người kể tạo sự thích thú cho độc giả bằng những tình tiết gay cấn của câu chuyện, bằng cách trình bày những phong tục, tính tình,

bằng sự phân tích những tâm tư và thái độ” [143, tr.157] Theo định nghĩa này,

Bùi Đức Tịnh đã khẳng định sự ảnh hưởng to lớn của tiểu thuyết phương Tây

đến tiểu thuyết Việt Nam, kể cả trong quan niệm và thực tiễn sáng tác

Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học giản ước tân biên rất chú ý bàn về

ảnh hưởng của văn học phương Tây trong thơ và văn xuôi: “Sự hiểu biết về văn học Pháp qua giai đoạn này ở người đọc cũng như người viết đã vượt lên một mức cao hẳn Những trường phái Pháp: lãng mạn, tả chân, tượng trưng, siêu thực đã lần lượt in dấu vết vào những sáng tác của ta Ở Xuân Diệu, Huy Cận

Trang 25

người ta thấy vết tích Baudelaire, Verlaine, Khái Hưng đã chịu bao nhiêu ảnh hưởng của Anatone France Người ta có thể phân tách cả một “gidisme” ở tiểu thuyết Việt Nam thời này từ Nhất Linh đến Nguyễn Tuân Nhất là ra khỏi 1940 ảnh hưởng văn chương Pháp ngày càng mở rộng Văn gia ta đã đi tìm mẫu mực qua cả các nền văn học Tây phương khác như Anh, Nga” [104, tr.419]

Điểm qua một số nhận định, chúng tôi thấy các nhà nghiên cứu đều thừa nhận ảnh hưởng của văn học phương Tây (qua trường hợp tiêu biểu là văn học Pháp) đối với văn học Việt Nam Ngoài nghiên cứu ảnh hưởng chung như chúng tôi đã nêu ở trên thì các tác giả còn nghiên cứu những trường hợp cụ thể Phạm Thế Ngũ có nhận định về văn của Phạm Duy Tốn: “Phạm Duy Tốn là nhà Tây học, chịu ảnh hưởng của văn Tây nhất là văn tả chân Pháp Ông chỉ để ý miêu tả bằng dáng điệu bằng ngôn ngữ nhân vật Những nét tả chân của ông thật ra đôi khi không khỏi bị phóng đại (làm ta nghĩ đến Nguyễn Công Hoan sau này) song vẫn đầy vẻ linh hoạt tự nhiên” [104, tr.328 - 329]

Qua nghiên cứu trường hợp Hồ Biểu Chánh, các nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung, Phạm Thế Ngũ đã khẳng định các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh

như: Ai làm được, Chúa Tầu Kim Qui, Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gió đùa… được phỏng theo cốt truyện của phương Tây: “Ai làm được mô phỏng cuốn André Corlenis của Paul Bourget, thuật truyện một cô gái (Bạch Tuyết) nuôi chí báo thù cho mẹ, bị vợ bé của cha đầu độc Chúa Tầu Kim Qui mô phỏng Le Comte de Mont-Cristo của Alexandre Dumas thuật truyện một thư sinh (Lê Thủ

Nghĩa) bị một tên cường hào hãm hại lại gặp tham quan đồng lõa nên phải tù oan, song nhờ được quen với một người khách trong tù, trối lại cho một kho vàng ở đảo Kim Qui (gần đảo Phú Quốc) nên sau thoát tù lẻn ra đào lấy vàng, mua tàu, trở thành chúa tàu, rồi thi hành tất cả một chương trình báo phục cho

đến thành công Cay đắng mùi đời mô phỏng rất sát Sans famille của Hector

Malot, thuật truyện lưu lạc của một đứa bé (thằng Được) con nhà giàu (con ông

bà hội đồng Phan Thanh Nhàn), song bị vợ bé của cha âm mưu với chú đoạt gia tài, đem vứt bỏ ngay lúc sơ sinh, một người đàn bà nhà quê (chị Ba Thời) xí được đem về nuôi cho nó lớn lên, rồi trải qua lắm điều cay đắng, nó lò mò tìm ra

Trang 26

được gốc gác cùng gia đình Ngọn cỏ gió đùa mô phỏng Les Misérables của

Victor Hugo, thuật truyện một người dân quê cùng khổ (Lê Văn Đó) về đời Gia Long, Minh Mệnh, ăn cắp một trả cháo heo mà bị cả chục năm tù, sinh ra oán ghét nhà giàu, bất mãn với xã hội, nhưng nhờ sự đối xử phi thường của hòa thượng Chánh Tâm mà giác ngộ đạo từ bi, nghĩa nghiệp chướng, nên về sau đem

cả cuộc đời ra làm hạnh phúc cho người khác - một thứ Jean Valjean Việt Nam

vậy” [104, tr.358 - 359] Lưu Trọng Lư là một tiểu thuyết gia sáng tác tác phẩm

dưới dạng mô phỏng những cốt truyện đã có Nếu Hồ Biểu Chánh phỏng tác theo tác phẩm của phương Tây thì Lưu Trọng Lư lại phỏng tác theo một số cốt truyện cổ

Thời kỳ này, ảnh hưởng của văn học phương Tây không chỉ có trong văn

xuôi mà còn có cả trong thơ Trong quyển Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và

Hoài Chân đã phân tích sự ảnh hưởng của văn học phương Tây đến các nhà Thơ mới với những mức độ đậm nhạt khác nhau: “Chung quanh ngôi sao Thế Lữ châu tuần bao nhiêu hành tinh có tên và không tên, hầu hết các thi sĩ lớn nhỏ hồi bấy giờ: Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đỗ Huy Nhiệm, Tường Bách, Lam Sơn, Việt Nữ Hoàng Hương Bình, Thụy An, Nguyễn Nhuệ Thủy, Thanh Tịnh, Thúc Tề, Phi Yến, Lư Khê… cả những vì sao vốn ở một trời khác: Vân Đài, Đông Hồ, Mộng Tuyết, cũng ghé về chầu tuần một lúc Cái vinh quang rực rỡ của Thế Lữ có lẽ đã khiến nhiều người thèm thuồng Trong những người ấy có Huy Thông và Nguyễn Vỹ Nguyễn Vỹ là người có chí cao nhưng tài mọn… cái mộng Tây hóa của trường thơ Bạch Nga (Nguyễn Vỹ và Mộng Sơn) chỉ lưu lại

có một bài “Sương rơi”

Huy Thông khá hơn, đã đôi ba lần nhập tịch được vào thơ Việt cái không khí mơ màng của những vở kịch Shakespeare và cái giọng hùng tráng của Victor

Hugo” [133, tr.34 - 35]

Lưu Trọng Lư tiếp nhận ảnh hưởng văn học phương Tây như thế nào thì chưa có phân tích cụ thể, chi tiết Nhưng cũng đã có những nhận định khái quát

về ông Sách Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ tuy chỉ

nhận xét về thơ Lưu Trọng Lư, nhưng nhận xét đó cũng có mặt đúng với văn

Trang 27

xuôi của ông: “Đối với ông, đổi mới chỉ là phá vỡ những trói buộc ấy, để tình cảm dồi dào trăm hình ngàn trạng của con người mới được tự do bộc lộ theo điệu tự nhiên, hồn nhiên Tùy tình cảm mà tìm ra điệu thơ, diễn tả thi tứ bằng

âm hưởng, bằng nhạc thơ, đó là cái đặc sắc lớn của Lưu Trọng Lư” [104, tr.583]

Trong một bài viết được tuyển vào Lưu Trọng Lư - Về tác gia tác phẩm,

Hà Minh Đức cho rằng Lưu Trọng Lư là người chịu ảnh hưởng của thơ ca truyền thống nhưng vẫn đến với thơ ca hiện đại bằng một tinh thần lãng mạn, bằng tình và mộng: “Lưu Trọng Lư vẫn có ý thức giữ lại những đường dây tiếp nối giữa truyền thống, quá khứ và hiện tại Lưu Trọng Lư là nhà thơ mới ít chịu ảnh hưởng của thơ ca phương Tây Lưu Trọng Lư vẫn đến được với thơ ca hiện đại nhưng lại theo một nẻo đường khác với Xuân Diệu, Huy Thông, Hàn Mặc

Tử Thơ Lưu Trọng Lư là một mạch từ nguồn thơ ca truyền thống, đặc biệt là giọng điệu, thể loại và ngôn từ Nội dung của thơ Lưu Trọng Lư thường gắn với hai chữ sầu và mộng” [119, tr.16] Do đó, những ai yêu thơ của Lưu Trọng Lư cũng đều nhận ra sự ảnh hưởng của thơ lãng mạn Pháp trong sáng tác của ông

Đó là ảnh hưởng ở tinh thần lãng mạn, ở trạng thái mông lung bất định, trong cái tôi cá nhân mơ màng mộng ảo… tất cả được ông nắm bắt và đưa vào trong sáng tác Chính vì điều này nên khi cuộc chiến giữa thơ cũ và thơ mới diễn ra, bên nào cũng có cớ để xếp Lưu Trọng Lư về chiến tuyến của mình Tác giả Nguyễn

Ngọc Thiện - Lữ Huy Nguyên (sưu tầm, biên soạn) trong Tao đàn 1939 - Sưu tập trọn bộ tạp chí văn học của nhà xuất bản Tân Dân (tập 1) đã viết: “Thành ra

khi họ dùng hai chữ thơ cũ, họ nghĩ đến Khuất Nguyên, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du và bao nhiêu tên rạng rỡ nữa; họ cũng có thể nghĩ đến Lưu Trọng Lư, Thái Can… kể như vậy cũng tiện! Trong các cuộc xung đột họ

sẽ đưa những tên ấy ra làm hậu thuẫn thì ai còn dám đương đầu Song bọn mới cũng chẳng vừa chi Họ nhất định cướp cho được Lưu Trọng Lư, Thái Can… và dành luôn cả Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đỗ Phủ, Lý Bạch Có gì đâu” [137, tr.48] Nhận định nêu trên là một gợi ý để chúng tôi sọi rọi vào sáng tác của Lưu Trọng Lư, đặc biệt là văn xuôi tự sự trước 1945, trong đó có sự đan xen cả hai

khuynh hướng thẩm mỹ: thẩm mỹ cổ điển và thẩm mỹ thị dân

Trang 28

Khi bàn về ngôn ngữ thơ, Phan Cự Đệ cho rằng: ngôn ngữ trong thơ Lưu Trọng Lư ảnh hưởng của ngôn ngữ thơ Pháp Đó là cách ông đi từ ngôn ngữ lãng mạn đến ngôn ngữ của thơ tượng trưng, siêu thực của thơ Pháp Do đó,

trong quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cự Đệ đã nhận định: “Họ tư

duy bằng liên tưởng, bằng ấn tượng, bằng cảm giác, âm thanh, nhịp điệu, biến cái trừu tượng thành cụ thể, cái cụ thể thành trừu tượng Để giãi bày tâm trạng,

để tìm một sự thông cảm trong nỗi buồn, cô đơn, niềm ân ái, họ cần một ngôn ngữ gợi cảm, trong sáng, giàu hình ảnh, nhạc điệu lôi cuốn, say mê Trước hết, những điều đó chúng ta thấy rất rõ trong ngôn ngữ thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương… Trong sáng tác của Lưu Trọng Lư chẳng hạn, tứ thơ đơn giản, nhưng lại gợi lên những bản nhạc êm ái, nhẹ nhàng” [41, tr.515]

Trong quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Phan Cự Đệ (chủ biên), các tác giả đã kết hợp trích dẫn cuốn sách Văn chương và hành động (Lưu Trọng

Lư viết chung với Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều) để khẳng định vai trò của cá nhân đối với văn học, và khẳng định điều này được khơi nguồn từ văn học phương Tây: “Một dân tộc khinh miệt cá nhân, không biết đến cá nhân, không

thể có được một nền văn chương phong phú (Văn chương và hành động) Cần

phải nhấn mạnh đây là tư tưởng có tính thời đại đã xuất hiện ở Đức, Pháp, Nga, Anh, Trung Quốc và nhiều nước khác, đánh dấu sự ý thức về đặc trưng của văn học” [41, tr.692]

Như vậy, bên cạnh xác định sự ảnh hưởng của văn học phương Tây đối với văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thì các nhà nghiên cứu còn tìm hiểu

sự ảnh hưởng này ở một số gương mặt nhà văn cụ thể Trong các gương mặt đó,

có những nhận định bước đầu về Lưu Trọng Lư, chủ yếu là thơ ông

1.3 Nghiên cứu mang tính khái quát về vị trí Lưu Trọng Lư trong bức tranh chung của văn học Việt Nam trước 1945

1.3.1 Nghiên cứu công bố trước 1945

Nhắc tới Lưu Trọng Lư trong vai trò là nhà thơ, hầu hết các bài viết đều

có chung một nhận định: ông là một trong những người khởi xướng cho phong

Trang 29

trào Thơ mới Trong Việt Nam văn học sử yếu, ở chương “Xét về mấy thi sĩ hiện

đại và các tác phẩm của những nhà ấy Âm luật, đề mục và thi hứng của những

nhà ấy”, Dương Quảng Hàm đã xếp bài thơ Mùa thu của Lưu Trọng Lư vào một

trong những bài có số chữ nhất định: “Nhưng phần nhiều bài viết theo lối câu có

số chữ nhất định Những lối câu thường dùng là những lối này: 1 Lối câu 5 chữ Thí dụ: Mùa Thu: Em không nghe mùa thu,/ Dưới trăng mờ thổn thức?/ Em không nghe rạo rực,/ Hình ảnh kẻ chinh phu,/ Trong lòng người cô phụ?/ Em không nghe rừng thu,/ Lá thu kêu xào xạc:/ Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô? Lưu Trọng Lư (trong những áng thơ hay) Văn nghệ tùng thư, Hải

dương” [50, tr.445]

Trong Thi nhân Việt Nam, các nhà phê bình Hoài Thanh - Hoài Chân xác

nhận vai trò khai phá, mở đường cho Thơ mới của Lưu Trọng Lư: “Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của Ô Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Quy Nhơn hồi tháng 6 - 1934 đã vạch rõ tâm lý của lớp thanh niên chúng ta Tình chúng

ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, cái khát vọng được thành thực Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn Chính Ô Lưu

Trọng Lư cũng đã viết trong quyển Người sơn nhân hồi tháng 5 năm 1933:

“Người thanh niên ngày nay đương bơ vơ đi tìm người thi nhân của mình như người con đi tìm mẹ” [133, tr.17 - 18]

“Tháng 6 năm 1934: Ông Lưu Trọng Lư đã diễn thuyết tại nhà học hội Quy Nhơn […] Trên báo chương cũng luôn luôn có những bài bênh vực, khích

lệ thơ mới Ô Lưu Trọng Lư gửi hai bức thư lên Khê Thượng nói chuyện với Tản Đà […] Những thi sĩ có danh đã ra đời: Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, J.Leiba, Thái Can Trong khoảng bốn năm, đã sản xuất rất nhiều bài thơ có giá trị” [133, tr.24 - 25]

Cũng trong Thi nhân Việt Nam, ngoài đánh giá vai trò của Lưu Trọng Lư

trong việc hô hào, cổ vũ cho Thơ mới, các tác giả cũng khẳng định chính ông

là người làm thành công những bài Thơ mới đầu tiên: “Người hưởng ứng thứ nhất là Ô Lưu Trọng Lư Sau khi đăng bài của ông Phan Khôi chẳng bao lâu,

Trang 30

Phụ nữ tân văn nhận được một bức thư hoan nghênh ký cô Liên Hương

(Faifo), Một bài thơ mới “Trên đường đời” ký Lưu Trọng Lư và một bài nữa

“Vắng khách thơ” ký Thanh Tâm […] Nhận được của ông Lưu Trọng Lư gửi

cho ông Phan Khôi mấy tháng trước, họ trịnh trọng đăng lại trên Phong hóa số

Tết ra ngày 24 - 1 - 1933 cùng với ít bài thơ mới của Lưu Trọng Lư, Tân Việt,

Thế Lữ Tiếp theo đó Phong hóa luôn luôn đăng thơ mới của Tứ Ly, Thế Lữ,

Nhất Linh, Nguyễn Văn Kiện, Vũ Đình Liên, Đoàn Phú Tứ, Huy Thông Các báo chí khác cũng đua nhau đăng Thơ mới Ở Huế, Ngân sơn tùng thư ra đời ngày 15 - 9 - 1933, liền xuất bản với ít chuyện ngắn, một tập thơ mới của Lưu Trọng Lư” [133, tr.22 - 24]

Vì là người hoạt động năng nổ (sáng tác, cổ vũ, diễn thuyết) trong phong

trào Thơ mới nên khi Thơ mới đã toàn thắng, các tác giả bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca đã nhận định về Lưu Trọng Lư: “Ô Lưu Trọng Lư nở một nụ cười kiêu hãnh đăng trên Hà Nội báo (19 - 2 - 1936) một bài thơ thất ngôn sách họa kết bằng hai câu: Nắn nót miễn sao nên bốn vế/ Chẳng thơ thì cũng cóc cần thơ Cái cười khinh mạn của người chiến thắng kể không có gì đáng ưa”

[133, tr.25 - 26]

Còn khi nhận định về thơ Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh và Hoài Chân đã khái quát về hồn thơ “mơ màng” của ông trong phong trào Thơ mới: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [133, tr.34]

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đánh giá về đặc điểm thơ Lưu

Trọng Lư: “Ông say sưa với tất cả những cái đẹp của người và của tạo vật, tấm lòng ông lúc nào cũng thổn thức, trí não ông lúc nào cũng mơ màng, ông đem xáo trộn thực với mộng, mộng với thực, thổ lộ trên những lời thơ huyền ảo vô

cùng” [121, tr.101]

Nghiên cứu Lưu Trọng Lư với tư cách nhà thơ, các bài viết đều có chung nhận định ông là nhà Thơ mới có nhiều đóng góp cho phong trào Ông chẳng

Trang 31

những là một trong những người khởi xướng phong trào Thơ mới, mà còn là người sáng tác nổi bật ở giai đoạn đầu của phong trào thơ ca này Lưu Trọng Lư cũng là một nhà diễn thuyết thường say sưa đăng đàn để cổ vũ, bảo vệ quan điểm sáng tác của mình và của các nhà thơ đang hăm hở cách tân Hoài Thanh, Hoài Chân, Vũ Ngọc Phan đều cho rằng hồn thơ của Lưu Trọng Lư là “mơ màng”, “thổn thức” Nhìn lại hoạt động sáng tạo của Lưu Trọng Lư ở lĩnh vực thơ, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu đã nhận xét một cách khá toàn diện

về vai trò của thi nhân Khi nghiên cứu về mảng văn xuôi tự sự của Lưu Trọng

Lư trước Cách mạng, các nhận xét còn rất sơ sài, thể hiện sự quan tâm chưa đúng mức đến mảng sáng tác này của ông Người đưa ra nhận định đầy đủ hơn

về Lưu Trọng Lư trong vai trò nhà văn là Vũ Ngọc Phan, với Nhà văn hiện đại

Tuy nhiên, Vũ Ngọc Phan không đánh giá cao các sáng tác văn xuôi của Lưu Trọng Lư

Hầu hết những bài viết về thơ của Lưu Trọng Lư trước Cách mạng đều có chung nhận định: ông là người tiên phong của phong trào Thơ mới, là nhà thơ của tình và mộng, ông tạo ra một lối thơ của riêng mình Lê Tràng Kiều trong

bài Một nhà Thơ mới rất chú trọng về âm điệu: Lưu Trọng Lư (đăng tại Hà Nội báo, số 30, 1936) viết: “Lưu Trọng Lư đã tạo thành một lối thơ riêng, hẳn là của

mình, một lối thơ vừa nhẹ nhàng, ngây ngô vừa mơ hồ, bóng bẩy, gợi những mối cảm vừa phe phẩy vừa thâm trầm, một lối thơ mới mẻ, trong trẻo như nguồn mới chảy ra, một lối thơ mà vần điệu rất là phóng túng, biết nương tựa vào nhau

để tạo nên một khúc nhạc thánh thót làm cho người nghe vừa vui vừa buồn Được vậy là nhờ ở thi sĩ có một cái tình cảm rất “lẹ” và rất tinh tế” [119, tr.103]

1.3.2 Nghiên cứu công bố sau 1945

Việc tìm hiểu về tác giả Lưu Trọng Lư vẫn giành được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu sau 1945 ở cả hai miền Nam - Bắc

Ở miền Nam, Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên đã nhận định về Lưu Trọng Lư ở hai vai trò là nhà viết văn xuôi và nhà thơ

của phong trào Thơ mới Khi nhấn mạnh Lưu Trọng Lư là nhà viết tiểu thuyết, Phạm Thế Ngũ đã xếp phần nghiên cứu về tác giả này vào mục “Mấy tiểu thuyết

Trang 32

gia khác”, từ đó ông đã liệt kê ra một số tiểu thuyết tiêu biểu của Lưu Trọng Lư

in ở các tạp chí hoặc nhà xuất bản: “Tiểu thuyết của ông thực nhà Tân Dân in ra

khá nhiều: Con đười ươi (1937), Từ thiên đường đến địa ngục (1938), Nàng công chúa Huế (1938), Huế một buổi chiều (1939), Một người đau khổ”…

không kể còn xuất bản ở các nhà khác Sinh ở Quảng Bình, sống nhiều năm ở

Hà Nội, Sài Gòn, ông đem những kiến thức kinh lịch của ông vào tác phẩm, thuật cho ta lắm chuyện đau lòng, nhất là ở đất thần kinh mà ông biết rõ” [104,

tr.559] Tác giả của Việt Nam văn học sử giản ước tân biên cũng đồng tình với

nhận định của Vũ Ngọc Phan khi đánh giá về văn xuôi Lưu Trọng Lư viết trước

Cách mạng tháng Tám trong quyển Nhà văn hiện đại Cả hai người đều thống

nhất quan điểm là văn xuôi Lưu Trọng Lư viết “phẳng lặng”, kể chuyện như trong mộng: “Ông không có tài dựng truyện, lại kém thuật quan sát ngoại cảnh cũng như nội tâm Văn viết thì phẳng lặng có khi lôi thôi, cho nên tiểu thuyết của ông không có giá trị mấy Ai cũng phải đồng ý với Vũ Ngọc Phan là ông chỉ

có tài về thơ “Lưu Trọng Lư chỉ là một thi sĩ, còn về tiểu thuyết ông kể nhiều truyện gần như trong mộng, những truyện không có liên lạc gì với nhau làm cho độc giả khi đọc từng đoạn một cũng thấy hay hay nhưng đọc cả thì thấy chán” [104, tr.559 - 160]

Khi đánh giá về vai trò của thơ Lưu Trọng Lư, tác giả Việt Nam văn học

sử giản ước tân biên khẳng định: “Làng thơ mới cũng không thể nào quên được

một vai trò tiên phong khác, Lưu Trọng Lư, người không những đã làm những bài thơ mới đầu tiên mà còn đăng đàn diễn thuyết, nghị luận trên báo để bênh vực phong trào” [104, tr.582] Trong công trình nghiên cứu này, Phạm Thế Ngũ nhận định về đề tài và tư tưởng trong thơ Lưu Trọng Lư còn nghèo nàn bởi vì ông vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng trong thơ cũ: “Nếu chỉ căn cứ vào đề tài, vào tư tưởng, thì thơ Lưu Trọng Lư không có gì giầu có cả Có thể nói ông chỉ tiếp tục nguồn thơ lãng mạn êm đềm của Tản Đà mà ông khơi rộng ra: say, mộng, tình, buồn, sầu vơ vẩn, nhớ bâng khuâng, trước một tiếng chim kêu, một câu hát đò đưa, một nấm mồ bên đường, một cảnh rừng thu” [104, tr.583] Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng không quên khen nhạc điệu trong thơ Lưu Trọng Lư

Trang 33

qua tập Tiếng thu Ông cho rằng giọng điệu của âm thanh du dương đi vào lòng

người: “Song cái nhạc điệu cái giọng ông tìm ra để diễn tả mỗi một khía cạnh, một trường hợp, biến đổi dồi dào, gợi cảm vô tận” [104, tr.583] Cái giọng điệu khi “nỉ non, thánh thót”, khi thì “thân mật lẳng lơ”, có lúc “sang sảng cao vời” nhưng khi lại “buồn bã, ai oán não nùng, đầy vơi niềm trắc ẩn, tràn ngập lòng xót thương”

Ngoài ra, Phạm Thế Ngũ còn nhắc đến sự ảnh hưởng của Lưu Trọng Lư với một số tác giả cùng thời như Nguyễn Tuân ảnh hưởng bởi “nết giang hồ” của Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương ảnh hưởng họ Lưu ở chất giọng “véo von” Cụ thể, trong mục nghiên cứu về Nguyễn Tuân: “Ở Nguyễn Tuân trước hết người ta thấy con người phóng đãng từ Tản Đà truyền lại, từng rung nhịp với Lưu Trọng Lư […] Cái nết giang hồ của Lưu Trọng Lư chuyển sang Nguyễn Tuân trở thành một căn bệnh, hơn thế một tiền kiếp, “kiếp ngựa tù chân lại nhớ đường” [104, tr.680 - 681] Còn với Vũ Hoàng Chương thì: “Thơ Vũ Hoàng Chương nhắc ta nghĩ đến không phải Xuân Diệu, Huy Cận gần kề, mà về trước hơn nữa, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, những người đi đầu Thơ mới và còn thừa kế cái giọng véo von trơn tru của Tản Đà” [104, tr.687]

Nhắc lại Cuộc bút chiến giữa Tản Đà và Lưu Trọng Lư về Thơ mới với thơ cũ, Nguyễn Tấn Long và Phan Canh cho rằng: Lưu Trọng Lư là người mang

hai trọng trách trước lịch sử văn học, vừa là người mở đường cho Thơ mới, vừa

là người dung hòa trong cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ Khi thơ mới còn phôi thai, chính ông là người “tiên phong dẫn đầu khai phá”, lúc nó đã thu được quả ngọt, nó quay lại đả kích thơ cũ; chính Lưu Trọng Lư là người đau khổ, day dứt vì tư tưởng giữa hai thế hệ nhà thơ của dân tộc bị ngăn cách nên ông đã “trở

về vườn thơ xưa với tâm hồn lưu luyến kính yêu” Cuối cùng, ông là người gắn kết tiếng nói chung giữa hai thế hệ: “Cảm thông được lẽ ấy, Lưu Trọng Lư đã làm được hai trọng trách trước lịch sử văn học Thứ nhất, vượt khó khăn vươn mình tới, dẫn đầu thế hệ trẻ tìm một nguồn sinh lực mới cho tâm hồn; thứ hai là phá hẳn mọi thành kiến, lấy tình cảm làm môi trường, hàn gắn vết thương đã rạn nứt trong cuộc “xung đột” tư tưởng mới cũ vừa qua” [119, tr.85]

Trang 34

Ở miền Bắc, quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX (do Phan Cự Đệ chủ

biên) đã khái quát tác giả Lưu Trọng Lư ở các vai trò: nhà thơ, nhà lý luận phê bình, nhà báo, nhà viết kịch, người viết hồi kí Đầu tiên, cuốn sách đã viết về con đường Lưu Trọng Lư đi đến với văn thơ: “Sau những ngày chán nản ở Quốc học Huế, Lưu Trọng Lư đã bỏ trường đến ở nhà Phan Bội Châu Rồi ông cùng Hoài Thanh đến thăm nhà nho Võ Liêm Sơn trong một nếp nhà tranh tối om om

gần cửa Đông Ba, ngâm ngợi những vần thơ tuyệt vọng trong Cô lâu mộng Vẫn

thấy đất trời tối tăm mù mịt, Lưu Trọng Lư bỏ ra Hà Nội thì nghe tin cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thất bại Người thanh niên đó bắt đầu cảm thấy “chán nản về những sự chính trị ồn ào” Gặp một tình yêu không may mắn cộng thêm vào nữa

(Tình điên), thế là ông bỏ nhà đi tu Nhà tu hành trai trẻ ấy mang cả Đốt

(Đôxtôiépxki) vào chùa để đọc, chắc lòng đời hãy còn nặng lắm Tên cáo già Sogny nghi ông là cộng sản, bắt bỏ vào nhà lao Thế là đã nương náu cửa Thiền

mà đế quốc vẫn không để cho yên Từ đấy, Lưu Trọng Lư đi hẳn vào con đường văn thơ” [41, tr.21]

Phan Cự Đệ cũng khẳng định vai trò nhiều mặt của Lưu Trọng Lư: “Lưu Trọng Lư là kiện tướng dũng cảm, tung hoành, sử dụng nhiều loại binh khí chống thơ cũ: đăng đàn diễn thuyết, viết báo và thể hiện rõ quan niệm nhân sinh và quan

điểm nghệ thuật của mình: sầu, mộng, say, giang hồ phiêu lãng Đó là tất cả Lưu

Trọng Lư Và tất cả được tắm trong một tình yêu mơ màng” [41, tr.453]

Các tác giả của Văn học Việt Nam thế kỷ XX còn khẳng định Lưu Trọng

Lư là một người đa tài Là một trong những tác giả của Văn chương và hành động, tuy Lưu Trọng Lư ủng hộ phái nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng cũng không quên vai trò xã hội của nhà văn Ông “Ca ngợi văn chương muôn đời nhưng không phản đối văn chương tranh đấu một thời Họ ca ngợi nhà văn đuổi theo cái Đẹp thuần túy nhưng không phản đối người cầm bút làm chính

trị” [41, tr.25] Nhà nghiên cứu nhắc lại ở những năm 30 của thế kỷ XX, khi cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh” diễn

ra sôi nổi, trong quyển Văn chương và hành động, “Lưu Trọng Lư đã thống

thiết kêu lên: “Một dân tộc khinh miệt cá nhân, không biết đến cá nhân, không

Trang 35

thể có được một nền văn chương phong phú là sự tất nhiên” và khẳng định:

“Tự do và thành thực là điều kiện cốt yếu để dựng lên một nền văn chương phong phú” [41, tr.692]

Cũng trong công trình này, các tác giả cũng cho rằng trong cuộc tranh luận về thơ mới - thơ cũ, Lưu Trọng Lư là một người đấu tranh sôi nổi cho một nền thơ ca tự do, ông đòi hỏi: “Tự do phát triển thi ca, đưa thi ca đến chỗ cao xa rộng lớn” (1932) “Người thanh niên Việt Nam ngày nay chỉ ao ước có một điều

là được có một thi nhân hiểu thấu mình mà yên ủi mình, một bậc thiên tài lỗi lạc

đi vào tận tâm hồn của mình, đến những chỗ cùng sâu, mà vạch những cái kín nhiệm, u uất, rồi đưa phả vào những cái âm điệu du dương, cho mình được nhẹ nhàng, thư thả”, họ muốn từ giã những “chính trị ồn ào”, “những mộng tưởng

giả dối” (Người sơn nhân - 1933)” [41, tr.698]

Viết về Lưu Trọng Lư trong vai trò nhà báo, Phan Cự Đệ đã chỉ ra ngòi bút mang dấu ấn của chủ nghĩa hiện thực, nhưng cái cốt lõi trong ông vẫn mang

tâm hồn thi nhân: “Lưu Trọng Lư nhà báo đã dám cho đăng trên tờ Tân thiếu niên của mình bài thơ Con voi già của Huy Thông ca ngợi Phan Bội Châu và ký

sự Đời cạo giấy của Vũ Trọng Phụng ca ngợi Ký Con Đoàn Trần Nghiệp là một

vị anh hùng dân tộc, do đó báo ra số 1 thì bị thực dân cấm lưu hành, nhưng Lưu Trọng Lư thi sĩ thì vẫn đắm chìm trong mộng và tình, trong giang hồ phiêu lãng, như “con nai vàng” ngơ ngác giữa cuộc đời!” [41, tr.25]

Cuốn Lưu Trọng Lư - Về tác gia và tác phẩm của Hà Minh Đức -

Nguyễn Văn Thành (tuyển chọn và giới thiệu) đã tập hợp các bài nghiên cứu

về Lưu Trọng Lư được đăng trên các báo, tạp chí, được xuất bản (cả trước và

sau Cách mạng) vào ba phần: Lưu Trọng Lư - Thơ và đời, Tác phẩm và dư luận, Hồi ức và kỷ niệm Đây là cuốn sách tập hợp khá công phu, toàn diện

các công trình nghiên cứu về sáng tác của Lưu Trọng Lư ở cả hai giai đoạn trước và sau Cách mạng, trong đó có những tài liệu mà chúng tôi đã lược thuật ở trên

Bài viết Lưu Trọng Lư, người có công đầu trong phong trào Thơ mới (Tạp chí Văn học, số 5, ngày 9 - 10 - 1991), tác giả Lê Thị Đức Hạnh nhận định:

Trang 36

“Là một người đa tài, Lưu Trọng Lư đã làm thơ, viết tiểu thuyết, ký sự, hồi ký văn học, kịch thơ, kịch nói, tranh luận văn học,… ở lĩnh vực nào ông cũng có

những đóng góp mang dấu ấn riêng” [119, tr.93] Bài Nhà thơ Lưu Trọng Lư của Nguyễn Văn Long (viết Lời giới thiệu “Tuyển tập Lưu Trọng Lư”, Nxb Văn

học, H., 1987) đã khẳng định Lưu Trọng Lư: “Chẳng những là một chiến sỹ tiên phong hăng say trong việc bảo vệ nền Thơ mới, Lưu Trọng Lư còn có một nhãn quan bén nhạy, cảm nhận trước tiên mọi trạng thái biến chuyển từng giai đoạn, trong lĩnh vực thi ca ông luôn luôn hướng dẫn tư tưởng của thế hệ thanh niên lúc bấy giờ” [119, tr.221]

Điểm qua những tài liệu nghiên cứu sau 1945 về tác giả Lưu Trọng Lư, chúng tôi thấy Lưu Trọng Lư là người nghệ sỹ giành được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả ở cả hai miền Nam Bắc Mảng văn xuôi tự sự của ông viết trước Cách mạng tháng Tám vẫn tiếp tục được đánh giá, nhìn nhận Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát nhất, chưa có

sự phân tích, khảo sát một cách có hệ thống những tác phẩm văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư

1.4 Nghiên cứu chuyên sâu về bộ phận văn xuôi tự sự sáng tác trước

1945 của Lưu Trọng Lư

1.4.1 Nghiên cứu công bố trước 1945 về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư

Trong quyển Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan không đánh giá cao tiểu

thuyết của Lưu Trọng Lư Ông cho rằng Lưu Trọng Lư là “một nhà tiểu thuyết rất tầm thường” Nhà phê bình nhận xét Lưu Trọng Lư là “Tác giả nhiều tập tiểu

thuyết hoặc về loại tình cảm hoặc về loại thần tiên, hay ma quỷ Trong Phổ thông bán nguyệt san (Hà Nội) ông có những tập: Con đười ươi (số 14 bis), Từ thiên đường đến địa ngục (số 21 bis), Nàng công chúa Huế (số 25), Cô Nguyệt (số 37), Một người đau khổ (số 47), Cô gái tân thời (số 54), Cô Nhung (số 81) Còn những tiểu thuyết khác của ông: Người sơn nhân (Ngân Sơn tùng thư - Huế, 1938), Huyền không động (Hà Ký - Nam Định, 1935), Chạy loạn (Librairie - Centrale - Hà Nội, 1939), Một tháng với ma (Lê Cường - Hà Nội, 1940), Chiếc cáng xanh (Tân Dân, Hà Nội, 1941)” [121, tr.110] Vũ Ngọc Phan cho rằng tiểu

Trang 37

thuyết của Lưu Trọng Lư không có gì thú vị Bởi vì, nó chỉ được kể bằng “giọng buồn tẻ”, lối kể chuyện “tâm tình”, “lôi thôi”, “phẳng lặng”, “nhớ đâu viết đó”, nhiều cốt truyện được kể lại như trong giấc mộng

Khi bàn về truyện ngắn trước Cách mạng của Lưu Trọng Lư, tác giả Nhà văn hiện đại đã dẫn những lời khen ngợi đáng chú ý của Phan Khôi về tập truyện ngắn Người sơn nhân Theo Vũ Ngọc Phan, tập truyện ngắn này được

Phan Khôi đem so sánh với “Giấc mộng con” (Tản Đà), “Tố Tâm” (Hoàng Ngọc Phách), “Nửa chừng xuân” (Khái Hưng) và kết luận: “Hết thảy từ “Giấc mộng con”, cho đến “Nửa chừng xuân” đều là những tác phẩm để kết thúc cho cõi tư tưởng của văn nghệ cũ; còn “Người sơn nhân” là tác phẩm để mở đầu cho cõi tư tưởng của văn nghệ mới” [121, tr.111] Vũ Ngọc Phan đã phản đối nhận định

này của Phan Khôi và cho rằng Người sơn nhân cũng “cảm động”, nhưng

“không phải tốt đẹp quá” như lời phê bình của nhà học giả Tiếp đó, tác giả nhận

định tập truyện ngắn đầu tay - Người sơn nhân - có kết cấu khéo nhưng còn lại

thì đều “tầm thường cả” Nhà phê bình kết luận về nhà văn Lưu Trọng Lư: “Ông

kể nhiều chuyện gần như trong mộng, những chuyện không có liên lạc với nhau, làm cho độc giả khi đọc từng đoạn một, cũng thấy hay hay, nhưng đọc cả thì chán” [121, tr.114]

Lê Tràng Kiều có ba bài viết đề cập đến văn xuôi Lưu Trọng Lư Trong

bài “Nhà thơ Thế Lữ phê bình cuốn tiểu thuyết Khói lam chiều” (Hà Nội báo,

số 23, 1936), Lê Tràng Kiều đã công khai bênh vực tác phẩm này của Lưu

Trọng Lư và đả kích mạnh mẽ cách phê bình “lật tẩy” của Thế Lữ về Khói lam chiều Lê Tràng Kiều viết: “Huống hồ quyển Khói lam chiều đã được nhiều

bạn đồng nghiệp quá ngợi khen và hết lòng khuyến miện, chỉ có một mình ông Thế Lữ nằng nặc đòi công kích cho được Người ta sẽ cho rằng ông Thế Lữ đã

có một cái chủ ý không tốt Lòng ganh tỵ chẳng hạn, chừng ấy ông Thế Lữ tính

sao?” [119, tr.371]

Tiếp tục trên Hà Nội báo (số 24, 1936), Lê Tràng Kiều đăng bài “Các đồng nghiệp phê bình Khói lam chiều” Trong bài này, nhà phê bình đã trích dẫn các lời khen ngợi của đồng nghiệp về tiểu thuyết Khói lam chiều, thống nhất

Trang 38

đánh giá đây là “Một thiên tình sử đầy những lãng mạn và thơ mộng, thứ tình sử của nữ sĩ Geogre Sand, nó thấm vào một linh hồn một người sầu thảm mơ hồ, một u hoài gay gắt” [119, tr.378]

Trong bài “Đọc cuốn Nàng công chúa Huế của Lưu Trọng Lư” đăng trên Tạp chí Tiểu thuyết thứ năm, số 9, 1938, Lê Tràng Kiều đã nhận định đây là

một “cuốn sách thú vị” mà Lưu Trọng Lư đã dựng nên nhằm ca ngợi cuộc sống, tình yêu, cuộc đời: “Đọc cuốn tiểu thuyết đầy những kỳ ngộ, đầy những biến cảnh, đầy những bất ngờ đó, ta được như lôi kéo vào một chỗ cùng sâu của sự sống Khi bước ra, ta thấy trong lòng ta đầy những ham say, và trí ta đầy những kinh nghiệm Đó mới thật là cuộc phiêu lưu to tát nhất, lý thú nhất của đời ta” [119, tr.382]

Công trình nghiên cứu trước 1945 về văn xuôi Lưu Trọng Lư không nhiều, nhưng những đánh giá của Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Lê Tràng Kiều

về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư là những gợi mở đáng trân trọng, sẽ được chúng tôi tiếp tục bàn bạc trong luận án

1.4.2 Nghiên cứu công bố sau 1945 về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư thời kỳ trước Cách mạng

Văn xuôi của Lưu Trọng Lư dù có số lượng tác phẩm khá lớn nhưng cho đến nay vẫn chưa dành được sự quan tâm thỏa đáng Thật dễ hiểu khi việc nghiên cứu đóng góp của văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư trước năm 1945 như một đối tượng chuyên biệt cũng chưa được đặt ra

Trong cuốn Lưu Trọng Lư - Về tác gia và tác phẩm, Hà Minh Đức -

Nguyễn Văn Thành đã tuyển chọn khá nhiều bài nghiên cứu về văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư Đáng chú ý nhất là bài viết của Nguyễn Văn Long Nhà nghiên cứu này đã có những nhận định khái quát đáng chú ý: “Lưu Trọng Lư viết văn xuôi khá sớm, cùng lúc với những bài thơ mới đầu tiên, tập truyện

ngắn Người sơn nhân (1933) đã gây được sự chú ý Trước Cách mạng, Lưu

Trọng Lư đã viết hơn chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết, tùy bút, nhiều tác phẩm đã in thành sách, một số là những chuyện dài đã đăng trên báo Trong

số đó, những tác phẩm còn có giá trị lâu dài có thể nói là không nhiều Có

Trang 39

một lý do khá cơ bản là tác giả thường viết nhanh, viết vội, không mấy khi chăm sóc kĩ càng những trang văn xuôi của mình (Trong xã hội Việt Nam hồi trước Cách mạng tháng Tám, để sống bằng ngòi bút thì việc phải đáp ứng những “commăng” của các ông chủ báo, chủ nhà xuất bản là điều dễ hiểu) Nhưng lý do cũng còn ở chỗ khác, mà điều này mới là chủ yếu: ngòi bút của Lưu Trọng Lư không sở trường ở phía phát hiện và mô tả những quan hệ xã hội hiện thực, không mạnh ở năng lực quan sát và khắc họa chân dung, tính cách, xây dựng cốt truyện Ở thể loại nào thì Lưu Trọng Lư cũng cứ “để lòng

mình tràn lan trên trang giấy” [119, tr.205 - 206]

Tiếp đó, Nguyễn Văn Long phân tích tập truyện Người sơn nhân (1933) với ba truyện cụ thể gồm: Người sơn nhân, Con chim sổ lồng và Ly tao tuyệt vọng để chỉ ra tiếng nói phản kháng, khát vọng tự do nhưng bế tắc của Người sơn nhân Nhà nghiên cứu cho rằng Lưu Trọng Lư đã tiến gần bút pháp tả thực khi bày tỏ sự cảm thông, chua xót với thân phận của đứa trẻ nghèo trong Con chim sổ lồng hay đã dùng bút pháp lãng mạn để miêu tả thân phận những kẻ sĩ ở

Ly tao tuyệt vọng Kế đó, tác giả cũng phân tích Khói lam chiều (1935) để thấy

được lòng trắc ẩn, sự cảm thông sâu sắc của Lưu Trọng Lư đối với số phận khổ đau của những người lao động nghèo và niềm khao khát tình yêu, hạnh phúc chân chính của hai nhân vật Vịnh, Đối trong câu chuyện

Nguyễn Văn Long cũng cho rằng: “Trong hơn mười năm sáng tác trước Cách mạng, Lưu Trọng Lư còn viết nhiều cuốn tiểu thuyết, nhưng phần nhiều vẫn là trong khuynh hướng lãng mạn thoát ly Có tác phẩm khai thác những

chuyện thần tiên ma quái (Huyền không động), nhiều cuốn khác đi vào những chuyện tình ái lãng mạn được thi vị hóa (Em là gái bên song cửa, Huế một buổi chiều…) Một vài tác phẩm khai thác đề tài lịch sử có phảng phất đôi chút tinh thần dân tộc (Con voi già của vua Hàm Nghi) Đáng chú ý hơn là những cuốn tiểu thuyết tự truyện mang tính chất hoài cổ (Chiếc cáng xanh, Dòng họ)

Ở đây, con người tác giả có dịp để bộc lộ, tự phân tích khi tách ra khỏi đời sống xung quanh để sống với những kỉ niệm về quê hương, gia đình, tuổi nhỏ” [119, tr.206 - 207]

Trang 40

Năm 2011, nhà xuất bản Lao động, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông

Tây đã cho phát hành Lưu Trọng Lưu tác phẩm - Truyện ngắn, tiểu thuyết (trọn

bộ hai tập) Là một trong hai người tham gia sưu tầm, biên soạn, Lại Nguyên

Ân đã khơi dậy việc nghiên cứu văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư với bài viết mở

đầu tập sách Lại Nguyên Ân nhận định: “Lưu Trọng Lư được xem trước hết như một nhà thơ; nhưng thế giới thơ Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại, có sự tiếp nối với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo, đó là cuộc sống trong các truyện ngắn, truyện dài ông viết Nhiều khi, một vài ý tưởng xúc cảm chỉ in gọn trong một vài câu thơ đoạn thơ, sẽ có âm vang rộng dài hơn, mà không chỉ một lần, trong các truyện ngắn, truyện dài” [95, tr.14] Lịch sử nghiên cứu văn xuôi Lưu Trọng Lư đã được Lại Nguyên Ân miêu tả tương đối khái quát trong bài viết nêu trên Lại Nguyên Ân nhắc lại các bài viết (có bài đánh giá cao, có bài đánh giá thấp văn xuôi Lưu Trọng Lư trước 1945) của Phan Khôi, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ, Đỗ Đức Hiểu (chủ biên - mục từ

Lưu Trọng Lư trong Từ điển văn học) Lại Nguyên Ân nêu nhận xét khái quát:

“Mặc dù chưa thể nói đã tìm được lại hết những tác phẩm văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư từng in trên sách báo đương thời tác giả, nhất là trong những khoảng năm 1933 - 1945, ta vẫn có thể nói rằng Lưu Trọng Lư là một trong những tác giả có số lượng tác phẩm văn xuôi tự sự khá phong phú, dưới dạng tác phẩm in

sách hoặc tác phẩm đăng báo” [95, tr.12]

Nói về việc in ấn, giới thiệu sáng tác văn xuôi của Lưu Trọng Lư, Lại Nguyên Ân cho rằng: “Trong số những tác gia được ưu ái hưởng quy chế làm tuyển tập văn học của nền xuất bản thời bao cấp (1960 -1990), Lưu Trọng Lư cũng đã được tính đến (người ta biết, Lưu Trọng Lư là quan chức trong nền văn nghệ chính thống thời VNDCCH và CHXHNCVN), nhưng thuộc hàng sau, tức là được làm khá muộn Rốt cuộc, một tuyển tập mỏng nhẹ đã ra mắt vào năm 1987, trong đó chỉ có khoảng 150/452 trang khổ nhỏ (13x19 cm)

giành cho văn xuôi tự sự, với các truyện Con chim sổ lồng, Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh (trích), Chiến khu Thừa Thiên (trích) và hai đoạn trích tùy

bút [95, tr.11]

Ngày đăng: 16/02/2023, 15:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoài Anh (1991), “Hồ DZếnh nhà văn Minh Hương mang tâm hồn Việt”, Tạp chí Văn, TP. Hồ Chí Minh, (số 19, tháng 9/ 1991) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ DZếnh nhà văn Minh Hương mang tâm hồn Việt
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Tạp chí Văn
Năm: 1991
2. Hoài Anh (2007), Xác và hồn của tiểu thuyết (biên soạn, khảo cứu), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác và hồn của tiểu thuyết
Tác giả: Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
4. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên, 2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập I (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập I (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
5. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (chủ biên, 2006), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập II (1945 - 1975), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, tập II (1945 - 1975)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
6. Lê Tú Anh (2012), Tiểu thuyết Việt Nam 1900 - 1930 (chuyên luận), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam 1900 - 1930 (chuyên luận)
Tác giả: Lê Tú Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2012
7. Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học (biên soạn), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
8. M. Bakhtin (1993), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Trường Viết văn Nguyễn Du
Năm: 1993
9. Henri Bénac (2008), Dẫn giải ý tưởng văn chương (Nguyễn Thế Công dịch), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn giải ý tưởng văn chương
Tác giả: Henri Bénac
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
10. Phan Kế Bính (2016), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2016
11. Nguyễn Duy Bình (chủ biên 2015), Một số vấn đề tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam, Nxb Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Vinh
Năm: 2015
12. Nam Cao (1997), Sống mòn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống mòn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1997
13. Nam Cao (2007), Truyện ngắn tuyển chọn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn tuyển chọn
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2007
14. Huy Cận (1979), “Suy nghĩ về nghệ thuật”, Văn nghệ, (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về nghệ thuật
Tác giả: Huy Cận
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 1979
15. Huy Cận, Hà Minh Đức (chủ biên, 1993), Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
16. Hồ Biểu Chánh (1988), Con nhà nghèo, Nxb Tổng hợp Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con nhà nghèo
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tiền Giang
Năm: 1988
17. Hồ Biểu Chánh (1988), Ngọn cỏ gió đùa, Nxb Tổng hợp Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngọn cỏ gió đùa
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tiền Giang
Năm: 1988
18. Hồ Biểu Chánh (2005), Chút phận linh đinh, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chút phận linh đinh
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
19. Hồ Biểu Chánh (2005), Bỏ chồng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bỏ chồng
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2005
20. Hồ Biểu Chánh (2006), Đoạn tình, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đoạn tình
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
21. Hồ Biểu Chánh (2006), Ăn theo thuở ở theo thời, Nxb Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn theo thuở ở theo thời
Tác giả: Hồ Biểu Chánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w